Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   
Bài mới nhất

Quyển thứ bảy. Phẩm thứ tư: Nguồn gốc các Bồ Tát được Thọ Ký (Phần 5)

15/05/201317:57(Xem: 6029)
Quyển thứ bảy. Phẩm thứ tư: Nguồn gốc các Bồ Tát được Thọ Ký (Phần 5)

Kinh Bi Hoa (Lịch sử đức Phật A Di Đà và các Bồ Tát) 10 quyển

Quyển thứ bảy
Phẩm thứ tư: Nguồn gốc các Bồ Tát được Thọ Ký (Phần 5)

Việt dịch: Thích nữ Tâm Thường

Nguồn: Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh Vol. 3, No. 157 Bản dịch Hán văn Đời Bắc Lương, Tam Tạng Pháp Sư Đàm Vô Sấm Người Thiên Trúc Chứng nghĩa và nhuận văn Tỳ kheo Thích Đỗng Minh Tỳ kheo Tâm Hạnh

- Bạch đức Thế Tôn! Khi con thành Chánh Giác xong, sẽ dùng một loại âm thanh để thuyết pháp:
Người nào học Thanh Văn thừa, nghe Phật thuyết pháp, liền biết được tạng pháp Thanh Văn.
Người nào tu học Bích Chi Phật thừa, nghe Phật thuyết pháp liền hiểu được pháp Bích Chi Phật.
Người nào tu học Vô thượng Đại thừa, nghe Phật thuyết pháp liền hiểu rõ pháp Đại thừa thuần nhất không xen tạp.
Người nào tu tập Trợ Bồ đề pháp, muốn được Bồ đề, nghe Phật thuyết pháp liền đem tài sản ra bố thí.
Chúng sanh nào bị xa lìa các công đức mà mong cầu khoái lạc trên cõi trời, trong cõi người, nghe Phật thuyết pháp, liền giữ được giới.
Chúng sanh nào tâm ưa sân hận, sợ hãi lẫn nhau, nghe Phật thuyết pháp liền sanh tâm thân hậu với nhau.
Chúng sanh nào ưa làm nghiệp giết hại, nghe Phật thuyết pháp liền được tâm từ bi .
Chúng sanh nào thường bị keo kiệt, đố kỵ che tâm ý, nghe Phật thuyết Pháp liền tu tâm hoan hỷ.
Chúng sanh xinh đẹp, không bệnh nên tham đắm sắc, sanh tâm buông lung, nghe Phật thuyết pháp liền được tâm xả bỏ sự tham đắm.
Chúng sanh nào dâm dục hẫy hừng, buông lung, nghe Phật thuyết pháp liền quán bất tịnh.
Chúng sanh nào học Đại thừa bị trạo hối che lấp, nghe Phật thuyết pháp liền được pháp thân niệm xứ.
Chúng sanh nào thường khen ngợi mình có khả năng bàn luận việc lớn, trí tuệ sang suốt như điện chớp, nghe Phật thuyết pháp liền hiểu mười hai nhân duyên thậm thâm.
Chúng sanh nào sự biết cạn cợt, kém cỏi, lại tự cho mình có thể luận nghị, nghe Phật thuyết pháp liền được không bị mất các Đà La Ni.
Chúng sanh nào đi vào núi tà kiến, nghe Phật thuyết pháp, liền hiểu rõ các pháp Không môn thậm thâm.
Chúng sanh nào bị các tri giác che tâm, nghe Phật thuyết pháp liền được hiểu rõ pháp môn Vô tướng.
Chúng sanh nào bị các nguyện bất tịnh che lấp tâm tư, nghe Phật thuyết pháp liền hiểu rõ pháp môn Vô tác.
Chúng sanh nào tâm không thanh tịnh, nghe Phật thuyết pháp thì tâm được thanh tịnh.
Chúng sanh nào do nhiều duyên che tâm, nghe Phật thuyết pháp được hiểu rõ pháp, chẳng mất tâm Bồ đề.
Chúng sanh nào bị sân nhuế che tâm, nghe Phật thuyết pháp, hiểu rõ tướng chân thật, được thọ ký riêng biệt.
Chúng sanh nào bị sự ỷ lại che tâm, nghe Phật thuyết pháp, hiểu rõ các pháp vốn không có chỗ ỷ lại.
Chúng sanh nào bị ái nhiễm che tâm, nghe Phật thuyết pháp mau hiểu rõ các pháp thanh tịnh không nhơ.
Chúng sanh nào quên mất thiện tâm, nghe Phật thuyết pháp hiểu rõ Nhật quang Tam muội.
Chúng sanh nào thực hành các nghiệp ma, nghe Phật thuyết pháp mau được hiểu rõ pháp thanh tịnh.
Chúng sanh nào bị tà luận che tâm, nghe Phật thuyết pháp liền được hiểu rõ thêm chánh pháp.
Chúng sanh nào phiền não che tâm, nghe Phật thuyết pháp thì mau được hiểu rõ, xa lìa pháp phiền não.
Chúng sanh nào đi theo các đường ác, nghe Phật thuyết pháp liền quay trở lại.
Chúng sanh nào gần với pháp Đại thừa mà lại khen ngợi tà pháp là tốt đẹp, nghe Phật thuyết pháp liền từ bỏ tà pháp nên được chánh kiến.
Có Bồ tát nào nhàm chán sanh tử, nghe Phật thuyết pháp liền sanh tâm ưa thích sanh tử.
Có chúng sanh nào không biết cảnh giới thiện, nghe Phật thuyết pháp liền hiểu được pháp của cảnh giới thiện.
Có chúng sanh nào thấy người khác làm lành mà không ưa thích, sanh tâm ganh ghét, nghe Phật thuyết pháp liền được hoan hỷ.
Có chúng sanh tâm trái chống nhau, nghe Phật thuyết pháp liền được sáng suốt, vô ngại.
Có chúng sanh nào hành các ác nghiệp, nghe Phật thuyết pháp, hiểu rõ quả báo của ác nghiệp.
Có chúng sanh nào sợ hãi đại chúng, nghe Phật thuyết pháp, được hiểu rõ tướng Sư tử Tam muội.
Có chúng sanh nào bị bốn loại ma che tâm, nghe Phật thuyết pháp mau được Tam muội Thủ Lăng Nghiêm.
Có chúng sanh nào không thấy ánh sáng quốc độ chư Phật, nghe Phật thuyết pháp liền được hiểu rõ vô số Tam muội Quang minh trang nghiêm.
Có chúng sanh nào có tâm ưa ghét, nghe Phật thuyết pháp liền được tâm xả.
Có chúng sanh nào chưa được ánh sáng Phật pháp, nghe Phật thuyết pháp liền được Pháp tràng Tam muội.
Có chúng sanh nào xa lìa trí huệ lớn, nghe Phật thuyết pháp liền được Pháp cự Tam muội.
Có chúng sanh nào bị si ám che tâm, nghe Phật thuyết pháp liền được Nhật đăng quang minh Tam muội.
Có chúng sanh nào không có tài năng về giảng giáo pháp, nghe Phật thuyết pháp liền được vô số công đức ứng đối.
Có chúng sanh nào xem xét các sắc hòa hiệp nhau không bền chắc, giống như bọt nước, nghe Phật thuyết pháp liền được Tam muội Na La Diên.
Có chúng sanh nào tâm loạn không định, nghe Phật thuyết pháp liền được Kiên lao quyết định Tam muội.
Có chúng sanh nào muốn chiêm ngưỡng đảnh Phật, nghe Phật thuyết pháp liền được Tu Di trang Tam muội.
Có chúng sanh nào xả bỏ bổn nguyện, nghe Phật thuyết pháp liền được Kiên lao Tam muội.
Có chúng sanh nào thối thất các thần thông, nghe Phật thuyết pháp liền được Kim cang Tam muội.
Có chúng sanh nào đối với Bồ đề trường, sanh nghi hoặc, nghe Phật thuyết pháp liền được hiểu rõ Kim cang đạo trường.
Có chúng sanh nào tâm nhàm chán các pháp Không, nghe Phật thuyết pháp liền được Kim cang Tam muội.
Có chúng sanh nào không biết tâm loài khác, nghe Phật thuyết pháp liền biết tâm loài khác.
Có chúng sanh nào đối với các căn không biết lợi độn, nghe Phật thuyết pháp liền biết lợi độn.
Có chúng sanh nào đối với từng chủng loại của các loài, khôg hiểu ngôn ngữ của chúng, nghe Phật thuyết pháp liền được hiểu rõ âm thanh Tam muội.
Có chúng sanh nào chưa đắc pháp thân, nghe Phật thuyết pháp liền được hiểu rõ, phân biệt các thân.
Có chúng sanh nào không thấy thân Phật, nghe Phật thuyết pháp liền được Bất tuần Tam muội.
Có chúng sanh nào phân biệt các duyên, nghe phật thuyết pháp liền được Vô tránh Tam muội.
Có chúng sanh nào có tâm nghi ngờ đối với Chuyển pháp luân, nghe Phật thuyết pháp nên đối với Chuyển pháp luân, tâm được thanh tịnh.
Có chúng sanh nào phát sanh tà hạnh, không tin nhân quả, nghe Phật thuyết pháp liền được sáng suốt hiểu rõ các pháp và tùy thuận nhân duyên.
Có chúng sanh nào khởi thường kiến đối với một thế giới Phật, nghe Phật thuyết pháp liền phân biệt được hết vô lượng Phật độ.
Có chúng sanh nào chưa trồng các tướng thiện căn, nghe Phật thuyết pháp liền được vô số trang nghiêm Tam muội.
Có chúng sanh nào không thể phân biệt hết tất cả ngôn ngữ, nghe Phật thuyết pháp liền được hiểu rõ, phân biệt các loại ngôn ngữ, âm thanh Tam muội.
Có chúng sanh nào chuyên tâm cầu tuệ Nhất thiết trí, nghe Phật thuyết pháp liền được Vô sở phân biệt pháp giới Tam muội.
Có chúng sanh nào đối với pháp bị thối lui, nghe Phật thuyết pháp liến được kiên cố Tam muội.
Có chúng sanh nào không biết pháp giới, nghe Phật thuyết pháp liền được đại trí tuệ.
Có chúng sanh nào xa rời bổn nguyện, nghe Phật thuyết pháp liền được Bất thất Tam muội.
Có chúng sanh nào phân biệt các đạo pháp, nghe Phật thuyết pháp liền hiểu được một đạo pháp, không còn sự phân biệt.
Có chúng sanh nào mong cầu trí tuệ muốn rộng lớn như hư không, nghe Phật thuyết pháp liền được Vô sở hữu Tam muội.
Có chúng sanh nào chưa được đầy đủ Ba la mật, nghe Phật thuyết pháp liền được trụ nơi Tịnh Ba la mật.
Có chúng sanh nào chưa được đầy đủ Pháp bốn nhiếp, nghe Phật thuyết pháp liền được Diệu thiện nhiếp thủ Tam muội.
Có chúng sanh nào phân biệt Tứ vô lượng tâm, nghe Phật thuyết pháp liền được tâm bình đẳng, siêng năng tinh tấn.
Có chúng sanh nào chưa được đầy đủ ba mươi bảy trợ Bồ đề pháp nghe Phật thuyết pháp liền được trụ Xuất thế Tam muội.
Có chúng sanh nào tâm thất niệm và mất trí huệ nghe Phật thuyết pháp liền được Đại hải trí ấn Tam muội.
Có chúng sanh nào nghi ngờ về Vô sanh pháp nhẫn, nghe Phật thuyết pháp liền được Tam muội quyết định các pháp với một pháp tướng.
Có chúng sanh nào quên mất pháp đã nghe, nghe Phật thuyết pháp liền được chẳng mất niệm Tam muội.
Có chúng sanh nào không ưa thích đối với những người thuyết pháp, nghe Phật thuyết pháp liền được huệ nhãn thanh tịnh, không có lưới nghi.
Có chúng sanh nào không tin Tam bảo, nghe Phật thuyết pháp liền được Công đức tăng trưởng Tam muội.
Có chúng sanh nào đói khát mưa pháp, nghe Phật thuyết pháp liền được Pháp vũ Tam muội.
Có chúng sanh nào sanh Đoạn diệt kiến đối với Tam bảo, nghe Phật thuyết pháp liền được các báu trang nghiêm Tam muội.
Có chúng sanh nào không tạo nghiệp trí tuệ, không siêng năng tinh tấn, nghe Phật thuyết pháp liền được Kim cang trí tuệ Tam muội.
Có chúng sanh nào bị các phiền não trói buộc, nghe Phật thuyết pháp liền được Hư không ấn Tam muội.
Có chúng sanh nào chấp ngã, ngã sở, nghe Phật thuyết pháp liền được Trí ấn Tam muội.
Có chúng sanh nào không biết công đức đầy đủ của Như Lai, nghe Phật thuyết pháp liền được Thế gian giải thoát Tam muội.
Có chúng sanh nào đời quá khứ chưa cúng dường Phật, nghe Phật thuyết pháp liền được vô số thần túc biến hóa.
Có chúng sanh nào chưa được nghe nói về một pháp giới môn trong vô lượng kiếp đến tận đời vị lai, nghe Phật thuyết pháp liền được hiểu thông suốt tất cả, các pháp đồng một pháp giới.
Có chúng sanh nào đối với tất cả các kinh điển chưa chọn lựa được, nghe Phật thuyết pháp liền được các pháp bình đẳng thật tướng Tam muội.
Có chúng sanh nào xa lìa pháp Lục hòa, nghe Phật thuyết pháp liền được hiểu rõ các pháp Tam muội.
Có chúng sanh nào không siêng năng tinh tấn đối với pháp môn giải thoát bất khả tư nghì, nghe Phật thuyết pháp, ngay trong các thần thông liền được Sư tử du hý Tam muội.
Có chúng sanh nào muốn phân biệt nhập vào Như Lai tạng, nghe Phật thuyết pháp, hoàn toàn không nghe theo người khác, liền được phân biệt nhập vào Như Lai tạng.
Có chúng sanh nào không siêng năng tinh tấn đối với đạo Bồ tát, nghe Phật thuyết pháp liền được trí hụê siêng năng tinh tấn.
Có chúng sanh nào chưa từng được nghe kinh Bổn Sanh, nghe Phật thuyết pháp liền được Tam muội khắp nơi.
Có chúng sanh nào hành đạo chưa xong, nghe Phật thuyết pháp liền được Tam muội thọ ký.
Có chúng sanh nào chưa được đầy đủ mười lực của Như lai, nghe Phật thuyết pháp liền được Vô hoại Tam muội.
Có chúng sanh nào chưa được đầy đủ Tứ vô sở úy, nghe Phật thuyết pháp liền được Vô tận ý Tam muội.
Có chúng sanh nào chưa được đầy đủ Phật Bất cộng pháp, nghe Phật thuyết pháp liền được Bất cộng pháp Tam muội.
Có chúng sanh nào chưa được đầy đủ tri kiến không ngu si, nghe Phật thuyết pháp liền được Nguyện cú Tam muội.
Có chúng sanh nào chưa đươc rõ biết tất cả môn Phật pháp, nghe Phật thuyết pháp liền được Tiên bạch Vô cấu tịnh ấn Tam muội.
Có chúng sanh nào chưa được đầy đủ Nhất thiết trí, nghe Phật thuyết pháp liền được Thiện liễu Tam muội.
Có chúng sanh nào chưa được thành tựu tất cả Phật sự, nghe Phật thuyết pháp liền được Vô lượng Bất tận ý Tam muội...
Các chúng sanh như vậy đối với Phật pháp đều được tin hiểu.
Có các Bồ Tát tâm tánh ngay thẳng không dối trá, nghe Phật thiuyết pháp liền được tám vạn bốn ngàn các pháp môn, tám vạn bốn ngàn các Tam muội, bảy vạn năm ngàn Đà la ni môn.
Có vô lượng vô biên a tăng kỳ Đại Bồ Tát tu tập Đại thừa, nghe thuyết pháp này cũng được vô lượng công đức như vậy, an trụ địa vị Bất thối chuyển. Cho nên, các Đại Bồ Tát muốn được vô số trang nghiêm chắc nên phát Bất khả tư nghị nguyện, tăng thêm bất khả tư nghị tri kiến để tự trang nghiêm, bằng ba mươi hai tướng trang nghiêm, với tám mươi vẻ đẹp phụ thuộc.
Nhờ diệu âm trang nghiêm nên các Bồ Tát tùy theo sở thích của các chúng sanh mà thuyết pháp, làm cho người nghe pháp được đầy đủ tri kiến.
Do tâm trang nghiêm nên được các Tam muội không thối lui. Do niệm trang nghiêm nên không mất tất cả các Đà la ni. Do tâm trang nghiêm nên phân biệt các pháp. Do niệm trang nghiêm nên được hiểu các ý nghĩa rất vi tế. Do thiện tâm trang nghiêm nên được thệ nguyện kiên cố, tinh tấn, bền chắc, theo nguyện của mình đưa đến bờ bên kia. Do chuyên tâm trang nghiêm nên vượt qua các cấp bậc.
Do Bố thí trang nghiêm nên đối với các thứ cần dùng có thể xả hết.
Do Trì giới trang nghiêm nên khiến tâm lành trong trắng, thanh tịnh.
Do Nhẫn nhục trang nghiêm nên đối với các chúng sanh tâm không chướng ngại.
Do Tinh tấn trang nghiêm nên tất cả sự giúp đỡ đều được thành tựu.
Do Thiền định trang nghiêm nên được Sư tử du hý đối với tất cả Tam muội.
Do Trí huệ trang nghiêm nên biết các phiền não tập khí.
Do Từ trang nghiêm nên chuyên tâm nhớ đến tất cả chúng sanh.
Do Bi trang nghiêm nên có thể dứt hẳn tất cả khổ cho chúng sanh.
Do Hỷ trang nghiêm nên tâm không nghi hoặc đối với tất cả pháp.
Do Xả trang nghiêm nên lìa được tâm kiêu mạn, tâm không còn cao thấp.
Do các thần thông trang nghiêm nên được Sư tử du hý đối với tất cả pháp.
Do công đức trang nghiêm nên được có tay giữ gìn kho báu vô tận.
Do trí trang nghiêm nên biết các tâm đang có của chúng sanh.
Do ý trang nghiêm nên phương tiện giúp tất cả chúng sanh được tỉnh ngộ.
Do quang minh trang nghiêm nên được mắt trí tuệ sáng.
Do các biện tài trang nghiêm nên khiến chúng sanh được lời lẽ ứng đối đúng nghĩa pháp.
Do Vô úy trang nghiêm nên tất cả các ma không thể làm hại.
Do công đức trang nghiêm nên được công đức của chư Phật Thế Tôn.
Do pháp trang nghiêm nên thường được giảng thuyết diệu pháp cho tất cả chúng sanh không trở ngại.
Do quang minh trang nghiêm nên được tất cả pháp Phật sáng chói.
Do chiếu ánh sang trang nghiêm nên có thế chiếu khắp thế giới chư Phật.
Do tha tâm trang nghiêm nên được chánh trí không loạn.
Do giáo giới trang nghiêm nên được hộ trì cấm giới đúng theo lời nói.
Do thần túc trang nghiêm nên được Như ý túc đến bờ kia.
Do thọ trì tất cả chư Như Lai trang nghiêm nên được vào vô lượng pháp tạng của Như Lai.
Do tôn pháp trang nghiêm nên được trí tuệ không tùy thuộc người khác.
Do thực hành theo tất cả thiện pháp trang nghiêm nên được thực hành như lời nói, muốn làm cho chúng sanh ấy đều được tất cả các công đức lợi ích như vậy.
Có vô lượng vô biên a tăng kỳ Đại Bồ Tát tu tập Đại thừa, do nghe con thuyết một câu pháp nên đầy đủ tất cả thiện pháp bạch tịnh. Do đó, các Đại Bồ Tát đối với các pháp được trí tuệ, không nghe theo người khác, được thành tựu pháp lớn quang minh, thành Chánh Giác.
- Bạch đức Thế Tôn! Nếu chúng sanh ở thế giới phương khác tạo tội ngũ nghịch, cho đến phạm bốn trọng cấm, thiêu đốt và tiêu diệt pháp lành, hoặc học Thanh Văn, Duyên Giác, Đại thừa, nhưng do nguyện lực nên muốn sanh đến thế giới con, đã sanh đến rối, vẫn còn tồn tại tất cả các nghiệp bất thiện thô bạo, tệ ác, tâm ưa ngang ngược, khó điều phục, chuyên tâm theo bốn thứ điên đảo tham trước, keo kiệt. Các chúng sanh như vậy với tám vạn bốn ngàn loạn tâm, với căn tánh khác nhau, con sẽ vì những chúng sanh với căn tánh khác nhau đó mà giảng rộng về tám vạn bốn ngàn pháp tụ.
- Bạch đức Thế Tôn! Nếu có chúng sanh học Vô thượng Đại thừa, con sẽ vì họ mà gỉảng rộng đầy đủ sáu Ba la mật, là: - Bố thí Ba la mật..., cho đến Bát Nhã Ba la mật.
Có chúng sanh nào học Thanh Văn thừa, chưa trồng căn lành, nguyện cầu chư Phật làm thầy cho mình, thì con sẽ làm cho họ tu học theo ba quy y, rồi sau đó khuyên bảo làm cho họ tu học theo sáu Ba la mật.
Có chúng sanh ưa làm việc sát hại, con sẽ làm cho họ không còn giết hại. Có chúng sanh chuyên làm việc tham ác, con sẽ làm cho họ không còn trộm cướp. Có chúng sanh tà dâm phi pháp, con sẽ làm cho họ không còn tà dâm. Có chúng sanh cố vọng ngữ, phỉ báng, con sẽ ; Làm cho họ không còn vọng ngữ. Có chúng sanh thích thú việc cuồng si, con sẽ làm cho họ không còn uống rượu.
Chúng sanh nào phạm năm việc này, con sẽ dạy cho họ năm giới Ưu bà tắc.
Chúng sanh nào không ưa thích các pháp lành, con sẽ làm cho họ thọ trì tám giới một ngày một đêm.
Có chúng sanh ít thiện căn, sanh tâm ưa thích thiện căn, con sẽ làm cho họ đời vị lai được xuất gia học đạo trong Phật pháp, làm cho họ sống theo mười giới, phạm hạnh thanh tịnh.
Có chúng sanh tâm mong cầu các pháp thiện căn con sẽ làm cho họ được thành tựu phạm hạnh, đại giới cụ túc, sống trong pháp thiện căn.
Các chúng sanh như vậy tạo tội ngũ nghịch cho đến keo kiệt, con vì chúng sanh này dùng vô số pháp môn thị hiện thần túc thông, thuyết giảng các văn nghĩa, mở bầy chỉ dậy các ấm, giới, nhập, khổ, không, vô thường, vô ngã, làm cho trụ Niết bàn thiện diệu, an ổn tịch diệt, không còn sợ hãi. Lại vì bốn chúng: Tỳ kheo, Tỳ kheo ni, Ưu bà tắc, Ưu bà di mà thuyết pháp.
Có chúng sanh cầu nghe luận nghị, con sẽ thuyết các luận chánh pháp, cho đến có người cầu giải thoát, con sẽ vì họ thuyết luận Không Vô.
Có chúng sanh tâm không ưa pháp thiện chơn chánh, con sẽ vì họ thuyết các việc phục vụ chúng Tăng.
Có chúng sanh tâm ưa thích đối với pháp thiện chơn chánh, con sẽ vì họ thuyết Không Tam muội định, chỉ bầy giải thoát chơn chánh.
- Bạch đức Thế Tôn! Con vì mỗi chúng sanh như vậy, cần phải đi qua trăm ngàn do tuần mà không dùng thần túc để chỉ bầy vô lượng vô biên, vô số phương tiện cho họ hiểu giáo pháp nên thị hiện thần túc cho đến Niết bàn mà tâm không nhàm chán.
- Bạch đức Thế Tôn! Con nhờ sức Tam muội nên xả tuổi thọ đã đạt được ở phần thứ năm để nhập Niết bàn. Ngay khi ấy, con tự phân tán thân thể nhỏ như nửa hạt cải, vì thương sót chúng sanh nên cầu nhập Niết bàn. Sau khi nhập Niết bàn, chánh pháp trụ thế một ngàn năm, tượng pháp trụ thế năm trăm. Sau khi con Niết bàn, nếu chúng sanh nào dùng vật quý báu, âm nhạc, cúng dường xá lợi, cho đến lễ bái, đi nhiễu bên phải một vòng, chắp tay khen ngợi, dâng một cành hoa ..., do nhân duyên đó, tùy theo nguyện họ đều không còn thối chuyển đối với ba thừa.
Bạch đức Thế Tôn! Sau khi con nhập Niết bàn, chúng sanh nào có thể giữ gìn kiên cố một giới như trong pháp con đã dậy, cho đến đọc tụng một bài kệ bốn câu, giảng nói cho người khác, làm cho họ nghe, sanh tâm hoan hỷ, cúng dường Pháp sư, dù cho chỉ dâng một cành hoa, lạy một lạy...., do nhân duyên đó, tùy theo chí nguyện của mình, trong ba thừa sẽ không còn thối chuyển. Cho đến khi đuốc pháp tắt, cờ pháp ngả, chánh pháp diệt hết, xá lợi của con vẫn ẩn trong đất, đến nền Kim cang. Bấy giờ, thế giới Ta Bà không có châu báu, xá lợi của con biến làm Ý tướng lưu ly bảo châu, ánh sáng chiếu khắp từ nền Kim cang đến tận cả thế gian, trên đến trời A Ca Nị Tra, mưa vô số hoa: hoa mạn đà la, hoa Ma ha mạn đà la, hoa Ba lợi chất đa, hoa Mạn thù sa, hoa Ma ha mạn thù sa. Có hoa Tịnh quang minh lớn như bánh xe, hoa ấy có hàng trăm ngàn loại với trăm cánh, ngàn cánh, hoặc trăm ngàn cánh; ánh sáng hoa ấy chiếu khắp và có hương thơm vi diệu thường lan tỏa khắp cả, người xem không thấy nhàm chán. Ánh sáng đó chiếu đầy khắp không thể tính kể, hương thơm vi diệu vô lượng vô biên, mưa thuần vô lượng các hoa như vậy. Ngay khi mưa, lại phát ra vô số tiếng vi diệu: tiếng Phật, tiếng Pháp, tiếng Tỳ kheo Tăng, tiếng ba quy y, tiếng Ưu bà tiếng bố thí, tiếng trì giới, tiếng phạm hạnh thanh tịnh, đại giới cụ túc, tiếng giúp đỡ các việc cho Tăng chúng, tiếng đọc kinh, tiếng thiền định tư duy, tiếng quán bất tịnh, tiếng theo dõi hơi thở ra vào, tiếng Phi tưởng phi phi tưởng, tiếng Hữu tưởng, tiếng Vô tưởng, tiếng Thức xứ, tiếng Không xứ, tiếng Bát thắng xứ, tiếng Thập nhất thiết nhập, tiếng Định huệ, tiếng Không, tiếng Vô tướng, tiếng Vô tác, tiếng mười hai nhân duyên, tiếng Cụ túc Thanh văn tạng, tiếng học Duyên Giác, tiếng Cụ túc Đại thừa lục Ba la mật..., trong hoa đó phát ra các tiếng như vậy, chư thiên cõi Sắc đều nghe hết, từ xưa đã trồng các căn lành thì tự nhớ nghĩ; có những điều không lành, liền tự hối trách nên trở lại thế giới Ta Bà giáo hóa vô lượng chúng sanh trong thế gian, làm cho đều được sống theo mười điều thiện. Chư thiên Dục giới cũng được lãnh thọ, không còn ái kết, tham ưa ngũ dục đã có, các tâm sở pháp đều được vắng lặng. Nếu xưa kia đã trồng các căn lành liền tự nhớ nghĩ có điều chẳng lành, liền tự hối trách, nên hạ xuống thế giới Ta Bà giáo hóa vô lượng chúng sanh, làm cho tất cả được sống trong mười điều thiện.
- Bạch đức Thế Tôn! Các hoa này ở trong hư không sẽ hóa làm vô số trân bảo. kim ngân, lưu ly, ma ni châu ngọc, ngọc kha bối, ngọc bích, vật báu, giống như vật báu san hô, mã não, mão trời, trang sức quý báu... rơi xuống như mưa đầy khắp tất cả thế giới Ta Bà. Bấy giờ, tâm mọi nguời hòa thuận vui vẻ, không có các việc đấu tranh, đói khát, bệnh tật, các độc hại về oán tặc, ác khẩu ở phương khác đến bị tiêu diệt cả, vui như vậy. Chúng sanh nào thấy các trân bảo, hoặc xúc trạm, hoặc xử dụng, đối với ba thừa không bị thối chuyển, các trân bảo này làm lợi ích như vậy xong lại ẩn vào đất, trởi về chỗ cũ, ở nền Kim cang.
- Bạch đức Thế Tôn! Ở thế giới Ta Bà, khi kiếp binh khởi lên, xá lợi của con sẽ hóa làm ngọc lưu ly xanh biếc từ đất hiện ra, lên đến trời A Ca Nị Tra, mưa vô số hoa: hoa Ba lợi chất đa, cho đến trở lại ẩn nơi đất, tận nơi nền Kim cang cũng lại như trên.
- Bạch đức Thế Tôn! Khi kiếp chiến tranh, đói khát, dịch bệnh nổi lên cũng như trên.
- Bạch đức Thế Tôn! Giữa đại Hiền kiếp, sau khi con bát Niết bàn, các xá lợi này làm Phật sự như vậy, điều phục vô lượng vô biên chúng sanh được Bất thối chuyển nơi ba thừa. Như vậy, sẽ ở trong vô số đại kiếp nhiều như vi trần trong thế giới của năm đức Phật, điều phục vô lượng vô biên chúng sanh, làm cho họ không thối chuyển trong ba thừa.
- Bạch đức Thế Tôn! Sau khi mãn một hằng hà a tăng kỳ kiếp, những người ở nơi vô lượng vô biên a tăng kỳ thế giới khác trong mười phương ra đời thành Phật, đều là nhờ khi con thành Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, giáo hóa những vị ấy mới phát tâm thành Chánh Giác, làm cho họ được an trú vào sáu Ba la mật.
- Bạch đức Thế Tôn! Khi thành Chánh Giác xong, con sẽ giáo hóa chúng sanh làm cho họ phát tâm thành Chánh Giác, an trụ nơi sáu Ba la mật. Và sau khi con Niết bàn, xá lợi biến hóa giáo hóa chúng sanh, làm cho họ phát tâm thành Chánh Giác. Các chúng sanh này vô lượng vô biên a tăng kỳ thế giới khắp mười phương ra đời thành Phật, đều sẽ xưng danh hiệu con và khen ngợi con rằng: Vào thủơ quá khứ lâu xa có kiếp tên là Hiền, khi vào đầu kiếp, Thế Tôn thứ tư tên là......., đức Thế Tôn đó khuyến hóa chúng con đầu tiên phát tâm thành Chánh Giác. Chúng con khi ấy tâm lành bị thiêu đốt, quen theo căn tánh chẳng lành, tạo tội ngũ nghịch cho đến tà kiến. Bấy giờ đức Phật kia khuyến hóa chúng con, làm cho được an trụ sáu Ba la mật. Nhi vậy liền được hiểu rõ tất cả môn Đà la ni, chuyển bánh xe chánh pháp, lìa sự trói buộc của sanh tử, làm cho vô lượng vô biên trăm ngàn chúng sanh an trụ thắng quả. Lại làm cho vô lượng trăm ngàn chúng sanh được làm chư thiên, cho đến chứng quả giải thoát. Nếu có chúng sanh cầu đạo Bồ đề, nghe khen ngợi con xong đều hỏi Phật:
- Bạch đức Thế Tôn! Phật Thế Tôn kia thấy ích lợi gì mà thành Chánh Giác ở đời ngũ trược ác?
Chư Thế Tôn ấy lập tức hướng đến thiện nam tử, thiện nữ nhơn cầu đạo Bồ đề này, nói rằng:
- Phật Thế Tôn kia ngày xưa đã thành tựu đại bi mới phát tâm thành Chánh Giác với nhân duyên phát khởi bản nguyện này là làm cho thế giới trang nghiêm và thiện vi diệu.
Người này nghe xong rất kinh ngạc, khen chưa từng có, liền phát nguyện tốt, sanh tâm đại bi đối với các chúng sanh, phát lời nguyện giống như con.
Có thế giới nặng về năm trược, chúng sanh trong đó tạo tội ngũ nghịch cho đến sống với các căn bất thiện, con sẽ ở trong đó điều phục họ. Chư Thế Tôn kia do các người này mà thành tựu đại bi, phát các nguyện lành nơi đời ngũ trược, thọ ký tùy theo sự nguyện cầu của họ.
Bạch đức Thế Tôn! Lại vì các người tu học Đại thừa, Phật Thế Tôn kia nói về nhân duyên mà xá lợi con đã biến hóa: Quá khứ lâu xa có Phật Thế Tôn hiệu là......, sau khi bát Niết bàn, kiếp đao binh, tật bệnh, đói khát khởi lên. Bấy giờ chúng con ở trong kiếp đó bị các khổ não, xá lợi của Phật ấy vì chúng con nên hiện ra vô số thần túc Sư tử du hý làm cho chúng con được phát tâm thành Chánh Giác, trồng các căn lành, siêng năng tu tập sáu Ba la mật như đã rộng nói ở trên.
Phật Bồ Tát Tịch Ý:
- Thiện nam tử! Bấy giờ ở chỗ Phật Bảo Tạng, trước chư thiên, đại chúng nhơn, phi nhơn, Phạm chí Bảo Hải liền được thành tựu tâm đại bi rộng lớn và phát năm trăm thệ nguyện xong, lại bạch Phật:
- Bạch Thế Tôn! Nếu nguyện của con không thành tựu và bản thân con không được lợi ích, con không ở vào giai đoạn cuối cùng của Hiền kiếp trong đời vị lai với năm ác trược nặng nề, trong đó chúng sanh đấu tranh lẫn nhau, si mê không có mắt, không có thầy dẫn đường, không được dậy bảo, đọa vào tà kiến tối tăm, si ám, tạo năm tội nghịch ác... mà thành tựu sở nguyện và làm các Phật sự trong những điều kiện như đã nói ở trên, thì con nay bỏ tâm Bồ đề và cũng không trồng các căn lành ở Phật độ nơi phương khác.
- Bạch Thế Tôn! Nay con chuyên tâm như vậy, không đem thiện căn này để thành Chánh Giác, cũng không nguyện cầu Bích Chi Phật thừa, cũng không nguyện làm Thanh Văn thừa, thiên vương, nhơn vương, tham ưa ngũ dục sanh trong chư thiên, không cầu Càn thát bà, A tu la, Ca lâu la, Khẩn na la, Ma hầu la già, Dạ xoa, La sát, chư Long vương, v.v... Do thiện căn này, con không cầu các nơi như vậy.
Bạch đức Thế Tôn! Nếu được giầu có lớn là do nhơn bố thí. Nếu được sanh lên trời là do nhơn giữ giới. Được trí tuệ rộng lớn là do nhơn học rộng. Đoạn tuyệt phiền não là do nhơn tư duy.
Như Phật dạy, các việc như vậy đều là do công đức lợi ích của người thì có thể tùy theo sự nguyện cầu mà đều được hết.
- Bạch đức Thế Tôn! Nếu căn lành con thành tựu, bản thân con được lợi ích; các việc bố thí, trì giới, học rộng, nghe nhiều của con đều sẽ thành tựu, đem quả báo này đến cho các cả chúng sanh trong địa ngục. nếu có chúng sanh nào bị đọa địa ngục A Tỳ, với căn lành này con sẽ cứu độ làm cho sanh trong loài người, nghe Phật thuyết pháp liền được hiểu rõ, thành A La Hán, mau vào Niết bàn. Các chúng sanh này nếu chưa hết nghiệp báo, con sẽ xả mạng sống, vào địa ngục A Tỳ chịu khổ não thay cho họ. Nguyện cho thân con nhiều như vi trần trong một thế giới Phật, mỗi một thân như núi Tu Di, v.v... Mỗi thân này đều biết khổ lạc, như khổ lạc của từng cảm giác ở thân con ngày hôm nay. Con thọ nhiều như số vi trần trong một thế giới Phật và chịu các loại quả báo thô ác khổ não như số vi trần trong một thế giới Phật hiện nay. Chúng sanh trong thế giới của mười phương chư Phật đã tạo ác ngũ nghịch, gây nghiệp bất thiện, cho đến đọa địa ngục A Tỳ, hoặc về sau trải qua đại kiếp như số vi trần trong một thế giới Phật, chúng sanh trong vô số thế giới như vi trần của thế giới chư Phật ở mười phương, tạo ác ngũ nghịch. gây nghiệp bất thiện sẽ đọa địa ngục A Tỳ, con sẽ vì tất cả chúng sanh ở trong địa ngục A Tỳ ấy mà chịu thay các khổ, làm cho chúng sanh không bị đọa trong địa ngục, được gặp chư Phật lãng thọ diệu pháp, ra khỏi sanh tử, vào thành Niết bàn. Nay con quyết sẽ thay thế cho các chúng sanh này, ở mãi trong địa ngục A Tỳ.
Lại nữa, trong vô số thế giới nhiều như vi trần trong một Phật độ khắp mười phương, có các chúng sanh đã tạo nghiệp xấu sẽ chắc chắn chịu quả báo đọa địa ngục đốt nướng như: địa ngục A Tỳ, địa ngục Hỏa chích, địa ngục Ma ha Lư-Man, địa ngục Bức bách, địa ngục Dây đu, địa ngục Tưởng và vô số súc sanh, ngã quỷ, bần cùng, dạ xoa, Cưu bàn trà, Tỳ xá giá, A tu la, Ca lâu la, v.v... con cũng đều chịu thay cho chúng những đau khổ như trên.
- Bạch đức Thế Tôn! Như số chúng sanh trong các thế giới nhiều như vi trần trong một Phật độ ở khắp mười phương đã tạo ra các nghiệp ác mà chắc chắn sẽ được thọ sanh vào loài người, bị đui, điếc, câm, ngọng, không có tay chân, loạn tâm, thất niệm, ăn uống bất tịnh... con cũng sẽ thay thế cho chúng sanh này chịu các tội như đã nói ở trên.
Lại nữa, nếu có chúng sanh phải đọa địa ngục A Tỳ chịu các khổ não, con sẽ mãi mãi thay thế cho các chúng sanh ấy chịu các khổ não. Như đối với chúng sanh thọ ấm, giới, nhập ở trong sanh tử với thân súc sanh, ngã quỷ, bần cùng, Dạ xoa, Cưu bàn trà, Tỳ xá giá, A tu la, Ca lâu la... thì con cũng đều chịu các khổ não như trên.
- Bạch đức Thế Tôn! Nếu nguyện của con thành tựu, bản thân con được lợi ích, con được thành Chánh Giác như đã nguyện ở trên, thì chư Phật hiện tại trong vô lượng vô biên a tăng kỳ thế giới mười phương đang thuyết pháp cho chúng sanh đều sẽ làm chứng cho con, do cũng được chư Phật thấy biết.
- Bạch đức Thế Tôn! Nay cúi xin Ngài thọ ký cho con thành Chánh Giác, ở trong hiền kiếp, khi loài người thọ trăm hai mươi tuổi, con ra đời hiệu Như Lai Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật Thế Tôn.
- Bạch đức Thế Tôn! Nếu con có thể chắc chắn thành tựu Phật sự như con đã nguyện, thì đại chúng này và chư Thiên, A tu la, v.v... hoặc ở trong hư không hay trên mặt đất, chỉ trừ Như Lai, tất cả đều cảm động rơi nước mắt, đều ở trước con làm lễ, khen ngợi:
Lành thay! Lành thay! Ngài thành tựu đại bi không ai sánh kịp, được chánh niệm sâu xa, vì các chúng sanh mà phát lòng thương xót sâu xa, thề nguyện bền chắc, hành động của ngài không do người khác chỉ dạy, do chuyên tâm đại bi che chở tất cả, ngài giáo dục những người bất thiện, ngũ nghịch. Chúng tôi biết rõ hết nguyện tốt của ngài. Khi ngài mới phát tâm thành Chánh Giác, đả vì chúng sanh làm đại lương dược, làm nơi quy y, nơi ủng hộ, làm nhà cửa... để cho tất cả chúng sanh được giải thoát, cho nên phát thệ nguyện này. Nay nguyện của ngài đã được lợi ích, Như Lai sẽ thọ ký cho ngài thành Chánh Giác.
Khi nghe nói như vậy xong, Chuyển Luân Thánh Vương với vô lượng thanh tịnh, liền từ chỗ ngồi đứng dậy, cảm động rơi lệ, chắp tay hướng về Phạm chí, đầu mặt kính lạy và nói kệ:
Nay nguyện của Ngài
Bền vững sâu xa
Hy sinh vui riêng
Vì các chúng sanh
Phát tâm đại bi
Vì dạy chúng con
Các pháp chân thật
Pháp tướng thù thắng.
Bấy giờ Bồ Tát Quán Thế Âm thuyết kệ khen ngợi:
Chúng sanh nhiều đắm trước
Nay Ngài không đắm trước
Đối các căn cao thấp
Được tự tại từ lâu
Nên tùy theo chúng sanh
Cho thệ nguyện đầy đủ
Đời vị lai sẽ được
Trí tạng Đà la ni.
Bồ Tát Đắc Đại Thế thuyết kệ khen:
Vô lượng ức chúng sanh
Vì thiện nên nhóm họp
Biết Ngài đại từ bi
Hết thảy đều rơi lệ
Tu tập các hạnh khổ
Xưa nay chưa từng có.
Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi lại thuyết kệ khen:
Tinh tấn thiền định
Hết sức bền vững
Trí tuệ thắng diệu
Phân biệt hoàn toàn
Ai đem hoa hương
Cúng dường đến Ngài
Hôm nay được Ngài
Hoan hỷ nhận lấy.
Bồ Tát Hư Không Ấn dùng kệ khen:
Ngài vì chúng sanhi
Thành tựu đại bi
Nơi đời trược ác
Bố thí tài sản
Nghiêm trì các tướng
Vi diệu đệ nhất
Vì các chư thiên
Làm Thầy Điều ngự.
Bồ Tát Kim Cang Trí Tuệ Quang Minh thuyết kệ khen:
Tâm đại bi của Ngài
Rộng lớn như hư không
Vì muốn giúp chúng sanh
Nên thực hành Bồ đề.
Bồ Tát Hư Không Nhật thuyết kệ khen:
Ngài đã thành tựu
Công đức đại bi
Trí tuệ thắng diệu
Hiểu rõ pháp tướng
Trừ Phật Thế Tôn
Không ai sánh bằng.
Bồ Tát Sư Tử Hương thuyết kệ khen ngợi:
Ngài đời vị lai
Ở trong Hiền kiếp
Nơi nhiều phiền não
Được tiếng khen lớn
Lại khiến vô lượng
Các loài chúng sanh
Dứt trừ khổ não
Giải thoát hoàn toàn.
Bồ Tát Phổ Hiền thuyết kệ khen:
Tất cả chúng sanh
Tâm siêng tu tập
Đói khát sanh tử
Vào núi tà kiến
Ăn nuốt lẫn nhau
Không có thiện tâm
Ngài vì đại bi
Cứu độ tất cả.
Bồ Tát A Súc thuyết kệt khen:
Thiêu đốt tâm lành
Chuyên làm ác nghịch
Vô Minh che mãi
Trong chốn tối tăm
Không sao ra được
Bùn lầy phiền não
Ngài đã hộ trì
Chúng sanh như vậy.
Bồ Tát Hương Thủ thuyết kệ khen:
Nay Ngài thấy rõ
Nơi đời vị lai
Xem các sợ hãi
Như cảnh trong gương
Chúng sanh trong đó
Phá hoại chánh pháp
Bị thiêu đốt hết
Tât cả thiện tâm.
Bồ Tát Bảo Tướng thuyết kệ khen:
Nay Ngài chỉ dùng
Trí tuệ trì giới
Thiền định, từ bi
Trang nghiêm tâm mình
Nên thường cứu độ
Tất cả chúng sanh
Kẻ đốt phá lành
Phỉ báng Thánh nhân.
Bồ tát Ly Khủng Bố Trang Nghiêm thuyết kệ khen:
Nay Ngài đã tu
Vô lượng hạnh khổ
Đều vì cứu hộ
Chúng sanh đời sau
Kẻ đốt thiện tâm
Sống theo tà kiến.
Bồ Tát Hoa Thủ thuyết kệ khen:
Ngài với đại bi
Trí tuệ tinh tấn
Giữa đại chúng này
Không ai sánh kịp
Cho nên cứu hộ
Các kẻ tà kiến
Bị ức ép bởi
Sanh, lão, bệnh, tử.
Bồ Tát Trí Xưng thuyết kệ khen:
Vô lượng chúng sanh
Nhiều loại bệnh khổ
Thường bị phiền não
Gió độc thổi đến
Nay Ngài thường đem
Nước đại trí tuệ
Tiêu diệt các ma
Phá thế lực chúng.
Bồ Tát Địa Ấn lại thuyết kệ khen:
Nay Ngài đã được
Tinh Tấn bền vững
Diệt sạch phiền não
Và được giải thoát
Chúng con chí thấp
Không thể bằng Ngài.
Bồ Tát Nguyệt Hoa thuyết kệ khen:
Tu tập bền vững
Dụng ý tinh tấn
Nương tựa công đức
Sanh lòng thương sót
Cho nên đời sau
Thường vì chúng sanh
Đoạn tuyệt ba nghiệp
Trói buộc ba cõi.
Bồ Tát Ly Cấu Nguyệt lại thuyết kệ khen:
Đạo Bồ Tát tu hành
Đại bi là trên hết
Lời nói không chấp tướng
Cho nên con kính lễ.
Bồ Tát Trì Lực lại thuyết kệ khen:
Đời ác năm trược
Nhiều bệnh phiền não
Ngài muốn giác ngộ
Phát nguyện bền vững
Vì các chúng sanh
Chặt gốc phiền não.
Bồ Tát Hỏa Man thuyết kệ khen:
Trí tuệ của Ngài
Cũng như kho báu
Thệ nguyện phát ra
Thanh tịnh vô cấu
Tu hành đạt được
Vô thượng Bồ đề
Chỉ vì chúng sanh
Làm vua thầy thuốc.
Bấy giờ, Bố Tát Hiện Lực cảm động rơi lệ, ở trước Phạm chí làm lễ sát đất, chắp tay thuyết kệ khen:
Ngài dùng đuốc sáng
Đại trí huệ này
Vì các chúng sanh
Trị bệnh phiền não
Cũng vì chúng sanh
Bần cùng thiếu thốn
Diệt trừ tất cả
Vô lượng khổ não
Thiện nam tử! Bấy giờ, ở trước Phạm chí, tất cả đại chúng Thiên, Long, Quỷ, Thần, Càn thát bà, nhân và phi nhân đem đầu mặt lễ xong, đứng dậy chắp tay cung kính, nói vô số pháp khen ngợi.
Phật bảo Bồ Tát Tịnh Ý:
Thiện nam tử! Khi ở trước Như Lai, Phạm chí Bảo Hải quỳ gối bên phải sát đất thì đại địa chấn động sáu cách. Tất cả thế giới trong mười phương nhiều như vi trần trong một cõi Phật cũng chấn động sáu cách. Có đại quang minh chiếu khắp thế gian, mưa vô số hoa Mạn đà la, hoa Ma ha mạn đà la, hoa Ba lợi chất đa, hoa mạn thù sa, hoa Ma ha mạn thù sa và có vô lượng ánh sáng chiếu khắp mười phương, như trong một cõi Phật. Chư Phật hiện tại khắp nơi nhiều như số vi trần trong các thế giới tịnh hoặc bất tịnh giảng thuyết chánh pháp cho tất cả chúng sanh. Chư Phật này đều có Bồ Tát ngồi nghe pháp. Thấy đại địa chấn động sáu cách, ánh sáng chiếu rực rỡ, mưa vô số hoa, các Bồ Tát này bạch Phật:
Bạch đức Thế Tôn! Vì sao đại địa nơi đây chấn động sáu cách, có ánh sáng rực rỡ và mưa vô số hoa?
Bấy giờ, ở phương Đông cách đây nhiều thế giới như số cát một sông Hằng, có thế giới Phật tên là Tuyển Trạch Trân Bảo. tại đó có Phật hiệu Bảo Nguyệt Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật Thế Tôn, hiện đang cùng vô lượng vô biên a tăng kỳ, v.v... các Đại Bồ Tát cung kính vây quanh thuyết pháp Đại thừa. Có hai Bồ Tát: một tên Bảo Tướng, hai tên Nguyệt Tướng, hướng đến Phật Bảo Nguyệt chắp tay cung kính bạch:
Kính bạch đức Thế Tôn! Vì sao đại địa rung động sáu cách, có hào quang sáng rực và mưa vô số hoa?
Khi ấy, đức Phật kia bảo hai Bồ Tát:
• Thiện nam tử! Ở phương Tây, cách đây nhiều thế giới như số cát một sông Hằng, ở đó có thế giới tên là San Đề Lam, có Phật Thế Tôn hiệu là Bảo Tạng Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật Thế Tôn, hiện đang thọ ký cho vô lượng vô biên chư Bồ Tát, v.v... thành Chánh Giác, nói về các quốc độ, chỉ dậy những cảnh giới Tam muội thiện nguyện trang nghiêm trong thế giới của chư Phật và các kinh nói về Đà la ni, trong đại hội kia có một Đại Bồ Tát tên Đại Bi, phát nguyện: “Nay con sẽ dùng tâm xông ướp đại bi nhận thọ ký thành Chánh Giác, vì các Đại Bồ Tát nên thị hiện thiện nguyện. Do đó, trước hết nên làm cho vô lượng vô biên các Bồ Tát, v.v... phát thệ nguyện lớn, nhận vô số thế giới trang nghiêm để điều phục chúng sanh”. Sự thành tựu đại bi của hai Bồ Tát này, đại chúng không ai sánh kịp, ở nơi đời ngũ trược điều phục kẻ tệ ác, nhiều phiền não, cứu giúp tất cả những kẻ ngũ nghịch, cho đến kẻ tu tập các căn chẳng lành, thiêu đốt thiện tâm. Các đại chúng thiên, long, quỷ, thần, nhân và phi nhân kia không cúng dường Phật mà lại cùng nhau đến và cúng dường thân tối hâu của Bồ Tát Đại Bi, đem đầu mặt đảnh lễ, đứng dậy cung kính chắp tay thuyết kệ khen ngợi...
Bấy giờ, ở trước Phật, Bồ Tát Đại Bi quỳ gối bên phải sát đất xin Phật thọ ký. Phật Thế Tôn kia liền mỉm cười, làm cho đất đai ở các thế giới nhiều như vi trần ở một cõi Phật trong khắp mười phương chấn động sáu cách, phóng hào quang lớn, mưa vô số hoa, thức tỉnh các Bồ Tát, v.v... Lại cũng chỉ dậy các đạo Bồ Tát. Phật Thế Tôn kia làm cho các Bồ Tát nhiều như vi trần ở mười phương đều tập họp đến, và thuyết pháp môn Vô úy, Tam muội Đà la ni cho các Đại Bồ Tát này. Thế nên đức Phật kia thị hiện vô số biến hóa như vậy.
Thiện nam tử! Hai Bồ Tát nghe việc này xong liền bạch Phật:
Bạch đức Thế Tôn! Bồ Tát Đại Bi này từ khi phát tâm đến nay trải qua thời gian bao lâu? Thời gian hành đạo Bồ Tát là bao lâu? Khi nào sẽ ở đời ngũ trược ác hàng phục, cứu giúp những chúng sanh phiền não sâu dầy, đấu tranh với nhau, gây nhiều ngũ nghịch, thành tựu cho tất cả những kẻ không có thiện căn, thiêu đốt thiện tâm?
Khi ấy, đức Phật kia bảo với hai Bồ Tát:
-Thiện nam tử! Bồ Tát Đại Bi ngày nay mới phát tâm thành Chánh Giác. Thiện nam tử! ông có thể đến chiêm ngưỡng Phật Bảo Tạng, cung kính cúng dường, lễ bái, hầu hạ, nghe các kinh nói về Vô úy, Tam muội Đà la ni, gặp Đại Bồ Tát Đại Bi và thay ta thưa: “Bảo Nguyệt Như Lai thành tâm thưa hỏi, dùng hoa Nguyệt quang tịnh này để Ngài làm tin”. Lại khen Bồ Tát Đại Bi: “Lành thay! Lành thay! Thiện nam tử! Ông mới phát tâm mà đã có thể thành tựu đại bi như vậy. Nay đã có vô lượng tiếng khen về ông đầy khắp vô số thế giới chư Phật trong mười phương như vi trần trong một cõi Phật, với lời nói: :Bồ Tát Đại Bi kia mới phát tâm mà đã có thể thành tựu đại bi như vậy”. Cho nên, này thiện nam tử, ta khen ngợi ông: Lành thay! Lành thay!”.
Lại nữa, thiện nam tử! Ông vì các Bồ Tát đời vị lai thành tựu đại bi nên nói đại bi, không đoạn tuyệt thiện nguyện, dựng ngọn cờ pháp cho nên được khen: Lành thay! Lành thay!
Lại nữa, thiện nam tử! Tiếng khen về ông sẽ vang đến tận đời vị lai, kéo dài đến vô số a tăng kỳ kiếp, nhiều như vi trần trong một cõi Phật, và dậy cho trăm ngàn ức vô lượng vô biên a tăng kỳ chúng sanh an trụ nơi Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, đến địa vị Phật không thối chuyển, hoặc phát thiện nguyện, hoặc nhận Tịnh độ, cứu giúp chúng sanh, tùy theo họ để giáo hóa, lại làm cho họ ở đời vị lai được thọ ký thành Chánh Giác. Chúng sanh như vậy đến đời vị lai, trải qua số kiếp như vi trần trong một cõi Phật, sẽ ở nơi số kiếp như vi trần một cõi Phật khắp mười phương, sẽ ở vô số thế giới chư Phật như vi trần một cõi Phật khắp mười phương được thành Chánh Giác, chuyển bánh xe chánh pháp, lại sẽ khen ngợi Bồ Tát Đại Bi, cho nên dùng các pháp khen ngợi này để khen ngợi ông: Lành thay! Lành thay!
Thiện nam tử! Bấy giờ cõi kia có chín mươi hai ức các Đại Bồ Tát đồng thưa:
Bạch đức Thế Tôn! Chúng con muốn đi đến cõi San Đề Lam chiêm ngưỡng Phật Bảo Tạng, lễ bái, cúng dường, cung kính, hầu hạ, nghe các kinh nói về Tam muội Đà la ni, Vô úy pháp môn và muốn chiêm ngưỡng Bồ tát Đại Bi.
Bấy giờ, đức Phật kia đem các pháp tán thán cùng hoa Nguyệt quang tịnh đưa cho hai vị Bồ Tát và bảo phải biết đúng thời.
Khi ấy, Bồ Tát Bảo Tướng, Bồ Tát Nguyệt Tướng nhận hoa Nguyệt quang tịnh của đức Phật kia rồi cùng với chín mươi hai ức Đại Bồ Tát, nhanh điện chớp, ẩn mất ở thế giới kia, và xuất hiện nơi cõi San Đề Lam, đến gặp Phật Bảo Tạng trong vườn Diêm Phù, lạy chân Phật, đem vô số Sư tử du hý mà các Bồ Tát đã được để cúng dường Phật. Bấy giờ, hai Bồ Tát kia thấy Phạm chí Bảo Hải cung kính chắp tay khen ngợi đại chúng; thấy xong, liền suy nghĩ: “Nay đại sĩ này phải chăng là Bồ Tát Đại Bi nên mới được Như Lai Bảo Nguyệt trao tặng hoa báu này?. Hai Bồ Tát ở trước Phật liền quay về phía Phạm chí, lấy hoa dâng lên và thưa:
Như Lai Bảo Nguyệt trao hoa đẹp này cho Ngài làm tin và ba pháp tán thán như đã nói ở trên.
Như vậy, vô lượng vô biên a tăng kỳ thế giới chư Phật ở phương Đông cũng sai vô lượng Đại Bồ Tát đến cõi San Đề Lam, đều dùng hoa Nguyệt quang tịnh và các pháp tán thán, ngoài ra như đã nói ở trên.
Thiện nam tử! Khi ây ở phương Nam , cách đây bẩy vạn, bẩy ngàn, trăm ngàn ức thế giới Phật, có thế giới Phật tên là Bảo Long Sư Tử Hống, có Phật hiệu Sư Tử Tướng Tôn Vương Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật Thế Tôn, đang thuyết pháp Đại thừa cho các Bồ Tát, cho hai Đại Bồ Tát:
1. Kim Cang Trí Tướng
2. Sư Tử Kim Cang Tướng.
Hai Bồ Tát này bạch Phật:
• Bạch đức Thế Tôn! Vì sao đất chấn động sáu cách? Có đại quang minh và mưa vô số hoa, giống như các Bồ Tát ở phương Đông? Lại nữa, vô lượng vô biên chư Phật ở phương Nam sai vô lượng Bồ Tát đến cõi San Đề Lam cũng như vậy.
Bấy giờ, ở phương Tây, cách đây tám vạn chín ngàn ức thế giới, có thế giới tên An Lạc, có Phật hiệu là Nhiếp Như Căn Tịnh Mục Như Lai hiện đang thuyết pháp Tam thừa cho bốn bộ chúng. Có hai Bồ Tát:
1. Hiền Nhật Quang Minh
2. Sư Tử Hống Thân.
Hai Bồ Tát này bạch Phật:
• Bạch đức Thế Tôn! Vì nhân duyên gì đất chấn động sáu cách, có ánh sáng lớn, mưa vô số hoa? Ngoài ra như đã nói ở trên. Vô lượng thế giới ở phương Tây cũng như vậy. Bấy giờ, ở phương Bắc, cách chín vạn trăm ngàn ức thế giới, ở đó có thế giới tên Thắng Chơn Bảo, có Phật hiệu là Thế Gian Tôn Vương Như Lai hiện đang thuyết pháp Đại thừa cho các bồ Tát. Có hai Bồ Tát:
1. Bất Đẳng Trụ
2. Đắc Trí Huệ Thế Gian Tôn Vương.
Hai Bồ Tát này bạch Phật:
• Bạch đức Thế Tôn! Vì sao đất chấn động sáu cách? Ngoài ra như đã nói ở trên. Vô lượng thế giới ở phương Bắc cũng như vậy.
Khi ấy, ở phương dưới, cách chín vạn tám ngàn, trăm ngàn ức na do tha thế giới, có thế giới tên Ly Ám Vụ, có Phật hiệu là Ly Khủng Bố Vi Nhiễu Âm hiện đang thuyết pháp ba thừa cho bốn chúng. Có hai Bồ Tát:
1. Nhật Tôn
2. Hư Không Nhật.
Hai Bồ Tát này bạch Phật:
Bạch đức Thế Tôn! Vì sao đất chấn động sáu cách? ... (Ngoài ra như đã nói ở trên. Thế giới phương dưới cũng lại như vậy.)
Hết quyển thứ bảy

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn