Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   
Bài mới nhất

Lời Bàn Trước Kinh

21/05/201313:43(Xem: 6327)
Lời Bàn Trước Kinh

Kinh Thập Thiện Nghiệp Đạo

Lời Bàn Trước Kinh

Hòa Thượng Thích Trí Thủ

Nguồn: Hòa Thượng Thích Trí Thủ

Lời bàn nầy của Thái-Hư Đại-Sư giảng tại Hội Phật-Giáo Chánh-Tín ở Hán-Khẩu (Trung-Hoa).
Hôm nay giảng về kinh THẬP-THIỆN NGHIỆP-ĐẠO, trước khi giảng chánh văn, xin bàn qua mấy lời ở đầu kinh.
Chữ KINH của Phật-giáo, nói cho đủ là KHẾ KINH, nghĩa là Khế-lý và Khế-cơ. Chữ KHẾ nghĩa là hợp. Tất cả giáo-điển của Phật đều kiến lập trên nguyên-tắc ấy. "KHẾ-LÝ" là hợp với lý Chơn-thật của tất cả muôn sự muôn vật, là tánh tướng chơn-thật của muôn sự muôn vật, do trí huệ tuyệt đối của Phật tự mình chứng được rồi đem chỗ thân chứng ấy khai thị cho mọi loài sanh linh đều được chứng nhập. Ấy là Phật y theo nguyên-tắc khế-lý mà thuyết pháp vậy. KHẾ CƠ là hợp với cơ duyên của từng chủng loại, từng căn tánh, từng thời tiết nhơn-duyên. Đức Phật tìm phương tiện thích hợp với tất cả mọi loài mà thuyết pháp, chúng sanh đều được giác ngộ. Đủ hai nghĩa KHẾ LÝ và KHẾ CƠ ấy gọi là KHẾ KINH.
Nay căn cứ vào hai nghĩa trên mà nói nghĩa đại khái của Kinh nầy:

I. THIỆT NGHĨA CỦA KHẾ LÝ

. – Là nghĩa chân thật hợp với lý chân-thật của muôn sự muôn vật, về tánh về tướng vậy.
Thiệt nghĩa hợp với chơn lý nầy không vì thời-gian mà biến đổi. Không vì không gian mà sai khác, không luận thời đại nào, địa phương nào, chủng loại nào, đều như thế cả. Nơi đây, xin chia làm ba đoạn để nói về nghĩa chơn thật hợp lý của Kinh Thập-Thiện Nghiệp-Đạo nầy.

1. Thập-thiện-nghiệp là mục tiêu làm lành của thế gian và xuất thế gian.

"Nghiệp" là hành vi: "Thập thiện nghiệp" là 10 hành vi lành.
Về thân có 3: không sát-sanh, không trộm cắp, không tà hạnh.
Về ngữ nghiệp có 4: không nói dối, không nói hai lưỡi, không nói ác khẩu, không nói thêu dệt.
Về ý nghiệp có 3: không tham lam, không sân hận, không ngu si tà kiến.
Hợp cả thân, ngữ, ý thành 10 nghiệp lành, trái lại tức là 10 nghiệp ác.
Thiện và ác không nhất định, cần phải xem tánh chất của nó mà định nghĩa; nếu trong tâm thiện, thì phát hiện ra nơi hành-vi lợi lạc cho chúng sanh tức là thiện nghiệp. Tâm ác, thì hiện ra nơi hành-vi làm tổn hại chúng sanh tức là ác nghiệp. Hơn nữa, muốn biết thiện hay ác của 10 nghiệp về thân, khẩu, ý, ta hãy xem sự kết quả về tương-lai tốt hay xấu mà quyết định. 10 nghiệp lành nầy không những nơi hành-vi lành của thế-gian, mà trong kinh điển Phật đều nói đến. 10 nghiệp lành nầy là cơ bản hành-vi lành cả xuất thế-gian nữa vậy. Ở thế gian thì do những hành vi lành nầy mà đi đến kết quả tốt đẹp về Nhơn về "Thiện Thiên". Kết quả là "Trời" tức chỉ cho các chúng sanh ở thế giới tốt đẹp hơn loài người; đó là của những người tu theo 10 thiện nghiệp, vì tất cả quả báo của loài người và trời thành tựu được, đều do tu theo 10 điều lành này. Thông thường người ta cho những hành vi đạo đức của loài người là theo 5 giới trong Phật-pháp của hàng tại gia thiệt hành. Nếu muốn sanh về các cõi trời thì cần phải có hành vi đạo đức của Thập thiện. Trời lại có 3 cõi: Cõi dục, cõi sắc, và cõi vô sắc; muốn sanh vào hai cõi sắc và vô sắc, lại cần tu theo tứ-thiền bát định nữa mới được; nhưng cũng căn cứ vào 10 nghiệp lành nầy làm căn bản; chỉ thêm vào một tầng nữa là cần phải có công phu tu các pháp thiền-định nữa mà thôi. Cho đến các hàng Thanh-văn, Duyên-giác và Bồ-tát, phát Bồ đề tâm, thoát ly ra ngoài tam giới, lợi lạc hữu tình, cũng không thế nào bỏ 10 nghiệp lành nầy mà thành tựu được; vì thế, Giáo-pháp Đại-thừa cũng đều thâu nhiếp vào trong 10 điều lành nầy. Nhờ có "giới" mới sanh thiền-định, nhờ thiền-định mới phát trí huệ; cho nên ở trong Thập địa Bồ Tát, Ly cấu địa về thứ hai, chính là nhờ Thập-thiện-nghiệp mà thành tựu. Căn cứ vào Thập thiện-nghiệp nầy mà tinh tấn tu giới định, đoạn trừ cùng tột đến chỗ nhỏ nhiệm của 10 nghiệp ác về thân, khẩu, ý; nhờ có định lực tăng cường, lòng không tán loạn, mới hoàn toàn thành tựu 10 hạnh lành. Đi sâu vào một tầng công phu nữa, cho đến khi nhờ sức thiền-định mà phát sanh trí huệ, cuối cùng đoạn trừ hết căn bản vô-minh, đánh tan tà kiến, hoàn toàn thân-chứng quả Vô-lậu Chánh-giác, đến đây mới là cứu cánh của Thập-thiện-nghiệp-đạo. Vì thế, sự nghiệp xuất thế của tam thừa thánh nhơn hầu hết đều bao quát trong thập-thiện-nghiệp. Chỗ chơn thiệt công năng của Thập-thiện nghiệp quyết định là như thế.

2. Thập-thiện là chánh nhơn tạo thành nhơn-gian và thiên quốc

Thập thiện không những là chánh nhân tạo thành nhân gian và thiên quốc, mà con đường thiết thiệt đi đến cảnh an lạc giữa thế gian cũng là thập thiện. Nếu muốn đạt đến mục đích an lạc trong nhơn gian, chính phải làm theo những hành vi không sát hại, không trộm cắp v.v... của thập thiện; nếu ai thực hành theo 10 thiện nghiệp thì không có việc gì là không thành tựu. Hiện tại sự thảm khốc tương tàn tương sát của nhân loại, chính là do kết quả của hành vi 10 nghiệp ác; giả sử tất cả đều làm theo 10 nghiệp thiện thì thế giới an lạc sẽ phát hiện ngay. Từ cá nhân cho đến đoàn thể, xã hội, thế giới, tạo thành một bể khổ mênh mông, chẳng biết đến đâu là bờ bến, đó đều là kết quả của sự không tu Thập thiện. Trên hoàn cầu, đại phàm có chút tư tưởng, từ các nhà tôn giáo cho đến các nhà học vấn, ai cũng nuôi hy vọng tạo thành một thế giới an vui tương thân tương ái; nếu thật hành theo 10 nghiệp thiện thì những lý tưởng Thiên đường cho đến Cực lạc đều phát hiện rất dễ dàng vậy. Thuyết Đại đồng của Trung quốc, và lý tưởng Hoàng kim thế giới của người Tây phương đều thiệt hiện không khó, cốt yếu là đổi mười hành vi ác trở thành 10 hành vi thiện. Hơn nữa, cũng có thể đổi cõi đời ác trược nầy, trở nên cõi thanh tịnh an vui. Nhân loại ngày nay chính cần phải tinh tấn một cách bao quát cùng khắp. Ngài Lô Sơn Huệ Viễn bảo rằng, thiệt hành theo 10 thiện nghiệp nầy, từ cá nhân cho đến một gia đình, một làng, rộng ra đến toàn quốc, thì phong tục được thuần mỹ, hình phạt được trừ bỏ, chính trị an ninh, trở thành một quốc gia thái bình thịnh vượng vv... Như thế thì luật chính là 10 thiện nghiệp. Không luận thời gian nào nếu muốn hưởng cảnh yên vui cần phải đi vào con đường ngay thẳng ấy. Phật dạy: "Trong bốn châu thiên hạ, Bắc Câu Lô Châu là tự tại an vui hơn cả, chính là kết quả của 10 Thiện nghiệp vậy". Lại nói: Vua Chuyển-luân Thánh vương ra đời thì bốn bể thái-bình, thiên hạ an lạc, nhơn gian đều tu 10 Thiện-nghiệp..." thế cũng đủ chứng cho lý nầy vậy.

3. Thập-thiện-nghiệp là căn bản của Bồ-Đề Niết-Bàn

Hai quả chuyển y Bồ-Đề Niết-bàn của Tam-thừa Thánh-Nhân đều lấy 10 Thiện nghiệp làm căn-bản. Vì 10 Thiện nghiệp là công năng ngăn đón các hành vi độc ác, triệt để đối trị tất cả hành vi bất thiện, tức là giải thoát sinh tử, chứng quả Niết Bàn. Đoạn trừ hết mầm mống của 10 ác nghiệp, thì công đức của 10 Thiện nghiệp mới phát triển đến viên mãn. Lại đem công năng ấy lợi lạc cho tất cả thế giới chúng sanh tức là viên mãn quả Đại-Bồ-Đề. Đây cũng là một định luật. Lẽ dĩ nhiên, không thể bỏ 10 Thiện nghiệp, hoặc chưa viên mãn 10 Thiện nghiệp, mà có thể chứng Tam thừa Thánh nhân được. Đã nói lược qua phần KHẾ LÝ dưới đây nói phần KHẾ CƠ.

II. ỨNG DỤNG CỦA KHẾ CƠ

Đức Phật thuyết pháp, bao giờ cũng thích hợp với căn cơ chúng sanh. Nay giảng giải Kinh Thập thiện nghiệp đạo nầy cũng chính là đem phương pháp ứng theo thời cơ mà đối trị. Hầu mong cứu vãn sự khổ não thảm khốc của thế giới chúng sanh, vì rằng muốn đổi sự thống khổ đau thương trở thành an vui hạnh phúc, ngoài Thập thiện ra, không thể tìm phương pháp gì hơn cả.
Đây cũng chia làm ba đoạn mà giảng.

1. Đối trị bệnh rong ruổi theo bề ngoài mà bỏ quên nơi mình, để trở lại tu nơi mình

Hiện tại thế giới đều ở trong bầu không khí ác liệt, thiên tai nhơn họa, nhơn loại đang quay cuồng trong vòng thống khổ, chưa biết đến đâu là bờ bến. Phương pháp cứu vãn không gì hơn là thiết thiệt tu hành theo 10 Thiện-nghiệp. Ta không nên oán trời, trách người và cũng không nên rong ruổi kêu cầu đâu xa lạ. Trách nhiệm chính ở nơi ta. Ta cũng không nên đổ lỗi cho hoàn cảnh, hoặc cho người nào, hoặc oán trách chế-độ xã hội bất lương, hoặc bắt tội điều kiện vật chất không đầy đủ; không biết tự trách mình, cứ mong cầu ở bề ngoài; nếu ở thế giới, mọi người đều có tư-tưởng ấy chắc rằng không ai là người ra chịu trách nhiệm. Nhưng dù có người chịu trách nhiệm đi nữa, mà ta không chịu đảm nhận tự lập ở nơi ta, nếu người nào mắc phải bệnh nầy, thiệt không có thuốc gì chữa được. Lại còn có những hạng người không mong cầu ở nơi người, không cầu ở nơi vật, mà chỉ cầu với Thượng-đế hay Quỷ thần cho đến tin Phật mà không ngoài mục đích cầu khẩn ấy, rốt cuộc chỉ là bắt bòng bóng giữa hư không mà thôi. Chơn ý-nghĩa của Phật pháp là dạy cho người ta hiểu biết chơn-lý nhân-quả, để trở lại cầu chính ở nơi mình. Như hồi Phật tại thế em Phật là A-Nan, tưởng ỷ lại vào Phật là được thành Phật, có nói rằng: "Thế nào Phật cũng ban cho phép Tam-muội" (Huệ ngã tam muội). Không chịu tự mình tu tập, rốt cuộc không khỏi mắc nạn với nàng Ma-đăng-già. Trong hàng đệ tử Phật Ngài An-Nan là đa-văn đệ nhứt, mà hoàn toàn không ỷ lại được nơi Phật. Vậy nên biết, Phật pháp hướng trách nhiệm về tự thân cả.
Nếu xa bỏ mình, cầu cứu với trời đất quỷ thần, mà muốn cải tạo thế-giới xã-hội, thì quyết định không thể nào được. Cần phải trước hết đem 10 ác-nghiệp ở trong tự tâm, đổi thành hành vi thiện, rồi sau cầu Phật mới có hiệu quả. Xưa Khổng-tử bị bịnh, Tử-lộ xin cầu đảo, Khổng-tử bảo: "Khưu nầy đảo đã lâu rồi vậy" Chính Nho học cũng thừa nhận sự ngoại cầu là vô dụng; phương pháp cốt yếu chỉ là tự mình phát-tâm chân chánh thực-hành, rồi lần lượt khuyên mọi người làm theo 10 Thiện-nghiệp mới mong vãn hồi được nhơn-tâm thế-đạo.

2. Đối trị bịnh nói suông, chuyên trọng thiệt hành

Hiện tại người ta cao-đàm hoạt-luận thuyết nầy thuyết nọ. Nào là nhân quyền, nhân đạo, việt thánh siêu phàm v.v... nhưng xét hành vi thực tế, không những không đem lại cho nhân quần một tia sáng gì gọi là siêu-hiền việt thánh, trái lại, càng nói lại càng làm cho nhân loại thống khổ thêm. Thậm chí con người không có giá trị là con người nữa. Bịnh nói suông cao-đàm hoạt-luận nầy, đã thành một bịnh thông thường cùng khắp đây đó ở dưới vòm trời. Cũng vì thế, xã hội chẳng có gì đáng gọi là đẹp đẽ: càng hô hào, càng vang dội, sự thực hành lại càng vô lực, mà sự nguy hiểm lại càng gấp bội hơn lên. Ông Mạnh-Tử bàn về việc ông Y-Doãn giam ông Thái-Giáp, nói rằng: "Có chí như Y-Doãn thì được, không chí như Y-Doãn thời soán-nghịch vậy" ở đây nên thêm vào một câu: "có tài năng như Y-Doãn thời được, không có tài năng như Y-Doãn thời nguy vậy"
Bởi thế chỉ có lớn lời khoe khoang không nhắm đích thực hành mà bảo rằng trị đời thì càng trị lại càng loạn thêm. Ví như trên đầu đội tảng đá nghìn cân mà múa nhảy, kết quả không nguy hiểm đến tánh mạng là ít lắm. Không những trị đời như thế, mà người học Phật cũng vậy. Như hạng người cuồng vọng đầu miệng khoe khoang cao đại, không kiêng kỵ gì, tự bảo mình là Phật rồi không sợ hãi gì nữa, tha hồ đàm-huyền, thuyết-diệu, mà cử chỉ thì không hiệp đạo một chút nào. Muốn dẹp trừ bịnh điên cuồng ấy, cần phải thực hành 10 Thiện-nghiệp; trái lại, dù cho tự xưng là đại-kỹ-thuật, đại-học vấn cũng chẳng qua ma-lực làm trợ duyên dắt dẫn, làm sa rớt vào tam-đồ ác-đạo mà thôi, không thể nào thành được hạnh Bồ-tát, chân chánh Phật tử.

3. Đối trị với hạng người hy vọng cao xa mà Phước đức bạc bẽo để tô bồi nền phước đức

Hiện tại người đời, lòng đã muốn so sánh với trời cao, mà phước mạng khác nào như giấy mỏng; không chịu tự tu phước đức, khi nào cũng muốn dằn ép người ta để nâng cao giá trị của mình. Nếu không biết thay đổi cõi lòng, vâng theo pháp Thập thiện để trau dồi đức hạnh thì hy vọng cao xa chừng nào lại càng hạ thấp mình xuống chừng ấy, không biết nương dựa vào đâu để cứu vớt. Lòng hy vọng cao xa không phải xấu, nhưng cốt yếu là cần phải tô bồi đức hạnh cho xứng mà thôi. Vô-lượng công đức Phật quả, oai thần tự tại của hàng thiên long v.v... đều là do phước đức tu Thập thiện mà thành tựu cả. Nếu chỉ có hy vọng cao xa mà không tu Thiện nghiệp, vun trồng cội đức, thì trọn ngày chỉ ra vào trong vòng phiền não, quyết không thể nào có kết quả mà còn đào thêm hầm thống khổ nữa. Ai là kẻ muốn cứu đời giúp người, càng nên lấy phước đức làm căn bản. Xưa có một vị Pháp sư giảng kính rất giỏi, mà rất ít người nghe, sau gặp một vị Thánh tăng bảo rằng: "Nhà ngươi chỉ thiếu phước đức, từ nay nên siêng tu đức hạnh, làm nhiều việc lợi ích cho người". Pháp sư y theo lời dạy mà làm, về sau, quả như lời Thánh tăng dạy thuyết pháp rất được nhiều người nghe theo. Vì thế, thiết tưởng ở đời muốn lập đại công, kiến đại nghiệp, quyết phải tô bồi phước đức, tu tập theo pháp Thập thiện, để làm kim chỉ nam, lợi mình và lợi người, mới hoàn toàn thỏa mãn ý muốn.

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn