Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   

Ngát hương đường cũ (sách)

27/08/201000:50(Xem: 8645)
Ngát hương đường cũ (sách)

HT_Thich_Minh_Tam_Ngat_Huong_2

Quy đầu đảnh lễ Tam Bảo phụng thỉnh chứng minh.

Vọng hướng hồn thiêng đất nước gia hộ.

*

Trong suốt thời gian phụng sự, mấy chục năm qua, viết những giòng chữ trong đây phát xuất từ tâm thành của một Phật tử, một công dân biết yêu quê hương, dân tộc, muốn bộc bạch nỗi lòng trong ý hướng “ẩn ác dương thiện”.

Còn nghĩ rằng “Đời là thế, vốn dĩ đời là thế”, “giữa cuộc đời cũng chỉ thế mà thôi”.

Trước hiên nhà, lá rụng đầy sân,

Chớm lộc mới, ngát hương đường cũ.

Vậy nên:

Hương xưa còn đọng trên đường,

Ngàn lau lách ấy xem dường trinh nguyên.

Âm ba tiếng hát đỗ quyên,

Lung linh trăng nước xe duyên sơn hà.

Thân kính,

Thích Khinh An

(Minh Tâm)




Năm 1952, đã 52 năm trôi qua (1952 – 2004), hơn nửa thế kỷ, các nhà lãnh đạo Phật giáo đã có một nhận định, một tầm nhìn vượt không gian và thời gian. Trong bài Diễn văn Khai mạc Tổng Hội Đồng Hội Việt Nam Phật học lần thứ 21, câu cuối của đoạn mở đầu các Ngài đã nói: “Một định tâm không lay chuyển trước thời cuộc và một trí giác vạch rõ phương hướng phải đi cho tín đồ”.

Thời đó, 1952, chiến tranh Việt Nam chống thực dân Pháp. Đất nước chưa bị chia cắt, mọi sinh hoạt của Phật giáo bị đạo dụ số 10 khống chế mà các Ngài đã khẳng định “một định tâm không lay chuyển” rồi “vạch rõ phương hướng phải đi cho tín đồ” hướng đi đó, trọng tâm của bài diễn văn, các Ngài nêu lên ba điểm:

“Phải làm sao cho Hội có ý thức mình là Hội viên của Hội, biết vinh quang cái vinh quang của Hội, biết tủi nhục cái tủi nhục của Hội, phải xem Hội của mình, mình của Hội… Một Hội liên hiệp nhau lại soi sáng và hướng dẫn nhau trong sự TU và HỌC Chánh pháp. Không những như vậy mà thôi, mà phải có ý thức ấy Hội ta mới thành một lực lượng có thực lực để Hoằng pháp và nhất là để Hộ pháp”.

Điểm này, tư cách và lập trường lãnh đạo của Tổng Hội lúc bấy giờ quả siêu tuyệt. Thật cảm khái, thật oai hùng, khi các Ngài đã định rõ một lập trường minh bạch, công khai, gieo ý thức cho tín đồ, trong bổn phận tu và học Chánh pháp chưa đủ mà phải Hoằng pháp và nhất là Hộ pháp. Hoằng pháp đã khó mà Hộ pháp cũng chẳng dễ gì dưới cái thời mà đất nước bị qua phân, người dân bị đô hộ, các thế lực vô minh trong lẫn ngoài nước liên kết để triệt tiêu Phật giáo và văn hóa Việt Nam. Vậy mà các Ngài lãnh đạo Phật giáo lúc này với tinh thần vô úy đã định rõ một hướng đi đích thực và cấp thiết. Như thế, hôm nay, quả thật chúng ta khó mà nghĩ bàn.

“Là Hội Phật học nghĩa là một Hội thực hành Chánh pháp… Hội ta phải tinh tiến. Đã tiến mà phải tiến cho tinh theo tinh thần Chánh pháp. Bởi vậy, chúng ta không được ngưng đọng Hội lại nơi một hình thức Hội trong việc đóng góp tiền, chung sức mà thôi. Mà tất cả những điều ấy phải bước tới một cái gì. Cái gì đó đương nhiên là căn bản của Hội. Tức là sự học cho hiểu Chánh pháp. Học cho hiểu chứ không phải học cho biết để làm khẩu đầu thì chỉ để phê bình hơn kém. Cho nên việc học Chánh pháp đối với Hội ngày nay, bên cạnh cái khuyết điểm chưa được mở, có một điều mà danh từ khuyết điểm vẫn không đủ diễn đạt, ấy là cái lệ có người đem việc học đối lập nhau…”.

Tất cả Tăng Ni và Phật tử chúng ta ngày nay (2004) trong Phật giáo, nhìn rõ thực trạng sinh hoạt Phật giáo, có phải các Ngài đã nói trước đây 52 năm có khác? Hơn nữa thế kỷ mà chúng ta có tiến bộ chút nào không? Có người không chịu học, có người học mà không hiểu, có người hiểu mà không thực hành, có người thực hành mà theo bản năng cá nhân, nghĩa là biên kiến, kiến thủ và đưa cái ta, cái ngã ra trước, không những đối lập nhau mà tệ hơn chữ đối lập nữa. Vậy có đau cho Phật giáo trong thời đại này không? Khi thấy rõ vấn đề, chúng ta phải làm gì để gọi là góp phần vào tòa nhà Phật giáo hay tiếp tục chia rẽ, đố kỵ, tranh chấp, bị thế quyền sai sử mà làm cho Phật giáo Việt Nam suy sụp thêm! Nếu vậy, thiệt hại không chỉ riêng Phật giáo mà cả dân tộc sẽ thiệt hại theo.

“Đây mới là điểm cần thiết, vì nó là vấn đề căn bản. Ấy là vấn đề đào tạo Tăng tài… Muốn Hội viên học hiểu Chánh pháp mà không đạt được như ý muốn tự mấy năm nay cho đến bây giờ là vì thiếu Tăng tài. Quá khứ như vậy, hiện tại như vậy và vị lai cũng sẽ chắc chắn không hơn gì. Thiếu Tăng tài là Hội thiếu người chủ trì, người thừa kế. Phát triển hình thức, phát triển tổ chức mà chi, khi người kế thừa không có. Đặt vấn đề đào tạo Tăng tài, việc đó đã trở thành quan trọng bậc nhất với tính cách vô cùng cấp bách và cần thiết”.

Nói là làm và các Ngài đã làm được, các Phật Học Viện đã đào tạo khá nhiều nhân tài và gánh vác Phật sự trên nhiều lãnh vực: Giáo sư, Giảng sư, Kinh sư, Hiệu trưởng, Giám đốc các trường Bồ Đề, Giám đốc các Cô, Ký nhi viện, các Trung tâm Xã Hội và Từ thiện, Bác sĩ, Dược sĩ, Kiến trúc sư, lãnh đạo các cơ sở hành chánh của Giáo Hội, Giám đốc các nhà in, nhà xuất bản, báo chí… đã tạo nên một sắc thái mới cho Giáo Hội. Nhưng không lâu, thời cuộc đã làm giảm sút tiềm năng của Giáo Hội quá tàn nhẫn và nhanh chóng. Hiện nay, Trường Phật Học quá nhiều, nhiều hơn bao giờ hết, các khóa Giảng sư cũng nhiều, Bồi dưỡng Trú trì cũng lắm, nhưng nhìn sâu vào chất lượng đào tạo không khỏi đau lòng, có các Ban Giám hiệu, các vị Giáo thọ có tâm huyết, muốn và rất muốn, nỗ lực xoay xở để làm được cái gì cho hậu thế, nhưng rồi, lực bất tòng tâm, cũng lắc đầu xuôi tay mặc cho thế sự. Còn một số khác, ôi! sanh tử phù đao chặt sau lưng, cái bả lợi danh đầy ắp trước ngực. Tội cho lớp Tăng Ni trẻ, có tâm cầu học, có óc cầu tiến, có nhiệt huyết lo cho Đạo pháp. Nhưng học ai? Ai dạy? Dạy cái gì? Cũng cử nhân, cũng tiến sĩ, nhưng thực học, thực tu, thực tài, thực chứng được bao nhiêu? Ít lắm phải không? Tại sao như thế? Để rồi tương lai Giáo Hội? Lịch sử chứng minh? Phật tử mong cầu? Đất nước hi vọng? Chúng ta, Phật giáo hiện tại trả lời với tiền nhân, với hậu thế thế nào!

Đọc lại bài “Diễn văn Khai mạc Tổng Hội Đồng của Hội Việt Nam Phật học lần thứ 21 năm 1952 đăng trong Viên Âm (mất bìa) ở sau ghi: Kiểm duyệt số 122 ngày 27/02/1953 (nhà in Khánh Quỳnh – Huế) mà lòng tôi xúc động tự tâm cang nên viết bài này để nhắc nhở, nhất là tự nhắc nhở mình và đệ tử mình, Tăng cũng như Tục.

Mùa An Cư 2548

Cứ mỗi mùa Phật Đản đến, Đức Tăng Thống GHPGVNTN vị lãnh đạo tinh thần tối cao của 80% dân tộc Việt Nam lại lên tiếng kêu gọi Hòa Bình – Lời kêu gọi vừa thiết tha, âm ba như thoát ra từ trong tận cùng đau khổ, vừa hùng tráng hơn cả nghiêm lệnh của đấng minh quân. Vượt xa hơn, không riêng cho dân tộc Việt Nam và tình nhân loại cũng được đánh thức “Cuộc chiến tranh Việt Nam đã mở rộng tới 2 dân tộc lân bang – Khổ đau đã đến nhiều với những người vô tội đó cũng như đã kéo dài trên đất nước Việt Nam nhiều năm nay”… “Chúng tôi kêu gọi các thế lực đang có uy thế mạnh trong đời sống nhân loại hãy chấm dứt những hành động chiến tranh. Chúng tôi kêu gọi toàn thể nhân loại hãy vì tình thương và tiến bộ góp sức với chúng tôi làm cho các thế lực chủ chiến phải chấm dứt hành động gieo rắc đau khổ để nhân loại được sống trong một kỷ nguyên của tình người rộng mở”.

Với Đạo Pháp – Phật giáo – Một tôn giáo phát triển bằng tình thương, bằng bao dung, bằng hòa bình lại luôn luôn bị chụp mũ, bị nhuộm đỏ nhuộm xanh, nhất là ở Việt Nam, thực trạng ấy Ngài phải cảnh giác “Một tôn giáo hòa bình bao la giờ cũng là nạn nhân của thế lực gây chiến”. Trên lập trường dân tộc, một dân tộc mà giáo thuyết hòa bình đã ăn sâu vào tiềm thức tủy não cũng như đa số các dân tộc Á Đông, Ngài xác định một sự kiện thực tế “Đa số dân chúng Việt Nam là những người Hòa bình, đa số dân chúng Đông Nam Á là những người Hòa bình. Xin đừng một ai nhân danh chúng ta để tạo và nuôi dưỡng chiến tranh thêm nữa”.

Không như bao lời kêu gọi khác, nhiều mỹ ngữ mà không có thực tâm, hay có lý mà không hề có sự. Phật giáo Việt Nam kêu gọi hòa bình và triển khai con đường “HÓA GIẢI CHIẾN TRANH” bằng chính cả khả năng hành động, lấy sức mạnh nhân dân, ước vọng dân tộc tác động trên chính trường Việt Nam và quốc tế “Sự thống nhất không chỉ dưới hình thức kết hợp mà sự thống nhất đích thực là do tâm hồn mỗi người cùng hướng vào một mục tiêu, cùng thực hiện một ý hướng và tự đặt mình vào tập thể – Các cấp giáo hội đã đưa đồng bào Phật tử ở mọi nơi đến sự thống nhất tâm hồn đó, đồng bào Phật tử trong cũng như ngoài nước sớm kiện toàn tổ chức với một tâm hồn thống nhất và ý hướng hóa giải. Hóa giải hận thù, hóa giải chiến tranh, hóa giải lối sống nhằm nâng cao giá trị con người nơi chính chúng ta, nơi dân tộc ta và toàn thế giới”(*).

Vạch rõ một con đường hóa giải chiến tranh như vậy, tín đồ Phật giáo nhất là Phật tử Việt Nam, nhân mùa Phật Đản 2515 lại về, chúng ta đọc lại hành động và tin tưởng “thông điệp hòa bình” của vị lãnh đạo tối cao “Tin tưởng mãnh liệt như vậy nên dù cho nhất thời chúng ta có phải chịu nhiều thử thách, nhưng nhất định chúng ta không đánh mất tình thương, thương mình, thương những người đồng cảnh ngộ, thương kẻ thù địch của mình thì sớm muộn gì chúng ta cũng có thể chuyển nổi hận thù thành nguồn thương yêu rộng lớn. Hòa bình nhân loại lâu dài chỉ có thể đến khi tình thương thể hiện”.

Mùa Sen 2515


Phật Đản 2513 (1969) khi chiến trường Việt Nam đang hết sức khốc liệt. GHPGVNTN đã vận động hòa bình và đặc biệt kêu gọi các phe lâm chiến ngưng bắn 24 tiếng đồng hồ để quân nhân hai bên đón mừng Phật Đản và nhân dân tham dự lễ thoải mái, bớt chết chóc và được các phe lâm chiến hưởng ứng. 24 tiếng đồng hồ ngắn ngủi, Việt Nam ngưng tiếng súng, quân đội hai bên buông súng nhìn nhau cười.

Trong Thông Điệp Phật Đản năm ấy, Đức Tăng Thống GHPGVNTN đã nói:

Hòa bình Việt Nam là khát vọng tha thiết nhất của chúng ta. Dân tộc Việt Nam chúng ta, những người bên này hay bên kia giới tuyến đã và đang là nạn nhân của cuộc chiến tranh đau khổ, mọi phong trào dân chúng phát xuất từ tiềm lực dân tộc bị phá nát, bị vu khống kể từ mùa Phật Đản 1963 vì sự bức bách, vì cơ duyên dân tộc, PGVN đã phải xuất hiện như một lực lượng chuyển đổi tư thế dân tộc và cũng từ ngày đó PGVN đã bị biến thành đối tượng chính trong âm mưu triệt hạ của các thế lực vô minh.”

Nói rõ thực trạng ấy, PGVN đã khẳng định lập trường phụng sự dân tộc, sát cánh với dân tộc, lấy nền văn hóa Việt Phật làm nền tảng tạo nên một sức mạnh hóa giải, Thông điệp nói:

Chúng ta đã chịu đựng cũng như dân–tộc này đã chịu đựng. Gần hai nghìn năm Phật giáo có mặt tại đây. Dù gặp nhiều biến thiên lịch–sử. Dân–tộc này vẫn tồn–tại. Dân–tộc Việt–Nam, trong đó đại đa số Phật–tử, đã trải qua nhiều thử–thách cam–go nhưng vẫn hào–hùng giữ vững niềm tin, và niềm tin đó đã từng tạo ra các thời–đại cường–thịnh chủ động.

Lịch–sử đã chứng minh: Dân tộc Việt có sức hóa giải bền–bỉ phi–thường. Sức hóa–giải đó là bản–chất dân–tộc và cũng chính là bản–chất Phật–giáo. Vì, Phật–giáo được xây–dựng trên tinh thần từ–bi, trí–tuệ và hùng–lực. Việt Nam đã vuợt qua được những giai đoạn bị đồng hóa là nhờ ở đức bao dung, sự đãi lọc và lòng kiên–trì phát triển chính nhờ ở những căn–bản quý giá đó, mà, đã hơn một lần, Phật–giáo trợ duyên cho dân–tộc hóa–giải nỗi những lối sống xuất thế và nhập thế của các luồng tư–tưởng đông–phương, tạo ra sự quân bình tư–tưởng cho Việt–Nam dưới thời tự–chủ Lý Trần, kéo dài hơn ba thế–kỷ (1010–1400). Nhờ đó Việt–Nam đã thâu thái được thật đầy đủ những tinh–hoa văn–hóa của Á–Đông, để phát–triển một nước Việt bền vững”.

Trong Thông điệp ấy đức Tăng Thống tiên liệu:

Khi chiến tranh chấm dứt chưa phải là cuộc xung đột ý thức hệ đã kết thúc, trái lại nó còn quyết liệt hơn bao giờ hết nếu không có một sức mạnh hóa giải và do đó, sau chiến tranh sự băng hoại tinh thần do đấy cực kỳ nghiêm trọng mà ảnh hưởng sâu xa tới đời sống đạo đức toàn dân và làm chậm sự phát triển của dân tộc nên khó có một sự an lạc đích thực.

Gần 30 năm qua, lời tiên liệu đó quả đã có cơ sở và đã trở thành thực tế. Những người thương nước yêu dân, những kẻ mến đời quý đạo nên thấy rõ vấn đề cảm nhận ân sâu của đức Tăng Thống mà xóa bỏ dị đồng, vượt qua kiến chấp mới có thể tạo nên sức mạnh hóa giải để Phật giáo Việt Nam trực tiếp góp sức cùng dân tộc mà đưa đất nước đi lên, đi lên trên tất cả mọi lĩnh vực chứ không đơn điệu, một chiều, hình thức như hiện nay. Có như vậy mới khỏi hổ danh và cô phụ máu xương của bao nhiêu thế hệ ông cha đã hy sinh cho sự sống còn của Đạo Pháp và Dân Tộc.


RẠNG NGỜI ÁNH ĐẠO

Hơn 25 thế kỷ qua, biết bao thăng trầm của thế sự.

Hai ngàn năm trăm bốn mươi chín năm qua đi của nhân loại có và đậm một điểm son, điểm son đó sáng chói hào quang soi sáng cuộc đời tối tăm đau khổ của nhân sinh. Một ngày trọng đại mở đầu một kỷ nguyên mới cho nhân loại : Ngày Thái Tử Tất Đạt Đa ra đời, và rực rỡ hơn, sáng chói hơn, mà cũng hùng lực hơn đó là ngày Đức Thích Tôn thành đạo.

Ngày Hoàng Tử Tất Đạt Đa ra đời, đủ 32 tướng quý, cả kinh thành Ca Tỳ La dậy tiếng hoan ca, trẻ già nô nức vui mừng và những giọt nước mắt xúc cảm của A Tư Đà, một tiên nhân đã xác quyết một chuyển xoay của xứ Ấn bởi đức từ bi vô lượng trí tuệ vô biên và hùng lực vô tận của một đấng siêu phàm.

Quả vậy, lúc còn nhỏ Thái Tử Tất Đạt đã biết suy tư khi thấy người nông phu cày ruộng dưới ánh nắng cháy da để đổi bát cơm manh áo, theo đường cày chim muông săn bắt côn trùng cắn mổ xé xác dế giun mà không thấy người thợ săn đang giương cung và sẵn sàng nhả ra những mũi tên độc ác. Cái cảnh mạnh được yếu thua, chà đạp lên sự sống của nhau bởi cái tâm tham lam, mê muội.

Một con thiên nga bị bắn rơi trong vườn ngự uyển, Thái Tử đã ôm vào lòng âu yếm, rịt thuốc cứu chữa rồi vỗ về chăm sóc tranh giành với một Hoàng Nhi khác để rồi phải nhờ đại triều phân xử, và Thái Tử Tất Đạt Đa đã thắng, vì lẽ “Nếu Sự Sống Đáng Quý thì Ai Đã Cứu Sống Con Thiên Nga Được Quyền Làm Chủ; Ai Tàn Sát Sự Sống Là Kẻ Bất Nhân Phải Bị Lên Án”. Sự phân xử của triều thần ảnh hưởng bởi từ tâm của Thái Tử đã định hướng cho một lẽ sống cao thượng mà con người phải theo.

Lớn lên, nhận chân sự sanh, già, bệnh, chết, bình đẳng tuyệt đối với tất cả mọi loài. Thái Tử tự nhận nghĩa vụ giải thoát cho mình, cho người, cho tất cả chúng sanh thoát khỏi sự đau khổ và ngài đã quyết định xuất gia tìm đường giải thoát.

Sự xuất gia tầm đạo của Thái Tử đã thể hiện rõ nét một tâm hồn vĩ đại, hy sinh không ai có, cương quyết không ai bằng.

Ngài tầm sư học đạo, tìm đến cầu học với các Đạo Sĩ, thủ lãnh các tôn giáo đương thời… nghiên cứu cả các học thuyết đang phổ biến, nhưng tất cả không thoát khỏi tư tưởng hệ của bản ngã, không vượt qua sanh tử luân hồi.

Ngài tự mình chọn con đường Trung Đạo, không khổ hạnh cũng không truỵ lạc. Sau khi phục hồi sức lực nhờ bát sữa của Tu Xà Đề. Tắm rửa dưới sông Ni Liên, trải cỏ dưới gốc cây Bồ Đề và phát lời đại nguyện “Dù Thịt Tan Xương Mục Nếu Không Giác Ngộ Quyết Không Đứng Dậy Rời Khỏi Nơi Này”.

Nơi đây, cao cả và nhiệm mầu, làm động đến đất trời rung chuyển, dưới gốc Bồ Đề Ngài chiến đấu quyết liệt với ma quân hiện thân của tham lam và tàn bạo điều khiển bởi ngu si và chúng đã thất bại bởi từ bi. Trí tuệ và hùng lực của Ngài. Và khi sao Mai mọc thì Ngài giác ngộ bởi sự tận trừ tham sân si. Sự giác ngộ này mệnh danh là Lậu Tận Minh tức là tâm trí thanh tịnh tuyệt đối, biểu lộ một tuệ giác tuyệt vời.

Trước đó là Ngài chứng Thiên Nhãn Minh tức là giác ngộ tính chất vô biên của không gian của vạn vật, tính chất ấy là sự tương quan tạo ra cái “Có” và Túc Mạng Minh là ngài giác ngộ tính chất vô tận của thời gian, của vạn vật, tính chất ấy là sự liên tục thể hiện sự “Còn” của vạn vật.

Kể từ đó, đêm thành đạo, ánh sáng chân lý được tỏa chiếu rạng rỡ khắp cõi Ta Bà, rạng rỡ hơn nhật nguyệt, bóng tối của vô minh, của dục vọng bị đẩy lùi, khắp cả tam thiên đại thiên thế giới được tắm gội trong ánh từ quang với niềm an lạc vô biên. Sau đêm Thành Đạo là Ngài đã vạch rõ cho mọi người thấy Khổ – nguyên nhân của Khổ – trạng thái Khổ Diệt và phương pháp Diệt Trừ nguyên nhân ấy (Tứ Thánh Đế).

Bánh xe chánh pháp được quay mạnh từ đây, khởi nguyên tại vườn Lộc Uyển. Phật Giáo có từ đó.

Từ địa vị căn bản của con ngưòi đối với bản thân, gia đình và xã hội được xác nhận thành chủ trương của Phật Giáo trong kinh Thiện Sinh, khắp mọi hạng người được Phật giáo giác ngộ, vì đau khổ bình đẳng thì cứu độ cũng bình đẳng, hung ác mê lầm như chàng Vô Não, cùng cực khổ sở như người gánh phân, tàn ác hiếu thắng hiếu chiến như Vua A Xà Thế, gàn bướng tự kiêu như các nhà tri thức Bà La Môn, tất cả khi đối diện với Đức Phật đều được ngài lấy từ tâm hóa độ cho tất cả. Ngài còn phục dịch người bịnh, xâu kim cho một bà già mù, ôm một con cừu non lạc đàn chạy theo mẹ nó, đánh đuổi một con sói để cứu một con nai tơ, tất cả hành động của Đức Phật đều thể hiện lòng từ, một lòng từ vô bờ bến.

Quả vậy, từ ngày Đản Sanh, Xuất Gia, đêm Thành Đạo của Đức Phật cho đến bây giờ và mãi mãi về sau, Đạo Phật đến đâu là đem đến cho nhân loại, chúng sanh niềm an lạc. PHẬT GIÁO đến quốc gia nào là đem đến cho quốc gia đó sự thịnh vượng an vui. Với dân tộc Việt Nam, Đạo Phật đóng góp không ít cho nền độc lập, phú cường của dân tộc qua bao triều đại Đinh, Lê, Lý, Trần mà lịch sử đã chứng minh.

Đạo Phật vì sự đau khổ của chúng sinh mà hiện diện, Đạo Phật vì chúng sanh mà có “Khai Thị Chúng Sanh Ngộ Nhập Phật Tri Kiến” mà Đức Thế Tôn ra đời nên Đạo Phật không tranh chấp, không hơn thua, không mạnh yếu. Đạo Phật đến với chúng sanh như không khí, như ánh sáng, nhẹ nhàng, vô tánh, vô tướng, bàng bạc hư vô, tự nhiên như hơi thở vì vậy bất hạnh cho những ai ngột thở vì thiếu không khí, vô phước cho địa phương nào sầu đau đen tối vì thiếu ánh sáng đạo Phật.

Người Phật Tử kỷ niệm các ngày vía Phật, tổ chức lễ đài nhân ngày Phật Đản, kỷ niệm ngày lễ Xuất Gia, tổ chức mùa Hiếu Hạnh vào dịp Vu Lan, kỷ niệm ngày lễ Thích Tôn Thành Đạo… không những chỉ là hình thức mà thể hiện cả tâm thành, phải thổi vào các ngày lễ Phật Giáo một cái hồn thật sống động, thật linh hoạt, thật thiêng liêng. Phải trao cho nhau, trao cho người tham dự lễ một Phật chất siêu đẳng, một nhận thức đúng đắn, một ý nghĩa thậm thâm vi diệu.

Chúng ta cùng nhau chấp tay chí thành, chí kính tưởng niệm công đức vô lượng của đấng Cha Lành, hãy cùng nhau phát nguyện :

Nối chí Phật tinh tấn học đạo.

Đền ơn Phật bảo truyền chánh pháp.

Kính ngưỡng Phật thệ độ chúng sanh.

Tưởng niệm Phật bồ đề tâm bất thối.

Long Thành, ngày Phật Đản 2549




Thân ái riêng với các bạn học sinh

lớp 10, 11 và 12 – Bồ Đề Phan Thiết

Điều mà không ai có thể phủ nhận được là người thanh niên trong vai trò chủ động, bảo toàn bước tiến của dân tộc, là lực lượng tiên phong trong những biến động của thời cuộc, là phát ngôn viên chính thức và trung thành của đại đa số quần chúng…

Do đó, trên thế giới, nhất là các nước đang trên đà tiến triển, các tổ chức thanh niên thể hiện trọn vẹn tinh thần quốc gia và chiều hướng tiến thủ của quốc gia đó.

Nhìn vào Việt Nam, quá trình lịch sử, khi xã hội bị chi phối từ mọi phía xâm nhập, nhất là cuộc xâm nhập ồ ạt của nền văn minh vật chất Tây phương. Tuổi trẻ Việt Nam đã ngỡ ngàng trước sự suy sụp của những giá trị tinh thần cổ truyền của dân tộc. Một số lạc loài chán nản, một số hấp thụ và theo đòi Tây phương mà không phải cách và đa số còn lại khiêm tốn, sống chật vật khó khăn với những ước mơ thầm kín, mang nặng nhiều hoài bão nhưng gặt hái thì lắm phủ phàng…

Trong những năm gần đây, thanh niên Việt Nam đã tỏ ra ý thức được trách nhiệm của mình trước lịch sử nên đã vươn mình lên trên mọi địa hạt, từ những công tác xã hội tập thể, từ các phong trào dân ca, từ những đòi hỏi hợp lý xuất phát do nhiệt tâm và ý thức về nguồn.

Nhưng đó cũng chỉ là triệu chừng bừng dậy đáng mừng. Vì nhìn vào thành quả thật không có bao nhiêu so với những mục đích tốt đẹp đã phác họa.

Như vậy, chúng ta phải nhìn vào thực trạng để bổ cứu đó là sự thiếu tổ chức, thiếu kỷ luật, lại thiếu luôn cả kỹ thuật hành động hay nói rõ hơn là sự thiếu hướng dẫn của các bậc thầy, những đàn anh có trách nhiệm, và khổ hơn, có thể cũng vì cá tính, anh hùng tính, hành động không đúng lúc, tự tôn không đúng chỗ, từ chối sự hướng dẫn hợp lý của những người nhiệt tâm lo cho tuổi trẻ, nên mọi hoạt động nhiều lúc trở thành phù phiếm nhất thời, dễ sai lạc.

Hơn ai hết, ngay bây giờ, chúng ta, những học sinh đã và đang trưởng thành phải nhìn rõ con đường mình sẽ đi. Biết rút tỉa kinh nghiệm nơi những người đi trước, biết phục thiện để tiến thủ, biết hòa giải để tạo sức mạnh hợp quần, biết dùng phương pháp nhu thắng cương. Không nên bất mãn với hiện tại vì hiện tại là nền móng vững chắc cho tương lai, chúng ta nhất định không buông xuôi, nhất định không đầu hàng nghịch cảnh. Đừng nghĩ rằng mọi con đường chỉ có đến Quang Trung, Đồng Đế mà dù cho đến đó cũng chưa phải là đích tận cùng khi chúng ta nuôi một ý chí sắt đá là phục vụ đích thực cho quốc gia.

Bồ Đề Phan Thiết

1973






Nhân ngày Phật Đản 2517, ngày đức Phật ra đời, xuất gia tu học và thành đạo, rồi đem giáo lý truyền bá cứu nhân độ thế cho đến ngày nay. Chúng ta xét trên mọi phương diện để xem ĐẠO PHẬT có thích hợp với tư tưởng CÁCH MẠNG của con người giữa thế kỷ hai mươi này không.

  • TƯ TƯỞNG CÁCH MẠNG CỦA ĐỨC PHẬT

Trước hết đức Phật đã đem lại cho con người lòng tự tin ở khả năng cách mạng của mình. Ngài dạy “Con người sinh ra ở thế gian này đều có khả năng vươn lên không thể bị đau khổ hay khoái lạc nhận chìm”.

Thứ đến, đạo Phật bác bỏ thuyết định mệnh vì thuyết này chứa đựng một tinh thần chủ bại. Dù rằng Phật giáo chủ trương sự khác biệt, chênh lệch trong cuộc sống là do nghiệp dĩ con người, nhưng phải tin rằng chúng ta có thể thay đổi nghiệp lực theo ý muốn (chuyển nghiệp) thì lý nào lại chịu bó tay, bất lực trước tình trạng xã hội hay chính trị mà chúng ta coi là xấu?

Đạo Phật lại tôn trọng sự bình đẳng của mọi người, bác bỏ hẳn quan niệm dựa vào giai cấp giả tạo mà định sự khác biệt giữa con người. Ngài đã dạy “Ai cũng có thể đốt lửa và lửa của ai cũng cùng một màu sắc, cùng một công dụng”, do đó đạo Phật bác bỏ thuyết phân chia giai cấp, kỳ thị chủng tộc, kỳ thị địa phương, nâng cao quy chế phụ nữ và đã phá chế độ nô lệ.

Cuối cùng, xác nhận sự cần thiết làm cách mạng của con người. Đạo Phật chủ trương con người tương quan với nhau, tương quan một cách tuyệt đối. Trong lý “tương quan sinh tồn” bắt buộc con người phải cố gắng tạo những hoàn cảnh tốt đẹp cho cá nhân, gia đình, quốc gia và xã hội.

Tóm lại, đức Phật dạy chúng ta là mỗi một chúng ta đều có khả năng làm cách mạng và nhất định làm được, vì không có chuyện gì được an bài, ấn định trước và nếu có, cũng do chính con người chúng ta.

Nhưng làm cách mạng theo chiều hướng nào? Đó là chiều hướng bình đẳng giữa loài người và tự do ý chí tại mỗi cá nhân.

  • CHỦ TRƯƠNG CÁCH MẠNG CỦA ĐẠO PHẬT

Sự thật, đức Phật không đưa ra một đường lối cách mạng nào, không có một giải pháp nào gọi là cách mạng theo quan niệm thế gian cả. Điều này là một đặc điểm của Phật giáo vì đức Phật có óc thực tiễn hơn các nhà cách mạng chính trị tầm thường khác. Ngài chỉ nêu ra một nguyên tắc rồi để cho con người tùy hoàn cảnh mà áp dụng các phương thức thích hợp. Vì vậy, nên tư tưởng cách mạng của đức Phật không bị lỗi thời. Tuy thế, đức Phật cũng dạy chúng ta những điều nên làm trong phạm vi chính trị, kinh tế và xã hội.

Về chính trị, đức Phật khuyến khích chính thể đại nghị, quốc gia được quản trị bởi một cọng đồng biết giữ gìn truyền thống và pháp luật tốt đẹp.

Riêng người lãnh đạo quốc gia, trong kinh Jakata đức Phật dạy mười điều:

  1. Phải hào phóng khoan dung, không tham lam của cải. Tài sản phải đem ra phục vụ cho lợi ích quốc gia.
  2. Phải có căn bản đạo đức, không sát hại lừa đảo, chiếm đoạt của công, không vọng ngữ, tà dâm hay rượu chè cờ bạc.
  3. Phải hy sinh tất cả cho hạnh phúc của toàn dân, sẵn sàng hy sinh tiện nghi, danh dự và mạng sống cho công lợi.
  4. Phải đoan chánh, thanh liêm, không sợ hãi khi hành nhiệm, phải chân thật không lừa dối quần chúng, không mị dân.
  5. Phải nhã nhặn, lịch thiệp, dịu hiền, nghiêm nghị.
  6. Phải biết tri túc, có một đời sống giản dị, không bị lôi cuốn trong sự xa hoa, hưởng thụ.
  7. Phải xa lánh hận thù, dục vọng, không lập dị và nhất là đừng giữ lòng sân hận với ai.
  8. Phải giữ tinh thần bất bạo động, tránh gây chinh chiến, tránh mọi hình thức đưa đến bạo động và sát hại sanh linh.
  9. Phải kiên nhẫn, quán xuyến công việc, phải can đảm chịu đựng thử thách không điên tiết khi bị chỉ trích, nguyền rủa.

10.Không chống đối, không đối lập với nguyện vọng quần chúng, phải hòa nhịp với nhân dân, thực thi các biện pháp đem an lành đến cho quần chúng.

Một quốc gia cai quản bởi những người lãnh đạo thấm biến các đức tính trên nhất định quốc gia đó sẽ an hòa thịnh vượng, nếu không thì họa mất nước, nhà tan, mạng vong, không thể tránh.

Về kinh tế và xã hội, đức Phật chủ trương phân phối tài sản một cách công bằng, Ngài dạy: “Việc lợi ích nhất là hãy làm cho tất cả dân chúng đều được ấm no”. Ngài khuyến khích giúp đỡ ngành sản xuất và thương mãi, Ngài nói: “Giúp giống tốt cho nông dân, giúp thực vật cho người chăn nuôi, giúp vốn cho người buôn bán”. Ngài cũng khuyến khích các công tác đắp đường, bắt cầu, đào giếng, khai kênh… Ngài chủ trương “dân có đủ ăn đủ mặc thì sẽ bớt làm điều phạm pháp để trau giồi đạo đức cá nhân”.

Tựu trung, các chủ trương trên, đạo Phật dạy ta phải nỗ lực xây dựng một xã hội tốt đẹp cho đời bớt khổ thêm vui. Nhưng trước hết là phải biết cách mạng bản thân con người sẽ trở thành hùng mạnh, rồi cùng nhau kết hợp thành một sức mạnh, để theo đuổi lý tưởng chung là cách mạng xã hội. Sức mạnh này không phải là sức mạnh bạo lực mà là sức mạnh của tinh thần, của ý chí, của những người biết rõ mục đích cần thực hiện. Nếu không, người càng đông lại càng chia rẽ, càng yếu vì mỗi cá nhân chỉ biết theo đuổi quyền lợi riêng tư của mình.

Dựa vào đó, chúng ta có thể phê phán mọi chủ thuyết và phương pháp gọi là cách mạng mà các phe nhóm loài người chủ trương và cũng dựa vào đó, chúng ta có thể tạo sự liên kết và chủ trương cần theo đuổi để đả phá rồi xây dựng, nghĩa là làm CÁCH MẠNG.

Mùa sen 2517

Lễ Phật Đản vừa qua (PL.2552 – DL.2008) phải thừa nhận một thực tế mà đa số người Phật Tử Việt Nam rất hoan hỷ. Hoan hỷ là phải vì từ năm 1975 đến nay (2008), 33 năm qua chưa bao giờ Phật giáo có một ngày lễ như thế. Nay nhà nước đã chính thức đăng cai với Liên Hiệp Quốc tổ chức lễ Phật Đản Quốc tế. Đã nói là quốc tế dĩ nhiên có rất nhiều nước đến, cùng tổ chức, cùng tham dự, một niềm vui chung cho cả dân tộc chứ không riêng gì Phật giáo.

Phải nói đây là một tiến bộ đáng kể, đáng ghi vào sử sách dù đằng sau có ẩn hiện cái bóng mờ của chính trị và ngoại giao. Một thực tế khác là Phật tử VN đã cử hành lễ Phật Đản có cả ngàn lần kể từ khi Phật giáo du nhập vào VN chứ không có gì mới mẻ, chỉ khác là tùy hoàn cảnh thuận duyên hay nghịch duyên để có lễ lớn hay nhỏ, mà thôi!

Nhìn lại trong thời gian gần đây VN bị Pháp đô hộ rồi bị chia cắt hai miền đất nước, ở miền Bắc hầu như Phật giáo chẳng còn gì. Trong miền Nam liên tiếp bị 2 nền đệ I và đệ II Cộng hòa của Diệm rồi Thiệu, Phật giáo bị đàn áp đối xử thậm tệ nhưng Phật Tử VN vẫn tổ chức lễ Phật Đản hằng năm hơn xa cuộc lễ vừa rồi.

Và, cũng trên lãnh vực quốc tế, 50 năm trước (PL.2002 – DL.1958) Phật giáo VN cũng đã công khai công bố một thông điệp trong dịp đại lễ Phật Đản tổ chức tại Ai Lao có 18 nước tham dự. Trong thông điệp này PGVN đã khẳng định với Quốc tế “Tình hình nổi nhất của nhân loại là khí giới nguyên tử được công khai đưa ra thí nghiệm có biết bao nhiêu người khốn đốn vì cơm áo, khốn đốn vì viễn cảnh chiến tranh, khốn đốn bởi sự tranh chấp cuồng loạn – mọi người đang hướng về “Đức Từ Bi” của Phật giáo”.

Ngày nay, những bài phát biểu, tham luận của các phái đoàn khắp nơi trên thế giới về dự lễ Phật Đản LHQ đã phát biểu tại Hà Nội. Đa số cũng với nội dung như trên, chỉ có văn cú khác, diễn đạt khác đi mà thôi. Phật tử VN còn mong muốn nhà nước thể hiện một chính sách tích cực hơn nữa, đúng đắn hơn nữa tiếp tục đăng cai các sinh hoạt Phật giáo lễ hội, hội nghị, hội thảo, giao lưu quốc tế mới tạo được thế đứng vững chắc trên nhiều lãnh vực nhất là với vùng Đông Nam Á, với khối ASEAN để sánh vai cùng các nước tiên tiến khắp năm châu.

Như vậy, qua lễ Phật Đản LHQ vừa rồi để chúng ta thấy “người Phật tử khắp địa cầu cần đoàn kết với nhau để tạo nên một sức mạnh tinh thần, sức mạnh của từ bi, của trí tuệ để đẩy lùi vô minh, thù hận, khổ đau cho nhân loại, làm điểm tựa cho loài người, đáp ứng đúng nguyện vọng chính đáng của toàn thế giới, điều đó mới đáng có, cần có và phải có, có mãi mãi chư không phải có nhất thời”.


52 năm qua hơn nửa thế kỷ, một thời gian không ngắn.

Đại hội Huynh Trưởng GĐPT các tỉnh miền Nam tổ chức tại Phan Thiết (Bình Thuận) năm 1956 – PL.2500.

GĐPT lúc bấy giờ đã có Ban Hướng dẫn các tỉnh đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Tổng hội Phật giáo TP một trong các Hội Tiền thân của GHPGVNTN.

Trong Đại hội ấy Tổng hội đã có bài diễn văn khai mạc, ngoài mục đích kiểm điểm công tác Phật sự đã làm và đề xuất công tác Phật sự mới, việc làm bình thường của các tổ chức, của các Đại hội không cần thiết để nói ở đây.

Điều tôi muốn nói là nội dung bài diễn văn của Tổng hội lúc bấy giờ đã nhấn mạnh và nhắc nhở các Huynh Trưởng đặc biệt những điều căn bản cần thiết để duy trì và phát triển tổ chức GĐPT.

Sự quan tâm và dạy dỗ của Tổng hội mang tính giáo dục, thương yêu của một người cha đối với con, lòng thầy đối với trò, tha thiết, nghiêm túc, thành thật, bao dung. Các ngài dạy “là Huynh Trưởng thì tổ chức GĐPT chịu ảnh hưởng rất nhiều về bản thân của các anh các chị”. Quả như thế, đời sống cá nhân của một Huynh Trưởng từ tác phong đạo đức đến lập trường phục vụ tổ chức đều ảnh hưởng lớn, đều có phần quyết định cho sự thịnh suy, vinh nhục, mất còn của tổ chức GĐPT. Cụ thể hơn, trong Đại hội, Tổng hội khuyến tấn các Huynh trưởng:

  1. 1. Phải ý thức sứ mạng của mình là thay hội Hướng dẫn con em Phật tử chánh tín Tam Bảo để thành người Phật tử chơn chánh.
  2. 2. Làm việc không cầu an, nên nghĩ đến khó khăn và sẵn sàng chịu khó khăn và tự nó đã ý hàm nghĩa hy sinh.
  3. 3. Phải có tình thần “phục vụ trong kỷ luật”. Tự ý và tự phụ thì có làm cũng chỉ là làm loạn.
  4. 4. Điêu luyện phong độ người Phật tử đối với người trên kẻ dưới, với kẻ ngoài người trong của Phật giáo và quan trọng hơn là phong độ người anh người chị đối với các em của mình.

Sự thành công của các Huynh Trưởng là ở trong những điều kiện đó và nếu thất bại cũng vì thiếu những điều kiện đó.

52 năm chúng ta nhớ lại, đọc lại lời răn dạy ấy để các Ban Hướng Dẫn, các Huynh Trưởng ôn lại bài, nhớ lại lời, học lại ý để trong hiện tại cũng như tương lai mà phục vụ lý tưởng.

Thật thấm thía những lời dạy đó và GĐPT/VN đã theo đúng tinh thần đó mà duy trì và phát triển tổ chức. Gọi là gia đình thì phải có bác, có chú, có cha, có mẹ, có anh, có em, có thượng, có hạ, có tôn ti trật tự mới tạo nên một GĐPT đúng nghĩa. Thiếu sự tương kính nhau, thiếu tình thiếu nghĩa, thiếu thủy thiếu chung, thiếu thông cảm, thiếu nhường nhịn, thiếu hy sinh, thiếu kỷ luật để cho bệnh ngã mạn, công thần, danh tướng phát sinh thì có làm cũng chỉ là làm loạn mà đã làm loạn thì chỉ nát tổ chức mà thôi.






44 năm qua, non nửa thế kỷ. Năm 1961 trong dịp đại lễ Phật Đản. Hòa thượng Hội chủ Tổng Hội Phật Giáo Việt Nam đã gởi một Thông Bạch cho Tăng tín đồ PG toàn quốc với một quan điểm rất minh bạch, một nhận định vô cùng sáng suốt, vạch cho tín đồ một hướng đi hết sức trong sáng, một nhận thức để phục vụ Dân Tộc và nhân loại rất thiết thực, vừa khế lý, khế cơ, khế thời và khế xứ.

Nhìn lại hoàn cảnh của đất nước, của Giáo Hội, của Tăng tín đồ PGVN nói riêng và của nhân loại nói chung hiện nay.

Chúng tôi vô cùng cảm xúc khi đọc lại những ý từ trong bài Thông Bạch này, thấy các bậc lãnh đạo PGVN trước đây 44 năm quả là những bậc siêu phàm, nhìn xa thấy rộng. Nếu đem ra để định hướng cho sự tu học và phục vụ nhân sinh trong giai đoạn khoa học văn minh tiến bộ hiện nay, không những thích hợp mà còn cấp thiết nữa.

Do đó, Phật Ân xin đăng lại toàn văn bản Thông Bạch này để minh định lập trường và quan điểm của mình tuyệt đối tuân hành đường lối của Thầy Tổ đã vạch, không dám một bước lệch đường.

Thông Bạch này đã được đăng trong Đặc San số 1 của Gia Đình Phật Tử xuất bản tại Huế trong mùa hè năm 1961, có Hòa Thượng Thích Thiện Minh lúc bấy giờ là Ủy Viên Thanh Niên Phật Tử toàn quốc, Phó Hội Trưởng Hội Phật Giáo VN tại Trung Phần thuộc Tổng Hội Phật Giáo VN viết lời giới thiệu ngày 25.03 Tân Sửu – Pl : 2505 – Dl : 1961.

Phật Ân

THÔNG BẠCH

Của

HÒA-THƯỢNG HỘI-CHỦ TỔNG-HỘI PHẬT-GIÁO VIỆT-NAM

KÍNH GỞI CÁC TẬP-ĐOÀN TRONG TỔNG-HỘI

VÀ TOÀN THỂ THIỆN-TÍN

Trong những năm vừa qua, đạo Phật đã phát triển không ngừng trên khắp thế-giới. Văn-hóa nhân-loại đang dần đến tổng-hợp, cho nên một nền đạo-học siêu-việt và thực dụng như đạo Phật cố nhiên cần phải được nhân-loại học hỏi và thực-tập một cách thành khẩn và thiết tha.

Ngày Phật đản năm nay đánh dấu một bước tiến dài của sự nghiệp dung hợp và hoằng-hóa của Phật-giáo thế-giới. Nhân-loại hiện nay đang cần đến tinh thần dung hợp, tinh-thần từ-bi bất bạo-động của đạo Phật để có thể vượt qua những khủng hoảng trầm trọng do sự tranh chấp toàn diện của các hình thái sinh hoạt văn-hóa khác nhau do những nhận định khác nhau vì đường lối sinh tồn của nhân loại.

Đã đến lúc chúng ta cần nhận định rằng mọi kiến thức riêng rẽ đều có thể vướng ít nhiều tính cách thiên-lệch chủ quan, bởi vì mỗi con người hay mỗi lớp người chỉ có thể nhận-định được vấn-đề qua chủ-thể nhận-thức của mình. Một nhận-thức gần với chân-lý nhất là một nhận-thức tổng-hợp, dung hòa được tất cả các quan điểm, thực hiện được sự dung hợp vĩ đại. Có đi đến một nhận thức như thế, con người mới đủ sáng suốt để xây dựng cho mình một thế-giới an-lạc và hạnh-phúc. Nhưng để đi đến một nhận-thức như thế, con người phải trừ diệt ngay tính cách cố chấp của nhận thức mình để sẵn sàng nhận những quan điểm khác làm nền tảng cho cuộc tổng hợp. Phải suy tôn Tự-Do, nhất là Tự-Do Tư-Tưởng. Đạo Phật chú trọng đặc biệt sự phá trừ những cố-chấp, những thành kiến sẵn có của tâm niệm để mở rộng tâm hồn đón ánh sáng chân-lý rào rạt chiếu vào. Cho nên, thái độ đẹp đẽ nhất của người Phật-tử là thái độ cởi mở. Có cởi mở, có sự thông cảm và vượt được những bức trường-thành cố-chấp cố-thủ là nguyên do của tranh chấp gay go và đau khổ của nhân loại hiện nay. Tinh thần cởi mở và Tự-Do của Đạo Phật có thể dẫn đạo được cho công cuộc tổng hợp văn-hóa, có thể góp phần một cách hữu hiệu trong sự thực hiện tương dung tương hóa của mọi ý thức hệ, mọi quan điểm văn-hóa, kinh-tế, chính-trị, xã-hội. Có được sự dung hóa ấy nhân-loại mới tìm thấy con đường chung, nghĩa là tìm thấy hạnh-phúc.

Trước đây 2585 năm, văn-hóa xã-hội Ấn-Độ đã từng đi vào một thế tương tranh tương chấp cực-kỳ dữ-dội. Đức Phật đã xuất hiện trong tình trạng ấy, và với tinh-thần giác-ngộ, tinh-thần tự-do, với khả năng dung hợp và cải hóa vĩ-đại, đã thực hiện được một thế quân bình cho những cơ cấu sinh hoạt tri-thức, kinh-tế đạo-đức của xã-hội thời ấy. Ngày nay tuy quốc-gia vẫn là đơn vị của tổ-chức nhân-loại quốc-tế, nhưng các nền văn-hóa đã và đang gặp nhau trong một sự va chạm khốc liệt và thế nào cũng có một ít đổ vỡ do sự va chạm ấy gây nên. Các nền văn-hóa va chạm và đổ-vỡ là để dung hóa nhau. Sự dung hóa ấy rất cấp thiết, bởi vì chừng nào nhân-loại còn chưa thực hiện sự dung hóa ấy thì nhân-loại vẫn còn nằm trong tình trạng tranh chấp đau khổ.

Phật tử chúng ta cầu học hỏi để nhận thức được một cách rõ rệt những nguyên lý căn bản trên đó nền văn-hóa Phật-giáo đã được thành lập. Chúng ta phải tìm hiểu những động năng độc đáo nào đã khiến cho đạo Phật có một khả năng dung hóa mãnh liệt, một sức sống tràn đầy. Tinh-thần tôn trọng Tự-Do tuyệt đối, tinh-thần hóa-độ dũng cảm, trên nguyên lý từ-bi bất bạo-động, đó là những nhân tố thiết yếu tạo nên dòng sinh hoạt chính-pháp, mà cũng là những gì mà xã-hội như xã-hội chúng ta hôm nay đang cần đến một cách cấp thiết như người bệnh cần uống thuốc.

Học Phật và thực hành đạo Phật là để làm sáng những nguyên-lý căn-bản ấy trong cá nhân ta, trong đoàn thể ta và trong xã-hội ta. Hoằng dương giáo-lý không phải là để cho người thờ cúng Đức Phật mỗi ngày mỗi thêm đông mà là để thực hiện và trao truyền những nguyên lý đó cho mọi khu vực xã-hội trên toàn thể thế-giới. Lý trí chỉ có thể phát triển và đạt đến chân-lý trong không khí Tự-Do Tư-Tưởng. Tình cảm chỉ có thể đẹp đẽ trung hậu khi được nuôi dưỡng bằng Từ-Bi. Đó là hai viên đá lớn nhất mà đạo Phật có thể góp vào cho nền tảng văn-hóa ngày mai của nhân-loại.

Biết bao nhiêu người cương quyết tranh đấu cho lập trường của mình, và sau khi đạp bằng bao nhiêu trở ngại, chiến thắng bao nhiêu gian-lao, phá hủy bao nhiêu cơ sở chống đối, giết hại bao nhiêu sinh mạng mới đau xót bừng tỉnh mà nhận thấy rằng lý thuyết mình sai lạc, hoặc ít ra cũng có vài khía cạnh sai lạc. Cái Dũng ở đây đã dùng để thực hiện cái Trí; nhưng đây là một thứ Trí cố chấp không chịu mở cửa để dung hóa, cái Trí độc tài không chấp nhận tự-do tư-tưởng và lại không đi với Bi, nghĩa là với tình thương nhân-loại

Hãy khách quan trong lúc nhận định chân-lý, hãy tự-do trong sự khai mở và phát triển nhận thức, hãy mở cửa đón nhận mọi quan điểm dị biệt, và nhất là hãy cố gắng trừ diệt dục-vọng và vô minh để làm điều kiện cho trí-tuệ phát triển; đó là thực hiện Phật-trí. Hãy can đảm thực hiện tri kiến chân chính của mình, dè dặt và cẩn trọng trong việc tạo nhân chứ không phải chỉ chăm chăm nghĩ đến thành quả; đó là Phật-dũng. Hãy ngăn cản và từ bỏ tất cả những nghiệp nhân nào gây đau khổ và sát hại; đó là Phật-bi. BI, TRÍ, DŨNG tương hợp tương thành là điều kiện căn bản cho sự xây dựng xã-hội và văn hóa mới.

Trong mười năm qua, nghĩa là sau ngày tuyên ngôn Phật-giáo thống-nhất cho đến nay, Phật-tử Việt-Nam chúng ta đã cố gắng nhiều để tự thực hiện, để đưa đạo Phật đến địa vị xứng đáng trong truyền thống dân tộc.

Ngày Phật đản năm nay, mà cũng là ngày kỷ niệm mười năm Thống nhất Phật-giáo Việt-Nam, sau khi tưởng niệm đến Đức Phật trong hoài bão xuất hiện của ngài chúng ta cần suy tưởng để đặt một hướng đi hợp lý cho Phật-giáo trong công cuộc góp phần xây dựng văn hóa dân tộc và xã-hội tương-lai.

Nguyện cầu Đức Bổn-Sư Thích-Ca Mâu-Ni soi sáng cho chúng ta.

Hòa Thượng THÍCH TỊNH KHIẾT




Khi chiến tranh chấm dứt chưa phải là cuộc xung đột ý thức hệ đã kết thúc; trái lại nó còn quyết liệt hơn bao giờ hết, nếu không có một sức mạnh hóa giải… Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất cùng đồng bào nguyện sẽ cố gắng tạo thành một sức mạnh hóa giải trong hiện tại và tương lai.

Thông điệp của đức Tăng thống Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất trong mùa Phật Đản 2513–1969 cách đây đã 38 năm nói về sứ mạng hòa bình. Thời gian đó chiến tranh đang tàn phá đất nước, tiêu hao biết bao người và của mà dân tộc Việt Nam phải hứng chịu. Nên hòa bình là khát vọng tha thiết nhất của dân tộc Việt Nam.

Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất đã ra đời trong năm 1964 do đức Tăng thống Thích Tịnh Khiết lãnh đạo. Năm mùa Phật Đản trôi qua (từ 1964–1969) bao sóng gió từ mọi phía đến với Giáo Hội. Phật giáo Việt Nam vẫn kiên trì chịu đựng cùng với dân tộc như đã chịu đựng suốt gần 2000 năm dưới thời Bắc thuộc của Tàu và Tây thuộc của Pháp.

Thời điểm đó, năm 1969 thông điệp nói rõ: “Chúng ta, những người bên này hay bên kia giới tuyến đã và đang là nạn nhân của cuộc chiến tranh đau khổ này, đã chiến tranh thì có ai sung sướng trừ những kẻ đầu cơ”. Chữ chúng ta mà Giáo hội đã dùng rõ ràng là không hề phân biệt, không một chút đắn đo, không có người thân kẻ thù, mong một sự cảm thông với dân tộc để hưởng ứng lời kêu gọi của Giáo hội.

Đứng trên lập trường dân tộc, Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống Nhất kêu gọi hòa bình để chấm dứt cảnh đau thương. Dù lúc bấy giờ “Phật giáo Việt Nam đã phải xuất hiện như một lực lượng chuyển đổi tư thế dân tộc, và, cũng từ ngày đó (1963) Phật giáo Việt Nam đã bị biến thành đối tượng chính trong âm mưu triệt hạ của các thế lực vô minh”.

Vô minh ở đây phải hiểu là ý thức hệ với chủ thuyết phi dân tộc, nên thông điệp khẳng định “Chúng ta đã chịu đựng… bền vững”.

Đọc đoạn văn trong Thông điệp trên, chúng ta đã thấy Phật giáo Việt Nam và dân tộc Việt Nam tuy hai mà một, đặc biệt tinh thần tự chủ, tự quyết, tự lập, tự cường mà Phật giáo đã thổi mạnh luồng tư tưởng đó vào quảng đại quần chúng Việt Nam nên Hòa Thượng nguyên Viện Trưởng Viện Hóa Đạo Thích Thiện Hoa, đã từng tuyên bố lúc đó là: “Chúng tôi không thiên tả, cũng không thiên hữu mà chỉ xem quyền lợi của đất nước, của dân tộc là tối thượng”. Và HT. Thích Trí Thủ nguyên Viện Trưởng Viện Hóa Đạo năm 1975 cũng tuyên bố: “Việc gì chúng tôi làm cho Phật giáo là làm cho dân tộc và việc gì chúng tôi làm cho dân tộc tức là làm cho Phật giáo”.

Cũng trong Thông điệp này, Hòa Thượng Tăng Thống đã tiên liệu “Khi chiến tranh chấm dứt chưa phải là cuộc xung đột ý thức hệ đã kết thúc; trái lại nó còn quyết liệt hơn bao giờ hết, nếu không có một sức mạnh hóa giải… Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất cùng đồng bào nguyện sẽ cố gắng tạo thành một sức mạnh hóa giải trong hiện tại và tương lai”.

Ý hướng cao cả và cần thiết đó đã bị thủ tiêu, bị phá hoại không để Giáo hội thực hiện và từ đó đến nay Phật giáo Việt Nam vẫn là nạn nhân. Không những là nạn nhân vì ngoại chướng mà còn là nạn nhân của nội ma. Và cũng do đó mà tiềm lực lớn lao của Phật giáo đã bị phân hóa, chưa thực hiện được hoài bão của tiền nhân, của thầy tổ.

Người con Phật phải thể hiện lòng từ bi hỷ xã, áp dụng Tứ Vô Lượng Tâm, phải yêu nước thương dân bằng ngôn lẫn hành. Phải kính thầy mến đạo bằng ý chí và tâm thành mới mong tiến kịp với bước nhảy của khoa học, với xu thế trong thời đại mới để trực tiếp cùng với dân tộc tái tạo hoàng kim Lý Trần mà tự đáy lòng của bất cứ người Việt yêu nước nào cũng mong muốn.

Trong xu hướng toàn cầu hóa mọi sinh hoạt, mùa Phật Đản năm nay (29/05/2007 – PL.2551), ông Tổng Thư Ký Liên Hiệp Quốc cũng gởi thông điệp Phật Đản đến tất cả mọi người, có những câu, những ý gần như lập lại thông điệp của đức Tăng Thống trước đây 38 năm.

Ông Ban-Ki-Moon nói: “Những yếu tính từ bi, trí tuệ và hòa bình được đức Phật thuyết giảng, những giá trị này tồn tại vĩnh cửu, và chỉ có những giáo thuyết này mới xóa được sự ngăn cách càng ngày càng lớn giữa con người và các cộng đồng quốc gia với nhau.

Việc này đòi hỏi mỗi chúng ta phóng tầm nhìn vượt ra ngoài tính ích kỷ, hạn cuộc hẹp hòi của mình… Hãy cương quyết cư xử độ lượng và khách quan đối với nhau, không mang tâm hận thù xấu ác. Hãy cố gắng tu bồi cho lòng yêu thương của chúng ta đới với thế giới xung quanh chúng ta”.

Quả đúng như thế, thông điệp của đức Tăng Thống đã đi trước thời đại.


Tinh thần yêu nước của

Phật Tử VIỆT NAM

Thi sĩ Trụ Vũ đã khẳng định qua lời thơ:

“Việt Nam là Phật giáo

Phật giáo là Việt Nam

Ngàn năm xương thịt nối liền

Tình sông nghĩa biển mối duyên mặn nồng”

Nếu không phải là Phật tử và cũng có thể là Phật tử, đọc bốn câu thơ trên rất dễ có ý niệm “có chủ quan lắm không ?”

Điều rất rõ là dù chủ quan hay khách quan, lấy cái tâm vô tư mà thấy thì sự thật vẫn là sự thật.

Lịch sử Phật giáo Việt Nam và lịch sử dân tộc Việt Nam đã chứng minh điều đó, điều mà dân tộc Việt Nam đã hãnh diện có Phật giáo Việt Nam trực tiếp đóng góp vào các phong trào dựng nước và giữ nước, cũng là điều mà Phật giáo đã có một dân tộc như dân tộc Việt Nam để mà có mặt, để mà đóng góp trọng trách hoằng dương chánh pháp, để cải tiến xã hội con người. Có được điều này là do sự khế hợp của Phật giáo với dân tộc Việt Nam. Vì Phật giáo truyền đến đâu đã chóng trở thành sức mạnh tinh thần, sức mạnh tâm linh của chính dân tộc đó, chứ không phải là một thế lực ngoại lai phi nhân bản. Đức Phật đã trở thành đức Phật của Việt Nam, Phật giáo đã trở thành Phật giáo của Việt Nam. Nhờ khả năng Việt hóa đó mà Phật giáo Việt Nam đã trực tiếp đóng góp tích cực vào nền tự chủ của dân tộc trong các triều đại Đinh, Lê, bảo vệ độc lập, phát huy sức mạnh dân tộc như triều đại Lý, Trần. Chỉ với một ngôi chùa Trấn Quốc bây giờ ở trung tâm thủ đô Hà Nội cũng chứng minh điều đó. Chùa này có thời Lý Nam Đế (544–548) có tên là chùa Khai Quốc (mở nước) thời Lê Thái Tông (1434–1442) đổi tên là chùa An Quốc (đất nước an bình) đến niên hiệu Hoằng Đinh thứ 16 (1615) Lê Kính Tông lại đổi là Trấn Quốc (giữ nước).

Nhắc đến thành công của các triều đại này trên nhiều lãnh vực: văn hóa, chính trị, quân sự, kinh tế, ngoại giao, xã hội, và giáo dục. Chính là thành quả của tinh thần yêu nước, thương dân, mến đạo của đa số quần chúng Phật tử được tôi luyện qua châm ngôn “phụng hành chánh pháp là phục vụ dân tộc”.

Ngay từ đầu sơ khai, thiền môn đã đảm nhận công tác giáo dục quần chúng, kết hợp hài hòa với tư tưởng Nho – Lão trong mục đích chung là phục vụ quyền lợi tối thượng của dân tộc Việt Nam.

Ai cũng biết, giặc dốt, giặc đói hại không kém giặc ngoại xâm. Giặc ngoại xâm gây chết chóc, đổ nát nhưng chỉ nhất thời, có giai đoạn, đánh đuổi đi là xong. Nhưng giặc nội tại như giặc chia rẽ, giặc kỳ thị, giặc quan liêu, phong kiến, giặc tham nhũng, hối lộ, giặc ưa nịnh ghét trung, giặc ố nhơn thắng kỷ, giặc đè người giỏi nâng kẻ dốt và nhiều loại giặc khác, Phật giáo liệt tất cả chúng do ba thằng tướng giặc là Tham, Sân, Si gọi là tam độc. Nó hại dân, hại nước, đày đọa con người muôn đời muôn kiếp, phải loại trừ các loại giặc này mới thật sự giải phóng con người cùng đích.

Vì vậy, quan niệm cũng như hành động của người Phật tử yêu nước dưới nhiều hình thức, muôn hình vạn trạng, có muôn ngàn cách yêu nước, nhất thiết không hẳn chỉ hiểu là phải trực tiếp cầm gươm cầm súng (dĩ nhiên), mà cũng có thể cầm bút, cầm phấn, đọc sách, cầm kinh, cầm cày, cầm cuốc, cầm lúa, cầm vô lăng, khám bệnh, chế thuốc, kể cả lời ca tiếng hát v.v… Miễn là bằng cả nhiệt tâm đem hết tài trí, khả năng, đức độ của mình đóng góp vào sinh hoạt cộng đồng quốc gia, thăng tiến xã hội, đây mới là hành động và tinh thần yêu nước tích cực nhất, cao diệu nhất.

Lời nhắc nhở, khuyến khích của các vị lãnh đạo Phật giáo: “Người Phật tử Việt Nam bất cứ tại đâu và bất cứ lúc nào cũng phải phục vụ dân tộc Việt Nam theo quan điểm Phật giáo” – Phật tử Việt Nam xem đó là kim chỉ nam để thực hiện lòng yêu nước của mình.


VÀI NGỘ NHẬN

về

PHẬT GIÁO VIỆT NAM

Nhận xét, phê bình là một trong những quyền căn bản của con người. Nhưng nhận xét đúng hay sai là một việc khác. Rồi phê bình đúùng hay không đúng là một việc khác nữa, nhất là nhận xét về Phật giáo mà là Phật giáo Việt Nam quả thật không dễ, mà đã không dễ nên có ngộ nhận sai lầm điều này không lạ.

Ở đây, tôi muốn nói vài ngộ nhận về Phật giáo Việt Nam do thiên kiến, cố chấp mà có và tệ hơn nữa là cố ý nếu không nói là ác ý để đưa ra nhận xét và phê bình sai lầm về Phật giáo Việt Nam để tạo ra tội lỗi cho bản thân và di hại đến nhiều người khác nhất là di hại đến thế hệ trẻ thì quả là điều khó chấp nhận.

Trình bày điều này thật không dám cao vọng đề cập một vấn đề trọng đại mà chỉ muốn nói với các bạn thân tình vài điểm cần yếu để cùng có một nhận thức chung, hầu chủ quan hay khách quan, tội phạm hay tòng phạm đều phải uốn nắn cách nghĩ, cách làm cho đúng.

  • Về hình thức sinh hoạt nghi lễ, thờ tự :

Chùa là để thờ Phật, nơi học Phật, tu theo Phật. Nhưng có những ngôi chùa còn thờ thêm đủ thứ, học thêm đủ chuyện và tu theo đủ cách (các cách ngoài pháp môn của Phật) thậm chí còn thờ cả thú vật (như thờ ngựa, thờ voi…), những hình thức thờ tự này dĩ nhiên không đúng chánh pháp, đượm màu mê tín dị đoan. Nhìn vào lối thờ tự như vậy do chính quí Cô quí Thầy Tu sĩ Phật giáo bày ra thì ai mà chẳng ngộ nhận!

Điểm này chúng ta cần xét rõ: Từ xa xưa sinh hoạt này trong xã hội Việt Nam có một số người tin như thế.

Đạo Phật lại không có những qui định cứng rắn, không có sự điều hành chặt chẽ, tất cả đều do tự nguyện, tự giác mà thôi.

Chúng sanh đa nghiệp, mỗi người lại cần một món ăn khác nhau tùy theo sở nguyện, sở cầu của họ lại thêm cái tâm tham (lãnh vực này ta tạm gọi là tham tin, đã tin Phật rồi vẫn còn muốn tin ông Chín Thượng Ngàn, tin bà Chúa Ba, bà La Sát, bà Cửu Thiên Huyền Nữ…).

Ảnh hưởng truyện Tàu, Tam Quốc có Quan Công hiển Thánh, Đường Chinh Tây có Lê Sơn Thánh Mẫu, Bát Tiên Quá Hải có Lý Thiết Quài, Đào Tiên Cô, Phong Thần có Thiên Tiên, Địa Tiên…

Và tâm lý thường tình ai cũng muốn có một vị Thần hộ mạng đầy uy lực và pháp thuật cao cường, và cũng từ tâm lý này mà họ tin, họ cầu, họ thờ, trong đó có cả vài tu sĩ Phật giáo làm trú trì cũng tin như thế, chưa nói đến cái tệ nạn lợi dụng Thần Thánh Tiên Phật mà tư lợi, tư kỷ làm sinh hoạt Phật giáo bị hoen mờ.

Như vậy, chúng ta thấy rõ vấn đề khá phức tạp. Hơn ai hết, người tu sĩ Phật giáo, người tín đồ Phật giáo chơn chánh phải nhận thức, phải tiên phong cải tiến nếp sống, phải dẫn đầu công việc gạn lọc tạp nhân, tạp chất lẫn lộn trong Phật giáo. Chúng ta nên nhớ “hoa sen mọc từ bùn nhưng đừng để bùn làm bẩn hoa sen”.

  • Về lãnh vực Nhân sinh :

Một xã hội tiến hóa đích thực phải tiến hóa nhiều mặt, tiến về văn chương, nghệ thuật để phục vụ đời sống tinh thần, tiến về khoa học máy móc, y học để phục vụ đời sống vật chất, sức khỏe, nhưng chưa đủ để tạo được hạnh phúc cho nhân loại, nó còn đòi hỏi những sinh hoạt, những tiến bộ về đạo đức tâm linh, những cơ sở vô hình này khiến con người tin được nhau, thương yêu lẫn nhau, đãi ngộ và tận tình giúp đỡ nhau, nhiên hậu xã hội mới thành xã hội tốt được.

Văn minh khoa học tiến bộ mà chăm lo sản xuất vũ khí để tiêu diệt nhau, tranh chấp, xâm lấn, đàn áp nhau nếu không phải vì thiếu đạo đức, thiếu lòng tin về tội phước ! Dùng văn chương nghệ thuật để khuynh loát nhau, lừa bịp nhau, tôn vinh bè phái, tranh giành ảnh hưởng với nhau thì thử hỏi có ích gì cho nhân loại ?

Thế mà, chúng ta, những người Phật tử đang xây dựng những nhịp cầu thương yêu, đang tạo dựng những nền móng Đạo đức lại bị những xuyên tạc nặng nề “ngồi mát ăn bát vàng, trốn tránh nợ đời, là lười biếng, là bi quan, là yếm thế v.v… và v.v…”.

Sự thật, cũng có vài Tu sĩ (rất ít) mang tâm ý hưởng thụ, không chịu khó, thiếu chịu khổ, sợ lao động chân tay mà cũng chẳng lao động trí óc, tuy số này rất ít nhưng cũng có cớ cho những nhận thức sai lầm, cố ý vin vào để xuyên tạc. Còn đa số tăng sĩ đã im lặng và trả lời bằng hành động “Nhất nhật bất tác, nhất nhật bất thực” vì cái nghĩa của chữ “Tác” đâu chỉ đóng khung trong phạm vi cày cuốc, khuân vác mà chúng ta đã “Tác” với cái nghĩa cao hơn, rộng hơn, vô tánh, vô tướng bằng nhiều hình thức, bằng nhiều phương diện, đâu cần ai biết, nào muốn ai khen. Các công tác xã hội từ thiện Phật giáo bao giờ cũng đi tiên phong và làm rất nhiều mà có cần lên đài lên báo đâu. Chúng ta làm mà thế gian tầm thường không thấy làm gì cả, ai muốn biết cứ thử làm Tu sĩ đúng nghĩa vài hôm thì biết ngay, để thấy “Ngồi mát” như chúng ta không dễ.

Về việc trốn tránh nợ đời, bất hiếu với tổ tông, không lập gia đình là phản tự nhiên của cuộc sống. Lập luận và đánh giá sự việc kiểu này chỉ như học sinh mẫu giáo dám chê nhà toán học chưa biết dấu cộng trừ. Họ cần thấy rõ một chữ Hiếu của đạo Phật, không phải chỉ lo cho cha mẹ hiện tiền mà còn độ thoát cho cha mẹ, ông bà nhiều kiếp. Người Tu sĩ Phật giáo không lập gia đình là một hành động tích cực siêu việt, một hy sinh cao cả, hy sinh cái hạnh phúc bình thường, nhỏ hẹp, ích kỷ, trải cái từ tâm khắp cả chúng sanh. Ý họ muốn con chim đại bàng phải bò như con rắn?! Và cái tự nhiên của muôn loài động vật bình thường đến tầm thường. Bình thường như mọi vật đều bị sức hút của quả đất mà rơi xuống, nhưng khi một vật ở ngoài thượng tầng khí quyển không còn bị sức hút của quả đất, nên không rơi xuống nữa, điều này cũng tự nhiên chứ? Tự nhiên cao hơn, thánh thiện hơn mà thôi.

Một lãnh vực khác người ta đánh giá người Phật tử tiêu cực, bi quan, yếm thế. Điều này, nói rõ rất dễ mất lòng, vô lẽ không tranh danh đoạt lợi, không giành giựt hơn thua là tiêu cực? Không xum xoe la hét, sống đạm bạc thanh cao là bi quan? Không mua quan bán chức, không gian tham hối lộ là yếm thế? Người Phật tử có nếp sống đạo hạnh, từ ái, vô tư, hiền hòa. Một phong thái nhẹ nhàng, giải thoát. Không huênh hoang tự thị, tự mãn vì ý thức cuộc đời là vô thường, danh lợi là giả huyễn, từ đó mà tự chế trong cuộc sống, tin vào luật nhân quả nên tự tại trong mọi hoàn cảnh. Tự thắng là một hành động tích cực siêu việt mà người bình thường không làm được.

Với nhận thức như thế, một lập trường sống rõ nét. Người con Phật đã có một hướng đi siêu thoát và cứ thế mà tiến bước, bước lạc ra ngoài là rơi vào hố sâu tội lỗi, là tạo nghiệp bất thiện.

  • Về Kinh luật:

Giáo lý thậm thâm vi diệu của Phật giáo trong tam tạng kinh điển đồ sộ chúng ta không đủ trình độ và khả năng đọc và biết hết ý đức Phật đã dạy, khi ẩn dụ, khi hoán dụ, tùy trình độ và đối tượng, tùy lúc và tùy nơi. Chúng ta học chưa tới, hiểu chưa rõ, nghĩ chưa thông, nhất là không ứng dụng, nghĩa là không tu hoặc có tu mà không chịu học nên hành trì sai, truyền bá trật, vì vậy mà những người đứng ngoài nhìn vào rất dễ ngộ nhận.

Ở đây, tôi muốn nói đến một sự oái oăm khác, những nhận thức sai lầm không phải là những kẻ thiếu học mà từ những nhà thông thái có học thức, có học vị hẳn hoi (không phải là tri thức) những người này hiểu giáo lý đạo Phật rất nhiều, rất cao có thể gọi là nhà nghiên cứu Phật học. Nhưng họ học Phật không phải để hành trì, để tin tưởng mà để trích văn, rút ý, lập luận trái ngược, xuyên tạc phỉ báng. Họ thực hiện rất tinh vi mà nếu chúng ta không cảnh giác, suy nghĩ tường tận rất dễ trở thành kẻ đồng lõa với tội lỗi mà trở thành sư tử trùng trong mình sư tử.

Trường hợp thứ hai xảy ra từ trước đến nay là họ nghiên cứu rút lời hay ý đẹp trong đạo Phật, tinh ba trong Phật giáo rồi sao chép, xào nấu, thêm gia vị, bọc bao bì, dán nhãn hiệu của họ rồi tung ra thị trường, lôi kéo, mua chuộc, lập phái, lập tôn, làm cho đạo Phật rối tung lên vì cái ta, cái ngã của họ. Đó là những người có tư tưởng “Cá nhân chủ nghĩa”, “muốn làm lãnh tụ” khi thực chất trong họ chưa có gì. Và cũng từ đây mà tạo nên nhiều ngộ nhận khác nữa về Phật giáo Việt Nam.

(

Trên đây chỉ nêu vài nhận thức sai lầm về Phật giáo Việt Nam có tính phổ biến, còn nhiều thấy biết sai lầm khác mà chúng ta phải chấn chỉnh.

Điều cốt yếu là chúng ta, những Tu sĩ và Cư sĩ Phật giáo thuần thành không cho phép chúng ta tạo điều kiện để người ta hiểu sai lầm về Phật giáo Việt Nam, ngoại trừ người ta cố tình xuyên tạc hay có ác ý e sợ ảnh hưởng của Phật giáo trong quần chúng mà tung hỏa mù để phá Phật giáo chúng ta. Tôi muốn nói thêm, đừng sợ người ta phá Phật giáo, hiểu lầm Phật giáo mà chỉ sợ chính chúng ta, nguời Phật tử chúng ta chưa hiểu Phật mà trở thành phỉ báng Phật của chúng ta.

Các điểm đã nêu là thực tế, mà thực tế bao giờ cũng dễ đụng chạm. Xin quí vị, nếu có, lấy lòng từ mẫn khoan dung cho.

Hè 2003




Sau lễ Phật đản Liên Hiệp Quốc, Phật giáo Việt Nam gượng dậy nhưng chưa đứng vững, rồi đúng một năm sau, sinh khí năm trước lại dần dần đi vào quên lãng trong quần chúng.

Trước đó, một cuộc hội thảo quy mô có tầm cỡ quốc tế “Phật giáo Việt Nam cơ hội và thách thức”. Cũng qua đi cơ hội mà thách thức vẫn còn, chưa có một giải pháp khả thi.

Hai sự kiện ấy, còn lại gì? Phải chăng chỉ là phong trào như có tính nhất thời như hoa phù dung sáng tươi, chiều héo.

Ngoài đời, những ngày gần đây, vụ Biên giới đất liền, Hải phận đến đâu, Ngư dân đói khổ, Quần đảo đang tranh chấp, Bô-xít Tây Nguyên, hàng lậu độc hại của Trung Quốc xâm nhập ồ ạt là những vấn đề lớn của đất nước.

Trong xã hội, quốc nạn tham nhũng chưa diệt được, buôn lậu và sử dụng ma túy vẫn hoành hành, các công ty, xí nghiệp hết bức tử dòng sông này qua bức tử dòng sông khác, ruộng đồng bị thu hẹp, cảnh khiếu kiện về đất ruộng xảy ra khắp nơi, băng nhóm cướp giật chỗ nào cũng có, quán xá nhậu nhẹt thi nhau mọc lên tràn vào xã làng, thôn xóm. Một bức tranh như thế dù người lạc quan đến đâu cũng thấy nhói lòng.

Trong lúc đó, Phật giáo Việt Nam, người Phật tử Việt Nam, Tăng Ni khá đông, trường lớp cũng nhiều. Chúng ta, phải, chúng ta đóng góp với xã hội, với đất nước được gì? Hay chỉ biết có chức trọng, quyền cao – chùa to, Phật lớn, thế là đủ rồi sao? Rồi như vụ Bát Nhã ở Lâm Đồng, vụ P.H ở Đồng Nai, vụ Q. ở Phú Nhuận, vụ V.H ở Sài Gòn, tại sao như thế? Vô lẽ sinh hoạt của Phật giáo Việt Nam chỉ có thế! Tiền bạc của Đàn Na Tín Thí đổ ra cũng nhiều, sức lực của Tăng, Ni và Phật tử đầu tư cũng lắm, vô lẽ đó là mục đích hay sao?

Vậy nên, Phật giáo Việt Nam phải định hình trên một cơ sở vững chắc, phải định hướng một con đường phục vụ thiết thực, phải mạnh dạn thay đổi cách nhìn, cách làm, xin để tiền giúp đỡ người nghèo, xin để sức mà lo hoằng pháp, xin nỗ lực lo khuyên dạy tín đồ, hãy chung sức với nhau để ngăn chặn tệ nạn xã hội, hãy dấn thân vào vùng sâu, vùng xa chia sẻ niềm cơ cực với tín đồ rồi cùng với họ tạo cho được cái tinh thần đoàn kết, yêu thương, biết quý trọng lũy tre xanh, đồng ruộng tốt, trùng tu gấp các đình, chùa, miếu vũ của làng, của xóm. Ngăn chặn những thế lực vô minh, những tín ngưỡng phi đạo đức, những mưu ma chước quỷ đang rình rập để hại nước, phá dân, buôn Phật bán Thánh, mua chuộc và lũng đoạn tín đồ Phật giáo. Cơn lũ vật chất, gió lốc kim tiền sẽ tàn hại tất cả. Lúc ấy, liệu chúng ta có ngăn chặn được, có yên thân mà tụng kinh gõ mõ, và một số cán bộ có ngồi rung đùi mà nhấp nháp cà phê, thuốc lá trong biệt thự cao tầng bên vợ đẹp con xinh, có bảo vệ tài sản đã vơ vét được? Hãy ý thức nguy cơ để cùng nhau cấp thời chung sức, chung lòng cứu đời, cứu đạo. Nếu còn đố kỵ, còn nghi ngờ, còn tranh chấp, còn hơn thua, còn vị kỷ, còn tham lam, còn chia rẽ thì đại họa cho đất nước, cho Phật giáo Việt Nam khó tránh khỏi, lúc ấy sẽ TẠI, BỞI, VÌ thì còn ích lợi gì nữa.


CÔNG LÝ

Tổ tiên chúng ta có nói: “Vô phúc đáo tụng đình”, có nghĩa là người nào, nhà nào vô phước thì đi hầu quan tòa, dù mình kiện người khác hay người khác kiện mình, hoặc giả không có kiện tụng nhưng vì một lý do nào đó mà phải bị ra tòa, tất cả đều là “vô phước”, theo câu nói trên, gẫm lại không phải là vô lý.

Ở trong nhân gian lại có câu “Nén bạc đâm toạc tờ giấy”, nghe câu này rõ ràng đã nghi ngờ sự công minh của công lý, không tin tưởng vào công lý nữa, vì công lý đã bị kim tiền sai khiến. Các câu trên đã có trong thời Phong kiến, thời Thực dân thống trị vì công lý chỉ là sản phẩm của kẻ cường quyền, kẻ cướp nước, pháp luật của bạo lực, của vô minh.

Nhận định và thực tế chỉ có trong thời thực phong nay đã lùi về quá khứ, chứ không thể có, không thể chấp nhận trong thời kỳ mà đất nước đã dành được độc lập và thống nhất giang sơn. Mọi người thở phào vất đi gánh nặng để nhẹ nhàng chung vai sát cánh xây dựng lại quê hương. Khi nói đến công lý thì phải đề cập đến pháp luật, vì pháp luật cần có và phải có để phụng sự công lý, vì nếu pháp luật lơi lỏng, pháp luật không nghiêm, pháp luật chỉ để phụng sự cho tư kiến, cho kiến thủ thì chắc chắn pháp luật ấy trở thành phản tác dụng vì không đem lại an lạc cho mọi người, không bảo đảm được mọi nhu cầu và cơ cấu của một xã hội lành mạnh.

Con người phải ý thức rằng pháp luật để phụng sự công lý thì cuộc sống mới yên ổn, thân mạng và tài sản mới được bảo vệ, hạnh phúc mới được trọn vẹn, và ngược lại.

Có điều, dù cho công lý có nghiêm minh, pháp luật có hiệu quả cũng chỉ giải quyết được những hiện tượng, nói rõ hơn là những tội lỗi đã xảy ra hoặc răn đe để người ta sợ, có tính tạm thời như cắt ngọn tỉa cành chứ chưa phải giải quyết tấn gốc. Chỉ có, làm thế nào để con người tự giác, tự thấy rõ, tin vào công lý của tự tâm, có vay có trả theo định luật nhân quả mà không dám phạm vào tội lỗi, mà cái gốc của tội lỗi là tham lam, sân hận, si mê. Con người khi diệt được tham tâm, trừ được sân hận, sáng suốt chín chắn trong mọi ý nghĩ, ngôn ngữ, hành động thì không hoặc ít có tội lỗi.

Vấn đề được đặt ra là con người tránh được tội ác không phải chỉ vì sợ pháp luật trừng phạt, mà sợ định luật nhân quả vì định luật này không do ai sáng tạo, không do các thế lực trần đời áp đặt mà do chính mỗi con người quyết định, nó mạnh mẽ đúng đắn, công minh chi phối tất cả mọi sinh hoạt, đem đến đau khổ hay hạnh phúc cho bản thân, gia đình, xã hội, quốc gia và cả thế giới. Đó mới là công lý vững chắc và trường cửu.

Người cầm cân công lý hiểu như vậy để phụng sự, nhà lập pháp và hành pháp hiểu như vậy để có một chính sách, một đường lối đúng đắn, cao đẹp thì mới đáp ứng được nhu cầu đích thực của cuộc sống con người.

Tặng riêng Lê Thị Thủy – Quảng Ninh

(Cán bộ Tư pháp Tỉnh)


Thông diệp

Của một người gởi đến mọi người

nhân mùa báo hiếu Vu Lan

NAM MÔ BỔN SƯ THÍCH CA

MÂU NI PHẬT

Thưa quí vị:

Tâm Phật là tâm hiếu.

Đạo Phật là đạo hiếu.

Hạnh Phật là hạnh hiếu.

Nên người Phật tử phải là người chí hiếu.

Truyền thống của đạo Phật, Đạo Phật Việt Nam. Đạo Hiếu Thuận.

Truyền thống của dân tộc, Dân Tộc Việt Nam. Dân Tộc Hiếu Thuận.

Một đạo lý xem sự hiếu hạnh đứng đầu trong muôn hạnh.

Một dân tộc xem sự tri ân và đền ơn là một nghĩa vụ cao cả trên mọi nghĩa vụ.

Một con người mà là người Việt Nam hấp thụ được giáo lý đức Phật nên nhận chân được ý nghĩa sống giữa cuộc đời. Một ý sống sáng rực nghĩa tình không những đối với cha mẹ hiện tiền mà còn với đa sanh phụ mẫu quá khứ. Trên lộ trình phát triển trí tuệ và từ bi.

v Từ căn bản giải thoát, tự giác và giác tha.

v Từ bức thông điệp xây dựng đời sống có ý nghĩa cao thượng của đức Phật gởi cho nhân loại.

v Từ luật lệ bất thành văn, truyền thống hiếu kính của giống giòng Việt tộc.

v Từ ý thức sâu đậm và khả năng xây dựng đạo đức căn bản của con người.

v Từ một ý thức, một tầm nhìn chứa đựng tình cảm siêu nhiên trong sáng của người con Phật.

v Từ một tinh thần biết ơn và đền ơn không ranh giới, không hạn hẹp của người Việt Nam.

Giáo pháp đức Phật trong sáng hóa tình cảm con người, giúp con người thoát ngoài sự trói buộc của tham lam, ích kỷ, si mê, của thứ tình cảm nhỏ hẹp.

Giáo pháp đạo Phật mạnh mẽ, dùng lưỡi gươm trí tuệ cắt phá lưới vô minh, trong đó có sự vô minh của tình cảm.

Giáo pháp đạo Phật triệt để và cương quyết loại bỏ mọi ý nghĩ, mọi hành động, mọi lời nói phi chánh pháp, bất nhân, bất nghĩa, bất hiếu, bất trung.

Môn đệ của đức Phật trong mỗi ngày phải chạm trán với những khó khăn, phải đối đầu với những bất công, với chông gai hung ác, với lừa lọc dối trá của cuộc đời, nhưng dứt khoát không để cho tâm mình hoen ố, không xâm phạm quyền lợi của tha nhân để chuốc lấy khổ đau và tạo thêm tội lỗi. Trong đó, tội bất hiếu đừng đầu trong muôn ngàn tội lỗi.

Ôn lại truyền thống báo hiếu, báo ân, nhớ công cha nghĩa mẹ, trọng tình bạn nghĩa thầy. Lòng dặn lòng cố tu tâm dưỡng tánh, làm những việc phải làm, nói những điều cần nói, nghĩ đúng, làm đúng, nói đúng.

Chỉ có thế mới đền đáp được thâm ân của Thầy Tổ, của cha mẹ, ông bà, của tổ tiên, của quốc gia xã hội.

Cầu nguyện Tam bảo gia hộ cho toàn thể chúng ta.

Nam Mô Đại Hiếu Mục Kiền Liên Tôn Giả.


CẢM NIỆM NHÂN KỶ NIỆM NGÀY

ĐỨC THẾ TÔN THÀNH ĐẠO

Đêm ấy, cách đây hơn 20 thế kỷ, trên bầu trời trong xanh, long lanh sao bạc, Thái tử Tất Đạt Đa ngồi tĩnh tọa dưới gốc bồ đề, bên sông NI LIÊN THUYỀN nước ẤN ĐỘ. Trong cảnh rừng đêm tịch mịch ấy, có ai hình dung được nó như thế nào? Vì mưu cầu hạnh phúc chân thật cho mọi loài, muốn cải tạo xã hội loài người hoàn toàn thiện mỹ, cứu vớt chúng sanh ra khỏi vòng sanh tử luân hồi, không thể ngồi nhìn chúng sanh lặn hụp trong bể khổ trầm luân, Ngài quyết tâm tìm ra con đường giác ngộ giải thoát chúng sanh. Xé tan màn vô minh đen tối, để chúng sanh thấy ánh quang minh – Nên Ngài đã rời nơi cung điện nguy nga, ngọc ngà châu báu, màn gấm nệm nhung. Cảnh phu thê đầm ấm, tình phụ tử bất ly, ngài đã lìa xa tất cả. Ra đi để hoàn thành đại nguyện. Dấn thân vào rừng núi hoang vu, bạn với chim muông rừng núi, lấy đất làm chiếu, lấy trời làm màn, đói ăn trái cây, khát uống nước suối, tu khổ hạnh 6 năm Ngài chưa tìm ra chân lý, và một ngày kia Ngài té xỉu giữa rừng. Nhờ bát sữa của nàng Tu Xà Đề mà Ngài hồi tỉnh. Kính lạy đấng Chí tôn! Con niệm đến đây mà lòng con dâng lên một cảm giác khó tả. Con biết nói gì đây, giòng sông Ni Liên nước xanh trong mát kia, đã hân hạnh đón được kim thân rửa sạch bụi trần khi Ngài sắp thuyền định. Đám cỏ xanh vô tình hiền dịu đã sung sướng đưa mình làm nệm đón đỡ một vị cứu tinh muôn loài.

Cây Bồ đề sum sê cành lá, đã tốt phúc vươn mình che chở đón gió mưa cho một đấng Cao minh của vũ trụ, con còn nhớ rõ lời của Ngài khi tĩnh tọa dưới gốc Tất Bá La: “Nếu không tìm ra được chân lý dù thịt nát xương tan, ta cũng không rời khỏi chốn này”. Cao cả thay! Lời phát nguyện vô cùng cương quyết ấy. Và sau 49 ngày thuyền định, Ngài đã thực hiện được ý nguyện – tìm ra được đạo vàng.

Kính lạy Ngài,

Hôm ấy tuy đã về quá khứ, nhưng nhờ lịch sử con được biết canh một Ngài chứng quả: TÚC MẠNG MINH: thấy rõ những kiếp trong quá khứ. Canh hai Ngài chứng quả: THIÊN NHÃN MINH: thấy rõ vũ trụ bao la. Canh ba Ngài chứng: LẬU TẬN MINH, rõ biết nguyên nhân sự khổ và tìm ra phương thuốc diệt khổ – giác ngộ hoàn toàn.

Chúng sanh ơi! Đức Thích Ca đã thành Phật. Ngài đã tìm ra Chánh pháp. Ngài sẽ đem đạo lý ấy mà giáo hóa chúng sanh. Chúng sanh ơi! Nhân loại ơi! Hãy tỉnh dậy. Tỉnh dậy mà học hỏi đạo Ngài. Tài sắc danh vọng không đưa chúng sanh đến chỗ an vui thật sự đâu, hãy vất bỏ tham sân si là gốc rễ của muôn ngàn tội lỗi. Vất lòng vị kỷ và ngã mạn đi, để giác ngộ như Ngài. Nhân loại ơi! Đời mau tàn lắm, sự chết theo lưỡi búa thời gian, như cánh hoa mai tươi chiều úa. Đời người sẽ trở nên vô nghĩa nếu sống thiếu đạo đức, thiếu niềm tin, thiếu an lạc.

Kính lạy đấng Thế Tôn,

Ngài đã dạy chúng con: “Ta là Phật đã thành các ngươi là Phật sẽ thành”. Ôi! Nhiệm mầu thay. Câu ấy đã phát ra từ kim khẩu đã trên 2.000 năm mà âm vang còn rõ rệt bên tai con và mọi người yêu chân lý.

Ngài là đấng cha lành muôn thuở của con, đã tạo cho con một lý tưởng để tôn thờ, như muôn ngàn chúng sanh. Biết làm sao đền đáp được thâm ân của Ngài, hôm nay mọi người làm lễ kỷ niệm ngày Thành đạo của Ngài. Con không biết làm gì hơn là thành tâm thệ nguyện: Con nguyện quyết tâm phục vụ Chánh pháp. Dù khổ cực gian lao, lý tưởng con vẫn một lòng tôn thờ. Nhiệm vụ thiêng liêng cao quý của người Phật tử, một đoàn sinh của đại Gia đình Phật tử Việt Nam con sẽ luôn tận tâm phụng sự. Con sẽ cố gắng góp một phần vào công việc hoằng dương Chánh pháp.

Con nghĩ rằng đó cũng là sự đáp đền ơn sâu của Ngài trong muôn một, và để khỏi hổ thẹn với danh từ Phật tử mà con đang được hân hạnh tham dự.

NAM MÔ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT

Kỷ niệm ngày thành lập chính thức

GĐPT An Truyền, Huế, 1956


DIỄN VĂN

Của Thầy Phó Giám Đốc

trường Trung học

Kiêm Hiệu Trưởng

trường Tiểu học Bồ Đề Tuy Hòa

đọc trong dịp phát thưởng cuối Niên Khóa 1969–1970

Kính bạch Đại Đức Chánh đại diện tỉnh GHPG Phú Yên,

Kính thưa Trung tá Tỉnh trưởng Tỉnh Phú Yên,

Kính thưa ông Trưởng Ty Tiểu học Phú Yên,

Kính thưa quý vị quan khách và phụ huynh học sinh.

Thế là một niên học trôi qua, nhận trách nhiệm với Giáo hội đứng ra điều hành việc trường trong một hoàn cảnh khá phức tạp. Sự cố gắng cộng với nhiệt tâm thiện chí của hội đồng giáo viên chúng tôi đã vượt qua những trở ngại ban đầu. Tự lực đã là điều dĩ nhiên, thêm vào sự giúp đỡ của tha nhân, của Giáo hội, của Ty Tiểu học Phú Yên, của chư vị Thiện tri thức, chúng tôi xin ghi nhận và góp nhặt lại kết thành một tràng hoa hiến dâng lên Tam bảo, nhân buổi lễ phát thưởng cuối năm trùng hợp với mùa sen 2514.

Chúng tôi nghĩ rằng, bước đầu sinh hoạt của trường đã gặt hái ít nhiều thành quả không phải hình thức hay số tiền thu học phí hàng tháng (thực sự thì thu không đủ để chi) mà thành quả ở căn bản giáo dục thiếu nhi, góp phần xây dựng tương lai đất nước, cái thành quả gieo vào lòng người một ý niệm đẹp, tuy rằng trường tư thục nhưng cơ sở này không là nơi mua bán chữ nghĩa mà là chỗ phát triển văn hóa dân tộc và phổ biến Giáo lý Phật đà.

Đứng trên quan điểm văn hóa đó, với bản chất giáo dục đó với khung cảnh xã hội Việt Nam hiện nay, tự nó không đóng khung trong một phạm vi chật hẹp mà bắt buộc chúng tôi phải có một cái nhìn toàn triệt để xác định chiều hướng và phương thức hoạt động của trường trong hiện tại cũng như tương lai.

Chính vì lẽ đó, kính thưa quý vị, qua sự hiện diện của quý vị trong buổi lễ này, chúng tôi càng tin tưởng hơn vào con đường giáo dục nhằm mục đích khai phóng dân tộc và không có phương pháp nào kết quả hơn phương pháp ĐẠO HỌC, biết đem đạo vào đời và đời cần có đạo.

Bây giờ, tôi xin phép quý vị để ngỏ lời với các em học sinh.

Các em thân mến.

Thầy đã thường gặp, thường nói, thường khuyên, thường chỉ bày cho các em suốt một niên học qua. Giờ đây, sau khi lãnh thưởng và các em ra về để nghỉ hè, vui chơi để rồi chuẩn bị cho niên học mới.

Đới với các em sắp lãnh thưởng đó là kết quả của một sự cố gắng không ngừng, một vinh dự trong đời học sinh, thầy có lời khen ngợi. Với các em không được lãnh thưởng vì bạn bè của mình lãnh thay các em cũng có được một phần thưởng đáng giá đó là kết quả thu được một số chữ nghĩa kiến thức, đạo đức mà các em đã học suốt một năm qua. Các em đã tỏ ra cố gắng, chăm chỉ. Thầy khuyên các em cần cố gắng, chăm chỉ hơn nữa để xứng đáng sự thương mến, kỳ vọng của cha mẹ, thầy cô và tất cả mọi người đang lo lắng, xây dựng cho các em.

Hôm nay, thầy trò chúng ta tạm chia tay và sau ba tháng thầy mong sẽ gặp lại các em trong ngôi trường này với cõi lòng bao la như tình phụ tử.

Kính thưa quý vị,

Sau hết mà cũng là trước hết, thay mặt Ban Giám đốc, Hiệu Trưởng, Hội đồng Giáo viên và toàn thể học sinh trường tiểu học Bồ Đề, tôi thành tâm ghi nhận lòng ưu ái, cảm tình của quý vị đối với trường chúng tôi, và ước mong cảm tình này sẽ được nuôi dưỡng thành thâm tình để trợ duyên cho chúng tôi trên đường phục vụ Đạo pháp và dân tộc qua thiên chức Giáo dục của mình.

Trân trọng kính chào quý vị.


ĐƯỜNG HƯỚNG GIÁO DỤC

Phật Giáo

Chiến tranh dai dẳng trên đất nước này suốt 30 năm đã làm băng hoại mọi giá trị tinh thần của dân tộc, vô hiệu hóa mọi nỗ lực kể cả nỗ lực trên phương diện giáo dục Thanh thiếu nhi.

Tương lai đất nước trong vòng 5, 10 năm đến đây sẽ được những gì? Đó là tất cả suy tư, dằn vặt, lo âu những người lưu tâm đến tiền đồ Tổ quốc.

Phải nhận rõ rằng, hầu hết thanh niên Việt Nam hôm nay đã quá mệt mỏi, quá hoài nghi, quá chán chường vì bị lợi dụng quá đáng, kể cả lợi dụng máu xương, bị giết chết mọi hy vọng dù là hy vọng cỏn con “được yên thân và tiếp tục học tập”.

Nhận thức như thế để chúng ta thấy những người mang trọng trách làm giáo dục hôm nay không thể quan niệm như một sự đổi chác có tính cách thụ động phát xuất từ ý hướng phục vụ kinh tế cá nhân, phe nhóm mà nó phải bắt nguồn từ lý tưởng giáo dục, bằng ý thức trách nhiệm làm thầy.

Thử đặt câu hỏi: Sự giáo dục nào đã sản xuất những tên phản quốc, lừa thầy phản bạn? Bán tước mua quan, vào lòn ra cúi? Nền văn hóa nào đã đào tạo những kẻ vong bản, chà đạp lên đạo lý luân thường? Hạng người này không phải là bà cụ bán hàng rong, bác phu xích lô hay người nông phu cày ruộng. Vậy ai dám bảo họ thiếu giáo dục, thiếu bằng cấp, thiếu văn hóa! Phải chăng đó là hậu quả sự lấn áp của nền văn hóa ngoại nhập, lai căng, là lối giáo dục mất gốc của một quốc gia bị trị!

Do đó, làm văn hóa và giáo dục không phải chỉ mở thật nhiều trường, lết cho xong chương trình, giảng cho chóng hết bài như sự kết hôn không tình ái hay chỉ nhồi cho học sinh lao đầu vào mảnh bằng để được hoãn dịch, để vinh thân phì gia, để có thêm phương tiện mà tham nhũng, mà hối lộ như con thiêu thân lao đầu vào lửa, dù không thể chết thể xác cũng đã chết tinh thần. Sự giáo dục như vậy thật ra không giáo dục tý nào vì nó phản giáo dục, phiến diện, phi nhân bản và người làm giáo dục như vậy chỉ là con buôn không hơn không kém.

Đại hội Văn Hóa Giáo Dục Phật giáo kỳ III (1968?) đã vạch rõ một đường hướng Giáo dục Phật giáo mà các trường Bồ Đề trên toàn quốc phải theo đuổi, phải hướng tiến đến 4 mục đích:

  1. 1. TÌM KIẾM VÀ XÂY DỰNG MỘT NỀN HÒA BÌNH VĨNH CỬU CHO VIỆT NAM VÀ NHÂN LOẠI.

Đạo Phật là đạo Hòa bình, hòa bình từ tâm linh đến hành động, từ cá thể đến đại đồng, một sự hòa hợp miên trường để xây dựng một nền hòa bình vĩnh cửu chứ không giả dối, tạm bợ, che đậy và chuẩn bị cho những cuộc chiến quy mô và khủng khiếp hơn. Vì lẽ đó, nên nền giáo dục Phật giáo không chấp nhận các lối giáo dục của đế quốc chỉ biết đào tạo những con người phục vụ cho chính sách xâm lăng, dùng mưu trí phát minh khí giới tinh xảo hầu mưu lợi kinh tế và tham vọng cá nhân, chà đạp trên máu xương đồng loại hoặc tạo nên những hạng người cuồng tín, nô lệ theo giáo điều, chủ nghĩa phi nhân, đã làm điêu đứng xã hội con người xưa nay không ít.

  1. 2. PHÁT HUY VĂN HÓA DÂN TỘC, ĐOÀN KẾT QUỐC GIA, KIẾN THIẾT XỨ SỞ.

Một nền giáo dục chúng ta muốn hôm nay phải phát xuất từ cuộc sống con người, phục vụ con người theo nguyên tắc tự giác và giác tha, tự độ và độ tha phù hợp với bản chất dân tộc, với ước vọng chính đáng của đa số quần chúng. Nền giáo dục ấy phải được sinh ra, nuôi dưỡng và trưởng thành từ lòng dân tộc, từ những trang sử đấu tranh bất khuất của Tổ tiên, từ trong sâu cùng của thực chất tinh túy 4000 năm văn hiến. Những chất liệu ấy không những đủ mà còn thừa để chúng ta xây dựng một nền giáo dục dân tộc hiện tại và cả trong tương lai làm nền tảng chính để giải quyết mọi vấn đề tranh chấp, đoàn kết dân tộc, kiến thiết xứ sở.

  1. 3. GIÁO DỤC TOÀN DIỆN.

Sự nghèo nàn về tâm linh và phát triển quá mau về đời sống văn minh vật chất cơ khí đã làm cho con người mất lần bản chất người, sống và hành động một cách phiến diện, hậu quả của sự giáo dục sai lầm nặng phần trình diễn dễ tạo ra những âm mưu đen tối, phân tranh và kỳ thị. Nền giáo dục Phật giáo phải vượt ra ngoài những dị biệt ấy, phải vượt trên những quan niệm cũ xưa. Một nền giáo dục thực tiễn đào tạo những con người toàn diện, xây dựng trọn vẹn hạnh đức, tâm đức và tuệ đức để con người có đủ khả năng đối thoại và đối trị với mọi hoàn cảnh.

  1. 4. GIÁO DỤC NHÂN BẢN.

Đây là điểm then chốt của đường hướng giáo dục Phật giáo. Con người sở dĩ không thấy được chân giá trị của mình là vì dục vọng, dục vọng hạ nhục mọi giá trị tinh thần, che lấp chơn tánh, hủy diệt chơn tâm. Đường hướng giáo dục nhân bản của Phật giáo phải nâng cao giá trị, phát triển những khả năng tốt đẹp của con người, giúp con người khắc phục mọi ảnh hưởng nô lệ thống trị của dục vọng và hoàn cảnh.

***

Với những mục đích trên, đường hướng giáo dục của Phật giáo thật quả đã rõ ràng, minh bạch vừa là phương thức giúp chúng ta tránh được tình trạng góp nhặt, chắp vá vào chiếc áo cũ xưa rách nát do bọn thực dân cũ để lại và bọn thực dân mới bắt ta mang.

Chúng ta tin tưởng rằng những bậc thầy có lương tâm, những vị có trách nhiệm biết hy sinh cho lớp người trẻ, biết bước ra khỏi cái tháp ngà trưởng giả, biết quên đi cái ích kỷ, biết loại bỏ tính kỳ thị, biết hòa mình với cộng đồng dân tộc, thì một nền giáo dục nhân bản sẽ được khơi dậy chứ không là chiếc bánh vẽ như từ lâu.

Sàigòn 1993,

Đại hội Tư thục Toàn quốc


CON ĐƯỜNG XÂY DỰNG

Con đường mà dân tộc và Phật giáo Việt Nam chọn, người ta đặt quá nhiều chướng ngại vật. Đó là con đường xây dựng quốc gia.

Khởi điểm xây dựng gần đây là cuộc Cách mạng 01/11/1963 đã bị cướp công trên danh nghĩa, bị bỏ tù trong thực tế và sai lạc ở căn bản thực thi.

Cuộc chỉnh lý ngày 30/01/1964 của tướng Khánh thủ phạm đã giết non cuộc cách mạng ấy và mở màn cho những chính sách sai lầm kế tiếp. Người có thiện chí bị nghi ngờ, kẻ yêu nước thực tâm phải ôm bầu nhiệt huyết pha thêm uất khí để biến thành nước mắt.

Do đó, trong thời gian gần đây, những vụ tranh đấu của SVHS, vụ xuống đường của thương phế binh đòi quyền sống, vụ thảm sát tại VNQT, vụ vật giá leo thang vì kiệm ước, vụ bỏ tù dân biểu, vụ Việt kiều tại Cam-bốt bị sát hại… phải can đảm mà nhận rằng chính trường miền Nam lúng túng và chiến trường ngày một gia tăng. Người dân muốn làm một cái gì cho tương lai đất nước, nhưng nào có được tự do, đã thế người ta lại chụp quá nhiều thứ mũ… Những áp lực vô hình nặng nề, cũ lẫn mới, trong lẫn ngoài, công khai lẫn bí mật đã chận đứng sự vươn lên của dân chúng, dù vươn lên với ý thức và tâm niệm xây dựng. Nỗi khổ tâm của nhân dân là ở đó. Sự lo lắng của những người thật tâm yêu nước cũng ở đó.

Hơn ai hết, Giáo hội Phật giáo Việt Nam thống nhất đã đơn độc dấn bước trên chông gai bất chấp nguy hiểm và mỗi khi mục đích gần đạt thành thì người ta lại tìm cách phá hoại !

Nếu từ năm 1963 đến bây giờ (196…), trên đường xây dựng quốc gia, mà Phật giáo đeo đuổi, nếu có những kẻ đồng hành chân thành, có người hưởng ứng nhiệt tâm, nội bộ Phật giáo đừng ai nhẫn tâm lũng đoạn thì niềm đau của dân tộc đã vơi bớt và con đường xây dựng quốc gia ấy thành quả đã gần tầm tay hơn.

Minh Tâm

Viết thay nhiều lời phát biểu




Các nhà tâm lý học chia lứa tuổi bậc Tiểu học ra làm 2 giai đoạn, mỗi giai đoạn có sự phát triển và những điểm đặc thù riêng của nó.

Từ sơ sinh đến 6 tuổi, người ta gọi là thời kỳ QUAN NĂNG. Giai đoạn này đứa trẻ sống bằng giác quan, nó chỉ biết có mình nó và luôn vận dụng giác quan của nó mỗi ngày thêm tinh tế.

Từ 7 đến 12 tuổi gọi là thời kỳ bắt chước, cuộc sống của chúng đã mô phỏng theo người lớn, lưu tâm đến sự sống ở chung quanh, phô diễn bằng ngôn ngữ và hành động.

Dựa theo sự tiến phát này, nhà mô phạm mới đặt ra những phương thức giáo dục trẻ cho thích hợp với nhu cầu căn bản của trẻ. Chính vì thế, các lớp mẫu giáo lập nên, chỉ có nhiệm vụ duy nhất là giúp trẻ vận dụng tinh tế các giác quan của nó. Có người tham lam quá, bắt lứa tuổi này học bằng văn từ, lý luận là một điều vô cùng tai hại vì nó vượt ngoài sự phát triển của nó. Quyết định của Bộ QGGD bắt buộc trẻ phải đủ 6 tuổi mới được vào trường, vì đến tuổi này đứa trẻ mới biết tiếp nhận kiến thức, kinh nghiệm của người lớn, của xã hội trao cho chúng và cũng vì thế sự giáo dục lứa tuổi này trở thành quan trọng cần thiết, nhất là tập quán xã hội, ngôn ngữ và hành động của cha mẹ, thầy bạn có ảnh hưởng trực tiếp đến tính tình và cuộc sống của trẻ trong hiện tại cũng như tương lai.

Kinh nghiệm trong cuộc sống hàng ngày cho ta thấy rằng: ngoài nhu cầu vật chất, các nhu cầu tâm lý mới chính là động lực quan trọng thúc đẩy hành động thể hiện bên ngoài trẻ em cũng có những nhu cầu vật chất cũng như tâm lý của nó, tạo phương tiện thuận lợi để phát triển hay dồn ép khả năng của trẻ là điều không thể quên khi giáo dục trẻ nếu muốn sự giáo dục có kết quả tốt đẹp.

Bất cứ một trẻ em nào cũng đều muốn phô diễn khả năng kết nạp bè bạn, tò mò, ưa chóng thành công, hiếu động, ta xem đó như là một nhu cầu tất yếu của trẻ.

Một đứa trẻ 3 tuổi, muốn làm một cái gì và làm cho kỳ được mới tươi cười bằng không nó khóc thét lên, phải chăng đó là biểu hiệu của sự ưa thành công và quyết thắng của nó?

Một điều khác quan trọng không kém là sự la rầy dọa nạt quá đáng của người lớn đối với trẻ con, sự sợ hãi làm cho trẻ không học tập được, ngăn trở sự phát triển cá tính của nó, huân tập sự lụn bại ở tinh thần, gây mầm nô lệ cho con người từ đấy và tai hại hơn là tạo sự gian dối, che đậy lỗi lầm của tự nó, vì thế, giúp trẻ nhìn thấy bản ngã, tạo tinh thần tự trọng, tự giác cho trẻ tức chúng ta đã thành công.

Như đã biết, trẻ con vốn hiếu động, ham chơi, thích nô đùa, giải trí, chính những điểm này người giáo dục cần biết lợi dụng, len lỏi vào trò chơi cho trẻ thâu lượm những kinh nghiệm, những học hỏi ở bạn bè, trau giồi kiến thức bằng những trò chơi có tổ chức, có hướng dẫn, khai thác sáng kiến, phát triển khả năng của trẻ. Muốn thế, tinh thần tự do của trẻ phải được xếp hàng đầu.

Một người cha hỏi con “Con muốn học không?”, “Không”, “Con có muốn đến trường không?”, “Không”, “Con có muốn đi chơi không?”, “Muốn”. “Không” hay “Muốn” đó là ý tự do của trẻ, chúng ta làm cha mẹ, thầy cô của chúng, chỉ thành công khi “Con muốn học không?”, “Muốn”, “Con có muốn đến trường không?”, “Muốn”. Tuy nhiên, ta phải hướng dẫn cho trẻ biết tìm thấy tự do trong tự do kẻ khác, tự do trong bổn phận, tự do trong chính lý và tự do trong giới hạn tương quan.

Với khuôn khổ tờ báo nhỏ hẹp này, sự góp ý dựa vào kinh nghiệm của gần 20 năm gõ đầu trẻ, tôi viết lên để các đồng nghiệp (nếu muốn) tô điểm cho thiên chức giáo dục của mình và cũng xin đừng ai khoán trắng cho ai trách nhiệm giáo dục trẻ trong hoàn cảnh rách nát của đất nước này kể cả rách nát những mảnh bằng giáo dục.

Sàigòn 1973

Khóa Quản trị Học đường

và Tâm lý Giáo dục


LỜI THƯA

THAY DIỄN VĂN PHẬT ĐẢN – DIỄN VĂN KHÁNH THÀNH

Chùa Phật Ân (2000)

Niềm vui đến với Phật Ân sáng nay (14/04 PL 2544) trong dịp lễ Phật đản của đức Từ Phụ.

Ngoài chư Tăng trong tu viện đi học xa đã trở về đông đủ, còn có thầy Viên Như, thầy Nhuận Thiền, cũng có mặt chung dự niềm vui, đặc biệt có mặt Linh mục Tiến Lộc và các Trưởng HĐ cũng đã về hôm qua, chính quyền xã Long Đức và các ban ngành không thiếu mặt và trên 500 Phật tử từ Sài Gòn, Thủ Đức, Biên Hòa, Bình Dương, Xuân Lộc, Đức Linh, Phương Lâm, Định Quán, Xuân Sơn, Ngãi Giao, Hòa Bình, Bà Rịa, An Viễng, Xuyên Mộc, Long Thành, Long Đức, Long An, Tam An, Cần Thơ, Thốt Nốt… Tất cả quý vị đều là khách mà Phật Ân rất trân quý, trân quý hơn nữa là quý vị đều là khách không mời vẫn đến, đến vì đạo tình, đến với sự hoan hỷ tự tâm. Với tấm chân tình đó, thầy trò Phật Ân xin cảm nhận trọn vẹn và hồi hướng lên Tam Bảo chứng minh.

Hôm nay, Phật Đản lại về, Phật tử Việt Nam chúng ta, thầy trò chúng ta hòa nhập tâm tư với tất cả Phật tử năm châu bốn biển đón mừng Phật Đản 2544. Chúng ta nên nhớ, cần nhớ và phải nhớ, đón mừng lễ Phật Đản như đón mừng một thông điệp của từ bi, của trí tuệ, của tình thương, của thông cảm, của đoàn kết. Một thông điệp của Hòa Bình chân thật, bình đẳng tột đỉnh và tự do tuyệt đối.

Chúng ta là Phật tử Việt Nam, các vị tôn đức đã nhắc nhở chúng ta rằng “trong suốt hai ngàn năm truyền thừa Chánh pháp, Phật tử Việt Nam vừa làm tròn bổn phận con dân của mình, đồng thời học Phật và tu Phật góp phần vun đắp nên truyền thống dân tộc tốt đẹp cho đến ngày nay. Trong các triều đại có hưng có phế, Phật pháp có thịnh có suy, nhưng Phật tử Việt Nam vẫn giữ trọn chánh tín, không để bị lung lạc bởi quyền lực thế gian, không tùng thuận với các thế lực vô minh để làm khổ đau cho trăm họ. Ngày nay chúng ta đang kế thừa ngọn đèn Chánh pháp rạng rỡ ấy, đang tiếp nối di sản của truyền thống dân tộc tốt đẹp, chúng ta phải nỗ lực tu tập, phát triển thiện pháp của tự tâm, phải có giới đức thanh tịnh để nâng cao phẩm chất con người, có định lực để bình thản trước mọi cám dỗ của vật chất xa hoa, của văn minh mà thiếu văn hóa, trước sự đe dọa và quyến rũ của danh vọng và quyền lực thế gian. Phải có trí tuệ để thấy rõ bản chất tồn tại, để thắp sáng niềm tin cho chính mình và cho đồng bào, đồng loại”.

Lời nhắn nhủ tha thiết và chân tình đó là kim chỉ nam cho chúng ta trên bước đường tu tập giữa một thế giới điên đảo, đầy bạo lực và bất công, giữa một đêm tối không có trăng sao. Và từ đó chúng ta kỷ niệm và dâng cúng lên đức Từ Phụ nhân lễ Phật Đản về là thiết thực và cao cả hơn hết.

* * *

Nhân đây, trong ngôi Chánh điện này, quý vị thấy rõ những gì đã và đang có của Tu viện Phật Ân là công sức của những tấm lòng hộ đạo, xa cũng như gần, lớn cũng như nhỏ, sự giúp đỡ của UBND xã Long Đức, của các Phật tử công quả trong địa phương và Phật tử Xuân Sơn cũng như nhóm thợ mộc ở Ngãi Giao, ở Sơn Linh, gia đình Tân, Tư, Năm, Sáu, Bảy phụ trách phần hồ, việc mua nhà, mua gỗ là của Lợi, Dũng và vợ chồng Thọ Nhung ở Xuân Lộc, không những các Phật tử hỗ trợ công sức mà còn chung lo cả về tài lực, ít nhiều đều rất quý, quý ở đạo tâm như đạo hữu Nguyên Lợi ở Xuân Trường, gia đình Pháp Lập ở Sài Gòn, gia đình cháu Trần Thị Loan ở Diên Trường (Huế), đệ tử Trung Lương, Trung Thư, vợ chồng Phước Hương ở Phước Thái, chị em Kim Anh, Kim Chi cựu học sinh Bồ Đề Phan Thiết, vợ chồng Phước Toàn… và nhiều Phật tử khác khắp nơi mà chúng tôi không kể hết được – điều quý báu hơn là tất cả quý vị đều tự nguyện, tự phát tâm chứ không chờ sự mời, thưa, báo, gọi.

Và, cũng trong tinh thần đó, trong đạo tràng này, trong ngôi Chánh điện này, trên có Tam bảo chứng minh, dưới có đầy đủ tứ chúng, trên nét mặt ai cũng hân hoan, trên ánh mắt ai cũng từ ái, trên môi ai cũng cười tươi, chúng ta hướng lên lễ đài Phận Đản tôn nghiêm – có lẽ, khó có một sự họp mặt nào đẹp hơn không khí hôm nay, rất phù hợp với tâm ý, nguyện ước, trù liệu của thầy trò Nguyên Phong, chúng tôi xin mời quý vị thắp hương khánh thành thay cho cắt băng khánh thành, nén hương hữu hình nghi ngút khói cùng với Tâm hương vô tướng nhưng chan chứa Diệu hương vân để ướp xông ngát thơm mười phương Pháp giới.

Xin gởi đến toàn thể quý vị lời niệm ân và cầu chúc đạo tâm kiên cố. Xin kính chúc sức khỏe các cấp chính quyền. Xin gửi lời thăm hỏi tất cả bà con xa gần, thân sơ bạn hữu của quý vị và cầu nguyện cho ai ai, cho tất cả mọi người, mọi loài đều thấm nhuần, an vui trong hào quang chư Phật. Cầu nguyện hồn thiêng đất Việt, hộ pháp thiện thần chứng minh và gia hộ cho toàn thể chúng ta.

Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

Con người có tiểu sử của con người, đoàn thể có tiến trình lịch sử của đoàn thể.

Bất luận dân tộc nào trên thế giới, cũng có lịch sử của dân tộc đó.

Tiểu sử của con người thì có khi vui, khi buồn.

Lịch sử của dân tộc thì có lúc thịnh lúc suy, lúc vinh quang lúc tủi nhục. Quan niệm “xấu che tốt khoe” là thói đời. Láo khoét bưng bít cái sai, che dấu tội lỗi cũng là một thủ thuật thường tình, nhưng sau đó “cái kim dấu trong túi áo, đến lúc nào đó nó cũng ló ra ngoài” phải chăng đó là định luật.

Thôi Tử sau khi giết Tề Trang Công sai Thái Sử Bá chép vào sử là Trang Công bị bệnh mà chết. Thái Sử Bá chép “Thôi Tử giết vua Tề ngày Ất Hợi, tháng 5 mùa hạ”. Thôi Tử giận và giết chết Thái Sử Bá. Thái Sử Bá có 3 người em là Trọng, Thúc và Quý. Thúc và Trọng cũng bị Thôi Tử giết vì không chịu sửa đổi sử ký theo ý của Thôi Tử. Người thứ ba là Quý được mời đến và Thôi Tử ra lệnh “Ba người anh của ông đã bị tử hình vì không tuân lệnh ta, chỉ còn một mình ông, sửa sử ký theo ý ta thì sống, nếu không thì sẽ như ba người anh của ông”. Thái Sử Quý nói “Làm sử thần sứ mạng là chép đúng sự thật, tôi không chép thì người khác cũng chép, Tướng quốc không thể che đậy được tiếng xấu khi đã làm, tôi thà chịu chết như các anh tôi chứ không chép sử sai sự thật được”. Thôi Tử đành chịu thua để lịch sử ghi cái tội giết vua của mình vào sử của nước Tề.

Xem chuyện xưa, gẫm chuyện nay, bây giờ mấy ai như anh em Thái Sử Bá? Có đấy! Không nhiều thì ít họ không nói công khai, vì muốn yên thân, muốn vợ con anh em khỏi bị liên lụy, bị đì, nhưng chắc chắn có người viết, viết đúng sự thật, họ âm thầm viết với cả lương tâm, tâm huyết và chỉ chờ lịch sử sang trang.

Ai nói họ hèn nhát! Họ cười.

Ai bảo họ phải anh hùng, phải quân tử, phải trượng phu! Họ cười, ngụy quân tử, anh hùng rơm, trượng phu dỏm thì thà âm thầm giữ tròn khí tiết không bon chen đua đòi, theo đóm ăn tàn, theo gió xin cơm, giả mù pha mưa thì còn tệ hơn họ nhiều.

Giáo lý đạo Phật có dạy “chơn thiệt bất hư”.

Người Phật tử phải nhớ câu đó để tu thân, để rèn luyện bản thân, bản tâm, bản tánh. Mỗi tháng 2 kỳ sám hối phải chí thành chí thiết nhất là với chính bản thân của mình, Phật tánh của chính mình để diệt trừ bớt Nghiệp chướng.

Người Tu sĩ phải chí thành trong các kỳ Bố tát tụng giới để tinh tấn trên con đường giải thoát. Đặc biệt, trong lễ giải hạ, câu bạch Tự tứ mang một ý nghĩa và mục đích vô cùng siêu việt mà chỉ có hàng trưởng tử của Như Lai mới dám có và dám nói, tha thiết cầu xin người khác chỉ lỗi cho mình, không những thấy, nghe chỉ lỗi đã đành mà chỉ nghi thôi, cũng cứ chỉ.

Người thế gian có nhân cách, biết tự trọng, cũng phải biết lý chơn để tu sửa thân tâm mới mong xây dựng hạnh phúc gia đình, an lạc trong cuộc sống.

Kẻ nắm thế quyền cũng phải nhận rõ trách nhiệm với dân với nước, biết từ bỏ những quan niệm kiến chấp, chính sách sai lầm, mạnh dạn chỉnh sửa đường lối lãnh đạo, không bao che, bào chữa, mị dân, dối trá mới giữ được nước, mới thu phục được nhân tâm để làm cho quốc gia hưng thịnh.

Người lãnh đạo Phật giáo lại càng tỏ ra bản lãnh hơn, thành thật hơn, can đảm hơn vì đã hấp thụ tinh thần vô úy, tinh thần tự giác và giác tha của Phật giáo. Đừng cố chấp, đừng tham quyền cố vị, biết tôn trọng sự thật, biết nhìn lại mình: khả năng, đức độ, tâm ý… Đừng để cho ai phỉ báng mình, đừng để cho hậu thế lên án mình, đừng để cho ngoại đạo khinh khi mình và nhất là đừng để cho vô minh che mờ tâm trí do danh lợi chức quyền phù phiếm kéo lôi. Hơn thế nên để cho lịch sử lưu danh đừng lưu xú.

Chúng ta hãy cùng nhau tôn trọng sự thật để sửa mình.




Kính gửi: Chư Tôn Hòa Thượng, Thượng Tọa, Đại Đức, Tăng Ni xuất thân từ GĐPTVN

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

Kính bạch Chư Tôn Đức,

Sau nhiều đêm thao thức, trăn trở, nhớ nghĩ đến tổ chức Gia Đình Phật Tử Việt Nam. Một tổ chức có chiều dài lịch sử, gắn liền với lịch sử Phật giáo và dân tộc Việt Nam gần 2/3 thế kỷ, tổ chức này đã và đang gặp một thử thách, một sóng gió, một tai ách khó vượt qua, nội ma cũng có mà ngoại chướng cũng nhiều. Nhìn các em nam nữ oanh vũ mà thương, nhìn các em thiếu nam thiếu nữ mà lo, nhìn các huynh trưởng mới chập chững vào nghề mà lo hơn nữa, nhìn vào Ban Hướng Dẫn các Tỉnh, Ban Hướng Dẫn Trung Ương không khỏi chạnh lòng, các anh chị cốt cán đã quá già, hoặc đã xuôi tay nhắm mắt lần lượt ra đi, hàng ngũ lãnh đạo thưa thớt dần, số còn lại thì chịu trăm cay ngàn đắng, ngoài thì khủng bố, dọa nạt, bắt ép, trong thì nghi ngờ, đố kỵ, chia rẽ đang lộng hành, bệnh kiêu mạn, tự ti, tranh chấp, danh tướng, công thần đang trổi dậy bủa vây làm cho Đại gia đình Áo Lam thật quả đáng ngại. Nhưng may sao vẫn còn có vài huynh trưởng kiên cường, bất khuất, trung kiên lẻ tẻ ở các tỉnh cũng như ở Trung Ương nên Gia Đình Phật Tử Việt Nam vẫn còn đứng đó là may lắm rồi (Tôi muốn đề cập đến Gia Đình Phật Tử Truyền Thống do anh Nguyên Tín Nguyễn Châu làm Trưởng ban).

Chư Tôn Đức cũng như tôi, xuất thân từ Gia Đình Phật Tử, đã từng phát nguyện đeo hoa sen, có người đã phát nguyện làm huynh trưởng, chắc hẳn không quên được những kỷ niệm thời thơ ấu, những ấn tượng đẹp trong đời khi đem tâm huyết phục vụ cho lý tưởng Áo Lam. Bây giờ, chúng ta có một lý tưởng cao đẹp hơn, một đời sống thánh thiện hơn, nhưng hãy nhìn lui, các bạn và con em chúng ta đang bị bụi đời bao phủ để mà thương, mà hiểu, mà chia sẻ. Mong quý ngài hoan hỷ nhìn lại các em của chúng ta, ngành oanh thơ ngây, ngành thiếu ngơ ngác, một số huynh trưởng còn non rất dễ bị lôi cuốn bởi một xã hội mà đạo đức bị xói mòn, tình người bị sứt mẻ, văn hóa bị đe dọa, cuộc sống bị vật chất, danh lợi kéo lôi mà tinh thần và đời sống tâm linh thì rách nát. Xin các ngài, đừng quên, đừng để các em của chúng ta bơ vơ, đừng để các anh chị huynh trưởng, các bạn của chúng ta cô đơn giữa dông bão.

Xin quý Thầy, quý Cô dang rộng vòng tay đến với các em, ấp yêu Gia Đình Phật Tử truyền thống, đưa đôi tay từ ái với nụ cười cảm thông, từ hòa dìu dắt các em, làm cố vấn giáo hạnh, che chở, đùm bọc cho các em, giúp đỡ Ban Hướng Dẫn Trung Ương, Ban Hướng Dẫn các Tỉnh, các Quận, các đơn vị Gia Đình, chỉ dẫn đúng hướng cho các em đi. Hãy tha thứ bao dung giúp các huynh trưởng lạc nẻo trở về với truyền thống, đừng để họ tiếp tục đi xa hơn vì đã là huynh trưởng thì ai cũng có còn chút ít tình nghĩa, thủy chung, đừng để cho số huynh trưởng còn lại bị mua chuộc, bị khủng bố, bị lợi dụng, bị danh lợi kéo lôi mà sa ngã. Nhất là hiện tình quá nhiều phe phái, nhiều cơ tâm, mưu đồ, lợi dụng, lôi kéo Gia Đình Phật Tử bằng nhiều hình thức, kể cả phương thức tu tập mà chỉ là chiêu bài, mà các huynh trưởng và đoàn sinh non nớt không thấy được thì quá tội cho các em!

Với lòng từ ái quý Ngài sẵn có, với trí tuệ các Ngài có thừa, với tinh thần vô úy các Ngài đã un đúc từ lâu, khi các Ngài đem cái tâm, cái ý, cái nguyện, cái lực ấy mà che chở cho Gia Đình Phật Tử truyền thống, thì chắc chắc tổ chức Gia Đình Phật Tử và NỘI QUY, QUY CHẾ được bảo vệ. Từ đó mà Gia Đình Phật Tử Việt Nam mới tiếp tục được sứ mạng thiêng liêng cao cả của mình là đào tạo những Phật tử chân chánh biết yêu nước, thương dân. Phục vụ nền đạo lý của dân tộc, vượt qua trước cơn sóng gió mới.

Xin đảnh lễ các Ngài với lòng tin tưởng Gia Đình Phật Tử truyền thống không bị lãng quên.

Kính lễ,

Cựu Huynh Trưởng GĐPT Việt Nam.

Thích Khinh An

(Đoàn Đình Điệp)


GIÁO TỪ



CỐ VẤN GIÁO HẠNH GIA ĐÌNH PHẬT TỬ VIỆT NAM

Với tư cách là một tu sĩ xuất thân từ GĐPT, tôi thân ái chào anh chị em hiện diện và xin chuyển lời thăm hỏi tất cả huynh trưởng và đoàn sinh GĐPT khắp nơi với lời chúc tinh tấn.

Tôi thông cảm sâu sắc những chướng duyên trong suốt thời gian qua mà anh chị em đã vấp phải.

Tôi hiểu rõ anh chị em đã kham nhẫn, đã chịu đựng, đã hy sinh trong một thời gian dài. Trong hoàn cảnh hiện tại đòi hỏi chúng ta phải kham nhẫn, chịu đựng, hy sinh hơn nữa.

Tôi tán thán tinh thần đó. Muốn vượt qua chướng nạn hiện nay trong nghĩa gia đình, chúng ta phải biết yêu thương, tha thứ, đùm bọc, che chở cho nhau nhất là tinh thần Lục hòa phải được ứng dụng hơn bao giờ hết.

Đại hội hôm nay muốn thành công, tinh thần ấy phải được thể hiện nghiêm túc, phải biết trân trọng và giữ gìn như giữ gìn đôi mắt quý để thấy rõ đường đi. Đừng phụ lòng sự hy sinh cống hiến của bao thế hệ huynh trưởng, đoàn sinh, các bậc tiền nhân đã quá vãng, các thánh tử đạo đã dày công dựng xây và giữ vững cho sự trường tồn của GĐPTVN: Nào anh Chuẩn, chị Cúc, anh Từ… nào Nguyễn Đại Thức, Nguyễn Thị Vân, Đào Thị Yến Phi…

Tôi rất hoan hỷ và đồng tình, nguyện sát vai với anh chị em về mục đích của đại hội này để xác quyết lập trường, đường lối duy trì và phát triển tổ chức, nhằm phụng sự Đạo pháp và Dân tộc đúng theo tinh thần của Phật giáo như từ trước đến nay của các bậc tiền bối đã vạch ra mà chúng ta đã, đang và sẽ tiếp bước.

Tất cả đại biểu hãy nhìn lên để thấy đức Phật đang nhìn xuống, Hộ pháp, Long thần đang nhìn vào và hằng triệu đoàn viên GĐPTVN trên thế giới đang kỳ vọng ở chúng ta. Hãy đem tâm Phật để phụng sự Phật. Hãy đem thân, ý của người Việt để phụng sự quê hương.

Có như vậy anh chị em sẽ xứng đáng là người đệ tử của Phật và là người Việt Nam kiên cường bất khuất.

Cầu Phật gia hộ và hồn thiêng đất nước chứng tri cho lòng thành của toàn thể chúng ta.

Kính chúc Đại hội thành công viên mãn.






Tôi chia sẻ sự khó khăn, trở ngại với anh chị em trong lúc thực hiện Tập san Sen Trắng, khó khăn trên nhiều lãnh vực: tài chánh, in ấn, bài vở, nhưng không đáng kể bằng sự ngăn ngại hù dọa của sóng gió vô minh.

Khi bắt đầu thực hiện Sen Trắng, chúng ta đã tiên liệu điều này và chuẩn bị tinh thần để chịu đựng, hy sinh.

Chúng ta tin rằng, như lời Phật dạy: “Tất cả Chúng Sanh đều có Phật tánh” và như vậy dù con người xấu tệ đến đâu cũng còn chút lương tri tối thiểu, vậy nên dù bên ngoài họ làm khó khăn chúng ta, nhưng trong đáy lòng ai cũng biết phân biệt phải trái, dở hay, chơn giả nhất là trong xã hội hiện nay ai cũng thấy rõ là đạo đức bị xói mòn, tình người bị khuyết tật, tuổi trẻ mất định hướng, thì sự hiện diện của GĐPT quá cần thiết, sự có mặt của Sen Trắng cũng cần thiết như vậy. Nên, khẳng định rằng chúng ta không cô đơn vì chúng ta có lý tưởng, có mục đích rõ rệt, có đạo bạn năm châu bốn bể đông vui và nhất là có Tam bảo chứng minh, có hồn thiêng sông núi che chở, chỉ cần chúng ta có đạo tâm, nhiệt tình, có ý chí kiên cường, có sức chịu đựng bền vững thì nhất định chúng ta sẽ vượt thắng mọi chông gai. Cha ông chúng ta đã từng nằm gai nếm mật. Thầy Tổ chúng ta từng chịu đựng hy sinh để hôm nay chúng ta ngẩng cao đầu mà nhìn ra năm châu bốn bể.

Vậy nên, GĐPTVN hãy cười cùng sóng gió, SEN TRẮNG hãy hát cùng chim Việt trời Nam:

“Dù bao nhiêu gian khổ

Lý tưởng chúng con vẫn tôn thờ”

Chúc anh chị em và Sen Trắng cùng reo to “Tinh Tấn”.

Con người trong từng giây, từng phút, từng giờ, từng ngày, nhớ hít thở không khí mà sống, nếu thiếu không khí thì vạn vật đều bị hủy diệt. Không khí trong lành, con người sống khỏe mạnh, trường thọ. Không khí ô nhiễm, con người bị đau yếu, bệnh tật, chết yểu. Không khí, cảnh vật tạo nên môi trường sống. Vì vậy, môi trường chung quanh rất quan trọng trong đời sống con người.

Quan niệm sống của người phương Đông xa xưa rất chú trọng đến vấn đề này. Người Tây phương do tiến bộ khoa học công nghiệp quá nhanh, đời sống thiên về vật chất, hiện thực, hầu như xem nhẹ vấn đề này, và bây giờ khi vỡ lẽ thì đã đến lúc khó cứu vãn mới vội la lên cứu thiên nhiên như cứu lửa.

Hiện nay, nhân loại đang phải chịu những biến chuyển bất thường, tai hại do chính con người tạo ra làm hủy diệt môi trường, ô nhiễm môi trường, chặt phá cây cối, đốt rừng làm rẫy, khai thác cây gỗ, đất đá, nước ngầm một cách bừa bãi mà hậu quả là lũ lụt, hạn hán, sóng thần, động đất đe dọa đời sống của nhân loại.

Người Phật tử ý thức điều này, nên từ xưa đến nay thích sống với thiên nhiên, coi trọng thiên nhiên, dựa vào thiên nhiên để tạo một cuộc sống tốt, hòa nhập với thiên nhiên trong mọi sinh hoạt để nâng cao đời sống tâm linh, hướng thượng và thánh thiện.

Nhìn vào cuộc đời đức Phật, nét nổi bật chúng ta có thể thấy ngay: Ngài đản sanh dưới cây Vô Ưu trong vườn Lâm Tỳ Ni. Ngài ra đời hòa nhập với hoa lá, lớn lên rời bỏ cung vàng đi tìm đạo cũng “tuyết lãnh tu hành, lục niên khổ hạnh” và sau khi tắm mát dưới sông Ni Liên Thuyền, Ngài tĩnh tọa trên thảm cỏ dưới gốc cây Bồ Đề và phát lời đại nguyện: “Dù thịt tan xương mục nếu không tìm được đạo giải thoát quyết không rời khỏi nơi này”. Ngài thiền định 49 ngày đêm và thành đạo “Bồ Đề thọ hàng phục ma quân, công viên quả mãn, đổ tinh đạo thành”.

Sau khi thành Chánh giác, đức Phật đi giáo hóa khắp nơi, thuyết pháp độ sanh suốt 49 năm; điểm thuyết giáo đầu tiên là vườn Lộc Uyển, điểm dừng chân cuối cùng là dưới hai cây Sala để nhập Niết Bàn. Như vậy ta thấy:

Đức Phật sinh ra dưới gốc cây.

Thiền định dưới gốc cây.

Thành đạo dưới gốc cây.

Thuyết pháp dưới gốc cây.

Cuối cùng nhập diệt cũng dưới gốc cây.

Từ một vị hoàng tử trong cung vàng điện ngọc, Ngài thoát ra ngoài với thiên nhiên, với núi sông hoa lá cỏ cây, nhẹ nhàng và thanh thoát.

Sau đức Phật, các vị Tổ Sư cũng sống với thiên nhiên tu thành chánh quả.

Đệ nhất tổ Phật giáo Trung Hoa là ngài Đạt Ma, trước khi truyền pháp cho nhị tổ Huệ Khả cũng “cửu niên diện bích”. Tổ Bách Trượng cũng thiết lập tông thiền hướng dẫn chư Tăng sống với ruộng vườn cây cỏ. Ở Việt Nam, đệ nhất tổ Thiền phái Trúc Lâm Điều ngự Giác Hoàng Trần Nhân Tông xa lánh ngai vàng, tìm lên tận núi Yên Tử sống với núi rừng, chim muông, khe suối. Thời cận kim, tổ Trần Hữu Đức tìm lên núi Tàkú cất am tranh ở Đá Bàn Hạ, rồi lên Đá Bàn Thượng tham thiền. Ở đâu, đệ tử cũng tìm đến rộn ràng. Ngài lại lên gần đỉnh núi tìm vào hang đá ẩn tu (bây giờ là Trường Thọ Tự có hang đá Tổ ở sau chùa). Tổ Bảo Tạng cũng lên núi (Long Hải), bây giờ là khu di tích lịch sử Minh Đạm (còn có một ngôi tháp nhỏ gần cạnh suối nước trong mát quanh năm).

Như vậy Phật, Tổ đều sống với thiên nhiên, sống ở những nơi thanh tịnh, u nhàn tỉnh mịch để thiền quán tìm về nguồn cội “chơn tâm”. Các thiền sư cũng noi gương chư Phật, chư Tổ cất thảo am tu hành, xa lánh trần tục.

Sinh hoạt của Phật tử cũng chú trọng quán chiếu tâm nên đa số các chùa xây dựng ở những nơi thanh vắng, ngay cả những ngôi chùa làng là những ngôi chùa của tập thể Phật tử dân làng. Khi lập chùa, các vị bô lão, tiên chỉ, tộc trưởng cũng chọn nơi có cảnh trí thiên nhiên đẹp, sơn thủy hữu tình để lập chùa, làm nơi tu tâm dưỡng tánh cho dân làng, cho Phật tử bá tánh thập phương. Người Phật tử khi đến chùa cảm thấy tâm hồn thanh thoát, nhẹ nhàng để vun bồi đời sống đạo đức tâm linh tốt đẹp mới xây dựng được cho mình một cuộc sống hướng thượng, làm căn bản cho việc xây dựng hạnh phúc gia đình, góp phần xây dựng cho xã hội, quốc gia, nhân loại.

Hiện nay, không gian các ngôi chùa ở thành phố chật hẹp, lầu nhà cao, người ở đông đúc, nên các vị tu sĩ đã tìm cách tạo một khung cảnh thiên nhiên nho nhỏ để hít thở sáng chiều, dù không thay được cái thi vị đậm đà của hương đồng cỏ nội nhưng cũng nhẹ bớt cái tù túng của sắt, thép, bêtông.

Ngày xưa, các vị vua chúa thỉnh thoảng tổ chức những cuộc tuần du, săn bắn, mục đích săn thú thì ít, mà dã ngoại để sống với thiên nhiên thì nhiều. Người ta lúc về già hay lo nghĩ đến hậu sự cho mình, các vua chúa cũng tìm trước cho mình nơi để xây lăng tẩm, mộ phần ở những nơi có núi, sông, cảnh trí thiên nhiên thơ mộng.

Trong cuộc sống văn minh hiện nay, con người đang quan tâm, đang nỗ lực bồi đắp, trả lại những gì đã cướp mất của thiên nhiên nhưng không thấm vào đâu so với những gì con người đã phá hoại. Song, có còn hơn không; nơi nào còn và có thì cố gắng bảo tồn, nơi nào chưa hay không có cũng tìm cách tạo nên cho có. Các công viên trong thành phố, các bồn hoa được chăm sóc chu đáo, chính là để giảm bớt sự nặng nề, khô khan của nhà đúc, nhà xây, đường nhựa nóng bỏng, các nhà lầu cao tầng cũng cố tạo cho được một khoảng nhỏ không gian để trồng hoa, trồng cỏ. Trong phòng khách cũng trang trí cây cảnh, cỏ cây; thật thì tốt, không có thì cỏ cây giả, chậu giả cũng làm cho phòng khách trang nhã dễ thương.

Các công sở, xí nghiệp, công ty cũng trang trí trước sân, trước cổng các bồn hoa, cây cảnh để thêm vẻ trang nhã trịnh trọng cho cơ sở mình.

Ở Hải Hưng, công ty Bùi Văn Tuyển (BVT) đã xây dựng tại công ty một cảnh trí đậm nét văn hóa dân tộc và Phật giáo. Bước vào cổng chúng ta sẽ thấy ngay những thắng tích Phật giáo: Phổ Đà Sơn có Từ Bi động của đức Quán Thế Âm, vườn Lâm Tỳ Ni nơi Thái tử Tất Đạt Đa đản sanh, vườn Lộc Uyển nơi đức Thế Tôn thuyết bài pháp đầu tiên chuyển bánh xe pháp, có giả sơn, có khe suối, có cảnh mục đồng ngồi trên lưng trâu thổi sáo, có cảnh dân làng giã gạo đêm trăng. Ông bà BVT là những Phật tử thuần thành đã thành lập công ty sinh hoạt theo tinh thần Phật giáo.

Ở Nhơn Trạch, Đồng Nai, công ty gạch men Kim Phong thiết trí ngay giữa sân lớn một hồ sen có tượng đức Quán Thế Âm tay cầm bình tịnh thủy nhìn ra mặt đường. Hằng ngày, hàng ngàn công nhân qua lại cũng cảm nhận sự phấn khởi khi nhìn cảnh trí thơ mộng và trang nghiêm này.

Các bệnh viện, trường học lại càng phải quan tâm hơn. Cảnh trí mát mẻ xanh tươi khiến bệnh nhân nhanh chóng bình phục, việc dạy và học của thầy trò cũng có kết quả tốt hơn.

Không lạ gì khi các bậc tiền bối trang trí trước nhà những hòn non bộ có suối reo, nước chảy, có cá lội, chim kêu; hoặc nơi giải trí, uống trà, ngâm thơ của các cụ nơi vườn tược cây cảnh, gọi là vui thú điền viên.

Trong cuộc sống, khi chúng ta đi qua một cách đồng thơm mùi lúa chín, một ngọn đồi bướm liệng, ong bay, một dòng suối róc rách nước chảy, hay ven theo một dòng sông nước xanh trong mát, và nhìn lên đỉnh núi hùng vĩ vươn cao lòng chúng ta dào dạt tình yêu đất nước. Sơn hà cẩm tú là đây. Tức cảnh sinh tình, các thi sĩ lúc ấy hồn thơ lai láng “cầm bút lên mà nhã ngọc phun châu”. Các nhà quân sự khi xung trận, sát khí đằng đằng nhưng khi đối diện với cảnh trí thiên nhiên thơ mộng thì lòng gợn lên một chút bâng khuâng làm dịu đi ánh mắt bốc lửa, hận thù, sân si. Đêm về, trên vọng gác giữa rừng sâu, các chiến sĩ thả lỏng tay súng để nhìn nhắm sao trời, lắng nghe gió thổi cành lá đong đưa, phảng phất hương rừng giữa ánh trăng lung linh huyền ảo mà vơi dần oán đối. Như vậy, thiên nhiên rất cần thiết với con người, với cuộc sống của toàn nhân loại.

Phật dạy: “Tàn phá thiên nhiên là một tội ác”. Thiên nhiên giúp ta an tịnh tâm hồn, thiên nhiên giúp nhân loại có những vần thơ đẹp, những áng văn hay, những tác phẩm văn học bất hủ. Một con người chai đá đến đâu cũng có chút rung cảm nhè nhẹ trước cảnh sơn thủy hữu tình.

Hơn ai hết, người Phật tử sống hòa nhập với thiên nhiên, cảm nhận trọn vẹn sự cần thiết của thiên nhiên, phải biết bảo vệ thiên nhiên, xem như là một bổn phận cao cả để xứng đáng làm người.

Tại chùa Phật Ân, Long Thành, Đồng Nai có câu đối:

“Hoa lá cỏ cây

là Bát nhã Lăng nghiêm.

Chim hót suối reo

là Pháp hoa Viên giác”.

Hãy trân quý thiên nhiên!


BÀI NÓI CHUYỆN CỦA THẦY MINH TÂM



Trích Kỷ yếu Hội thảo Ngành nữ 2005

Trước hết thầy xin lỗi quý vị là nửa tháng qua thầy bị đau thần kinh tọa nên ngồi lâu hay đứng lâu cũng đau. Thứ hai là thầy bị cảm ho tắt tiếng cả tuần rồi, hôm qua ra Huế tưởng không thể nào giảng được, nhưng điều lạ lùng là bước lên pháp tòa, cầm micro là không còn khan tiếng nữa. Đó là chuyện lạ. Do đó, thầy khẳng định một câu là: “Phật pháp thậm thâm vi diệu”.

Thầy đi giảng mấy chục năm qua, ca ngợi Văn hóa Việt Nam, chỉ là ca ngợi trên lý thuyết, trên sách vở, nhưng chỉ ra Văn hóa Việt Nam như thế nào thì thầy chỉ không ra. Nhưng sau khi làm chùa này, đứng trong chùa này rồi, thầy mới nhận ra văn hóa Việt Nam. Nền văn hóa Việt Nam hấp thụ văn hóa Phật giáo để trở thành một nền văn hóa Việt Phật mà phải từ ở bên trong toát ra, chứ không phải ở ngoài nhìn vào.

Thầy mở đầu câu chuyện để nói với chị em rằng: “Muốn biết đạo Phật, muốn biết đến tổ chức GĐPT, muốn biết mọi sự sinh hoạt gì, chúng ta phải chú trọng một điều là tất cả đều do cái TÂM, mà TÂM thì quyết định tất cả”.

Chị Nguyệt vừa giới thiệu với thầy, về đây là 66 đại biểu nữ huynh trưởng của 17 tỉnh, thành phố. Như vậy cũng là nhiều rồi đó. Ở điểm này, thầy nói rằng: Trong 1.000 tu sĩ, chỉ cần một tu sĩ tinh nghiêm giới luật thì đạo Phật vẫn còn. Vậy thì GĐPT bao nhiêu sóng gió mà còn một Nữ huynh trưởng trung thành với tổ chức, trung thành với Nội quy, với lý tưởng thì GĐPTVN vẫn còn, huống chi ở đây đến 66 chị huynh trưởng của 17 tỉnh thành thì quá nhiều chứ đâu phải ít!

Ra Huế thăm GĐPT An Bằng, các anh chị huynh trưởng có nhắn thầy: “Chúc cho khóa Hội thảo của ngành Nữ thành công”. Vừa về đến chùa, nghe chị Hòa nói: “Cực quá thầy ơi! Chạy có cờ từ hôm qua đến nay”. Như vậy là thành công rồi, thành công rực rỡ chứ đâu phải thất bại. Vì sao thầy khẳng định điều đó? – “Vô ma khảo bất thành đại đạo”.

Không có ma khảo thì đại đạo không thành. Trước khi đức Thế Tôn thành đạo thì ma khảo cũng khủng khiếp lắm, nhưng Ngài chiến thắng được nên mới thành đạo.

Các cấp lãnh đạo Phật giáo có dạy chúng ta một câu, chỉ cần học câu đó rồi áp dụng trong đời sống thì các chị mới xứng đáng là huynh trưởng, là thành viên con cháu hậu duệ của các ngài: “Phật giáo chấp nhận một sự khó khăn để vươn lên, chứ Phật giáo không chấp nhận một sự được thương yêu nuông chiều để rồi tự suy sụp”.

Học thuộc câu đó rồi, các chị mới biết được lý tưởng của mình để phục vụ, mới xứng đáng là huynh trưởng GĐPTVN.

GĐPTVN ra đời hơn 60 năm, ở đây có những người dưới 60 tuổi, như vậy GĐPT có từ trước khi quý vị ra đời. Mỗi huynh trưởng tự chiêm nghiệm lại thời gian mình sống từ lúc nhỏ cho đến nay 40, 50, 60 tuổi thì cuộc đời cá nhân của quý vị qua bao nhiêu thăng trầm, đã khóc cười bao nhiêu lần, đau khổ bao nhiêu bận, hạnh phúc bao nhiêu lần? Từ đó nhận chân được đau khổ thì nhiều mà hạnh phúc thì ít. Khi đặt chân đến với GĐPT, ai đã từng mặc chiếc áo Lam, đã từng phát nguyện đeo huy hiệu hoa sen, phát nguyện thọ cấp làm huynh trưởng thì thấy có cái gì len vô tiềm thức mình, có cái gì khác hơn người thường, quý vị có biết đó là hạnh phúc hay không? Như vậy, để thấy rằng GĐPT cho chúng ta nhiều hạnh phúc hơn. Đến với đạo Phật chúng ta cười nhiều hơn khóc, chúng ta thấy có niềm an ủi khi đối diện với Phật, đối diện với quý thầy, quý cô, với các chị trưởng. Ở đây có những người đã biết chị Cúc, nhưng cũng có người chưa hề biết chị Cúc như thế nào. Nhưng đó là người chị tiên phong của tổ chức GĐPTVN.

Thầy nhắc cho các chị, ở Thừa Thiên một số các anh trong BHD chúc cho Hội thảo thành công, các chị thấy mình bị đuổi chạy nhiều chừng nào, thay đổi địa điểm nhiều chừng nào thì thấy mình hạnh phúc nhiều chừng đó. Phải có ý thức như vậy để từ đó mà vươn lên, từ đó mà khôn lớn, mà thể hiện bản lãnh của mình, để thấy trong dòng máu GĐPT là có dòng máu của chị Cúc, của anh Từ, anh Mão, bác Thám mà xa hơn nữa là có dòng máu Trưng Nữ Vương, Triệu Ẩu. Khi Trưng Nữ Vương khởi nghĩa đánh đuổi ngoại xâm, cầm đầu đoàn nữ binh, thì chắc chắn thắng cũng có mà bại cũng nhiều, đến trận bại cuối cùng phải nhảy xuống sông Hát Giang để trầm mình tự tử, còn quý vị bị giặc đuổi có đến độ trầm mình đâu? Đuổi chùa này thì đi chùa khác, hồi hôm đến giờ mà tôi thấy mặt người nào cũng tươi rói, chứ có gì đâu!

Về Huế, thầy gặp lại một số huynh trưởng đàn em khi xưa ở Phú Vang nhắc lại 40 năm về trước thầy trò đi sinh hoạt GĐPT xe đạp vác trên vai để lội ruộng lún nửa ống chân, đói quá vào nhà người ta xin khoai nấu ăn ngấu nghiền luôn cả vỏ để tiếp tục đi, còn bây giờ đi đâu cũng xe Cub, xe Dream, đi đường nhựa, có xe hơi đưa đón. Thế mà những người đi trước vẫn giữ vững lý tưởng GĐPT. Tôi nhắc đến những Đào Thị Yến Phi, Thiếu nữ Không gian Nguyễn Thị Vân, một em Thiếu nữ 17 tuổi tự thiêu vì đạo pháp mà chỉ có 2, 3 lít xăng chỉ vừa đủ ướt áo chứ đâu có chết, da thịt phồng lên nứt ra. Các thầy, các huynh trưởng để lên băng ca đưa đi bệnh viện, nhưng không một tiếng rên mà cứ chấp tay niệm Phật cầu nguyện cho cuộc vận động của Phật giáo chóng thành tựu: “Thầy ơi! Hãy để cho con được toại nguyện, con hiến thân cho đạo pháp!”. Trước mặt em chỉ có Phật, có thầy và có hình bóng GĐPT chứ không có gì khác. Cái gì tạo nên tinh thần Nguyễn Thị Vân như vậy? Có phải đó là tinh thần Bi Trí Dũng của GĐPT hay không? Như vậy phải chăng GĐPT đã đào tạo những con người kiêu hùng như vậy?

Vậy các chị mới chạy từ hồi hôm đến giờ chưa thấm vào đâu cả, tôi muốn các chị chạy càng nhiều càng tốt, chính như vậy họ mới nể phục mình, từ nể phục đi đến thương yêu thì không xa đâu. Lương tri tối thiểu cũng sẽ dạy họ, vì tất cả chúng sanh đều có Phật tánh, họ làm chúng ta điêu đứng thì họ có sung sướng gì đâu?

Ngày xưa trong vụ vận động cho tự do tín ngưỡng của Phật giáo năm 1963, có những người đeo mặt nạ cầm lựu đạn acid liệng vô GĐPT, có người liệng vô thiệt, nhưng cũng có người nhìn thấy các em đoàn sinh Oanh Vũ, Thiếu nam, Thiếu nữ mặc áo tràng ngồi điềm nhiên niệm Phật thì ai nỡ liệng thật nên có người giả đò rồi liệng xuống sông. Những người đó lúc bấy giờ Phật tánh trong họ nổi dậy, chúng ta tin tưởng lời Phật dạy: “Tất cả chúng sanh đều có Phật tánh” nên mình phải thương họ nhiều hơn, có cảm tức có ứng, thì họ sẽ thương mình. Trong trường hợp như từ hồi hôm đến giờ thì các chị nên thương những người đó nhiều hơn.

Từ đó, trong 66 chị tỏa ra 66 quả tim yêu thương những người đối chọi hoặc hành hạ mình, trong đó có một lực của từ bi toát ra, tối nay về nhà họ nhìn thấy vợ, con gái họ thì họ sẽ tự cảm nhận trong thời gian qua mình đã làm được cái gì, tự nhiên lương tâm họ sẽ trở lại.

Một việc nữa là các anh ở Thừa Thiên có nhờ tôi nhắn lại với các chị làm thế nào thì về đồng phục của nữ cũng phải duy trì chiếc áo dài và chiếc nón lá.

Tôi muốn nói với các chị rằng: Các chị có văn minh tiến bộ đến đâu, các chị có tư tưởng cấp tiến như thế nào, nhưng tôi chỉ xin các chị đừng bao giờ quên đi những gì truyền thống của người con gái Việt Nam đã mấy ngàn năm rồi. Đừng để mất! Và, GĐPT tồn tại 60 năm chính là dựa trên tinh thần đó mà tồn tại với dân tộc.

Hôm nay, tôi nói với tất cả tâm huyết của một công dân trong đất nước, của một tu sĩ cũng được hay của một cựu huynh trưởng GĐPTVN cũng được. Tôi muốn từ BHD Trung ương cho đến các BHD các tỉnh, huynh trưởng các đơn vị Gia đình là: Khi các em đến với mình, làm thế nào trao truyền cho các em một tinh thần dân tộc, một Phật chất không cũng chưa đủ mà phải phối hợp cả hai Phật chất và dân tộc tính một cách hài hòa. Tôi nghĩ rằng đó là mục đích mà cũng là trọng tâm của khóa Hội thảo này.

Thứ đến nữa, quá trình thành lập GĐPT suốt 60 năm qua người huynh trưởng phải nắm cho vững từ đoàn Đồng Ấu Phật giáo, rồi Gia đình Phật Hóa Phổ, rồi chuyển qua GĐPT, biết bao nhiêu mồ hôi nước mắt, trải qua bao kỳ Đại hội mới thành hình được Nội Quy – Quy Chế GĐPTVN. Vậy bây giờ mình nối tiếp sự nghiệp đó không phải chỉ hàng tuần đến thổi còi tập họp các em rồi quây quần lại. “Nào chúng mình ra quay một vòng…”, rồi học văn nghệ, chuyên môn, Phật pháp xong, dây thân ái, ra về, hẹn tuần sau gặp lại. Nếu những cái đó mà không có hồn của chị Cúc, anh Từ, anh Chuẩn thổi vào trong đó thì chỉ là hình thức để mà chơi thôi.

Có khi thầy gặp những huynh trưởng xa cách 30, 40 năm rồi nay gặp lại vẫn mặc chiếc áo Lam thì trong lòng người thầy, người anh trước đây còn niềm vui nào hơn? Nhưng có khi màu Lam chỉ là hình thức bên ngoài che đi màu đã đổi ở bên trong, dòng máu đỏ thanh khiết chảy từ tim có còn thuần chất hay đã bị pha tạp? Do đó, tôi nghĩ rằng 66 nữ huynh trưởng sau khóa Hội thảo trở về phải đem cho được chất tinh nguyên không biến chất của GĐPT về tiêm cho các địa phương, lúc bấy giờ GĐPT mới sống lành mạnh được. Đó là điều căn bản tôi muốn nói với các chị trong khóa Hội thảo này.

Thứ đến, các chị phải biết lý tưởng là cái không thể diễn tả bằng ngôn ngữ được, nó nằm trong tâm trong não của chúng ta. Cái đó mới thực là lý tưởng mà GĐPT phải sống vì cái đó. Tôi đã từng nói biết đâu trong các em Oanh Vũ của chúng mình bây giờ có thể là chị Cúc, chị Thảo, các em Oanh Vũ nam có thể là anh Chuẩn, anh Từ, anh Mão… nhìn các em mà nghĩ đó là các anh chị tái sinh để thương các em. Còn bây giờ có huynh trưởng hỏi Nguyễn Đại Thức là ai thì không biết, Nguyễn Khắc Từ sinh hoạt ra sao cũng không biết. Anh Chuẩn là Quyền Trưởng BHD Trung ương trong giai đoạn sóng gió của GĐPT mà không biết. Không biết những giai đoạn lịch sử đó, những nhân vật đó thì họ sẵn sàng thay đổi những Nội Quy này thành Nội Quy khác, thay Quy Chế này thành Quy Chế khác. Vì sao? Vì ngay trong tư tưởng họ đã biến chất thì biến chất ở bên ngoài mấy hồi. Như vậy vô tình là phản bội, tư tưởng không phản bội mà hành động phản bội rồi. Các chị nên nhớ một điều căn bản là GĐPT muốn tồn tại thì phải duy trì cho được lý tưởng, duy trì cho được Nội Quy và Quy Chế thì đó mới là chất liệu nối tiếp các thế hệ, quên những điều đó thì chẳng qua là cái xác không hồn.

Trong tổ chức nào cũng vậy, vấn đề nhân sự rất quan trọng, các chị lớn tuổi tìm cách trao truyền kinh nghiệm cho đàn hậu bối, chuẩn bị cho một lớp đàn em kế thừa, những em nào tâm huyết, có khả năng, có phong cách của một người Việt Nam công dung ngôn hạnh tương đối đầy đủ, trao cho các em đó Phật chất, một dân tộc tính cho vững thì đó là những nhân tố có thể tiếp nối mình để khi vô thường đến mình nằm xuống thì đã có các em đó thay thế.

Thêm một sự kiện nữa mà các chị cần tìm hiểu, người phụ nữ Việt Nam trong thời Pháp thuộc sống như thế nào được thể hiện qua thân phận nhân vật nữ trong những tác phẩm của Tự Lực Văn Đoàn. GĐPTVN ra đời trong giai đoạn đó mới là điểm đáng cho chúng ta hãnh diện. Đất nước càng lâm nguy, tuổi trẻ càng xuống cấp bao nhiêu, đạo đức càng xói mòn bao nhiêu thì tổ chức chúng ta ra đời để cải hóa xã hội trong giai đoạn đó mới là điều cần thiết, cũng như đức Thế Tôn ra đời gặp lúc xã hội Ấn Độ loạn ly, Ngài ra đời để xiển dương đạo Phật. GĐPTVN ra đời lúc đất nước lâm nguy trong thời Pháp thuộc, danh thơm của GĐPTVN sau này lịch sử dân tộc Việt Nam phải ghi nhớ.

Các chị phải nhận chân cho được GĐPTVN trong giai đoạn hiện nay, tôi chỉ nhắc đến 60 năm trước với bây giờ, còn giai đoạn ở giữa các chị học đã biết rồi. Trong giai đoạn hiện nay GĐPT vẫn tồn tại, vẫn sinh hoạt được thì cái đó mới đáng nói, có nhiều gia đình đến sinh hoạt một thời gian, thầy trụ trì đuổi chạy qua chùa khác, đến chỗ khác thì sư cô đuổi chạy qua chỗ khác… tôi thấy thương các em quá! Cho nên GĐPTVN trong thời nay mới là GĐPTVN. Còn thời được người ta thương, được tự do mà duy trì được thì chẳng có gì hấp dẫn cả, giá trị lúc bấy giờ rất thường.

Một điểm cần lưu ý nữa là lối giáo dục của GĐPT bây giờ phải cải tiến cho phù hợp với thời đại, tôi nói cải tiến chứ không phải thay đổi. Thay đổi là lấy cái này thay đổi cái kia, lấy cái tốt thay cho cái xấu thì nên thay, còn nếu lấy cái xấu mà thay đổi cái tốt thì đừng làm như Hòa thượng Đức Chơn đã từng nói câu đó. Cho nên GĐPT hiện tại phải cải tiến cách sinh hoạt thích hợp với thời đại mới nhưng làm thế nào vẫn giữ được bản chất của GĐPT, cái đó mới khó. Có người nói mình phải tùy duyên, trong Phật giáo có lý thuyết tùy duyên mà bất biến, chứ không phải tùy duyên để biến chất. Đối với Nội Quy GĐPT cũng vậy, xưa nay như thế nào thì phải duy trì cho được như thế đó, đừng thay đổi những cái không đáng đổi.

Một sự kiện nữa các chị phải nhờ mình là BHD Trung ương, BHD Tỉnh, rồi Ban huynh trưởng của Gia Đình… tất cả đều là huynh trưởng hướng dẫn đàn em. Làm một ông thầy thuốc chẩn mạch sai là giết một bệnh nhân, làm ông tướng chỉ huy sai lầm thì chết một đoàn quân, nếu làm vua mà sai lầm thì chết dân một nước, nhưng nếu làm giáo dục, làm văn hóa, làm huynh trưởng dạy dỗ các em sai lầm là giết nhiều thế hệ. Cho nên người huynh trưởng bây giờ phải nhận chân cho rõ GĐPT trong quá khứ, GĐPT hiện tại và phải định hướng như thế nào cho GĐPT trong tương lai. Đó là trách nhiệm của các chị, của các Ban hướng dẫn.

Một điều nữa các chị phải biết địa vị của người phụ nữ trong Phật giáo trong đó lồng vào địa vị người huynh trưởng trong GĐPT. Đừng tưởng mình đến với các em thổi còi tập họp chơi rồi như chuồn chuồn vui thì tới, buồn thì bay đi, thấy các anh chị hơi cãi cọ nhau thì bất mãn nghỉ sinh hoạt, không thể như vậy được.

Các chị phải thấy được địa vị mình trong xã hội Việt Nam. Gia đình là một chính phủ thu hẹp nên phải thấy được địa vị của mình trong gia đình: người chồng là tổng thống chóp bu ở trên đi làm kiếm tiền, người vợ ở nhà quán xuyến tất cả: lo đóng cửa nẻo, bộ trưởng an ninh; lo sức khỏe cho chồng con, bộ trưởng y tế; lo dạy dỗ con cái, bộ trưởng giáo dục;… người phụ nữ với bao nhiêu bổn phận đối với chồng, đối với con, với cháu chắt, với gia thê đại tử mình đã làm tròn chưa? Rồi bổn phận đối với bạn bè, đối với xã hội, đối với đạo pháp… rõ ràng các chị có một địa vị trong gia đình cũng như trong xã hội rất lớn mà không biết. Muốn hoàn thành tất cả các trách nhiệm đó, hơn ai hết các chị phải là người được hấp thụ và rèn luyện theo giáo lý đạo Phật và trong tổ chức GĐPT. Cho nên phải thảo luận những đề tài: trách nhiệm người phụ nữ Việt Nam trong gia đình, Người Nữ huynh trưởng với cộng đồng tổ chức, Người Nữ huynh trưởng với gia đình, với xã hội, với đất nước…

Bây giờ GĐPTVN không phải đóng khung trong phạm vi trong nước mà GĐPTVN trong 60 năm qua đã làm một nhân tố để GĐPTVN ngày nay có mặt khắp năm châu thế giới. Trước đây chúng ta cô đơn, nhưng bây giờ đâu có cô đơn nữa.

Vậy GĐPTVN là gốc, GĐPT các nước trên thế giới chỉ là ngọn, gốc có vững mới nuôi được các ngọn bền, gốc không vững thì ngọn cũng héo khô thôi. Các Nữ huynh trưởng trong 17 tỉnh đây các chị có thấy mình là một gốc rễ to để nuôi cây GĐPTVN khắp năm châu thế giới, chứ đừng mang mặc cảm tự ti.

Hiện nay, cả thế giới đang hướng đến Phật giáo, Liên hiệp quốc thừa nhận lễ Phật Đản là ngày lễ Quốc Tế. Liên hiệp quốc đứng ra tổ chức lệ Phật Đản và tổ chức ngày quốc tế ghi ơn đức Phật và thỉnh xá lợi Phật về thờ trong trụ sở Liên hiệp quốc. Phái đoàn LHQ cử người qua Ấn Độ để bảo vệ Bồ Đề Đạo Tràng, cấm mọi sự xây dựng đường kính cách đó 2km. Ở Trung Quốc, hàng năm bán đấu giá tiếng chuông chùa Hàn Sơn, ai đấu giá cao thì ngày đầu năm được đến chùa đánh tiếng chuông đầu tiên. Như vậy thể hiện giá trị Phật giáo lên đến tột đỉnh. Cả thế giới đang hướng đến Phật giáo như thế đó trong lúc chúng ta được may mắn theo đạo Phật thì đó là cái phước của Phật tử Việt Nam nói riêng, của dân tộc Việt Nam nói chung, chúng ta có hạt ngọc trong chéo áo như đức Phật diễn tả trong kinh Pháp Hoa mà quên hạt ngọc đó để chạy đi xin ăn, làm kẻ cùng tử lang thang.

Sau khóa Hội thảo này trở về, các chị cho tôi gửi lời thăm hỏi tất cả huynh trưởng, đoàn sinh GĐPTVN, thăm hỏi luôn những người xây lưng trở mặt, thương yêu luôn cả những người đã từng phá GĐPT. Vì người Phật tử chúng ta chỉ có thương yêu chứ không có hận thù.

Tôi xin kể một câu chuyện: Em Vũ Kim 17 tuổi, một Việt kiều Việt Nam, sinh hoạt trong GĐPT hấp thụ giáo lý của Phật, em đi thi tranh luận với các học sinh Mỹ và giật giải triết học ở Mỹ. Em học sinh bên Mỹ lập luận: “Phải lấy bạo lực chống lại bạo lực, lúc bấy giờ bạo lực mới yên, có nghĩa là dùng bạo lực để triệt tiêu bạo lực, phải lấy chiến tranh để mua hòa bình, phải lấy bạo lực triệt tiêu hận thù”. Em Vũ Kim 17 tuổi, học sinh lớp 11 học giáo lý Phật: “Tôi là Phật tử, tôi tranh luận với anh: Chúng tôi chủ trương lấy từ bi triệt tiêu hận thù, phải lấy tình thương triệt tiêu bạo lực, lấy sự cảm thông thương yêu triệt tiêu những gì của chiến tranh, phải lấy sự bình đẳng thương yêu lẫn nhau mới có thể đối chọi với hận thù trên thế giới”. Em đã lấy giáo lý đạo Phật ra tranh luận, cuối cùng em đạt giải của triết học. Như vậy GĐPTVN hãnh diện có những Phật tử như vậy.

Thủ tướng nước Nhật phong cách của ông rất thiền vị. Các nhà ngoại giao hỏi ông: “Tôi đến nước Nhật thấy người Nhật làm chùa quá nhiều”. Ông trả lời một cách đơn giản: “Vì nước Nhật chúng tôi không muốn làm nhà tù!”. Như vậy, một ngôi chùa mọc lên là triệt tiêu một nhà tù. Như thế mình mới thấy không có gì vượt qua được giáo lý đạo Phật. Chỉ cần mọi người giữ 5 giới thôi thì đêm ngủ không cần đóng cửa, honda không cần phải khóa, công an khỏi đi tuần tra, tòa án không có việc làm, nhà tù không có người ở.

Chúng ta khẳng định điều đó để thấy rằng: Mình có phước duyên nhiều đời nhiều kiếp mới gặp được đạo Phật, được hướng dẫn các em, được làm huynh trưởng trong một tổ chức 60 năm qua trên đất nước. Tôi muốn các chị nhận chân cho rõ những điều đó để sau khóa Hội thảo trở về vươn vai lên mà đứng thẳng để thấy rằng mình đem tâm của Phật làm việc Phật, đem tâm của Phật để phục vụ tổ chức, đem tâm của Phật để hướng dẫn các em, đem tâm của Phật để đối diện với bạn bè, đồng thời đem tâm Phật để đối với những người nào thù hận xây lưng trở mặt với chúng ta, cảm hóa mọi người trở về với Phật.

Cuối cùng, tôi chúc các chị được tròn đầy phước quả trong tổ chức GĐPTVN.


Trong chí hướng xây dựng để phụng sự.

Quý vị đã đọc, đã hiểu, nhất là đã thông cảm với tác giả. Hy vọng thế.

Giờ còn lại giữa người viết và người đọc, chúng ta mong trao cho nhau một nụ cười.

Tác giả xin trãi tấm chân tình cùng bạn đồng sàng không dị mộng.

Thân ái,

Thích Khinh An

(Minh Tâm)




Lời ngỏ...................................................... 03

Định hướng............................................... 04

Thông điệp hòa bình.................................. 10

Sức mạnh hóa giải..................................... 14

Rạng ngời ánh đạo..................................... 18

Quan điểm................................................. 24

Đạo Phật – Đạo cách mạng......................... 27

Những mùa Phật đản................................. 33

Ôn cố tri tân.............................................. 36

44 năm qua – hào quang vẫn sáng.............. 39

Đi trước thời đại........................................ 47

Tinh thần yêu nước của PTVN................... 52

Vài ngộ nhận về PGVN.............................. 56

Thách thức vẫn còn................................... 65

Công lý...................................................... 68

Thông điệp của 1 người.............................. 71

Đức Thế Tôn thành đạo............................. 74

Diễn văn… trường Bồ Đề Tuy Hòa............. 78

Đường hướng giáo dục Phật giáo................ 82

Con đường xây dựng.................................. 88

Giáo dục trẻ............................................... 90

Lời thưa… Chùa Phật Ân.......................... 94

Tôn trọng sự thật....................................... 99

Tâm thư................................................... 103

Giáo từ của CVGH GĐPTVN................... 107

Gởi “Sen Trắng”...................................... 110

Phật giáo với thiên nhiên ........................ 112

Nói với ngành Nữ.................................... 121

Lời cuối sách........................................... 139

Mục lục................................................... 140

Phương danh các Phật tử ấn tống sách này:

Ở Canada:

  • Đạo tràng chùa Pháp Vân
  • Đạo tràng chùa Bát Nhã
  • Đạo tràng chùa Đức Phổ
  • Gia đình chị Loan
  • Gia đình cô Lưu
  • Gia đình anh Son
  • Gia đình chị Thiết
  • Gia đình chị Thiệt
  • Gia đình anh Cao
  • Gia đình anh Lộc
  • Trung Tâm
  • Nguyên Huấn
  • Trung Đạo
  • Trung Hoàng
  • Trung Vũ
  • Trung Ngọc
  • Trung Chi
  • Lệ Đức
  • Cát Tường
  • Khánh Chung

Ở Úc:

  • Đạo tràng chùa Quang Minh
  • Đạo tràng chùa Linh Sơn
  • Đạo tràng chùa Quảng Đức
  • Đạo tràng chùa Bảo Minh
  • Đạo tràng chùa Hoa Nghiêm
  • Đạo tràng chùa Liên Trì
  • GĐPT ở Adelaide
  • GĐPT ở Sydney
  • GĐPT ở Melbourne
  • Gia đình Thiện và Trang
  • Gia đình Bảo và Như
  • Duyên Anh
  • Đình Anh
  • Trung Anh
  • Trung Hoa

Xin liên hệ:

Thích KHINH AN (Minh tâm)

Chùa PHẬT ÂN

Long Thành – Đồng Nai

ĐT: 0613.844.618 – 0612.643.400 – 0933.451.848

***

Trang Nhà Quảng Đức chân thành cảm ơn Thầy Trung Đạo và Thầy Hiếu Niệm đã gởi tặng phiên bản điện tử tập sách này (Thích Nguyên Tạng, 17-10-2013)



Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn