Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   

IV. Phụ dẫn

20/05/201312:19(Xem: 7613)
IV. Phụ dẫn

Kinh Lần Tràng

IV. Phụ dẫn

Việt dịch: Hòa Thượng Thích Tâm Châu

Nguồn: Hán dịch: Sa môn Bất Không

Ngoài ba bản kinh trên, tìm-tòi trong Đại-Tạng kinh xin trích ra đây những đoạn kinh, Đức Phật hay các vị Bồ-Tát dạy về việc lần tràng để Quý vị Phật-tử tiện sự nghiên-cứu và hành-trì. T.C.

I- TÔ-TẤT-ĐỊA KINH (20)


... Sau nên y pháp-tắc làm mọi sự-nghiệp. Trước tiên dùng tay hữu (phải) cầm tràng hạt, rồi để vào lòng bàn tay tả (trái); chắp tay lại, dâng (giơ) lên, tư-niệm và tụng bài Chân-ngôn về tràng hạt:
Phật-bộ tịnh châu chân-ngôn:
Úm, át bộ đê mĩ nhã duệ tất đệ, tất đà thích đệ, sa phạ ha.
Liên-Hoa-bộ tịnh châu chân-ngôn:
Úm, a mật lật đãng già mễ, thất lỵ duệ, thất-lỵ mà lý ni, sa phạ ha.
Kim-cương-bộ tịnh châu chân-ngôn:
Úm, chỉ lý, chỉ lý lạo nặc lý ni, sa phạ ha.
Lấy ngón tay cái, thuộc tay hữu, để trên đầu ngón tay vô danh; ngón tay giữa và ngón tay út ruỗi thẳng, ngón tay đầu (ngón tay trỏ) hơi khuất, áp trên đốt bên ngón tay giữa. Tay bên tả cũng như thế. (Đây là dạy về kết ấn lần tràng).
Tay hữu cầm và lần tràng hạt, thông dụng cho hết thảy các bộ. Nếu dùng vào phép điều phục (A-tỳ-giá-rô-ca: Abhicàraka), thời ngón tay cái ruỗi thẳng để kết ấn tràng hạt. Và, Phật-bộ dùng tràng hạt Bồ-đề. Quán-âm-bộ (có chỗ gọi là Liên-hoa-bộ) dùng tràng hạt sen. Kim-cương-bộ dùng tràng hạt kim-cương. Ba bộ này dùng trong những hạt tràng như trên là thuộc về loại tối-thắng-thượng; hết thảy khi niệm tụng nên gìn-giữ. Hoặc là dùng hạt cây tra, hoặc hạt cây Đa-la (21) hoặc dùng tràng thổ (đất), hoặc dùng tràng vỏ ốc, hoặc dùng tràng thủy-tinh hoặc dùng tràng bằng hạt trân-châu, hoặc dùng tràng bằng ngà, hoặc dùng tràng bằng hạt xích-châu, hoặc dùng tràng bằng những ngọc Ma-ni, hoặc dùng bằng Yết-châu (22), hoặc bằng các hạt cỏ. Song, đều tùy các Bộ, xem sắc loại của mỗi thứ, nhận lấy mà niệm trì. Nếu muốn làm pháp điều-phục, nên dùng những thứ xương, mà làm y như tràng hạt, chóng được thành-tựu và lại được hộ-trì tăng thêm pháp nghiệm vậy.
Phật-bộ trì châu chân-ngôn:
Úm, na mô bàn già phạ để, tất đệ đệ, sa đà giã, tất đà thích đệ, sa phạ ha.
Liên-hoa-bộ trì châu chân-ngôn:
Úm, tố mạ để thất lỵ duệ, bát đồ,mạ ma lý ni, sa phạ ha.
Kim-cương-bộ trì châu chân-ngôn:
Úm, bạt nhật ra, nhĩ đán nhã duệ, sa phạ ha.
Dùng ấn tràng hạt như trên, đều y vào trong từng Bộ mà niệm tụng. Khi niệm tụng tràng hạt nên để ngang tâm (trái tim), không được cao thấp. Khi dâng (giơ) tràng hạt lên, nên cúi đầu một chút, đem lòng chí thành, đỉnh lễ Tam-bảo, thứ lễ tám vị Đại-Bồ-Tát, sau lễ Minh-Vương quyến-thuộc. Sau cùng nên trì-tụng Chân-ngôn, tưởng Chân-ngôn-chủ như đối trước mắt. Chí thành như thế, không nên tán-loạn tâm; duyên (dính-líu) vào cảnh khác...

II- CHƯ PHẬT CẢNH GIỚI (23)
NHIẾP CHÂN-THỰC KINH


Lại thứ nữa, so-lường về việc lần, niệm tràng hạt. Về tràng hạt năm Bộ đều có chỗ khác nhau. Nếu trì Phật-bộ thời dùng hạt Bồ-đề. Nếu trì Kim-cương-bộ thời dùng hạt kim-cương. Nếu trì Bảo-bộ thời dùng vàng, bạc, pha-lê, cùng mọi thứ châu-báu. Nếu trì Liên-Hoa-bộ thời dùng hạt sen. Nếu trì Ca-rô-Ma-bộ (tức Yết-Ma-bộ) thời dùng những hạt châu-báu có màu sắc sặc-sỡ.
Lại thứ nữa, trì-niệm theo Phật-bộ thời lấy ngón tay cái và ngón tay đầu (tức ngón tay chỏ) thuộc tay hữu mà trì niệm tràng hạt, còn các ngón khác đều ruỗi thẳng. Nếu trì niệm theo Kim-cương-bộ, thời lấy ngón tay cái và ngón tay giữa, thuộc tay hữu, mà trì-niệm tràng hạt. Nếu trì-niệm theo Bảo-bộ, thời lấy ngón tay cái và ngón tay vô danh, thuộc tay hữu, mà trì-niệm tràng hạt. Nếu trì-niệm theo Liên-Hoa-bộ thời lấy ngón tay cái, ngón tay vô danh và ngón tay út, mà cầm, lần, trì-niệm tràng hạt. Nếu trì-niệm theo Ca-rô-ma-bộ, thì bốn thứ trên, cầm, lần, trì-niệm thứ nào cũng được cả.
Lại thứ nữa, so-lường về công-đức lần tràng sẽ được như thế nào: Nếu dùng những tràng bằng gỗ thơm sẽ được một phần phúc; Nếu dùng bằng thau, đá, đồng, sắt, được hai phần phúc. Nếu dùng tràng bằng thủy-tinh, trân-châu được một ức phần phúc. Nếu dùng tràng bằng hạt sen, hạt kim-cương, được hai ức phần phúc. Nếu dùng tràng bằng mọi thứ báu sặc-sỡ cùng hạt Bồ-đề được vô-lượng, vô-biên bất khả thuyết, bất khả thuyết phần phúc.
Đời quá-khứ, vô-lượng Hằng-hà-sa chư Phật đã nói ra, số lượng của tràng hạt là một trăm tám hạt.

III- ĐÀ-LA-NI TẬP KINH (24)


Lấy ngón tay cái, thuộc tay tả, để trên móng tay vô danh; ngón tay út và ngón tay giữa ruỗi thẳng, ngón tay đầu hơi khuất, để trên lưng đốt ngón tay giữa. Và, tay hữu cũng cùng như thế. Khi lần, thời dùng ngón tay giữa mà để tràng hạt, thân-thể đoan-nghiêm, ngồi kết Gia-phu...
Thiện-nam-tử! Làm tràng hạt nên dùng vàng, bạc, đồng đỏ, thủy-tinh, lưu-ly, trầm-đàn-hương, hạt sen xanh, hạt anh-lạc. Đức Phật bảo bác vị Tỳ-Khưu: trong những tràng hạt nói trên, thủy-tinh là thứ nhất.
... Và, tràng hạt này đều đủ một trăm tám (108) hạt. Hoặc năm mươi bốn (54) hạt, bốn mươi hai (42) hạt, hoặc hai mươi mốt (21) hạt cũng được dùng vào trong số ấy...

IV.- THỦ-HỘ QUỐC GIỚI CHỦ
ĐÀ-LA-NI KINH (25)


Nay ta sẽ nói sự sai khác về việc dùng tràng hạt:
Phật-bộ nối Phật-chủng,
Nên dùng hạt Bồ-đề;(26)
Tràng trong bộ Kim-cương,
Cũng dùng hạt kim-cương.
Dùng riêng trong Bảo-bộ,
Các vàng, báu làm tràng;
Trân-châu làm tràng niệm,
Chư Phật đều xưng-tán.
Dùng trong Liên-Hoa-bộ,
Hạt sen là tôn quý;
Tràng trong Yết-Ma-bộ,
Mọi thứ hòa-hợp làm.
Phép lần của năm Bộ,
Cùng dùng ngón tay cái;
Phật-bộ tiếp ngón đầu,
Kim-cương-bộ ngón giữa.
Bảo-bộ ngón vô danh,
Liên-hoa-bộ hợp ba;
Yết-Ma tiếp bốn ngón,
Đều dùng nơi đầu đốt.
Tràng vàng phúc gấp đôi,
Trân-châu được ức phúc;
Tràng kim-cương, hạt sen,
Được phúc trăm nghìn ức.
Nếu trì hạt Bồ-đề,
Cùng tràng sắc hòa-hợp;
Vô số phúc trang-nghiêm,
Chư Phật đều đã nói.
Tràng có trăm tám hạt,
Nhiếp loạn tâm không phóng...
V
TRI-HÀNH TỔNG-YẾU

Thế là sự tìm hiểu về vấn-đề tràng hạt đã được trình bày rõ trong các kinh: Mộc-hoạn-tử kinh, Hiệu-lượng sổ châu công-đức kinh, Kim-Cương-đính Du-Già niệm châu kinh, Tô-Tất-Địa kinh, Chư Phật cảnh-giới nhiếp chân-thực kinh, Đà-La-Ni tập kinh và Thủ-hộ quốc-giới chủ Đà-La-Ni kinh trên đây.
Trước đây, Bắc-Việt thấy có một bản giải-nghĩa về một trăm tám hạt tràng bằng lối văn vần lục, bát. Nội dung văn này chỉ rõ mấy hạt, mấy hạt biểu-thị cho Phật, Bồ-Tát và Thiên, long bát bộ nào. Ngay câu đầu của bản văn ấy viết:
Tích xưa có đức Thần-tiên,
Hỏi ông Lục-Tổ đạo Thuyền trước sau.
Ý trong một chuỗi sổ châu,
Một trăm tám quả lý mầu làm sao...
Căn-cứ những câu văn trên đây, nghiên cứu lại bộ Pháp-Bảo đàn-kinh của Ngài Lục-tổ Huệ-Năng để tìm thực-chứng, thời trong bộ này không thấy có ai hỏi về vấn-đề tràng hạt cũng như Ngài Lục-Tổ cũng không nói chi cả, nên bản văn nôm này xin tạm để thành nghi-vấn. Mong các Phật- tử nên thận-trọng việc trì-niệm và truyền-thuyết Phật-kinh!
Để các Phật-tử dễ hiểu, dễ nhớ, dễ làm và tránh sự lộn-xộn, tôi xin tóm tắt kinh Lần-tràng này như sau:
I: NGUYÊN-NHÂN: Căn-cứ theo kinh Mộc-Hoạn-tử, nguyên-nhân phát-khởi ra việc lần tràng này là do lòng tư-niệm công đức Tam-bảo của vua Ba-Lưu-Ly, vì hoàn cảnh xa xôi..., nên đức Phật nói ra pháp-môn này trong núi Kỳ-Xà-Quật (Grdhrakùta) nước La-Duyệt-Kỳ (Ràjagrha).
II: SỐ-MỤC: Căn-cứ theo các kinh đã nói trên, tràng hạt có bảy thứ: 1) Thứ tràng có một nghìn tám mươi hạt (1.080). 2) Thứ tràng có một trăm tám (108) hạt. 3) Thứ tràng có năm mươi bốn (54) hạt. 4) Thứ tràng có bốn mươi hai (42) hạt. 5) Thứ tràng có hai mươi bảy (27) hạt. 6) Thứ tràng có hai mươi mốt (21) hạt. 7) Thứ tràng có mười bốn (14) hạt. Ngoài những thứ trên, trước đây Niệm-Phật-tôn có khi dùng tràng ba mươi sáu (36) hạt và Thiền-môn dùng tràng mười tám (18) hạt. Hai thứ tràng này chỉ là ý-niệm chia theo số phần của 108 hạt để đeo cho tiện mà thôi, chứ không thuộc số mục và không có biểu-thị gì như trong kinh nói.
III: BIỂU-THỊ: Số-mục của tràng hạt kể trên đều có biểu-thị: 1) Một nghìn tám mươi (1.080) hạt là biểu-thị cho 1.080 phiền-não hoặc 1080 tôn vị. Vì, Pháp-giới này có mười giới (27) mà mỗi một giới có 108 phiền-não (28) hoặc 108 tôn-vị (29) v.v... 108 này nhân với 10 giới thành ra 1.080. 2) Một trăm tám (108) hạt biểu cho 108 phiền-não hoặc 108 tôn-vị, 108 pháp Tam-muội (30) hoặc biểu cho năm mươi bốn vị (54) bản hữu (sẳn có) và 54 vị do tu-hành hiện-tại phát-sinh (31). 3) Năm mươi bốn (54) hạt là biểu cho 54 vị do tu-hành hiện tại phát-sinh. 4) Bốn mươi hai (42) hạt là biểu cho 42 vị: Thập (10) Trụ, Thập (10) Hành, Thập (10) Hướng; Thập (10) Địa (32) và Đẳng-Giác, Diệu-Giác. 5) Hai mươi bảy (27) hạt là biểu cho 27 vị Hiền-Thánh của Thanh-Văn-thừa (33). 6) Hai mươi mốt (21) hạt là biểu cho 10 ngôi Địa (thập địa) bản hữu cùng 10 ngôi Địa (thập địa) do tu-hành hiện-tại phát-sinh. Thế là 20 và Phật-quả là 21. 7) Mười bốn (14) hạt biểu cho 14 nhẫn-pháp tức: Trụ-nhẫn, Hành-nhẫn, Hướng-nhẫn là 3 nhẫn, thêm và 10 nhẫn của Thập Địa vào một nhẫn của Phật-quả là thành số 14.
IV: VẬT-DỤNG: Căn-cứ các kinh trên đây, vật liệu làm tràng có rất nhiều như sau, tùy chỗ thiết-dụng của các Bộ. Hoặc làm bằng hạt Bồ-đề, hạt sen, hạt kim-cương, hạt ngọc xanh của cung vua Đế-Thích, hạt cây tra, hạt Ma-ni, thủy-tinh, trân-châu, sà-cừ, san-hô Xích-châu, mọi báu, vàng, bạc, đồng đỏ, sắt, thau, hạt cây Đa-la, mộc-hương, đất, vỏ ốc, hạt cỏ v.v...
V. SO-SÁNH CÔNG-ĐỨC: Sự tạo-tác và lần niệm của mỗi tràng theo từng Bộ mà công-đức có hơn, kém. Song, thu góp sự so-sánh phúc-báo trong các kinh trên đây thời tràng bằng hạt Bồ-đề, hạt sen, kim-cương là nhiều phúc hơn.
VI. TRÌ-NIỆM: Việc trì-niệm này tùy theo mỗi Bộ có khác nhau về kết ấn, về ngón tay cầm, về tụng chú, nhưng pháp- tắc phổ-thông tương-tự.
Nay y theo Phật-bộ niệm Phật làm tiêu-chuẩn:
Trước khi định lần tràng, niệm Phật, đương nhiên là thân thể, tay chân, miệng lưỡi và tâm-thức phải thanh-tịnh đi đã. Tới trước bàn Phật hoặc nơi nào định ngồi (cũng có phương pháp đi, ở, nằm, ngồi đều niệm được là việc khác, trong kinh, luận có bàn), nên ngồi kết Gia-phu (ngồi xếp bằng, hai bàn chân để ngửa, chéo nhau, trên giáp hai bắp vế), thân thể đoan-nghiêm, tay hữu (phải) cầm tràng hạt, để vào lòng tay tả (trái), hai tay chắp lại, dâng (giơ) tràng hạt lên. Khi dâng (giơ) tràng hạt lên, vẫn chắp tay và nên cúi đầu đem lòng chí thành đỉnh lễ Tam-bảo, chư vị Bồ-Tát, chư Hiền-thánh-tăng, Thiên, Long bát bộ, rồi niệm bài thần-chú Phật-bộ tịnh-châu rằng: “Úm, át bộ đê mĩ nhã duệ tất đệ, tất đà thích đệ, sa phạ ha. (niệm 3 lần). Niệm xong, vái (xá) 3 vái. Tay hữu cầm tràng, để vừa trước ngực, ngang trái tim, không được cao, thấp; thế rồi chuỗi tràng để trên ngón tay giữa, đầu ngón tay cái và đầu ngón tay chỏ (ngón tay đầu) cầm vào hạt tràng (hạt tràng đầu áp với hạt giữa) mỗi một niệm là lần một hạt. Nhưng trước khi lần và niệm hãy niệm bài Thần chú Phật-bộ trì châu: “Úm, na mô bàn già phạ để, tất đệ đệ, sa đà giã, tất đà thích đệ, sa phạ ha (niệm 3 lần). Hoặc niệm danh-hiệu Phật, danh-hiệu Bồ-Tát hay Thần-chú tùy nguyện, nhưng nhớ rằng mỗi niệm là một hạt hết hạt này đến hạt khác và tùy theo thứ tràng mình niệm; khi lần đến giáp hạt giữa thời lần trở lại, không được lần qua hạt giữa mà phải tội Việt-pháp. Khi lần, niệm phải chí thành, tâm không nên tán-loạn, không duyên (dính- líu) vào cảnh khác, chỉ nhất tâm trì-niệm, tưởng đức Phật hay Bồ-Tát... mình niệm ấy như đối trước mặt. Và khi lần niệm xong, kết bằng bốn câu hồi-hướng:
“Nguyện đem công-đức này,
Hướng về khắp tất cả;
Đệ-tử và chúng-sinh,
Đều trọn thành Phật đạo”.
(Nguyện dĩ thử công đức,
Phổ cập ư nhất thiết;
Ngã đẳng giữ chúng-sinh,
Giai cộng thành Phật đạo).
Trên đây là tóm tắt những chỗ yếu-ước trong sự cần hiểu, cần làm về việc trì-niệm tràng hạt. Hiểu, làm đúng chắc chắn sẽ thành-tựu mầu-nhiệm và viên-mãn.
VI
PHỤ-LỤC
Thêm vào những mục dưới đây, để giúp quý Phật-Tử mới bước chân tới cửa Đạo, tiện sự tạm hiểu và tu-trì hàng ngày.
I. ĐỨC PHẬT THÍCH-CA MƯU-NI
Đức Phật Thích-Ca Mưu-Ni (Sakya Muni) là vị sáng lập ra đạo Phật. Tục-danh là Sĩ-Đạt-Ta (hoặc gọi là Tất-Đạt-Đa: Siddharthà). Ngài là con vua Tịnh-Phạn (Suddodana),con Hoàng-Hậu Ma-Gia (Maya), nước Ca-Duy-La-Vệ (Kapilavastu) thuộc Trung-Ấn-Độ. Ngài giáng-sinh sáng sớm ngày mồng 8 tháng tư âm lịch (theo Phật Giáo Thế Giới thì vào ngày trăng tròn tháng tư âm lịch) cách đây (1957) đã 2581 năm. Ngài rất thông minh. Lớn lên kết duyên cùng nàng Da-Du-Đà-La (Yasodhanà), sau sinh một người con trai tên là La-Hầu-La (Rahula). Năm 29 tuổi (có thuyết nói 19 tuổi) Ngài từ biệt gia-đình đi xuất-gia. Năm 35 tuổi (có thuyết nói 30 tuổi) Ngài đắc đạo. Ngài đi thuyết-pháp 45 năm (có thuyết nói 49 năm) và đến năm 80 tuổi Ngài viên-tịch dưới gốc cây Sa-La song thụ. Từ năm Ngài viên-tịch tới nay (1957) đã 2501 năm rồi. Hiện nay Phật-Giáo thế-giới lấy năm viên-tịch của Ngài làm Phật-lịch năm đầu; thế là Phật-lịch tới nay (1957) là 2501.
Ngài viên-tịch, nhưng giáo-pháp của Ngài còn lưu mãi ở thế-gian. Hiện nay trên 600 triệu tín-đồ Phật-Giáo khắp năm châu đều tín-ngưỡng nơi giáo-pháp của Ngài.
II. TAM-QUY

1. Quy y Phật, nguyện đời đời, kiếp kiếp không quy-y Thiên-thần, quỷ, vật.
2. Quy-y Pháp, nguyện đời đời, kiếp kiếp không quy-y ngoại-đạo, tà-giáo.
3. Quy-y Tăng, nguyện đời đời, kiếp kiếp không quy-y tổn-hữu, ác-đảng.
III. SÁM-HỐI

Xưa kia tạo nên bao ác-nghiệp,
Đều do vô-thỉ tham, sân, si;
Từ thân, miệng, ý phát-sinh ra,
Hết thảy con nay xin sám-hối.
IV. PHÁT-NGUYỆN

- Chúng-sinh vô số lượng, thệ-nguyện đều độ khắp,
- Phiễn-não không cùng tận, thệ-nguyện đều dứt sạch;
- Pháp-môn không kể xiết, thệ-nguyện đều tu học,
- Phật-đạo không gì hơn, thệ-nguyện được viên-thành.
V. NGHI-THỨC NIỆM PHẬT
BUỔI SÁNG
(Chắp tay đọc:)
Đại-từ, đại-bi thương chúng-sinh,
Đại-hỷ, đại-xả cứu muôn loài;
Tướng tốt sáng ngời tự trang-nghiêm,
Đệ-tử chí tâm quy-mệnh lễ.
Nam-mô Sa-Bà Giáo-Chủ Bản-Sư Thích-Ca Mưu-Ni Phật (đọc 3 lượt rồi bỏ tay xuống, cầm tràng, lần, niệm):
Nam-mô Thích-Ca Mưu-Ni Phật
(niệm 10 lượt, 1 tràng hay nhiều hơn càng tốt)
Nam-mô Văn-Thù Sư-Lỵ Bồ-Tát
Nam-mô Phổ-Hiền Bồ-Tát
Nam-mô Thanh-tịnh đại-hải-chúng Bồ-Tát.
(Những danh hiệu Bồ-Tát trên đọc 3 lượt hoặc 10 lượt.
Chắp tay đọc):
Nguyện đem công-đức này,
Hướng về khắp tất cả;
Đệ-tử và chúng-sinh,
Đều trọn thành Phật-đạo.
VI- NGHI-THỨC NIỆM PHẬT
BUỔI TỐI
(Chắp tay đọc:)
Phật A-Di-Đà thân kim sắc,
Tướng tốt sáng ngời không sánh kịp;
Năm Tu-Di uyển-chuyển bạch-hào,
Bốn biển lớn trong ngần mắt biếc.
Trong hào-quang hóa vô số Phật,
Vô số Bồ-Tát hiện ở trong;
Bốn mươi tám nguyện độ chúng-sinh.
Chín phẩm sen vàng lên Giải-thoát.
Nam-mô Tây-Phương Cực-Lạc thế-giới, đại từ, đại-bi A-Di-Đà Phật
(đọc 3 lượt rồi bỏ tay xuống, cầm tràng lần, niệm):
Nam-mô A-Di-Đà Phật
(niệm 10 lượt, 1 tràng hay nhiều hơn càng tốt)
Nam-mô Quán-Thế-Âm Bồ-Tát
Nam-mô Đại-Thế-Chí Bồ-Tát
Nam-mô Thanh-Tịnh đại-hải-chúng Bồ-Tát
(Những danh hiệu Bồ-Tát trên đọc 3 lượt hoặc 10 lượt.
Chắp tay đọc):
Ba đời mười phương Phật,
A-Di-Đà bậc nhất.
Chín phẩm độ chúng-sinh,
Uy-đức không cùng cực.
Đệ-tử nguyện quy-y,
Sám-hối ba nghiệp-tội.
Phàm được bao phúc-thiện,
Chí tâm nguyện hồi-hướng.
Nguyện cùng người niệm Phật,
Cảm-ứng hiện theo thời.
Lâm-chung cảnh Tây-phương,
Rõ ràng bày trước mắt.
Thấy, nghe đều tinh-tiến,
Đồng sinh nước Cực-Lạc.
Thấy Phật thoát sinh-tử,
Như Phật độ hết thảy.
Đọan vô biên phiền-não,
Tu vô-lượng pháp-môn.
Thệ nguyện độ chúng-sinh,
Đều trọn thành Phật-đạo.
Nguyện đem công-đức này,
Hướng về khắp tất cả;
Đệ-tử và chúng-sinh,
Đều trọn thành Phật-đạo.

(27) Mười Pháp-giới: Là Địa-ngục, ngã-quỷ, súc-sinh, A-tu-la, Nhân, Thiên, Thanh-văn, Duyên-giác, Bồ- Tát và Phật. Tức là 6 cõi phàm, 4 cõi Thánh.
(28) Trăm tám phiền-não: Cùng như 108 kết-nghiệp (ghi trong mục chú-thích số 4 ở trên). Và, lại có chỗ nói: 108 phiền-não là: nhãn-căn đối với sắc đẹp trong ấy có “ấm-quả và tập-nhân”, đối với sắc xấu cũng có “ấm-quả, tập-nhân” và đối với sắc trung bình cũng có ấm quả và tập nhân. Như thế nguyên có nhãn-căn đối với sắc mà đã phân-biệt thành 6 thứ rồi, nên còn từ nhĩ, tỵ, thiệt, thân và ý năm căn nữa đối với năm trần (thanh, hương, vị, xúc, pháp) mỗi thứ cũng phân-biệt thành 6, tổng-cộng lại: 6x6: thành 36 thứ. 36 thứ này phối với tâm, ý, thức trong 3 đời thành 108 phiền-não (36x3: 108).
(29) Trăm tám Tôn-vị: Trong Kim-Cương-giới có 108 tôn-vị là:
1) 5 đức Phật (5 trí của Kim-cương-giới thành 5 đức Như-Lai): a- Pháp-giới thể-tính-trí thành đức Đại-Nhật Như-Lai. b- Đại-viên-kính-trí thành đức A-Súc Như-Lai. c- Bình-đẳng chính-trí thành đức Bảo-Sinh Như-Lai. d- Diệu-Quán-sát-trí thành đức Vô-Lượng-Thọ Như-Lai. đ- Thành-sở-tác-trí thành đức Bất-Không Thành-Tựu Như-Lai.
2) Bốn vị Ba-la-mật Bồ-Tát là: Kim-cương Ba-la-mật Bồ-Tát, Bảo-Ba-la-mật Bồ-Tát, Pháp-Ba-la-mật Bồ-Tát và Nghiệp-Ba-la-mật Bồ-Tát.
3) Mười sáu vị Đại-Bồ-Tát là: Di-Lặc Bồ-Tát, Bất-Không Bồ-Tát, Trừ-Ưu Bồ-Tát, Trừ-Ác Bồ-Tát, Hương-Tượng Bồ-Tát, Đại-Tinh-Tiến Bồ-Tát, Hư-Không-Tạng Bồ-Tát, Trí-Tràng Bồ-Tát, Vô-Lượng-Quang Bồ-Tát, Hiền-Hộ Bồ-Tát, Võng-Minh Bồ-Tát, Nguyệt-Quang Bồ-Tát, Vô-lượng-Ý Bồ-Tát, Biện-Tích Bồ-Tát, Kim-Cương-Tạng Bồ-Tát và Phổ-Hiền Bồ-Tát.
4) Mười hai cúng-dường-pháp: Hy-Hý Bồ-Tát, Man (hoa-man) Bồ-Tát, Ca-Bồ-Tát và Vũ-Bồ-Tát là Nội-cúng-dường. Hương-Bồ-Tát, Hoa-Bồ-Tát, Đăng-Bồ-Tát và Đồ-Hương-Bồ-Tát là Ngoại cúng-dường. Tám vị Bồ-Tát trên là tượng-trưng 8 đồ cúng-dường. Cùng Tứ (4) nhiếp Bồ-Tát: Kim-Cương-Câu Bồ-Tát, Kim-Cương-Sách Bồ-Tát, Kim-Cương-Tỏa Bồ-Tát và Kim-Cương-Linh Bồ-Tát thành 12 vị tượng-trưng cho 12 cúng-dường-pháp.
5) Thêm mười sáu (16) vị Bồ-Tát đời Hiền-kiếp: Có thuyết nói là 16 vị Bồ-Tát từ Ngài Di-Lặc trở xuống đến Ngài thứ 16 như trên (trong tiểu mục số 3) nếu gọi giản-biệt, còn đặc-tôn thời gọi là Đại-Bồ-Tát. Song, 16 vị trên là gọi theo Mật-giáo, còn Hiển-Giáo thời 16 vị là: Bạt-Đà-Bà-La Bồ-Tát, Bảo-Tích Bồ-Tát, Tinh-Đức Bồ-Tát, Đế-Thiên Bồ-Tát, Thủy-Thiên Bồ-Tát, Thiện-Lực Bồ-Tát, Đại-Ý Bồ-Tát, Thù-Thắng-Ý Bồ-Tát, Tăng-Ý Bồ-Tát, Thiện-Phát-Ý Bồ-Tát, Bất-Hư-Kiến Bồ-Tát, Bất-Hưu-Tức Bồ-Tát, Bất-Thiểu-Ý Bồ-Tát, Đạo-Sư Bồ-Tát, Nhật-Tạng Bồ-Tát và Trì-Địa Bồ-Tát.
6) Hai mươi Thiên-vị: Đại-Phạm Thiên-vương, Đế Thích Tôn-thiên. Đa-Văn Thiên-Vương, Trì-quốc Thiên-vương, Tăng-trưởng Thiên-vương, Quảng-Mục Thiên-vương, Kim-Cương mật tích, Ma-Hê-Thủ-La, Tán-Chỉ đại-tướng, Đại-Biện-Tài-Thiên, Đại-công-đức-thiên, Vĩ-Đà thiên-thần, Kiên Lao địa-thần, Bồ-đề-thụ-thần, Quỷ tử mẫu thần, Ma-lỵ-chi-thiên, Nhật-cung thiên-tử, Nguyệt-cung thiên-tử, Sa-Kiệt-La Long-Vương và Diêm-Ma-La-Vương.
7) Năm (5) Đính-Luân-Vương: Bạch-tán cái Phật-đính luân-vương, Thắng-Phật-đính luân-vương, Nhất-tự tối-thắng Phật-đính luân-vương, Hỏa-quang-Phật-đính luân-vương và Xả-trừ Phật-đính luân-vương (Năm vị trên là biểu 5 Trí của đức Thích-Ca).
8) Mười sáu (16) vị Chấp Kim-cương-thần: Hư-không vô-cấu Kim-cương, Kim-cương-luân, Kim-cương-nha, Diệu-trụ Kim-cương, Danh-xưng Kim-cương, Đại-Phận Kim-cương, Kim-cương-lợi, Tịch-nhiên Kim-cương, Đại-Kim-cương, Thanh-Kim-cương, Liên-Hoa Kim-cương, Quảng-Nhãn Kim-cương, Chấp-Diệu Kim-cương, Kim-cương Kim-cương, Trụ vô-hý-luận Kim-Cương, Hư-không vô biên du-bộ Kim-Cương.
9) Mười (10) Ba-la-mật: Bố-thí Ba-la-mật, Trì-giới Ba-la-mật, Nhẫn-nhục Ba-la-mật, Tinh-tiến Ba-la-mật, Thiền-định Ba-la-mật, Bát-nhã Ba-la-mật, Phương-tiện Ba-la-mật, Nguyện Ba-la-mật, Lực Ba-la-mật, Trí Ba-la-mật. Mười Ba-la-mật này là tượng trưng cho mười ngôi Bồ-Tát.
10) Bốn (4) đại: Địa, thủy, hỏa, phong. Thế là 108 Tôn-vị.
(30) Trăm tám Tam-muội: Phật Đại-phẩm Bát-Nhã kinh Ma-ha-diễn phẩm nói về 108 thứ Tam-muội: Đầu là Thủ-Lăng-nghiêm Tam-muội đến 108 là Ly-trước hư-không bất nhiễm Tam-muội. (Nhiều quá không thể kể hết ra đây, xin xem chính kinh sẽ rõ).
(31) Năm mươi bốn vị: Đây là chỉ về giai-vị của Bồ-Tát-thừa:
A- Thập tín: 1.Tín tâm 2. Tinh-tiến-tâm 3. Niệm-tâm 4. Định-tâm 5. Tuệ-tâm 6. Thí-tâm 7. Giới-tâm 8. Hộ-tâm 9. Nguyện-tâm 10. Hồi-hướng-tâm. Mười bậc này đều lấy đức “TIN” làm gốc, nên gọi là “Thập tín”.
B- Thập trụ: 1. Phát-tâm-trụ 2. Trị-địa-trụ 3. Tu-hành-trụ 4. Sinh-quý-trụ 5. Phương-tiện-trụ 6. Chính-tâm-trụ 7. Bất-thoái-trụ 8. Đồng-chân-trụ 9. Pháp-vương-tử-trụ 10. Quán-đính-trụ. Mười bậc này đều gọi là “Trụ”, nghĩa là chỗ ở của các vị Bồ-Tát an-trụ-tâm, đối với sự tu-hành về lục-độ (a) chưa được rốt-ráo mầu-nhiệm, cho nên chỉ gọi là “Trụ”.
C- Thập-hạnh: 1. Hoan-hỷ-hạnh 2. Nhiêu-ích-hạnh 3. Vô-khuể-hạnh 4. Vô-tận-hạnh 5. Ly-si-loạn-hạnh 6. Thiện-hiện-hạnh 7. Vô-trước-hạnh 8. Tôn-trọng-hạnh 9. Thiện-pháp-hạnh 10. Chân-thực-hạnh. Mười bậc này chú trọng tu hành về phép lục-độ hơn các hạnh tu khác, cho nên gọi là “Hạnh”.
D- Thập-hồi-hướng: 1. Cứu-độ chúng-sinh-ly chúng-sinh tướng hồi-hướng (cứu giúp chúng-sinh mà không chấp-trước về sự cứu giúp) 2. Bất-hoại hồi-hướng (không bao giờ thoái lui lòng cứu giúp chúng-sinh) 3. Đẳng chư Phật hồi-hướng (lòng Từ-bi cứu giúp chúng-sinh đã bằng chư Phật) 4. Chí nhất-thiết xứ hồi-hướng (lòng cứu giúp chúng-sinh mỗi việc đều chu-đáo). 5. Vô-tận công-đức tạng hồi-hướng (tích chứa công-đức vô-tận) 6. Tùy thuận nhất-thiết kiên-cố thiện-căn hồi-hướng (thuận theo hết thảy căn lành bền chặt) 7. Đẳng tâm tùy thuận nhất-thiết-chúng-sinh hồi-hướng (đem tâm bình-đẳng tùy thuận hết thảy chúng-sinh) 8. Như-tướng hồi-hướng (làm các công-đức đều hồi-hướng về tự-tính chân-như) 9. Vô-trước vô phược giải-thoát tâm hồi-hướng (không chấp trước, không ràng buộc một lòng giải thoát) 10. Pháp-giới vô-lượng hồi-hướng (hồi-hướng về vô-lượng pháp-giới). Mười bậc nầy đều gọi là hồi-hướng, vì những sự tu hành của các vị Bồ-Tát về bậc ấy, đều đem công-đức mà hồi-hướng vậy.
Đ- Thập-địa: 1. Hoan-hỷ-địa 2. Ly-khổ-địa 3. Phát-quang-địa 4. Diệm-tuệ-địa 5. Nan-thắng-địa 6. Hiện-tiền-địa 7. Viễn-hành-địa 8. Bất-động-địa 9. Thiện-tuệ-địa 10. Pháp-vân-địa. Mười bậc này đều gọi là “Địa”, vì tóm thâu các công-đức hữu vi và vô vi dùng làm tự tính, cùng làm chỗ nương-tựa chắc-chắn hơn cả cho sự tu-hành khiến hay sinh-trưởng cho nên gọi là “Địa”.
Thêm vào Tứ (4) hạnh: 1) Noãn pháp (đây là lời ví dụ, như cưa cây lấy lửa, lửa tuy chưa ra, nhưng đã có nóng; người tu-hành tuy chưa được trí-tuệ viên-mãn, nhưng đã có tướng trí-tuệ phát-hiện). 2) Đỉnh-pháp (các căn lành còn bị xao động, bậc này còn ở trong thời-kỳ tiến-thoái, như đỉnh núi có thể lên xuống). 3) Nhẫn-pháp Thế-đệ nhất pháp (bậc này tuy chưa chứng được chính đạo nhưng, đã được phần tôn-trọng thứ nhất của thế-gian). Bốn bậc này đã gần kiến-đạo, một mực gia công tu-hành nên gọi là “gia-hạnh”. Thế là thành 54 vị. 54 vị bản-hửu (sẵn có) và 54 vị do tu-hành hiện-tại phát sinh (tu-sinh) là 108 vị.
(32) Bốn mươi hai vị: Là Thập Trụ, Thập Hạnh, Thập Hồi-hướng, Thập Địa và Đẳng-Giác, Diệu-Giác.
(33) Hai mươi bảy vị Hiền-Thánh của Thanh-Văn-Thừa: Là 18 vị Hữu-học và 9 vị Vô-học. Mười tám vị Hữu-học (có ba thuyết, nhưng nay lấy một thuyết của Câu-Xá như sau) là: Dự-lưu-hướng, Dự-lưu-quả, Nhất-lai-hướng, Nhất-lai-quả, Bất-Hoàn-hướng, Bất-Hoàn-quả, A-La-Hán-hướng, Tùy-tín-hạnh, Tùy-pháp-hạnh, Vô-tướng-hạnh, Tín-giải, Kiến-trí, Gia-gia, Nhất-gian, Trung-sinh, Hữu-hành, Vô-hành và Thượng-lưu. Chín vị Vô-học là: Thoái-pháp La-Hán, Tư-pháp La-Hán, Hộ-pháp La-Hán, An-trụ-pháp La-Hán, Kham-đạt-pháp La-Hán, Bất-động La-Hán, Bất-thoái La-Hán, Tuệ-giải-thoát La-Hán và Câu-giải-thoát La-Hán.

VII. TƯỞNG NIỆM TRƯỚC KHI
ĂN CƠM


Nam-mô Bản-Sư Thích-Ca Mưu-Ni Phật (3 lượt)
- Nguyện đọan các điều ác.
- Nguyện tu các điều thiện.
- Nguyện tu được thiện-căn, hồi-hướng chúng-sinh, đồng thành Phật-đạo.

VIII. NHỮNG NGÀY TRAI (ăn chay)


- THẬP TRAI: Mỗi tháng mười ngày:1, 8, 14, 15, 18, 23, 24, 28, 29, 30 (Nếu tháng thiếu kể cả ngày 27)
- LỤC TRAI: Mỗi tháng sáu ngày: Mồng 8, 14, 15, 23, 29, 30.
- TỨ TRAI: Mỗi tháng bốn ngày: Mồng 1, 14, 15, 30.
- NHỊ TRAI: Mỗi tháng hai ngày: Mồng 1, 15.

IX. NHỮNG NGÀY KỶ NIỆM


Tháng Giêng
Ngày mồng 1: Đức Phật Di-Lặc.
Tháng Hai
Ngày mồng:
8: Đức Phật Thích-Ca xuất-gia
15: Đức Phật Thích-Ca viên-tịch
19: Đức Quán-Thế-Âm Bồ-Tát.
21: Đức Phổ-Hiền Bồ-Tát.
Tháng Ba
Ngày 16: Đức Chuẩn-Đề Bồ-Tát.
Tháng Tư
Ngày mồng:
4: Đức Văn-Thù Bồ-Tát.
8: Đức Thích-Ca giáng-sinh.
(Phật-giáo thế-giới kỷ-niệm ngày trăng tròn tháng tư).
Tháng Sáu
Ngày 19: Đức Quán-Thế-Âm Bồ-Tát.
Tháng Bảy
Ngày 13: Đức Đại-Thế-Chí Bồ-Tát.
Ngày 15: Vu-Lan-Bồn
Ngày 30: Đức Địa-Tạng Bồ-Tát.
Tháng Chín
Ngày 19: Đức Quán-Thế-Âm Bồ-Tát.
30: Đức Phật Dược-Sư.
Tháng Mười Một
Ngày 11: Đức Phật A-Di-Đà.
Tháng Chạp
Ngày mồng 8: Đức Phật Thích-Ca thành-đạo.



Chú thích


(20) Tô-Tất-Địa kinh: Là cuốn kinh số 893 trong Đại-Tạng-kinh. Riêng nói về việc lần tràng này thuộc về phẩm cúng-dường (biệt bản). Tô-Tất-Địa (Susidhi) dịch là Diệu-thành-tựu.
(21) Đa-La (Tãla): Cây này Đông Ấn-Độ nhiều nhất. Gỗ rắn như sắt, làm tràng tốt.
(22) Yết-châu: Tên một thứ ngọc quý trong nước Ấn-Độ thời xưa.
(23) Chư Phật cảnh-giới nhiếp-chân-thực kinh: Là cuốn kinh số 868 trong Đại-Tạng-kinh. Riêng nói về việc lần tràng này thuộc về phẩm trì-niệm.
(24) Đà-La-Ni tập kinh: Là cuốn kinh số 901 trong Đại-Tạng-kinh.
(25) Thủ-hộ quốc-giới chủ Đà-La-Ni kinh: Là cuốn kinh số 997 trong Đại-Tạng-kinh.
(26) Bồ-đề: (Bodhi): Xưa dịch là “Đạo” nay dịch là “Giác”. Đạo có nghĩa là thông suốt; Giác có nghĩa là giác-ngộ. Song, cảnh sở-thông và sở-giác ấy đều có sự và có lý: Lý là Niết-bàn, đoạn phiền-não-chướng, mà chứng Nhất-thiết-trí của Niết-bàn. Đó là nghĩa Bồ-đề thông cả Tam-thừa vậy. Sự là hết thảy mọi pháp hữu-vi, đọan sở-tri-chướng mà biết được Nhất-thiết-chủng-trí của mọi pháp. Bồ-đề này duy của Phật mà thôi. Và, Bồ-đề của Phật thông cả hai trí trên, nên gọi là Đại-Bồ-Đề. Hạt Bồ-đề ở đây thuộc về Phật-bộ cũng tượng-trưng cho ý nghĩa ấy.
(27) Mười Pháp-giới: Là Địa-ngục, ngã-quỷ, súc-sinh, A-tu-la, Nhân, Thiên, Thanh-văn, Duyên-giác, Bồ- Tát và Phật. Tức là 6 cõi phàm, 4 cõi Thánh.
(28) Trăm tám phiền-não: Cùng như 108 kết-nghiệp (ghi trong mục chú-thích số 4 ở trên). Và, lại có chỗ nói: 108 phiền-não là: nhãn-căn đối với sắc đẹp trong ấy có “ấm-quả và tập-nhân”, đối với sắc xấu cũng có “ấm-quả, tập-nhân” và đối với sắc trung bình cũng có ấm quả và tập nhân. Như thế nguyên có nhãn-căn đối với sắc mà đã phân-biệt thành 6 thứ rồi, nên còn từ nhĩ, tỵ, thiệt, thân và ý năm căn nữa đối với năm trần (thanh, hương, vị, xúc, pháp) mỗi thứ cũng phân-biệt thành 6, tổng-cộng lại: 6x6: thành 36 thứ. 36 thứ này phối với tâm, ý, thức trong 3 đời thành 108 phiền-não (36x3: 108).
(29) Trăm tám Tôn-vị: Trong Kim-Cương-giới có 108 tôn-vị là:
1) 5 đức Phật (5 trí của Kim-cương-giới thành 5 đức Như-Lai): a- Pháp-giới thể-tính-trí thành đức Đại-Nhật Như-Lai. b- Đại-viên-kính-trí thành đức A-Súc Như-Lai. c- Bình-đẳng chính-trí thành đức Bảo-Sinh Như-Lai. d- Diệu-Quán-sát-trí thành đức Vô-Lượng-Thọ Như-Lai. đ- Thành-sở-tác-trí thành đức Bất-Không Thành-Tựu Như-Lai.
2) Bốn vị Ba-la-mật Bồ-Tát là: Kim-cương Ba-la-mật Bồ-Tát, Bảo-Ba-la-mật Bồ-Tát, Pháp-Ba-la-mật Bồ-Tát và Nghiệp-Ba-la-mật Bồ-Tát.
3) Mười sáu vị Đại-Bồ-Tát là: Di-Lặc Bồ-Tát, Bất-Không Bồ-Tát, Trừ-Ưu Bồ-Tát, Trừ-Ác Bồ-Tát, Hương-Tượng Bồ-Tát, Đại-Tinh-Tiến Bồ-Tát, Hư-Không-Tạng Bồ-Tát, Trí-Tràng Bồ-Tát, Vô-Lượng-Quang Bồ-Tát, Hiền-Hộ Bồ-Tát, Võng-Minh Bồ-Tát, Nguyệt-Quang Bồ-Tát, Vô-lượng-Ý Bồ-Tát, Biện-Tích Bồ-Tát, Kim-Cương-Tạng Bồ-Tát và Phổ-Hiền Bồ-Tát.
4) Mười hai cúng-dường-pháp: Hy-Hý Bồ-Tát, Man (hoa-man) Bồ-Tát, Ca-Bồ-Tát và Vũ-Bồ-Tát là Nội-cúng-dường. Hương-Bồ-Tát, Hoa-Bồ-Tát, Đăng-Bồ-Tát và Đồ-Hương-Bồ-Tát là Ngoại cúng-dường. Tám vị Bồ-Tát trên là tượng-trưng 8 đồ cúng-dường. Cùng Tứ (4) nhiếp Bồ-Tát: Kim-Cương-Câu Bồ-Tát, Kim-Cương-Sách Bồ-Tát, Kim-Cương-Tỏa Bồ-Tát và Kim-Cương-Linh Bồ-Tát thành 12 vị tượng-trưng cho 12 cúng-dường-pháp.
5) Thêm mười sáu (16) vị Bồ-Tát đời Hiền-kiếp: Có thuyết nói là 16 vị Bồ-Tát từ Ngài Di-Lặc trở xuống đến Ngài thứ 16 như trên (trong tiểu mục số 3) nếu gọi giản-biệt, còn đặc-tôn thời gọi là Đại-Bồ-Tát. Song, 16 vị trên là gọi theo Mật-giáo, còn Hiển-Giáo thời 16 vị là: Bạt-Đà-Bà-La Bồ-Tát, Bảo-Tích Bồ-Tát, Tinh-Đức Bồ-Tát, Đế-Thiên Bồ-Tát, Thủy-Thiên Bồ-Tát, Thiện-Lực Bồ-Tát, Đại-Ý Bồ-Tát, Thù-Thắng-Ý Bồ-Tát, Tăng-Ý Bồ-Tát, Thiện-Phát-Ý Bồ-Tát, Bất-Hư-Kiến Bồ-Tát, Bất-Hưu-Tức Bồ-Tát, Bất-Thiểu-Ý Bồ-Tát, Đạo-Sư Bồ-Tát, Nhật-Tạng Bồ-Tát và Trì-Địa Bồ-Tát.
6) Hai mươi Thiên-vị: Đại-Phạm Thiên-vương, Đế Thích Tôn-thiên. Đa-Văn Thiên-Vương, Trì-quốc Thiên-vương, Tăng-trưởng Thiên-vương, Quảng-Mục Thiên-vương, Kim-Cương mật tích, Ma-Hê-Thủ-La, Tán-Chỉ đại-tướng, Đại-Biện-Tài-Thiên, Đại-công-đức-thiên, Vĩ-Đà thiên-thần, Kiên Lao địa-thần, Bồ-đề-thụ-thần, Quỷ tử mẫu thần, Ma-lỵ-chi-thiên, Nhật-cung thiên-tử, Nguyệt-cung thiên-tử, Sa-Kiệt-La Long-Vương và Diêm-Ma-La-Vương.
7) Năm (5) Đính-Luân-Vương: Bạch-tán cái Phật-đính luân-vương, Thắng-Phật-đính luân-vương, Nhất-tự tối-thắng Phật-đính luân-vương, Hỏa-quang-Phật-đính luân-vương và Xả-trừ Phật-đính luân-vương (Năm vị trên là biểu 5 Trí của đức Thích-Ca).
8) Mười sáu (16) vị Chấp Kim-cương-thần: Hư-không vô-cấu Kim-cương, Kim-cương-luân, Kim-cương-nha, Diệu-trụ Kim-cương, Danh-xưng Kim-cương, Đại-Phận Kim-cương, Kim-cương-lợi, Tịch-nhiên Kim-cương, Đại-Kim-cương, Thanh-Kim-cương, Liên-Hoa Kim-cương, Quảng-Nhãn Kim-cương, Chấp-Diệu Kim-cương, Kim-cương Kim-cương, Trụ vô-hý-luận Kim-Cương, Hư-không vô biên du-bộ Kim-Cương.
9) Mười (10) Ba-la-mật: Bố-thí Ba-la-mật, Trì-giới Ba-la-mật, Nhẫn-nhục Ba-la-mật, Tinh-tiến Ba-la-mật, Thiền-định Ba-la-mật, Bát-nhã Ba-la-mật, Phương-tiện Ba-la-mật, Nguyện Ba-la-mật, Lực Ba-la-mật, Trí Ba-la-mật. Mười Ba-la-mật này là tượng trưng cho mười ngôi Bồ-Tát.
10) Bốn (4) đại: Địa, thủy, hỏa, phong. Thế là 108 Tôn-vị.
(30) Trăm tám Tam-muội: Phật Đại-phẩm Bát-Nhã kinh Ma-ha-diễn phẩm nói về 108 thứ Tam-muội: Đầu là Thủ-Lăng-nghiêm Tam-muội đến 108 là Ly-trước hư-không bất nhiễm Tam-muội. (Nhiều quá không thể kể hết ra đây, xin xem chính kinh sẽ rõ).
(31) Năm mươi bốn vị: Đây là chỉ về giai-vị của Bồ-Tát-thừa:
A- Thập tín: 1.Tín tâm 2. Tinh-tiến-tâm 3. Niệm-tâm 4. Định-tâm 5. Tuệ-tâm 6. Thí-tâm 7. Giới-tâm 8. Hộ-tâm 9. Nguyện-tâm 10. Hồi-hướng-tâm. Mười bậc này đều lấy đức “TIN” làm gốc, nên gọi là “Thập tín”.
B- Thập trụ: 1. Phát-tâm-trụ 2. Trị-địa-trụ 3. Tu-hành-trụ 4. Sinh-quý-trụ 5. Phương-tiện-trụ 6. Chính-tâm-trụ 7. Bất-thoái-trụ 8. Đồng-chân-trụ 9. Pháp-vương-tử-trụ 10. Quán-đính-trụ. Mười bậc này đều gọi là “Trụ”, nghĩa là chỗ ở của các vị Bồ-Tát an-trụ-tâm, đối với sự tu-hành về lục-độ (a) chưa được rốt-ráo mầu-nhiệm, cho nên chỉ gọi là “Trụ”.
C- Thập-hạnh: 1. Hoan-hỷ-hạnh 2. Nhiêu-ích-hạnh 3. Vô-khuể-hạnh 4. Vô-tận-hạnh 5. Ly-si-loạn-hạnh 6. Thiện-hiện-hạnh 7. Vô-trước-hạnh 8. Tôn-trọng-hạnh 9. Thiện-pháp-hạnh 10. Chân-thực-hạnh. Mười bậc này chú trọng tu hành về phép lục-độ hơn các hạnh tu khác, cho nên gọi là “Hạnh”.
D- Thập-hồi-hướng: 1. Cứu-độ chúng-sinh-ly chúng-sinh tướng hồi-hướng (cứu giúp chúng-sinh mà không chấp-trước về sự cứu giúp) 2. Bất-hoại hồi-hướng (không bao giờ thoái lui lòng cứu giúp chúng-sinh) 3. Đẳng chư Phật hồi-hướng (lòng Từ-bi cứu giúp chúng-sinh đã bằng chư Phật) 4. Chí nhất-thiết xứ hồi-hướng (lòng cứu giúp chúng-sinh mỗi việc đều chu-đáo). 5. Vô-tận công-đức tạng hồi-hướng (tích chứa công-đức vô-tận) 6. Tùy thuận nhất-thiết kiên-cố thiện-căn hồi-hướng (thuận theo hết thảy căn lành bền chặt) 7. Đẳng tâm tùy thuận nhất-thiết-chúng-sinh hồi-hướng (đem tâm bình-đẳng tùy thuận hết thảy chúng-sinh) 8. Như-tướng hồi-hướng (làm các công-đức đều hồi-hướng về tự-tính chân-như) 9. Vô-trước vô phược giải-thoát tâm hồi-hướng (không chấp trước, không ràng buộc một lòng giải thoát) 10. Pháp-giới vô-lượng hồi-hướng (hồi-hướng về vô-lượng pháp-giới). Mười bậc nầy đều gọi là hồi-hướng, vì những sự tu hành của các vị Bồ-Tát về bậc ấy, đều đem công-đức mà hồi-hướng vậy.
Đ- Thập-địa: 1. Hoan-hỷ-địa 2. Ly-khổ-địa 3. Phát-quang-địa 4. Diệm-tuệ-địa 5. Nan-thắng-địa 6. Hiện-tiền-địa 7. Viễn-hành-địa 8. Bất-động-địa 9. Thiện-tuệ-địa 10. Pháp-vân-địa. Mười bậc này đều gọi là “Địa”, vì tóm thâu các công-đức hữu vi và vô vi dùng làm tự tính, cùng làm chỗ nương-tựa chắc-chắn hơn cả cho sự tu-hành khiến hay sinh-trưởng cho nên gọi là “Địa”.
Thêm vào Tứ (4) hạnh: 1) Noãn pháp (đây là lời ví dụ, như cưa cây lấy lửa, lửa tuy chưa ra, nhưng đã có nóng; người tu-hành tuy chưa được trí-tuệ viên-mãn, nhưng đã có tướng trí-tuệ phát-hiện). 2) Đỉnh-pháp (các căn lành còn bị xao động, bậc này còn ở trong thời-kỳ tiến-thoái, như đỉnh núi có thể lên xuống). 3) Nhẫn-pháp Thế-đệ nhất pháp (bậc này tuy chưa chứng được chính đạo nhưng, đã được phần tôn-trọng thứ nhất của thế-gian). Bốn bậc này đã gần kiến-đạo, một mực gia công tu-hành nên gọi là “gia-hạnh”. Thế là thành 54 vị. 54 vị bản-hửu (sẵn có) và 54 vị do tu-hành hiện-tại phát sinh (tu-sinh) là 108 vị.
(32) Bốn mươi hai vị: Là Thập Trụ, Thập Hạnh, Thập Hồi-hướng, Thập Địa và Đẳng-Giác, Diệu-Giác.
(33) Hai mươi bảy vị Hiền-Thánh của Thanh-Văn-Thừa: Là 18 vị Hữu-học và 9 vị Vô-học. Mười tám vị Hữu-học (có ba thuyết, nhưng nay lấy một thuyết của Câu-Xá như sau) là: Dự-lưu-hướng, Dự-lưu-quả, Nhất-lai-hướng, Nhất-lai-quả, Bất-Hoàn-hướng, Bất-Hoàn-quả, A-La-Hán-hướng, Tùy-tín-hạnh, Tùy-pháp-hạnh, Vô-tướng-hạnh, Tín-giải, Kiến-trí, Gia-gia, Nhất-gian, Trung-sinh, Hữu-hành, Vô-hành và Thượng-lưu. Chín vị Vô-học là: Thoái-pháp La-Hán, Tư-pháp La-Hán, Hộ-pháp La-Hán, An-trụ-pháp La-Hán, Kham-đạt-pháp La-Hán, Bất-động La-Hán, Bất-thoái La-Hán, Tuệ-giải-thoát La-Hán và Câu-giải-thoát La-Hán.

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn