Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   

Quyển Hạ

24/06/201318:30(Xem: 6978)
Quyển Hạ

Phật Nói Kinh Hưng Khởi Hạnh

Quyển Hạ

Việt dịch: Thích Chánh Lạc

Nguồn: Hán dịch: Hậu Hán Tam Tạng Khương Mạnh Tường Chứng nghĩa: Tỳ kheo Thích Đồng Minh

7. Phật nói kinh Nhân duyên Đề Bà Đạt Đa đôi đá.



Nghe như vầy:

Một thời Phật ở tại con suối lớn A Nậu cùng với năm trăm Đại Tỳ kheo đều là bậc A la hán, lục thông, thần túc đầy đủ, chỉ trừ một Tỳ kheo là tôn giả A Nan.

Bấy giờ đức Phật bảo tôn giả Xá Lợi Phất:

–Ngày xưa vào thời quá khứ, ở thành La Duyệt Kỳ có một trưởng giả tên là Tu Đàn, hết sức giàu có, của cải, voi ngựa, bảy báu, trẻ nhỏ ở để hầu hạ sai bảo, sản nghiệp đầy đủ. Ông có một người con trai tên là Tu Ma Đề. Trưởng giả Tu Đàn bỗng nhiên mạng chung. Tu Ma Đề có một người em khác mẹ là Tu Da Xá. Lúc ấy Ma Đề suy nghĩ:”Ta Phải lập kế gì để không cho Tu Da Xá hưởng Phần tài sản”. Tu Ma Đề lại suy nghĩ: “Chỉ có cách giết nó đi mới khỏi chia gia tài”. Do đó Tu Ma Đề bảo với Tu Da Xá:

- Anh em ta cùng lên đỉnh núi Kỳ Xà Quật, nơi đó có “luận thuyết về vấn đề khứ, lai”.

Tu Da Xá đáp:

- Thưa vâng!

Khi ấy Tu Ma Đề liền nắm tay em cùng lên đỉnh núi. Khi đã lên đỉnh đến gần mé núi, nơi cao nhất, liền xô nhười em xuống chân núi, rồi lấy đá đè lên, khiến cho người em chết ngay.

Đức Phật bảo Tôn giả Xá Lợi Phất:

- Ngươi có biết vị trưởng giả Tu Đàn lúc ấy là ai chăng? Chính là Phụ vương Chơn Tịnh bây giờ. Người con ông tên là Tu Ma Đề lúc ấy thì chính là thân của ta. Người em là Tu Da Xá lúc ấy thì nay là Đề Bà Đạt Đa.

Đức Phật bảo Tôn giả Xá Lợi Phất:

- Lúc ấy vì ta tham của cải mà giết hại người em. Do tội ác này nên trải qua vô số ngàn năm phải bị thiêu đốt trong địa ngục, bị núi sắt đè lên. Bây giờ duyên xưa còn sót lại, nay ta tuy đã được thành Đẳng Chánh giác nhưng không thoát khỏi quả báo đời trước. Ta ở trên núi Kỳ Xà Quật, đang kinh hành trên mặt đất, bị Đề Bà Đạt Đa nâng tản đá dài sáu trượng, rộng ba trượng, đội lên đầu ta. Khi ấy vị thần cuả núi Kỳ Xà Quật tên là Tỳ La lấy tay chụp đá. Chỉ có một mẫu đá nhỏ rơi trúng ngón chân cái củûa ta, làm rách da chảy máu.

Bấy giờ đức Thế Tôn liền nói bài kệ liềùn nói bài kệ về đời trước rằng:

- Xưa, ta vì của cải

Giết người em khác mẹ
Xô xuống tận chân núi
Lấy đá đè lên người
Do nhân duyên như vậy
Mãi chịu khổ địa ngục
Ở trong địa ngục này
Bị núi sắt đè lên
Do tai ương sót lại
Đề Bà Đạt đôi đá
Mảnh đá rơi trúng chân
Làm dập ngón chân cái
Nhân duyên không thể mất
Cũng không thành hư không
Phải giữ ba nhân duyên
Chớ phạm thân, khấûu ý
Nay ta thành Tôn Phật
Được làm tướng ba cõi
Trong suối lớn A Nậu
Nói chuyện đời trước này.

Đức Phật bảo Tôn giả Xá Lợi Phất:

- Ngươi xem đức Như Lai, các điều ác đã hết, các điều thiện đầy đủ. Với các Trời, Rồng, Quỷ thần, vua Trời Đế Thích, quần thần nhân dân và chúng sanh, Ngài đều muốn độ thoát. Vậy mà vẫn bị nhân duyên kiếp trước, không thềû thoát khỏi, huống chi bọn ngu si mê muội chưa đắc đạo?! Này Xá Lợi Phất, các ngươi nên học như vậy, đừng phạm lỗi của thân, khẩu, ý.

Đức Phật thuyết như vậy xong, tôn giả Xá Lợi Phất và năm trăm vị La hán, Long vương A Nậu, Trời, Rồng, Quỷ thần, Càn thát bà, A tu la, Câu lầu la, Khẩn na la, Ma hầu la già, nghe đức Phật dạy xong hoan hỷ phụng hành.

8. Phật nói kinh nhân duyên Bà la môn nữ tên là Chiên Sa hỷ báng Phật.



Nghe như vầy:

Một thời đức Phật ở tại con suối lớn A Nậu cùng với chúng Đại Tỳ kheo gồm năm trăm vị, đều là bậc La hán, lục thông, thần túc đầy đủ, chỉ trừ một Tỳ kheo là tôn giả A Nan.

Đức Phật bảo tôn giả Xá Lợi Phất:

- Ngày xưa, vô số kiếp về trước, bấy giờ có đức Phật là Tận Thắng Như Lai, Chí Chơn Đẳng chánh giác, Minh hạnh thành, là bậc thiện thệ, thế gian giải, Vô thượng sĩ, Điều ngự, Thiên nhân sư, Phật Thế Tôn. Lúc bấy giờ ở nước Ba La Nại, cùng với chúng Đại Tỳ kheo gồm sáu vạn tám ngàn người đều là bậc La hán.

Này Xá Lợi Phất! Bấy giờ đức Như Lai Tận Thắng có hai vị Tỳ kheo: một là Tỳ kheo Vô Thắng, hai là Tỳ kheo Thường Hoan. Tỳ kheo Vô Thắng thì có lục thông thần túc. Còn Tỳ kheo Thường Hoan thì kết sử chưa trừ. Bấy giờ ở thành Ba La Nại có một trưởng giả tên là Đại Aùi, có voi, ngựa, bảy báu, của cải vô số. Trưởng giả có một người vợ tên là Thiện Huyễn, đoan chánh không ai bằng. Hai vị Tỳ kheo này thường hay lui tới nhà ông ta để thọ ân cúng dường. Vợ của ông cúng dường cho Tỳ kheo Vô Thắng y phục, đồ ẩm thực, giường nằm, thuốc men, tứ sự cúng dường không thiếu thứ gì. Còn bà cúng dường cho Tỳ kheo Thường Hoan thì rất ít. Vì sao? Vì Tỳ kheo Vô Thắng đã đoạn hết các lậu, lục thông cụ túc. Còn Tỳ kheo Thường Hoan chưa hết kiết sử, chưa thành đạo vậy.

Tỳ kheo Thường Hoan thấy Tỳ kheo Vô Thắng thọ sự cúng dường một cách thiên lệch nên sanh lòng đố kỵ, phỉ báng ngang ngược rằng:

- Tỳ kheo Vô Thắng tư thông với phu nhân Thiện Huyễn nên không cúng dường theo đạo Phật pháp mà tự đem sự ân ái để cúng dường.

Đức Phật bảo tôn giả Xá Lợi Phất:

- Ngươi có biết Thường Hoan đệ tử của đức Như Lai Tận Thắng là ai chăng? Đó chính là Thân của ta, còn muốn biết phu nhân Thiện Huyễn là ai thì nay là con gái của Bà la môn, tên là Chiên Sa.

Đức Phật bảo tôn giả Xá Lợi Phất:

Lúc ấy ta phỉ báng vô cớ vị La hán Vô Thắng. Vì tội ác ấy, nên trải qua vô số trăm ngàn năm ở địa ngục chịu các thống khổ. Nay ta được thành Phật, đối với Lục sư... Các chúng Tỳ kheo, kẻ lậu tận, người lậu chưa tận, và các vị vua, thần dân, thanh tín sĩ và thanh tín nữ, khi ta đang thuyết pháp, vì oan xưa còn sót lại, nên bị đồng nữ Đa Thiệt độn bình đựng nước vào bụng, đến trước ta nói rằng:

- Này Sa Môn! Sao không tự nói chuyện nhà cửa mà nói toàn chuyện đâu đâu! Nay riêng một mình ông vui sướng mà không biết sự thống khổ của tôi sao?! Vì sao vậy? Vì trước đây ông tư thông với tôi, khiến cho tôi phải có mang. Nay sắp đến tháng sinh sản, tôi cần có bơ, dầu để nuôi đứa bé. Ông hãy cung cấp những thứ ấy cho tôi!

Bấy giờ chúng hội đều im lặng, cúi đầu. Khi ấy Đức Đề Hoàn Nhân đứng hầu quạt phía sau đức Phật, dùng thần lực hóa làm con chuột, chạy vào trong áo nàng Đa Thiệt, cắn đứt sợi dây buộc cái bình, làm cho nó tự nhiên rơi xuống đất.

Bấy giờ bốn chúng đệ tử và các học trò của Lục sư đều hết sức vui mừng, cất tiếng khen là thật hay, hân hoan vô lượng, đều đồng thanh chửi đồng nữ kia rằng:

- Này đồ chết tiệt! Sao lại đem cái vật tội lỗi, với ác ý, hồng phỉ báng sự thanh tịnh, vô thượng chánh chơn? Mặt đất này vô tri, há có thể chứa con người tội ác đến như vậy sao?!.

Mọi người đề nói như vậy, tức thì mặt đất nứt ra, lửa từ lòng đất phun lên, cô gái liền rơi vào trong đó, đi thẳng đến địa ngục lớn A-Tỳ. Đại chúng thấy cô gái thân đang còn sống mà đã rơi vào địa ngục. Lúc ấy vua A Xà Thế cảm thấy kinh khủng, lông tóc trong người dựng đứng, đứng dậy, chắp tay, quỳ dài, bạch đức Phật:

- Hiện nay cô hái này đang đọa nơi nào?

Đức Phật trả lời:

- Này Đại vương! Hiện nay cô gái này đang đọa vào địa ngục A-tỳ.

Vua A Xà Thế lại hỏi đức Phật:

- Cô gái này không giết người, không trộm cắp, chỉ vì vọng ngữ mà dọa vào địa ngục A Tỳ sao?

Đức Phật bảo vua A Xà Thế:

- Ta đã nói Duyên Pháp có hành động thượng, trung, hạ của thân, khẩu, ý.

Vua A Xà Thế lại hỏi:

- Sao gọi là nặng? Sao gọi là vừa? Sao gọi là nhẹ?

Đức Phật bảo vua A Xà Thế:

- Hành động của ý là nặng, hành động của thân là vừa, hành động của thân là nhẹ.

Vua A Xà Thế lại hỏi:

- Vì sao vậy?

Đức Phật trả lời:

- Hành động của thân hiện ra một cách thô sơ, việc ấy có thể thấy được. Hành động của miệng thì tai có thể nghe được. Hai loại hành động ấy thế gian có thể thấy, nghe được.

Đức Phật bảo:

- Này Đại vương! Về hành dộng của ý, giả sử nó khởi lên ý niệm thì không thể thấy nghe được. Đó là hành động ở bên trong do ý quyết định trói buộc.

Nhà vua lại hỏi:

- Ý không thể thấy, sao lại buộc ý quyết định?

Đức Phật trả lời nhà vua:

- Nếu thiện nam tử, thiện nữ nhân, giả sử hành động của họ muốn sát sanh, trộm cắp, tà dâm, thì trước tiên họ phải suy nghĩ, rồi trong tâm quyết định khi nào nên hành động, suy nghĩ nên đến chỗ nào.

Đức Phật lại bảo nhà vua:

- Phàm con người khi hành động trong tâm suy tính, sau đo mới hành độïng. Cho nên ý là quang trọng, chứ không phải thân và miệng.

Đức Phật bảo lại nhà vua:

- Nếu miệng phát ngôn, khi miệng muốn phát ngôn, trước tiên ý phải suy nghĩ, hoặc trong đại hội, khi giảng luận pháp, hoặc khi cùng ngồi xử đoán luật hiện hành. Hoặc có người hỏi ta phải phản bác luận thuyết kẻ ấy; trong khi đó chẳng phải là việc đã xong. Nếu có lời nói này, ta liền phản bác. Điều đó là ý khí của người khác nên nói lên lời ấy vậy. Nếu thực ba đều đo thì nên đừng đắm trước. Lại còn nghĩ kế:” Nên đến đó để đánh nhau”. Rằng :”Muốn giết tôi, phá tôi, hoại tôi. Anh phải theo lời tôi, đừng nên tin người kia”. Nếu nói lời hai lưỡi ấy thành ra lời hư ngụy, giảm mất chánh pháp của mình, sau khi mạng chung bị đọa vào địa ngục.

Đức Phật bảo nhà vua:

- Cho nên miệng phát ngôn là do ý đã nghĩ, không phải quan trọng ở thân và miệng.

Nhà vua lại hỏi đức Phật:

- Vì sao vậy?

Đức Phật bảo nhà vua:

- Thân có ba lỗi, miệng có bốn lỗi đều do ý định. Nếu không suy nghĩ thân không thể tự mình làm được. Cho nên thân và miệng phụ thuộc vào ý định.

Bấy giờ đức Thế Tôn liền nói bài kệ:

- Trong ý suy nghĩ kỹ
Thân miệng mới hành động
Thân miệng giả xấu hổ
Ý nào biết xấu hổ
Ý phải xấu hổ trước
Thân, miệng xấu hổ sau
Thân miệng không lìa ý
Không thể tự hành động.

Bấy giờ vua A Xà Thế nghe đức Phật thuyết pháp, buồn thương rơi lệ. Đức Phật hỏi nhà vua:

- Vì sao vua khóc?

Nhà vua thưa:

- Vì chúng sanh không có trí tuệ, không hiểu ba việc này, nên mãi bị tổn hại, cho nên con thương sót họ. Bọn chúng sanh chỉ cho rằng thân, khẩu là lớn mà không biết ý thâm độc. Bạch Thế Tôn, con vốn cho rằng thân, khẩu là lớn, còn ý là nhỏ. Nay theo Phật nghe Pháp mới biết ý là to lớn; thân, khẩu là nhỏ.

Đức Phật hỏi nhà vua:

–Xưa sao vua cho là thân, khẩu là lớn, ý là nhỏ. Nay mới biết ý là lớn mà thân, khẩu là nhỏ?

Nhà vua lại bạch đức Phật:

–Phàm người sát sanh, mọi người đều thấy được, hoặc trộm cắp, dâm dật thì mọi người cũng thấy được; ba việc này của thân, thiên hạ đều thấy biết. Miệng nói lời vọng ngữ, ác khẩu, hai lưỡi, lời nói không thành thật, bốn việc này của miệng, thiên hạ cũng đều nghe được. Còn ba việc của ý thì tai không thể nghe, mắt không thể thấy, vì vậy mà chúng sanh lấy việc mắt thấy tai nghe thì cho là lớn. Nay con nghe Phật dạy mới biết tâm ý là lớn, mà thân khẩu là nhỏ. Vì vậy hành động của thân khẩu lệ thuộc với ý dịnh.

Đức Phật lại hỏi nhà vua:

–Vì sao biết ý là lớn, hành động của thân và khẩu lệ thuộc nơi ý định?

Vua bạch đức Phật:

–Cô gái Đa Thiệt muốn lập mưu huỷ báng đức Phật, trước tiên tâm phải suy nghĩ, mới lấy cái bồn đựng nơi bụng, rồi ở trong đại chúng mới vu khống như vậy. Con nghe lời đức Phật dạy cho nên con biết ý là lớn mà thân khẩu là nhỏ.

Đức Phật bảo:

–Này Đại vương! Vì sao bây giờ vua hiểu được ý là lớn mà thân, khẩu là nhỏ?

Nhà vua thưa:

–Giả sử khi muốn làm việc gì, trước hết tâm phải suy nghĩ, sau đó thân, khẩu mới hành động, cho nên con biết ý là lớn mà thân, khẩu là nhỏ.

Đức Phật nói:

–Lành thay! Lành thay! Này Đại vương! Vua đã hiểu rõ việc này, vậy phải thường học như vầy: ý là lớn mà thân, khẩu là nhỏ.

Khi đức Phật nói xong, tám mươi vị Tỳ kheo ở trong chúng được lậu tận, ý giải, hai trăm vị Tỳ kheo được đạo A Na Hàm, bốn trăm vị Tỳ kheo được đạo Tư Đà Hàm, tám trăm vị Tỳ kheo được đạo Tu Đà Hoàn, tám vạn vị Thiên và người đều được Pháp nhãn thanh tịnh, mười vạn người và chẳng phải người đều thọ năm giới, hai mươi vạn quỷ, thọ thần Tam Tự Quy.

Bấy giờ đức Thế Tôn nói bài kệ về nhân duyên quá khứ:

Lúc Như Lai Tận Thắng
Ta, Tỳ kheo Đa Hoan
Huỷ báng Ngài Vô Thắng
Mãi đoạ vào địa ngục
Do nhân duyên sót lại
Đồng nữ Đa Thiẹât đến
Ở trong đại chúng này
Tới trước huỷ báng ta
Oan xưa không thể mất
Cũng chẳng thành hư không
Phải giữ ba nhân duyên
Đừng phạm thân, khẩu, ý
Nay ta thành Phật đạo
Lại làm tướng ba cõi
Trong suối lớn A Nậu
Tự nói chuyện đời trước.

Đức Phật bảo Tôn giả Xá Lợi Phất:

- Ngươi xem đức Như Lai, các điều ác đã hết, các điều thiện đầy đủ. Với các Trời, Rồng, Quỷ thần, vua Trời Đế Thích, quần thần nhân dân và chúng sanh, Ngài đều muốn độ thoát. Vậy mà vẫn không tránh khỏi nhân duyên kiếp đời trước này, huống chi bọn ngu si chưa đắc đạo?! Này Xá Lợi Phất! Phải phòng hộ thân, khẩu, ý.

Đức Phật dạy như vậy xong, tôn giả Xá Lợi Phất và năm trăm vị La hán, Đại Long Vương A Nậu, tám bộ quỷ thần nghe đức Phật dạy xong hoan hỷ phụng hành.

9. Phật nói kinh Nhân duyên kiếp trước phải ăn lúa ngựa.



Nghe như vầy:

Một thời đức Phật ở tại con suối lớn A Nậu, cùng với đại chúng Tỳ kheo là năm trăm vị, đều là bậc A la hán, đầy đủ lục thông, thần túc.

Bấy giờ, đức Phật bảo tôn giả Xá Lợi Phất:

–Thời quá khứ lâu xa, khi ấy có một vị Phật tên là Tỳ Bà Diếp Như Lai, Chí chơn, Đẳng chánh giác, Minh hạnh thành, là bậc Thiện Thệ, Thế gian giải, Vô thượng sĩ, Điều ngự trượng phu, Thiên nhân sư, Phật Thế Tôn, ở trong thành Bàn Đầu Ma Bạt, cùng với chúng Đại Tỳ kheo là mười sáu vạn tám ngàn vị.

Bấy giờ nhà vua tên là Bàn Đầu, cùng với quần thần, thứ dân, thanh tín sĩ và thanh tín nữ, đem bốn sự cúng dường cho đức Như Lai Tỳ Bà Diếp cùng với đại chúng chẳng thiếu thứ gì. Khi ấy ở trong thành có một Bà la môn tên là Nhân Đề Kỳ Lợi, hiểu rộng bốn bộ sách (Tứ Phệ Đà) của Phạm chí; cũng biết về pháp thuật của Bà la môn. Ông dạy học cho năm trăm đồng tử.

Bấy giờ nhà vua mở hội, trước tiên mời đức Phật, đức Phật im lặng nhận lời. Nhà vua trở về cung chuẩn bị các món ngon bổ và đặt sàn toạ, dùng nệm, thảm bằng nỉ lót sàn nhà, xong nhà vua bưng lò hương, ở trên toà, quỳ dài bạch rằng:

–Nay đã đúng giờ cúi mong đức Thế Tôn hạ cố.

Khi ấy đức Phật Tỳ Bà Diếp thấy thì giờ đã đến, liền bảo đại chúng mặc y ôm bát, đến phó hội, theo lời thỉnh của nhà vua. Bấy giờ đại chúng vây quanh, đi đến cung vua, rồi ngồi trên toà. Nhà vua liền mời đức Phật và đại chúng thọ thực. Tự tay vua bới sớt thức ăn, các thứ ngon bổ để dâng cúng. Lúc ấy có một Tỳ kheo là Di Lặc bị bệnh, không đến dự được.

Đức Phật và đại chúng thọ thực xong, liền trở về. Khi trở về, các Ngài có nhận đồ ăn của nhà vua cúng dường cho các Tỳ kheo bệnh. Lúc các Ngài đi ngang qua hòn núi của Phạm chí, ông ta thấy đồ ăn ngon, liền sanh lòng đố kỵ, nói rằng:

– Sa môn trọc đầu này, đúng ra phải ăn lúa của ngựa, chứ không nên cúng dường món ăn ngon bổ này.

Ông bảo các đệ tử:

–Các ngươi thấy gã đạo nhân trọc đầu này ăn toàn đồ ăn ngon bổ chăng?

Các đồng tử thưa:

–Quả thật chúng con có thấy.

Họ nói:

–Thầy trò của bọn người này phải ăn lúa ngựa mới đúng.

Đức Phật bảo tôn giả Xá Lợi Phất:

–Ngươi có biết người Bà la môn ở núi Chúa lúc ấy là ai chăng? Chính là thân của ta đó. Còn năm trăm đồng tử lúc đó thì nay là năm trăm vị La hán này. Còn Tỳ kheo Di Lặc bị bệnh lúc ấy thì nay là Bồ Tát Di Lặc này.

Đức Phật bảo tôn giả Xá Lợi Phất:

–Lúc ấy vì ta có lòng đố kỵ nó rằng: “Bọn người này không nên ăn những món ăn ngon bổ. Họ nên ăn lúa ngựa mới phải”. Lúc ấy các ngươi cũng nói vậy, do đó ta và các ngươi trải qua vô số ngàn năm ở trong địa ngục. Nay ta tuy thành Phật, nhưng vì nghiệp duyên sót lại đời trước, nên ta và các ngươi phải ăn lúa ngựa ngót chín mươi ngày tại ấp Tỳ Lan. Lúc ấy ta không nói:“Cho Phật ăn lúa ngựa”. Ta chỉ nói: “Cho các Tỳ kheo ăn lúa ngựa”. Vì vậy cho nên nay ta được ăn lúa đã làm sạch. Vì các ngươi lại nói thêm: “Nên cho Phật ăn lúa ngựa”, cho nên nay các ngươi phải ăn lúa ngựa chưa sạch vỏ.

Bấy giờ đức Thế Tôn nói bài kệ về nhân duyên kiếp trước:

Xưa ta là Phạm chí
Sở học rất uyên bác
Dạy năm trăm đồng tử
Ở tại trong rừng cây
Vào thời Phật Tỳ Diếp
Mắng nhiếc các Tỳ kheo:
“Không nên cơm gạo ngon
Chỉ nên ăn lúa ngựa”.
Các đồng tử cũng nói
“Đúng như lời thầy dạy,
Cả thầy trò bọn chúng
Đều nên ăn lúa ngựa”.
Do nhân duyên như vậy
Mãi chịu khổ địa ngục
Tai ương xưa sót lại
Cùng năm trăm Tỳ kheo
Khi Bà la môn thỉnh
Hội tại ấp Tỳ Lan
Cùng ăn lúa của ngựa
Ròng rã chín mươi ngày
Nhân duyên không thể mất
Cũng không thành hư không
Nên giữ ba nhân duyên
Chớ phạm thân, khẩu, ý
Nay ta thành Phật đạo
Lại làm tướng ba cõi
Trong suối lớn A Nậu
Tự nói chuyện đời trước.

Đức Phật bảo Tôn giả Xá Lợi Phất:

- Ngươi xem đức Như Lai, các điều ác đã hết, các điều thiện đầy đủ. Với các Trời, Rồng, Quỷ thần, vua Trời Đế Thích, quần thần nhân dân tất cảø chúng sanh đều muốn làm cho họ được độ thoát. Vậy mà vẫn không thể khỏi tai ương sót lại đời trước, huống chi bọn ngu si chưa đắc đạo?!.

Đức Phật bảo tôn giả Xá Lợi Phất:

–Ngươi phải học và hộ trì ba nhân duyên, Chớ phạm thân, khẩu, ý. Này Xá Lợi Phất! Phải học như vậy

Đức Phật dạy như vậy xong, tôn giả Xá Lợi Phất và năm trăm vị La hán, Đại Long vương A Nậu, tám bộ quỷ thần nghe đức Phật dạy, thảy hoan hỷ phụng hành.

Phải giữ ba nhân duyên
Đừng phạm thân, khẩu, ý
Nay ta thành Phật đạo
Lại làm tướng ba cõi
Trong suối lớn A Nậu
Tự nói chuyện đời trước.

Đức Phật bảo Tôn giả Xá Lợi Phất:

- Ngươi xem đức Như Lai, các điều ác đã hết, các điều thiện đầy đủ. Với các Trời, Rồng, Quỷ thần, vua Trời Đế Thích, quần thần nhân dân và chúng sanh, Ngài đều muốn độ thoát. Vậy mà vẫn không tránh khỏi nhân duyên kiếp đời trước này, huống chi bọn ngu si chưa đắc đạo?! Này Xá Lợi Phất! Phải phòng hộ thân, khẩu, ý.

Đức Phật dạy như vậy xong, tôn giả Xá Lợi Phất và năm trăm vị La hán, Đại Long Vương A Nậu, tám bộ quỷ thần nghe đức Phật dạy xong hoan hỷ phụng hành.

10. Phật Nói Kinh Nhân Duyên Kiếp Trước Của Sự Khổ Hạnh



Nghe như vầy:

Một thời Phật ở tại con suối lớn A Nậu cùng với chúng Đại Tỳ kheo là năm trăm vị, đều là bậc A la hán, lục thông, thần túc đầy đủ, ngoại trừ một Tỳ kheo là tôn giả A Nan.

Bấy giờ đức Phật bảo tôn giả Xá Lợi Phất:

–Ngày xưa tại thành Ba La Nại, cách thành này không xa có một cái ấp tên là Đa Thú, trong đó có một Bà la môn là Thái sử của nhà vua, đứng đầu trong nước. Ông ta có một người con, trên đầu tự nhiên có vòng hoa bằng lửa (Hoả Man), do đó đặt tên cho chàng là Hoả Man, thân hình xinh đẹp, có ba mươi tướng tốt. Các sách vở của Phạm chí, Đồ Thơ, Sấm ký ... không thú gì mà không thấu triệt. Cấm giới của ngoại đạo và các nghệ thuật toán số thảy đều luyện tập thuần thục.

Bấy giờ có một người con của thợ làm đồ gốm tên là Nan Đề Bà La (Hộ Hỷ), từ nhỏ vốn là bạn thân với Hoả Man. Trong lòng họ kính trọng nhớ nhau không chút nào quên. Người con của thợ làm đồ gốm thì tinh tấn, dõng mãnh, nhân từ, hiếu thuận. Cha mẹ chàng đều mù, chàng cung phụng song thân chẳng thiếu vật gì. Nan Đề Bà La tuy là thợ làm đồ gốm, nhưng tay chàng không đào đất, cũng không bảo người khác đào, chàng chỉ lấy đất vách tường vở, bờ sập và đất chuột đào nhồi lại làm đồ dùng, đẹp vô cùng, nếu có người nam hay người nữ muốn mua các đồ gốm ấy, họ chỉ cần lấy luá mạch, mè, đậu để trên mặt đất rồi lấy đồ gốm đi. Ngay từ đầu chàng đã chẳng định giá món hàng là bao nhiêu. Chàng cũng không lấy vàng bạc, của cải, vải vóc, chàng chỉ lấy luá gạo để dâng cúng cho cha mẹ mà thôi.

Tinh xá của đức Như Lai Ca Diếp cách ấp Đa Thú không xa, cùng với chúng Đại Tỳ kheo là hai vạn người, đều là bậc La hán. Khi ấy Hộ Hỷ nói với Hoả Man rằng:

–Chúng ta cùng nhau đi đến viếng thăm đức Như Lai Ca Diếp chứ?

Hoả Man đáp:

–Hộ Hỷ muốn viếng thăm đạo nhân trọc đầu ấy à? Gặp con người trọc đầu ấy làm gì có đạo? Phật đạo khó có thể được.

Chàng nói như vậy cho đến ba lần. Ngày hôm sau Hộ Hỷ lại nói với Hoả Man:

–Chúng ta cùng đến bờ sông để tắm rửa chứ?

Hoả Man đáp:

–Đồng ý!

Họ cùng đến bờ sông để tắm rửa, rồi mặc y phục. Hộ Hỷ cầm cục đá trên tay, chỉ về hướng xa, bảo bạn rằng:

–Tinh xá của đức Như Lai Ca Diếp cách đây không xa, chúng ta hãy đến thăm Ngài một lát chứ!

Hoả Man đáp:

–Hộ Hỷ muốn gặp đạo nhân trọc đầu ấy à? Đạo nhân trọc đầu thì làm gì có đạo Phật? Đạo Phật khó mà đạt được!

Bấy giờ Hộ Hỷ nắm áo của Hoả Man kéo đi, bảo rằng:

–Chúng ta hãy đến chỗ Phật Ca Diếp. Đức Phật ở gần đây lắm!

Khi ấy Hoả Man cởi áo bỏ chạy, Hộ Hỷ liền đuổi theo sau, nắm đai ngang eo lưng bảo rằng:

–Chúng ta có thể gặp đức Phật chốt lát rồi trở về chứ?

Hoả Man lại cởi dây đai bỏ chạy, bảo rằng:

–Tọi không muốn gặp gã Sa môn trọc đầu ấy.

Hộ Hỷ liền nắm đầu chàng kéo đi, bảo rằng:

–Hãy cùng gặp đức Phật một lần rồi hãy về!

Đức Phật bảo tôn giả Xá Lợi Phất:

–Tục lệ người nước Ba La Nại thuở ấy tối kỵ là nắm đầu người ta. Hễ ai nắm đầu người khác thì bị tử hình.

Lúc ấy trong lòng Hoả Man rất đổi kinh hãi, nghĩ rằng: “Người con của thợ làm đồ gốm này lẽ nào chịu tội chết mà nắm đầu ta sao?”.

Hộ Hỷ bảo Hoả Man:

–Vì bạn mà tôi bị chết cũng chẳng ân hận gì, miễn là làm sao bạn thấy được đức Phật là tôi vui rồi!

Hoả Man suy nghĩ: “Chuyện này chẳng phải nhỏ, có lẽ là việc tốt gì đây mới khiến cho bạn ta chịu chết mà nắm đầu như vậy”. Anh nói:

–Hãy thả đầu tôi ra, tôi sẽ theo anh.

Khi ấy Hộ Hỷ liền thả ra. Hoả Man liền đi theo bạn.

Anh bối tóc, mặc y phục lại, cùng đi với bạn đến chỗ đức Phật Ca Diếp. Hộ Hỷ đảnh lễ dưới chân đức Như Lai Ca Diếp rồi ngồi qua một bên, còn Hoả Man thì đứng thẳng, giơ tay chào hỏi rồi ngồi xuống một bên. Khi ấy Hộ Hỷ chắp tay bạch đức Phật Ca Diếp rằng:

–Anh Hoả Man này là con của Thái Sử trong ấp Đa Thú, là bạn thân của con từ thời thơ ấu, nhưng anh ta không biết Tam Tôn, không tin Tam Bảo, không thấy Phật, không nghe Pháp, không cúng dường chúng Tăng. Cúi mong đức Thế Tôn khai hoá cho sự ngu muội, làm cho anh ấy tin hiểu.

Bâý giờ đồng tử Hoả Man nhìn kỹ đức Phật từ đầu đến chân, từ chân đến đầu, thấy đức Phật tướng tốt, oai nghi vòi vọi, các căn tịch định, thuần thục, điều hoà, thân Ngài có ba mươi hai tướng tốt, tám mươi vẻ đẹïp, giống như hoa cây Sa la, thân của Ngài giống như núi Tu Di, không thể thấy được đảnh đầu, mặt Ngài như trăng rằm, hào quang chói sáng như mặt trời giữa ban ngày, thân sắc như núi vàng. Khi ấy Hoả Man thấy tướng tốt của đức Phật xong, liền suy nghĩ: “Sách Sấm Ký của Phạm chí có ghi chép về tướng tốt, nay đức Phật đã có đủ các tướng ấy, chỉ có hai tướng là ta không thấy được”. Bấy giờ Hoả Man dùng kệ hỏi:

Con nghe bậc Đại sĩ
Đủ ba hai tướng tốt
Tôn quý giữa loài người
Con không thấy hai tướng
Vậy thân bậc trượng phu
Có Mã âm tàng chăng?
Và có lưỡi rộng dài
Che khắp cả đầu mặt
Xin Ngài thè lưỡi ra
Để con hết hồ nghi
Thấy rồi con mới biết
Như kinh ghi chép chăng?

Bấy giờ đức Như Lai Ca Diếp liền thè tướng lưỡi rộng dài ra che phủ cả mặt, lên tới nhục kế, qua hai lỗ tai. Bảy lần đưa lưỡi lên đầu rồi thu lưỡi vào miệng. Hào quang trong thân Ngài phóng ra chiếu sáng cả đại thiên thế giớ, luôn cả ánh sáng của mặt trời, mặt trăng, cho đến cõi trời A Ca Nị Tra, hào quang trở lại xoay quanh thân Ngài bảy vòng rồi lại vào đảnh đầu của Ngài.

Đức Như Lai Ca Diếp dùng sức thần túc hiện tướng Mã âm tàng, chỉ cho một mình Hoả Man thấy, ngoài ra mọi người đều không thấy.

Khi ấy đồng tử Hoả Man thấy đức Phật đủ ba mươi hai tướng tốt chẳng thiếu tướng nào nên hớn hở vui mừng, không thể tự kiềm chế được.

Bấy giờ đức Như Lai Ca Diếp thuyết pháp cho đồng tử Hoả Man nghe. Ngài thuyết về Pháp Bồ Tát đoạn mất công đức. Những pháp gì là đoạn mất công đức của Bồ Tát? – Đó là thân làm ác, miệng nói ác, ý nghĩ ác. Điều mà thân không nên làm lại làm, miệng không nên nói lại nói. Ý không nên nghĩ lại nghĩ.

Sao gọi là Bồ Tát thân không nên làm lại làm? –Đó là sau thành Phật, thân hình lùn, nhỏ. Này Tộc tánh tử, đó là quả báo thân không nên làm mà làm của Bồ Tát

Sao gọi là Bồ Tát miệng không nên nói lại nói? –Đó là sau khi xuất gia học đạo, nỗ lực cần khổ mới được thành Phật. Này Tộc tánh tử, đó là quả báo miệng không nên nói mà lại nói của Bồ Tát.

Sao gọi là Bồ Tát ý không nên nghĩ mà lại nghĩ? –Đó là Bồ Tát sau khi thành Phật, Tăng chúng bên trong Tỳ kheo thường không hoà hợp, bất cứ ở đâu cũng cãi nhau chuyện thị phi, phải trái. Này Tộc tánh tử, đó là quả báo tâm không nên nghĩ mà lại nghĩ của Bồ Tát.

Này Tộc tánh tử! Đó là quả báo về ba ác hạnh của Bồ Tát. Này Tộc tánh tử! Hãy bỏ những điều ấy.

Bấy giờ đồng tử Hoả Man liền tiến tới đảnh lễ dưới chân đức Phật, quỳ dài chắp tay bạch đức Phật:

–Nay con xin sám hối điều thân không nên làm lại làm, miệng không nên nói lại nói, tâm không nên nghĩ lại nghĩ. Cúi mong đức Thế Tôn chấp nhận sự sám hối của con. Kể từ nay về sau, con không dám phạm nữa!

Đồng tử sám hối cho đến ba lần như vậy. Đức Như Lai Ca Diếp im lặng nhận lời. Khi ấy đồng tử Hoả Man, đồng tử Hộ Hỷ đồng đứng dậy đảnh lễ dưới chân đức Phật, cáo từ rồi ra về. Đồng tử Hoả Man ngay giữa đường bỗng nghĩ đến ba ác báo, liền bảo Hộ Hỷ rằng:

–Anh bị thất lợi, không làm điều có lợi. Anh làm điều không có lợi, không làm điều có lợi. Tôi không muốn nhìn mặt anh nữa, tôi không muốn nghe nói đến tên của anh nữa!

Hộ Hỷ hỏi rằng:

–Vì sao như vậy?

Hoả Man đáp:

–Anh sớm theo đức Phật Ca Diếp, nghe Pháp bảo sâu xa, tại sao vẫn ở nhà mà không hành đạo?

Hộ Hỷ đáp:

–Anh không biết là cha mẹ tôi già cả, lại bị mù loà, tôi phải cúng dường song thân, làm sao xuất gia được? Không lâu nữa, tôi cũng muốn hành đạo. Nếu tôi xuất gia hành đạo, khi nào cha mẹ tôi đã mạng chung mới được. Vì vậy nên tôi không muốn xuất gia.

Hoả Man nói với Hộ Hỷ:

–Tôi nhờ theo đức Phật Ca Diếp, được nghe Ngài nói về nhân duyên quả báo của Bồ Tát khi làm ba ác hạnh, nên tôi không thích sống ở nhà nữa. Tôi muốn ngay tại chỗ này quay trở lại chỗ đức Phật để xin làm Tỳ kheo.

Hộ Hỷ hỏi rằng:

–Lành thay! Lành thay! Hoả Man đã do sức mạnh của tư duy mới có thể trở lại với đức Phật đúng lúc. Vì sao vậy? Vì ở đời khó gặp Phật vậy.

Đồng tử Hoả Man liền ôm Hộ Hỷ xong, nhiễu quanh ba vòng, chắp tay tạ rằng:

–Giả sử thân, khẩu, ý của tôi có lỗi với anh, mong anh tha thứ! Anh đã khổ sở chỉ cho tôi đạo lớn chánh chơn.

Bấy giờ Hoả Man nói kệ tán thán bạn:

Bạn lành đã thương tôi
Pháp hữu không tham quyến
Dẫn tôi đến chánh đạo
Bạn này, Phật khen ngợi!

Đồng tử Hoả Man nói kệ xong, Như Lai nhiễu quanh Hộ Hỷ ba vòng rồi trở lại tinh xá của Phật Ca Diếp, cúi đầu lạy dưới chân đức Phật, hai gối quỳ dưới đất, chắp tay bạch đức Phật:

–Con có được phép theo đức Như Lai Ca Diếp, cạo bỏ râu tóc, nhập Phật đạo, thọ giới cụ túc chăng?

Lúc ấy đức Phật bảo tôn giả Xá Lợi Phất:

–Đức Ca Diếp Như Lai bấy giờ liền độ đồng tử Hoả Man, truyền trao Pháp giới cụ túc.

Đức Phật bảo tôn giả Xá Lợi Phất:

–Ngươi biết đồng tử Hoả Man lúc ấy là ai chăng? Chính là thân của ta đó! Cha của Hoả Man lúc ấy nay chính là Phụ vương Chân Tịnh. Còn Hộ Hỷ đồng tử, thợ làm đồ gốm lúc ấy, nay chính là người mà lúc ta làm Thái tử, đang ở tại cung của thể nữ, vào lúc nửa đêm, làm Thiên Tử Bình, đến bảo ta rằng: “Thời gian đã đến, hãy xuất gia học đạo đi!”.

Đức Phật bảo:

–Này Xá Lợi Phất! Anh Hộ Hỷ cứ khuyên ta xuất gia mãi, chính là vị thiện tri thức trong đạo vậy .

Đức Phật nói với tôn giả Xá Lợi Phất:

–Lúc trước ta đã nói lời ác với Hộ Hỷ là: “Phật Ca Diếp là Sa môn trọc đầu. Đâu có đạo Phật, đạo Phật rất khó được”. Do lời nói ác ấy, cho nên khi thành chánh đẳng chánh giác mà sáu năm ta Phải chịu khổ hạnh. Này Xá Lợi Phất! Lúc ấy, mỗi ngày ta ăn một hạt mè, hạt lúa, hạt đậu lớn, hạt đậu nhỏ. Ta đã chịu sự tận khổ như vậy, nhưng chẳng có lợi ích gì đối với đạo Pháp cả. Ta đã chịu đựng sự khổ của đói, khát, lạnh, nóng, mưa, gió, muỗi mòng, thân hình khô đét. Ta gọi đó là thành Phật đạo, nhưng thật ra lúc đó chẳng thành gì cả.

Nầy Xá Lợi Phất! Ta tu hành khổ hạnh sáu năm là đền bù nhân duyên kiếp trước đã xong, sau đó mới thành A Nậu tam niệu tam Bồ Đề – Vô thượng chánh đẳng chánh giác vậy.

Bấy giờ đức Thế Tôn nói bài kệ về nhân duyên kiếp trước:

Xưa ta là Hoả Man
Nói với Hộ Hỷ rằng:
“Gã trọc đâu có Phật
Phật đạo rất khó thành”
Do nhân duyên như vậy
Suốt cả sáu năm trường
Chịu đựng sự khổ hạnh
Mong được thành Phật đạo
Không phải vì khổ hạnh
Có thể thành Phật đạo
Mong cầu bằng phi đạo
Nhân duyên tự trói buộc
Duyên xưa không thể mất
Cũng chẳng thành hư không
Phải giữ ba nhân duyên
Chớ phạm thân, khẩu, ý
Nay ta thành Phật đạo
Lại làm tướng ba cõi
Trong suối lớn A Nậu
Tự nói chuyện đời trước.

Đức Phật bảo Tôn giả Xá Lợi Phất:

- Ngươi xem đức Như Lai, các điều ác đã hết, các điều thiện đầy đủ. Với các Trời, người, Quỷ thần, Càn thát bà, A tu la, Câu lầu la, Khẩn na la, Ma hầu la già, tất cả chúng sanh, ta đều muốn độ thoát. Vậy mà ta vẫn không thoát khỏi nghiệp duyên đời trước, huống chi bọn ngu muội chưa đắc đạo?!.

Này Xá Lợi Phất! Phải học cách giữ gìn ba lỗi của thân, bốn lỗi của miệng và ba lỗi của ý. Này Xá Lợi Phất! Phải học như vậy.

Khi đức Phật nói về nhân duyên đời trước của đức Như Lai thì một vạn, một ngàn thiên tử đắc đạo Tu Đà Hoàn. Tám ngàn loài rồng đều thọ năm giới; năm ngàn Dạ xoa thọ Tam Tự Quy.

Lúc bấy giờ Đại Long Vương A Nậu chắp tay bạch đức Phật:

–Thưa Thế Tôn! Xin Ngài nhận sự cúng dường của con ngay trên con suối này Ngài đã thuyết pháp nhân duyên về kiếp trước, khiến cho tương lai con khi thành Phật, được tránh khỏi nhân duyên như vậy, làm cho con dứt sạch các điều ác, thành Chơn Tịnh Như Lai.

Đức Phật bảo Long Vương A Nậu:

–Nếu ngươi muốn được như điều mong ước ấy, ngươi phải hết sức giữ gìn thân, khẩu, ý đừng để vi phạm thì ngươi mới có thể đạt được như điều mong ước trên, tiêu diệt hết các điều ác, thành Chơn Tịnh Như Lai.

Khi ấy Đại Long Vương A Nậu nghe đức Phật dạy như vậy, hớn hổ vui vẻ, lấy hương chiên đàn ở cõi trời rải lên trên đức Phật và năm trăm vị La hán.

Bấy giờ đức Phật nói Pháp an ủi cho các Trời, Rồng, quỷ thần nghe. Sao gọi là Pháp an ủi? Đó là thực hành Pháp bố thí, Pháp trì giới, Pháp sanh lên cõi trời, Pháp đoạn dục, Pháp đoạn trừ ba ác đạo, Pháp vô lậu, Pháp thanh tịnh.

Đức Phật thuyết như vậy xong, Ngài cùng Tỳ kheo rời khỏi toà hoa đang ngồi. Các Tỳ kheo vây quanh đức Phật bay lên hư không, cao đến bảy cây Đa la, dùng thần túc phi hành, giống như con chim bay lượn trên mây, rồi từ từ trở về Tinh xá Trúc Viên ở La Duyệt Kỳ.

Khi đức Phật thuyết như vậy xong, tôn giả Xá Lợi Phất và năm trăm vị La hán, Đại long Vương A Nậu, tám bộ quỷ thần thảy đều hoan hỷ, phụng hành.

Phật Nói Kinh Hưng Khởi Hạnh

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn