Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   
Bài mới nhất

Quyển 3

15/05/201316:49(Xem: 7518)
Quyển 3

Kinh Bát Nhã Lý Thú Phân Thuật Tán

Quyển 3

Hòa Thượng Thích Bảo Lạc

Nguồn: Hòa Thượng Thích Bảo Lạc dịch

Lúc bấy giờ đức Thế Tôn nương vào tướng sáng rỡ của Như Lai. Như trên phần thứ nhất nói rõ thật tướng pháp. - đây phần thứ hai nói pháp tánh vắng lặng của hàng Đẳng Giác, quán chiếu thể tánh, tiền cảnh; chân tánh này nêu rõ trí cũng có ba: 1/ phần tựa Phật nói tên của pháp môn. Môn phân làm hai: trước nói rõ thật tướng của Như Lai, sau nêu rõ tên của pháp Phật nói, đây là phần đầu. Không nói tướng mà nêu bản thể là tánh các pháp, phần sau là nghĩa nên gọi là tướng. Phật nói chung còn nói riêng thì rất đa năng. Giờ đây căn cứ một nghĩa là tướng Như Lai biến khắp. Tướng có nghĩa là tướng trạng, không nên nghĩ tướng như các tướng thường khác.
Trước nói pháp vô tướng, sau nói nghĩa vô tướng. Hết thảy trí hay tất cả chủng trí đoạn mê hoặc nên quán sát sâu hai trí này. Đối với các pháp hiểu rõ tường tận nên nói biến chiếu cùng khắp. Trí biến chiếu này là tướng Như Lai hiện ra. Nay y theo thể tướng nói pháp nên nói y tướng nói pháp gọi là y tướng biến chiếu khắp.
Phật vì chư Bồ tát nói Bát Nhã Ba La Mật Đa là pháp tánh thanh tịnh của chư Phật làm cho hàng Bồ tát hiểu chỗ lý thú của đẳng giác. Đây nêu rõ tên pháp môn muốn thuyết mà chư Phật do nơi pháp tánh vắng lặng nhiệm mầu lý thú. Trước nói thật tướng pháp vi diệu là chư Phật thanh tịnh vi diệu thậm thâm lý thú. Phật hiện đẳng giác là hiển hiện cho trông thấy rõ nghĩa thật chữ "đẳng" có nghĩa là khắp, giác là chiếu. Ý nầy nhắm vào trí vô phân biệt làm sáng tỏ pháp tánh biến chiếu khắp cùng. Thể của Đẳng giác là trí vô phân biệt. Môn có nghĩa thông suốt vào chỗ lý thú. Dùng pháp năng quán thâm nhập lý thú pháp tánh. Trí vô phân biệt do giáo pháp sâu mầu đây mà nhập vào đẳng giác.
Kim Cang tánh bình đẳng thể hiện đẳng giác dùng đại Bồ đề kiên cố dụ như Kim Cang khó hư hoại. Phần hai nêu lên có bốn môn: 1/ tánh năng đoạn sanh tử kiên cố nên nói tánh Kim Cang bình đẳng. Hiện Đẳng giác để phá diệt sanh tử: hay đó cũng chính như là kim cương. Dùng trí tu pháp tánh chứng quả Bồ đề bền vững chân thật khó hư hoại như chất kim cương nên thâm nhập trí tức là trí kim cương. Kim Cang Bát Nhã gọi tắt là Kim Cang. Do chỗ tu chứng được chân tánh chân thật nên trí thông suốt như kim cương bền chắc hay phá diệt sinh tử.
Tánh bình đẳng cũng có nghĩa Đẳng giác cùng đại Bồ đề là một vậy. 2/ quán sát trí sở duyên, tức là tất cả pháp hữu vi, vô vi đều bình đẳng. Pháp tánh chân như, Bồ đề cùng một nghĩa vì bản tánh đồng không khác.
Pháp tánh bình đẳng là Đẳng giác mà tự tánh là đại Bồ đề thanh tịnh. 3/ quán sát trí năng duyên là nhờ ngộ được chân tánh đại Bồ đề tự tánh thanh tịnh, tức là ngộ được tánh bình đẳng. Kinh nói: tất cả pháp tánh bình đẳng "hiện Đẳng giác đạt đại Bồ đề đối với các pháp không phân biệt". 4/ Phần bốn nói trí thông suốt tất cả pháp. Tất cả pháp gồm pháp hữu vi, pháp vô vi đều hiện trong Đẳng giác. Bản tánh các pháp thì không có sự phân biệt. Ngộ được trí, hiểu rõ tất cả mọi pháp cũng không có sự phân biệt. Cho nên bản tánh pháp vốn bình đẳng, như mây mưa trong bầu trời gặp gió thì những hiện tượng nổi lên, hư không và gió không phân biệt được mây và những hiện tượng ấy.
Phật nói Bát Nhã lý thú thanh tịnh như thế là hiện Đẳng giác. Phần ba sau tóm lược công đức nói pháp như là phần kết thúc.
Phật bảo ngài Kim Cang Thủ cùng chư Bồ tát rằng: như người nào nghe được bốn loại Bát Nhã lý thú hiện đẳng giác này mà tin hiểu, thọ trì, đọc tụng, tu tập cho đến khi đạt được giác ngộ, dù đã tạo những nghiệp ác sâu nặng cũng thoát khỏi đường ác mau chứng vô thượng chánh đẳng Bồ đề. Đây là tán thán công đức mà trong kinh có nêu rõ 10 pháp thực hành, song đây chỉ nói lược sáu pháp như sau: 1/ nghe, 2/ tin hiểu, 3/ thọ trì, 4/ đọc, 5/ tụng, 6/ tu tập.
Từ vô thỉ cho đến ngày nay thực hành 10 pháp ấy đến đời vị lai tới khi chứng quả thành Phật, dù có tạo những nghiệp ác cực trọng như tà kiến, ngũ nghịch, phá hòa hợp tăng v.v... nhưng biết thức tỉnh những điều đã tạo thì không bị nhi-m mà thoát ra khỏi các đường ác. Nhờ nghe kinh thực hành tu tập mà có oai lực thần diệu làm tiêu những ác nghiệp đã tạo như thế không phát sanh nên không đọa trong ba đường ác. Đến khi chứng quả vô thượng Bồ đề thì công đức đây giống như đã nói trước không khác, song muốn tán thán công đức diệu dụng tuyệt vời của kinh này nên phải nói rõ thêm.
Lúc bấy giờ đức Thế Tôn, đã hàng phục hết mọi việc ác, là tướng của Như Lai Phật Thích Ca Mâu Ni. Phần sau đây phân ra hai đoạn như trong Kinh có nói rõ. Hai đoạn ấy như sau: 1/ Pháp điều phục những việc ác hơn hết, do nhờ quán thật tướng các pháp nên d- dứt trừ được chúng, 2/ bình đẳng trí ấn là pháp thanh tịnh do nhờ quán sát trí huệ sáng suốt. Trong đoạn một có ba: 1/ nêu rõ pháp môn đã thuyết. Trong đây lại chia thành hai: phần trước y tướng Như Lai. Tất cả pháp ác là hai chướng: phân biệt nhân quả, phân biệt nhi-m tịnh mà h- có phân biệt đều phải dứt trừ. Thích Ca có nghĩa là năng nhân, Mâu Ni là tịch mặc. Năng là điều phục việc ác xa hẳn mọi xáo trộn. Mọi sự xáo trộn là pháp sanh tử, nên Phật hiện tướng là năng nhân tịch mặc. Y pháp đây điều phục tất cả việc ác thành tướng Như Lai thanh tịnh.
Vì chư Bồ tát mà nói Bát Nhã Ba La Mật Đa bao hàm các pháp tánh bình đẳng là pháp tuyệt vời vô cùng lý thú. Phần này nêu rõ pháp môn Phật đã nói. Bao hàm các pháp tánh bình đẳng là nói chung pháp nhi-m, tịnh, nhân, quả đều nhập vào pháp giới tánh bình đẳng. Vì vậy nên vượt trên tất cả điều ác và pháp này gọi là pháp môn vượt trên tất cả.
Không thể nghĩ bàn tánh tham dục, cũng không thể bàn tánh nóng giận. Tánh nóng giận không thể luận bàn nên tánh ngu si cũng không luận bàn. Ngu si không thể luận bàn nên tánh do dự cũng không luận bàn. Tánh do dự không thể luận bàn nên tánh tà kiến cũng không luận bàn. Tánh tà kiến không luận bàn nên tánh kiêu mạn cũng không luận bàn. Từ đây trở lui phần thứ hai là phần chánh, trong đó gồm ba: 1/ nói về nghiệp khổ sanh tử vô vàn không thể luận bàn. 2/ nêu pháp nhi-m tịnh không thể luận bàn, 3/ nói về trí tuệ (Bát Nhã) cũng không thể luận bàn. Nói chung về nghĩa lý vô cùng thâm diệu. Phần hai cũng có ba: 1/ nêu rõ phiền não tánh không luận bàn, 2/ nêu rõ nghiệp, 3/ nêu rõ quả. Phiền não có hai: 1/ căn bản phiền não, 2/ tùy phiền não. Căn bản phiền não là gốc r-; sáu món căn bản này làm gốc cho những món phiền não khác nương đó sanh trưởng mà bản tánh nó là tham dục. Nói không thể luận bàn vì các pháp nhi-m tịnh đều là chân như. Thể của chân như là pháp vô hý luận. Hý luận bao hàm tướng phân biệt, tướng nói bàn suy nghĩ tìm tòi. Do hý luận nên chấp phân biệt nhi-m tịnh, vì phân biệt nhi-m tịnh nên sanh tử sanh. Không hý luận thì nhi-m tịnh không sanh, nhi-m tịnh không sanh là tánh vô phân biệt, vô phân biệt nên sanh tử diệt; sanh tử diệt là trừ hết xấu ác, ba độc và như thế mà rõ biết. Do dự tức nghi; kiến chấp có hai: 1/ kiêu, tức kiêu ngạo, 2/ mạn có 7 thứ mà mục đích là lăng nhục người khác. Sáu căn vốn bản tánh chân như, tức tánh vô hý luận. Vì vô hý luận nên lìa mọi phân biệt. Hợp tánh lìa mọi phân biệt đây nên không còn hý luận thì phá trừ pháp ác.
Tánh kiêu mạn không thể luận bàn nên những sự buộc ràng cũng không thể luận bàn. Những sự buộc ràng không thể luận bàn nên tánh phiền não cấu nhi-m cũng không thể luận bàn. Đây là do mê hoặc. Triền là thắc buộc tăng dần lên quấn chặc tâm nên gọi là ràng buộc. Có 8 thứ buộc như: dã dượi, mê ngủ làm ngăn chướng; trạo cử, ác tác làm chướng đạo, tật và xan làm ngăn dứt xã, vô tàm, vô quý làm trở ngại việc giữ giới. Cấu nhi-m có 6 loại: hại, hận, não, si-m, cuống, kiêu. Những món này làm ô nhi-m chúng sanh nên gọi là cấu. Sáu món phiền não này tướng thô làm tiêu hủy thiện pháp đã có nên gọi là cấu nhi-m.
Bản tánh phiền não là ô nhi-m nên không thể luận bàn; những ác nghiệp cũng không thể luận bàn. Ác nghiệp không thể luận bàn nên mọi quả báo cũng không thể luận bàn. Như trên đã nói mê hoặc không thể luận bàn thì nghiệp quả cũng thế. Nói tóm lại, việc sanh tử thì không thể luận bàn suông. Lãnh hội được cái không luận bàn thì không sanh tử, và những pháp xấu ác.
Mọi quả báo thì không thể nghĩ bàn nên các pháp tạp nhi-m cũng không thể nghĩ bàn. Pháp tạp nhi-m không thể nghĩ bàn nên pháp thanh tịnh cũng không thể nghĩ bàn. Pháp thanh tịnh không luận bàn nên hết thảy các pháp đều không luận bàn. Phần này nêu rõ các pháp nhi-m tịnh không thể nghĩ bàn. Các pháp nhi-m nói chung là tất cả pháp phiền não hữu lậu phức tạp. Các pháp thanh tịnh nói chung là các pháp vô lậu. Nói tất cả pháp là bao hàm các pháp hữu lậu, vô lậu, hữu vi, vô vi, sanh tử, chúng sanh. Trước nói pháp nhi-m sau là tịnh; trước riêng, sau chung mà nghĩa thì theo thứ tự.
Tất cả các pháp không thể luận bàn suông, nên biết Bát Nhã Ba La Mật Đa không luận bàn. Quán sát cảnh không thể luận bàn nên quán sát trí cũng không thể luận bàn mà biết nó là như thật. Cảnh trí đã không thể luận bàn nên lìa hết mọi phân biệt sanh tử, các pháp xấu ác đều hàng phục.
Phật nói điều phục xấu ác bằng trí tuệ tinh vi như thế là pháp thù thắng hơn cả. Phần sau là tán thán công đức kinh này như phần tóm lược ở trước đã nói.
Phật bảo ngài Kim Cang Thủ: này chư Bồ tát, nếu có người nào nghe được trí tuệ Bát Nhã siêu việt lý thú này mà tin hiểu, thọ trì, đọc tụng, tu tập, giả như bị sát hại trong ba cõi thì những chúng sanh ấy không bị đọa địa ngục, ngạ quỉ, súc sanh. Vì đã chế phục căn bản phiền não và tùy phiền não, những nghiệp ác v.v... Nhờ thần lực của kinh này điều phục những việc xấu ác nên lỡ có phạm tội sát hại cũng tiêu trừ. Do ngộ được pháp mà khởi hạnh thù thắng như thế nên dù phạm tội nặng cũng không đưa đến quả xấu ác. Nhờ thần lực kinh này nên khéo điều phục được căn bản phiền não và tùy phiền não, ác nghiệp v.v... hoặc giả có bị tội cũng không đưa đến quả ác. Những mối kết buộc thắc chặc chúng sanh vào những nghiệp thô trọng bất thiện; nhờ tu tập thiền chỉ quán mới có thể giải thoát được mọi ác nghiệp do phiền não phát sanh ra. Tất cả phiền não do phân biệt khởi. Giờ xa lìa hý luận tức đoạn dứt các món phân biệt. Phân biệt đã đoạn thì các ác nghiệp cũng tiêu dứt. Nếu ác nghiệp phân biệt còn thì việc nghe kinh thâm hiểu chắc chắn không thể được.
Sanh vào cõi thiện được an lạc tuyệt đối tu hạnh Bồ tát, đại Bồ tát mau chứng vô thượng chánh đẳng Bồ đề. Phần trước nói về cách trừ điều ác, phần sau nói tu các pháp lành, có hai quả: 1/ quả thế gian, 2/ quả xuất thế gian.
Lúc bấy giờ đức Thế Tôn nương nơi thân tướng thanh tịnh của Phật mà nói pháp Bát Nhã Ba La Mật Đa cùng chư Bồ tát. Tất cả pháp tánh bình đẳng vô ngại tự tại là pháp môn thanh tịnh lý thú trí ấn vô ngại. Đoạn này là tự quán chiếu trí tuệ soi sáng để thấy rõ các cảnh giới. Toàn câu có ba ý như trước đã giải thích. Nhờ quán sát nên biết bản tánh các pháp thanh tịnh, hẳn xa lìa tướng phân biệt là hoàn toàn thanh tịnh. Mọi pháp tánh đều bình đẳng tức chân như quán thực hành lòng bi vô ngại. Trí ấn vi diệu là trí hạnh; hay quán vô ngại tức là diệu trí ấn, in sâu dấu ấn mọi pháp đều bình đẳng như trên đã đề cập.
Nói mọi tham dục vốn thanh tịnh sáng suốt nên sân giận ở đời cũng thanh tịnh. Mọi sân giận vốn thanh tịnh rỗng suốt nên ngu si cũng thanh tịnh. Ngu si bản tánh thanh tịnh vô cùng sáng suốt làm cho sự nghi hoặc đều thanh tịnh. Bản tánh ngu si hoàn toàn thanh tịnh sáng suốt làm cho mê lầm ở đời cũng thanh tịnh sáng suốt. Hết thảy mê lầm vốn thanh tịnh sáng suốt nên kiến chấp ở đời đều thanh tịnh. Mọi kiến chấp vô cùng thanh tịnh sáng suốt làm cho tánh kiêu mạn cũng thanh tịnh. Đoạn này có ba ý cũng giống như trước đã nói. Đoạn trên đề cập về cảnh, đoạn này về trí soi sáng các phần trên. Nói bản tánh tham dục là chân như thanh tịnh thì cảnh vô cùng trong sáng. Tánh hay soi sáng là thuộc về trí, tánh tham dục thì sanh ra sân si v.v...
Hết thảy kiêu mạn bản tánh thanh tịnh vô cùng sáng suốt khiến những ràng buộc thế gian thanh tịnh. Những ràng buộc bản tánh thanh tịnh vô cùng sáng suốt làm cho cấu nhi-m thanh tịnh. - đây nêu rõ bản tánh tùy phiền não vô cùng thanh tịnh sáng suốt. Về triền cấu v.v... trước đã giải rõ. Gọi là kết gồm có 9 thứ: ái, khuế (nhuế), mạn, vô minh, kiến-thủ, nghi, tật, xan, kết. Kết là buộc chặc mà chỉ có hòa hợp mới có thể giải được khổ nạn.
Tất cả những pháp xấu ác bản tánh thật thanh tịnh sáng suốt khiến những việc ác ở đời cũng thanh tịnh. Mọi pháp ác thật vô cùng thanh tịnh sáng suốt khiến vấn đề sanh tử cũng thanh tịnh. Phần trên nói mê lầm, phần này nêu nghiệp quả. Do nghiệp sanh tử bức bách đưa lại nghiệp quả là mọi xấu ác. Sanh tử là quả dị thục tức là ác nghiệp đã tạo đưa tới quả khổ hiện tại.
Sanh tử bản tánh thanh tịnh vô cùng sáng suốt khiến mọi pháp thế gian đều thanh tịnh. Pháp thế gian là pháp nhi-m bao hàm các pháp hữu lậu, như phần hai sau nói chung là hết thảy mọi pháp.
Mọi pháp bản tánh thanh tịnh vô cùng trong sáng khiến chúng sanh ở đời thanh tịnh. Do pháp hữu lậu mà thành chúng sanh, nên sau khi hữu lậu hết thì chúng sanh thanh tịnh. Tất cả chúng sanh bản tánh thanh tịnh vô cùng sáng suốt làm cho Nhứt thiết trí thanh tịnh. Nhứt thiết trí xuất thế gian vốn thanh tịnh nên mọi pháp đều thanh tịnh. Ba thừa cùng quán các pháp vô ngã bằng nhứt thiết trí này.
Hết thảy trí bản tánh thanh tịnh hoàn toàn sáng suốt làm cho trí Bát Nhã siêu việt thanh tịnh tuyệt vời. Phần này về trí tuệ Bát Nhã thanh tịnh có thể soi sáng các pháp bản tánh thanh tịnh nên trí tuệ quán chiếu thanh tịnh hơn hết hợp với cảnh duyên vô cùng thích ứng. Kinh giải: Phật thuyết trí tuệ Bát Nhã lý thú bình đẳng thanh tịnh là như thế. Phần sau nói rõ đức thù thắng của kinh. Trí bình đẳng là đối với các pháp không thể luận bàn mà dùng trí quán sát tức là bình đẳng trí ấn.
Phật bảo Bồ tát Kim Cang Thủ: như có vị Bồ tát nào được nghe trí tuệ Bát Nhã Ba La Mật Đa lý thú thanh tịnh như thế mà tin hiểu, thọ trì, đọc tụng, tu tập thì có bị những thứ tham, sân, si, hoặc trần lao phiền não, cấu nhi-m vẫn như đóa sen; không bị khách trần cấu uế làm ô nhi-m tội lỗi. Do trí quán sát xem xét các pháp nhi-m tịnh bản tánh thanh tịnh nên ở trong phiền não vẫn không nhi-m ô, nhận chân được bản tánh, nên ở đây nói là lìa hết các lỗi lầm.
Thường phải chuyên tu tập hạnh nguyện Bồ tát ắt hẳn mau chứng được vô thượng chánh đẳng Bồ đề.
Phần giải thích đây nói về quả thiện là nhờ tu tập pháp lành mà ngộ được chân trí, ấy chính là thực hành hạnh Bồ tát, sau khi chết sớm chứng quả giải thoát.
Lúc bấy giờ đức Thế Tôn nương vào tướng Như Lai, bậc tam giới chủ siêu việt. Phần sau, sáu cảnh chia hai đoạn: quả tu chứng về cảnh giới. Trong đây chia hai phần: 1/ Pháp môn quán đảnh của bậc Pháp vương (Phật) tu tập hai hạnh mà đạt được quả vị, 2/ trí ấn Phật là pháp Kim Cang biểu hiện hai hạnh đạt được chân tánh (tự thể). Phần thứ nhất có ba ý nghĩa tiêu biểu như đã giải. Trước hết nêu rõ pháp môn Phật thuyết, trong đó lại chia làm hai: 1/ tướng Như Lai nương vào chỗ sở y, 2/ nói rõ tên của pháp đem giảng. Đây là phần thứ nhất về ba cõi bất an như ngôi nhà tạp nhơ gồm những phiền não, độc trùng, ác thú, khổ bức với lửa dữ hừng hực cháy; đủ thứ sợ hãi làm cho chúng sanh lo lắng bất an. Phật Thế Tôn như ông trưởng giả thương xót các con tìm mọi cách cứu giúp đưa chúng ra khỏi nhà lửa tam giới. Phật Thế Tôn vì thế được tôn xưng là chủ ba cõi. Phật là Pháp vương cũng gọi là thắng chủ, nương nơi địa vị tôn quý mà Phật thuyết pháp giáo hóa chúng sanh.
Vì chư Bồ tát Phật thuyết trí tuệ rốt ráo siêu việt mà tất cả chư Phật hòa hợp quán đảnh lý thú tuyệt vời là pháp trí tạng. Phần này nêu rõ tên pháp đã thuyết; hàng Thập địa đã được địa vị Pháp vương của Phật. Hết thảy chư Phật mười phương cũng hòa hợp trong pháp quán đảnh, như vua Sát Đế Lợi nhận l- đăng quang. Các vị Bồ tát nay được thọ địa vị tôn quý của Phật thì dùng nước pháp gì làm l- quán đảnh để được an lành?
Vì trí tuệ chư Phật là trí siêu việt sanh ra các đức bao hàm hết thảy mọi đức như kho tàng vậy. Đem trí tuệ này quán chiếu lên đảnh chư Bồ tát làm cho hai chướng từ vô thủy dứt sạch cấu nhi-m. Hết thảy chư Phật đều thành tựu đầy đủ kiết tường công đức. Nên nay nói pháp trí tuệ siêu việt này khiến người y theo chỗ lý thú mà vào gọi là môn vậy.
Dùng phép quán đảnh thông thường ban rãi còn được ngôi vị pháp vương ba cõi, còn đem pháp xuất thế gian tối thượng ban rãi thì được thành tựu mọi tâm nguyện. Đem pháp xuất thế gian vô thượng ban rãi nơi mọi pháp thì được trí tự tại. Như đem các thứ của cải, thức ăn ... bố thí thì được thân, miệng, ý an lạc. Nếu đem cả tài lẫn pháp bố thí tâm không thoái chuyển thì mau được viên mãn Bồ Đề. Từ đây trở đi nêu rõ pháp môn đã thuyết: pháp lục độ. Lục độ không giống nhau tùy theo mỗi trường hợp mà phân thành sáu pháp. Riêng việc bố thí có 5 cách: 1/ vị thí, 2/ nghĩa thí, 3/ pháp thí, 4/ tài thí, 5/ vô úy thí. Trong 5 cách thí này mỗi thứ đều có một số kết quả, song ở đây chỉ lược nêu 5 kết quả thôi. 1/ Từ bỏ địa vị giàu sang tu hành cẩn thận đạt được Phật quả là Pháp vương ba cõi. 2/ Do bố thí hợp tình hợp lý mà đời sau mọi nguyện ước đều thành tựu viên mãn. 3/ Nhờ bố thí pháp nên hiểu tường tận Phật pháp. 4/ Do bố thí của cải, thức ăn mà ba nghiệp vẹn toàn, kiếp sau ba nghiệp được thanh tịnh. 5/ Nếu dùng các món tài, pháp v.v... bố thí, tức là đem của cải, giáo pháp trợ giúp chúng sanh khiến họ không sợ sệt là vô úy thí. Kinh Phát Bồ Đề Tâm nói: muốn thực hiện hạnh bố thí của cải cần yếu phải phát năm tâm này: 1/ chí tâm, 2/ tín tâm, 3/ tùy thời, 4/ tự tay mình làm, 5/ đúng pháp. Như phương ngôn có câu: người thí phải cương quyết, tín tâm đủ mãnh liệt. Trong lúc bố thí phải tỏ thái độ cung kính, hợp thời và chính tự tay mình làm việc này. Lại có câu phương ngôn:
Lợi tha ban rãi khắp chúng sanh
Chẳng quản khó, giàu chỉ chút tình ...
Trong mọi lúc mọi thời việc bố thí tùy khả năng có thể nói pháp rộng cho nhiều người được lợi lạc nên bố thí năm loại sau đây:
1/ Không bố thí của cải phi pháp, những đồ bất tịnh,
2/ Không ban phát rượu và chất độc (độc tố) làm chết người,
3/ Không ban rãi bẩy, động cơ, lưới làm tổn hại chúng sanh,
4/ Không ban dao gậy, cung tên để làm hại sinh vật,
5/ Không ban âm nhạc, nữ sắc làm bại hoại tâm trong sạch của người.
Bố thí được 5 điều lợi lạc:
1/ Thường được thân cận các bậc hiền thánh,
2/ Chúng sanh ưa thích muốn gặp,
3/ - trong chúng được mọi người tôn kính,
4/ Tiếng tốt đồn xa,
5/ Gieo nhân giải thoát.
Bồ tát Vô Trước nói: Nên tu theo sáu pháp tâm ý an lạc: 1/ tâm quảng đại, 2/ bền bỉ lâu dài, 3/ hoan hỷ, 4/ nhớ ơn, 5/ chí lớn, 6/ thuần thiện. Trong 6 pháp trên phải phát khởi ba tâm: 1/ mến trọng, 2/ tùy hỷ, 3/ ưa thích với niềm vui. Người nghe 6 pháp trên rồi phát tâm niệm nghĩ thì phát sanh vô lượng phước báu, bao nhiêu nghiệp ác cũng đều tiêu sạch, huống nữa chư Bồ tát ư ?
Thọ trì những giới răn thanh tịnh khiến trí tuệ siêu việt được thanh tịnh chóng thành tựu viên mãn. Nhẫn nhục trong việc tu tập làm cho trí tuệ siêu việt sớm được thành tựu. Trong mọi lúc mọi thời tinh tấn tu tập làm cho trí tuệ siêu việt mau được viên mãn. - trong mọi hoàn cảnh tinh chuyên thiền quán làm cho trí tuệ siêu việt thanh tịnh thuần thiện chóng được viên mãn. Đối với các pháp cần dùng trí tuệ quán chiếu làm cho trí tuệ siêu việt chóng được thành tựu viên mãn. Ba loại giới pháp đều được viên thành, cho dù bện cỏ, kết ngọc cũng không cho hủy hoại. Giới đến những ba loại chẳng phải một nên nói nhiều loại. Tu hành là tất cả mọi sự mọi việc đều nên nhẫn, trong mọi lúc cần phải nổ lực không biết chán mỏi. Trong mọi hoàn cảnh đều giữ thiền quán để tâm không tán loạn. Đối với các pháp phải vận dụng trí tuệ để chọn lựa cho thích hợp. Tu pháp lục độ sẽ đạt được 6 kết quả: 1/ giàu sang, 2/ sanh nhà tôn quí, 3/ quyến thuộc đông đúc, 4/ thành tựu đại sự nghiệp, 5/ không bị phiền não ô nhi-m, 6/ đạt được ngũ minh. Hay như trong Nhiếp Đại Thừa Luận nói thì có thể thực hiện được nhiều điều lợi lạc.
Phật nói pháp quán đảnh Bát Nhã lý thú trí tạng pháp môn như thế xong liền bảo Bồ tát Kim Cang Thủ, nếu có người nào nghe được pháp quán đảnh vi diệu lý thú trí tạng môn này mà tin hiểu, thọ trì, đọc tụng, tu tập thì sớm thành tựu hạnh Bồ tát, mau đạt được quả vô thượng chánh đẳng Bồ đề. Do nghe pháp lục độ tu tập hạnh Bồ tát mong cầu đạt quả giải thoát ắt sớm được thành tựu.
Lúc bấy giờ đức Phật lại nương nơi trí ấn của chư Phật hành trì những pháp môn ẩn mật của tất cả các đức Phật với thân tướng Như Lai, vì chư Bồ tát tuyên nói trí tuệ siêu việt mà tất cả chư Phật đều nương nơi trí ấn tuyệt vời lý thú Kim Cang ấy.
Đoạn này luận về trí ấn pháp môn Kim Cang của chư Phật nêu rõ hai pháp thực hành đạt đến kết quả. Trong kinh văn có ba phần như đã giải thích ở trên.
1/ Phần thứ nhất nêu rõ tên pháp môn Phật thuyết. Dùng diệu trí vận chuyển pháp vi diệu của chư Phật. Giáo pháp Phật cao siêu cũng khó mà lãnh hội hết được thể tánh nên nói bí mật. Dùng một môn trí ấn đây thọ trì Phật pháp. Tất cả Phật pháp tụ vào trí ấn này nên nói vận chuyển. Phật nói pháp khiến chúng hội ân cần thâm nhập để phá trừ sạch sanh tử đều do trí tuệ rắn chắc như kim cương này.
Nếu ai nhiếp thọ đầy đủ thân ấn Kim Cang chư Phật hẳn chứng nhập pháp thân Phật. Nếu ai nhiếp thọ đầy đủ ngữ ấn Kim Cang chư Phật trong các pháp thì được an lạc tự tại. Do nhân Phật thực hành ba nghiệp thuần thanh tịnh tới khi đạt kết quả là pháp thân Kim Cang vậy.
Nếu ai giữ gìn đầy đủ tâm ấn Kim Cang chư Phật trong thiền định nên được sức tự tại. Nếu ai nhiếp thọ đầy đủ trí ấn Kim Cang chư Phật thì được thân-khẩu-ý bền vững như kim cương bền chắc bất động. Từ trong nhân ứng dụng đầy đủ trí Kim Cang nơi ba nghiệp nên đạt được kết quả là thân-khẩu-ý thuần thiện tuyệt đối. Như kim cương cứng chắc không bị bạn xấu ác sách nhi-u; cũng không bị sanh tử làm hại được. Trong phần này ý nói rằng tu tập ba nghiệp riêng mà cái nhân thù thắng như thế ắt đạt được 3 quả cũng như vậy. Thực hành một trong ba nghiệp mà được kết quả như thế huống gì hoàn tất đủ cả ba nghiệp thì sức bền chắc như Kim Cang không thể hư hoại được.
Phật nói Bát Nhã Kim Cang lý thú trí ấn xong bảo Bồ tát Kim Cang Thủ cùng chư Bồ tát: nếu người nào nghe được trí ấn Kim Cang lý thú này mà tin hiểu, thọ trì, đọc tụng, tu tập thì mọi việc làm đều được thành tựu, thường được những việc thù thắng hợp với ý nguyện tu tập trí tuệ và bao nhiêu phước nghiệp đều được thành tựu viên mãn. Phần này tán thán công đức kinh. Tất cả mọi việc đều thành tựu, nghĩa là không còn một việc xấu ác mà thuần hợp với việc thiện. Thường được những việc thù thắng cũng như được những việc thuần thiện ở hiện tại và tương lai, xa lìa những sự suy thoái hư hoại, và việc tu phước huệ sớm thành tựu viên mãn. Đó là do cái nhân lành mà được quả thù thắng như thế.
Được thân, khẩu, ý thanh tịnh tuyệt vời bền chắc như Kim Cang khó thể hư hoại nên mau chứng quả vô thượng chánh đẳng Bồ đề. Đây nói chỗ đạt được quả vị cao tột ở vị lai.
Lúc bấy giờ đức Thế Tôn nương pháp không hý luận, từ thân Phật vì chư Bồ tát nói trí tuệ siêu việt vô cùng lý thú này là pháp luân chuyển. Sáu đoạn kinh trên nói rõ cảnh giới thù thắng. Sáu đoạn sau nêu các hạnh thù thắng, cũng có thể phân thành ba. Hai đoạn trước nêu lên tướng phải đoạn, tướng cần tu, hai đoạn kế nêu rõ pháp quán chiếu tu tập để dứt các tướng, hai đoạn sau: y theo hai pháp phổ thông tu hành. Nói chung, hai đoạn đầu nêu thật tướng đoạn diệt trong đó có hai: trước nhất là lìa mọi hý luận, pháp tự luân, quán chân như đoạn trừ phân biệt. Sau quán tánh bình đẳng tu chứng pháp chân. Đoạn sau được phân làm ba phần: 1/ nêu rõ pháp Phật nói, lại phân làm hai: nói rõ tướng chư Phật nương tựa. Pháp tánh chân như lìa mọi phân biệt, 2/ xa lìa tất cả mọi ngôn thuyết, 3/ không hý luận là nương tướng pháp thân. Pháp tự luân, chữ luân có hai nghĩa: 1/ bao trùm khắp cả, 2/ thôi hoại. Quán sát tánh chân như không hý luận đến tất cả mọi pháp được châu viên. Do quán nên lìa hết phân biệt, chấp trước, phá diệt sanh tử gọi là thôi hoại. Chữ luân này đúng lý là pháp môn, tức tự luân, dạy rõ chỗ tu tập là môn do nghe lời giáo huấn đây mà khởi niệm tu hành. Đã khởi niệm tu hành ắt được quả viên thành, đã được quả lại được chuyển sang người khác và như thế cứ tiếp tục luân chuyển mãi.
Hết thảy các pháp đều không, vô tự tánh nên mọi pháp vô tướng. Lìa hết mọi tướng nên các pháp vô nguyện vì vô nguyện nên không mong cầu. Phần sau đây chia làm bốn nêu rõ chỗ Phật đã nói. Ba phần đầu về giải thoát môn với tánh biến kế chấp (24) thảy đều không, viên thành thật (25) vô tướng, y tha khởi (26) vô nguyện. Ba giải thoát môn thông với ba tánh. - đây chỉ nêu hai là chân và vọng, cả hai thông với ba tánh cho nên không còn ngã có tên không mà xa lìa luôn 10 danh vô tướng, cũng không còn danh vô nguyện.
Hết thảy mọi pháp xa lìa không còn vướng mắc nên hoàn toàn vắng lặng tự tại. Đây là phần nói về lìa chấp lìa sanh.
Hết thảy mọi pháp vô thường, bản tánh luôn luôn là không nên chúng bất an cũng như luôn luôn chẳng an. Các pháp vô ngã, không tự tánh nên bất tịnh, vì xa lìa bản tánh thanh tịnh. Đoạn trên nói lìa bốn lối chấp điên đảo.
Tất cả mọi pháp bất khả đắc, vì suy tầm bản tánh chúng không thể được cho nên pháp khó thể nghĩ bàn. Bản tánh các pháp vô sở hữu nên pháp không có chủ tể. Các pháp do các duyên giả hợp thành nên không thể luận bàn suông. Bản tánh các pháp vắng lặng lìa hết nói năng cho nên thanh tịnh vi diệu Bát Nhã Ba La Mật Đa, là bản tánh vắng lặng. Đây nói về xa lìa mọi chấp trước. Không chấp thì không có sở đắc. Tâm tìm cầu, luận về ngôn thuyết không thể nghĩ bàn mà mượn pháp giả lập không thực hữu. Pháp vốn lìa nói năng, không nói bàn suông, vì bản tánh các pháp là thanh tịnh. Thật tướng trí Bát Nhã vắng lặng cho nên pháp tánh đây đối với mọi pháp bản tánh đều là không.
Phật nói, như thế phải xa lìa nói bàn pháp trí tuệ lý thú tự luân, rồi bảo Bồ tát Kim Cang Thủ, cùng chư Bồ tát: nếu có người nghe pháp không thể nghĩ bàn trí tuệ lý thú tự luân này mà tin hiểu, thọ trì, đọc tụng, tu tập đối với mọi pháp được vô ngại thì mau chứng được chánh đẳng Bồ đề. Phần này tán thán công đức kinh thù thắng đạt được pháp tánh không, nên đối với các pháp được vô ngại trí.
Lúc đó đức Thế Tôn y pháp chư Phật mà hiện thân, vì chư Bồ tát nói trí tuệ Bát Nhã Ba La Mật sâu vào đại luân, là pháp bình đẳng lý thú vô cùng. Phần này nói nhập vào quảng đại luân là pháp bình đẳng. Do quán sát bình đẳng đạt lý chân. Trong ba pháp tiêu biểu đã nói tên pháp môn, trước nói rõ tự luân mà chưa minh định pháp nào. Nay nêu rõ các pháp chân thật viên mãn xa lìa mọi chấp trước. Các pháp chu biến cùng nên rộng khắp, không pháp nào không bao hàm nên nói bình đẳng. Pháp là bản thể nên còn gọi là tánh. Hiểu trí tuệ bình đẳng là có thể thâm hiểu Phật tánh cùng khắp. Hiểu đúng nghĩa bình đẳng là thấu triệt chân nghĩa Bồ tát sâu rộng. Thâm nhập tánh bình đẳng mới có thể ngộ được tất cả pháp tánh. Sau đây trình bày chi tiết những phần đã nói, trong đó có ba điểm đáng chú ý: trước nói tánh riêng biệt, sau nói tánh chung. Trong tánh riêng biệt lại phân ba: 1/ Tánh bậc Thánh rộng khắp, 2/ pháp tánh cùng khắp, 3/ tánh chúng sanh bao hàm khắp. Trong phần 1 lại chia thành ba: 1/ nêu rõ Phật tánh cùng khắp, 2/ Pháp thân Phật phá trừ sanh tử, bền chắc như kim cương khó có thể hư hoại, Pháp mà Bồ tát y theo lời giáo hóa đây tu tập thì sẽ chứng ngộ, 3/ chân nghĩa bình đẳng là tánh Bồ tát mà chư Phật thực hành. Kim Cang là tên riêng không phải là nghĩa Bồ tát, thấu đạt pháp này thì chưa viên mãn được tánh Kim Cang mà chỉ mới trên danh nghĩa, cả hai đều gọi chung là pháp. Pháp là giáo pháp, muốn làm sáng tỏ nhân quả đã nói là pháp thù thắng giáo hóa rõ ràng để đi sâu vào vòng pháp tánh; theo đó nói tánh riêng để đạt chân tánh.
Đi sâu vào tánh bình đẳng của uẩn có thể hiểu, là tất cả các uẩn. Đi sâu vào tánh bình đẳng của xứ mới thâm nhập được mọi xứ. Đi sâu vào tánh bình đẳng của giới mới thông suốt phần pháp giới tánh. Hai phần sau nêu rõ vòng pháp tánh trong đó có ba: 1/ pháp riêng, 2/ pháp chung, 3/ pháp vị. Trong pháp riêng có bảy: đầu có ba mục nghĩa riêng biệt và ba thể chân pháp tánh.
Hiểu tường tận bình đẳng là có thể thông suốt tất cả pháp tánh. Hiểu tánh duyên khởi bình đẳng là hiểu suốt mọi pháp duyên khởi. Đi sâu vào tánh bình đẳng trân quí thì mới hiểu được pháp tánh quí. Đi vào thật tánh bình đẳng mới thấu rõ vòng thật tánh. Bốn pháp riêng này đúng là tứ đế. Duyên khởi gồm 12 món báu là Tam Bảo. Thực gồm có bốn thứ: đoạn thực, xúc thực, tư thực và thức thực. Ba món hương, vị, xúc là đoạn thực. Xúc là đụng tới tiếp cận thức thứ sáu. Tư là nghĩ tưởng cũng thuộc thức thứ sáu. Thức là tàng chứa tức chỉ thức thứ tám. Tùy duyên nói bốn nhiếp pháp đưa về pháp tánh. Thấu hiểu thiện pháp tánh đều bình đẳng mới hiểu rõ tất cả vòng pháp tánh thiện. Thấu hiểu tánh phi thiện pháp bình đẳng mới hiểu được vòng phi thiện pháp. Thấu hiểu pháp hữu ký tánh bình đẳng mới hiểu được vòng pháp tánh hữu ký. Thấu hiểu pháp vô ký bình đẳng tánh mới hiểu được vòng pháp tánh vô ký. Thấu hiểu pháp hữu lậu tánh bình đẳng mới hiểu được vòng pháp tánh hữu lậu. Thấu rõ pháp vô lậu tánh bình đẳng mới hiểu được vòng pháp tánh vô lậu. Thông suốt pháp hữu vi tánh bình đẳng mới thấu rõ vòng pháp tánh hữu vi. Thấu triệt pháp vô vi tánh bình đẳng mới tường tận vòng pháp tánh vô vi. Hiểu rõ pháp thế gian tánh bình đẳng mới thấu triệt vòng pháp tánh thế gian. Thấu rõ pháp xuất thế gian tánh bình đẳng mới thấu triệt vòng pháp tánh xuất thế gian. Phần này nêu rõ thông đạt các pháp là thấu triệt vòng pháp tánh, trong đó có năm phần như ý nghĩa kinh văn dẫn giải. Năm phần này phổ thông trong cả hai nhơn và pháp.
Hiểu pháp dị sanh tánh bình đẳng mới hiểu được hết vòng pháp tánh dị sanh. Hiểu rõ pháp Thanh Văn tánh bình đẳng mới thấu triệt vòng pháp tánh Thanh Văn. Hiểu rõ pháp Độc Giác (Duyên Giác) tánh bình đẳng mới hiểu được hết vòng pháp tánh Độc Giác. Thấu triệt pháp Bồ tát tánh bình đẳng mới hiểu vòng pháp tánh Bồ tát. Ngộ được Phật tánh bình đẳng mới có thể thông đạt được vòng pháp tánh Như Lai. Đây là điểm ba nêu rõ các pháp vị sâu vào vòng pháp tánh, gồm có 5: một phàm và bốn thánh như ta đã biết.
Phải hiểu chúng sanh tánh bình đẳng mới thấu suốt được vòng pháp tánh các loài hữu tình. Phần này nêu rõ thông đạt bản tánh chúng sanh. Hiểu tất cả bản tánh bình đẳng mới thấu triệt được vòng pháp tánh. Điểm này nói chung vòng pháp tánh, Thánh hoặc phàm, nhơn hoặc pháp ... tất cả đều thuộc vòng pháp tánh. Muốn hiểu tường tận mọi pháp hẳn quy về bản tánh quảng đại luân (vòng tròn lớn).
Phật nói pháp tánh bình đẳng nhập quảng đại luân trí tuệ lý thú như thế xong bảo Bồ tát Kim Cang Thủ và chư Bồ tát rằng nếu có người nghe được pháp môn vi diệu lý thú bình đẳng này mà tin hiểu, thọ trì, đọc tụng, tu tập khéo ngộ được các pháp bình đẳng thì mau chứng vô thượng Bồ đề. Phần này tán thán công đức thù thắng của kinh. Do nghe kinh này mà trong hiện tại và vị lai ngộ được bản tánh các pháp bình đẳng. Tỏ ngộ tu chứng khéo thông đạt đến cứu cánh thì mau chứng đạo quả.
Lúc bấy giờ đức Thế Tôn y pháp thọ cúng dường rộng khắp tất cả, là Như Lai chân tịnh phước điền, vì chư Bồ tát mà nói trí tuệ rốt ráo siêu việt. Trong tất cả các pháp cúng dường là pháp môn vô thượng lý thú tuyệt vời. Đoạn trên phân ra hai phần nêu rõ pháp quán chiếu tu tập lìa tướng. Phần thứ nhất: cúng dường là pháp vô thượng thật thanh tịnh; nhờ lực quán chiếu nên tu pháp cúng dường này. Phần thứ hai: khéo điều phục tâm ý, nhờ sự quán chiếu mà trừ dứt được nóng giận, cau có v.v... Trong đây có thể phân làm ba: 1/ nêu lên pháp môn thực hiện, 2/ thọ sự cúng dường sâu rộng, 3/ là món phước điền chân thật thanh tịnh. Đây là pháp Phật thực hành, là cúng dường chân thật đầy đủ, là chân pháp cúng dường trong các pháp. Khi thành Phật ba nghiệp thanh tịnh viên mãn thọ nhận của cúng dường một cách sâu rộng, đem pháp chân thật ban rải cho chúng sanh, làm ruộng phước thanh tịnh nên nói là vô thượng (không gì hơn). Hàng nhị thừa tuy có phước đức song chưa đạt được vô thượng phước điền.
Phát tâm vô thượng Bồ đề nguyện cúng dường khắp tất cả chư Phật để hộ trì chánh pháp. Cúng dường chư Phật là cách tu tập trí tuệ Ba la mật, cúng dường chư Phật là tu tập các pháp giải thoát. Cúng dường chư Phật là tu tập các pháp thiền định, nhiếp niệm. Cúng dường chư Phật là tu tập các pháp ngũ nhãn, lục thông. Cúng dường chư Phật là tu tập các pháp trí tuệ, giải thoát. Cúng dường chư Phật là tu tập từ, bi, hỷ, xã. Cúng dường rộng chư Phật là tu tập các pháp bất cộng Phật pháp, là chân nghĩa cúng dường các đức Phật. Phần sau điểm chính nói do nhân tu pháp cúng dường chân chánh mà về sau được nhân thanh tịnh, trong đó có ba điểm: tu các hạnh quán xét tu hành, thực hành pháp hạnh. Trong phần một lại còn phân thành ba: hạnh sơ phát tâm, hạnh nhiếp hộ (giữ gìn), hạnh tu tập. Trong tất cả các pháp cúng dường thì cúng dường pháp hơn cả. Sách Thiên Vương Hội nói: như hai người lánh xa vương tặc không xâm phạm của báu nhà vua, thì trong trăm nghìn vạn kiếp không nghe được pháp hẳn được nghe; không thọ trì pháp thì không biết bố thí. Người phát tâm đại Bồ đề hộ trì chánh pháp y theo lời dạy tu hành thì tâm vắng lặng, tâm bình đẳng lợi mình lợi người, đó mới là chân thật cúng dường. Phật dạy rằng người phát tâm đại Bồ đề như các vị Bồ tát sơ phát tâm thì một niệm dù nhỏ cũng có phước đức báu, trong trăm nghìn vạn kiếp cũng không cùng, huống nữa trải qua nhiều kiếp. Cũng như ban đầu đại dương có ít rồi dần dần dồn chứa nhiều châu báu vô giá trở nên vô số. Những thứ châu báu ấy từ biển sanh. Ba ngàn đại thiên thế giới ban đầu là nơi nương tựa của hết thảy 25 loài hữu tình. Bồ tát phát tâm cũng như thế, lúc đầu hẹp rồi dần dần làm nơi nương tựa cho khắp mọi loài chúng sanh mà phát tâm từ bi là đứng đầu. Như hư không thì không vật gì che lấp, chúng sanh vô số lượng cũng như hư không vậy. Vì chúng sanh vô số nên Bồ tát cũng phát tâm như vậy để có thể bao trùm mọi thế giới đến hết thảy mọi loài. Nếu Bồ tát gần gũi các bậc thiện tri thức, cúng dường chư Phật, tu tập căn lành, cầu pháp cao thượng thì tâm luôn luôn nhu hòa, nhẫn nại chịu khổ. Bồ tát phát từ bi rộng lớn, tâm bình đẳng sâu xa, ưa thích đại thừa, cầu trí tuệ Phật. Nếu người nào đầy đủ 10 pháp như thế mới có thể phát tâm vô thượng chánh đẳng chánh giác, như trong kinh có nói đầy đủ. Nhiếp hộ pháp là gì ? Nhiếp là nhiếp thọ, giữ gìn như nàng Thắng Man giữ gìn chánh pháp vậy. Còn hộ là ủng hộ, hộ niệm, cũng có nghĩa là góp phần duy trì chánh pháp tồn tại. Duy trì, ủng hộ pháp như thành lũy, hy sinh cúng dường không tiếc thân mạng. Ba La Mật Đa là hạnh tu không thoái chuyển gồm có bảy tâm: 1/ tổng trì là ấn chú, 2/ đẳng trì là thiền định, 3/ tịnh lự là bốn pháp định tâm, 4/ giải thoát là 8 pháp giải thoát, 5/ tứ vô lượng tâm là từ-bi-hỷ-xã, 6/ hết thảy chư Phật là pháp bất cộng với Bồ tát địa, 7/ chư Phật Thế Tôn có 140 pháp bất cộng Phật pháp, chư Phật đầy đủ 32 tướng tốt, 80 vẽ đẹp, 4 pháp thanh tịnh, thập lực, bốn pháp không khiếp sợ, ba niệm an trú, ba niệm đại bi không quên pháp, xa lìa tập khí (thói quen xấu), có tất cả trí tuệ tuyệt vời ấy là những pháp mà chỉ Phật có, nên nói là pháp bất cộng. Ba mươi hai tướng tốt, 80 vẽ đẹp, mười lực, bốn pháp không khiếp sợ, đại bi, pháp không quên mất v.v... như trên đã nói. Đây nói rõ bốn pháp thanh tịnh: 1/ tất cả pháp được nương tựa thanh tịnh nên hết thảy phiền não sâu dày, tập khí (thói quen xấu) đều dứt hết. Đối với tự thân các món ham muốn riêng tự dứt bỏ mà trụ trong sự tự tại, 2/ tất cả các sở nguyện đều thanh tịnh, nghĩa là đối với các pháp như hóa như biến, như ẩn như hiện mọi chỗ duyên đều biến chuyển một cách tự nhiên, 3/ tất cả các tâm đều thanh tịnh, như tâm thô ác vĩnh vi-n xa lìa, nên tích tập mọi căn lành, 4/ tất cả chủng trí đều thanh tịnh. Những vô minh sâu dày vĩnh vi-n xa lìa; biến chỗ hiểu biết thành trí vô chướng ngại, là trí tự tại. Ba niệm an trú nghĩa là trong đêm dài Phật có những ý muốn là làm sao khiến chúng sanh an trú trong pháp giải thoát mà không bị điên đảo lúc thực hành. Trong đêm dài hun hút như thế Phật muốn hóa độ chúng như những mong ước đó hoặc được thỏa mãn hay không đều không sanh tâm buồn lo. Ba niệm an trú đã lược nói rõ; và sau đây là ba pháp riêng khác. Thứ nhất: một hướng chánh hạnh, thứ nhì: một hướng tà hạnh, thứ ba: một phần chánh hạnh, một phần tà hạnh, không sanh mừng lo mà chỉ nghĩ tới đại xã. Ba nghiệp chư Phật thanh tịnh, nếu ai không giữ gìn ba nghiệp là thành nhi-m ô. Phật vĩnh vi-n đoạn dứt các tập khí như lúc đi, lúc ngắm nhìn, lúc nói năng, hoặc lúc đứng cơ hồ không dấy khởi phiền não do nghiệp tác động mà phần nhiều không thể hiện bằng hành động. Và hết thảy mọi tập khí đều đoạn dứt không còn thừa sót, các thứ diệu trí nói chung là các pháp, trí không điên đảo không ngoài Phật pháp như trên đã nói.
Quán xét các pháp hoặc thường hay vô thường đều không thể được. Cúng dường rộng khắp chư Phật mà quán các pháp hoặc vui hoặc khổ đều không thể được. Cúng dường khắp chư Phật mà quán các pháp hoặc ngã hoặc vô ngã đều không thể được. Cúng dường khắp chư Phật mà quán các pháp hoặc tịnh hoặc bất tịnh đều không thể được mới là chân pháp cúng dường rộng khắp các đức Như Lai. Phần sau quán sát hành tướng có ba: 1/ xa lìa bốn món điên đảo, 2/ hành ba môn, 3/ lìa chấp sanh diệt. Sanh ra đời khác phần nhiều người chấp có thân, tâm thọ pháp là thường-lạc-ngã-tịnh. Để phá trừ lối chấp ấy nên Phật nói pháp tứ đế quán vô thường, vô ngã, vô lạc, bất tịnh khiến chúng lìa sanh tử hướng cầu pháp nhị thừa. Nhị thừa còn chấp bốn pháp: chân thật, đây, kia, vô thường. Họ chấp pháp nên ham tiểu thừa mà không muốn cầu đại thừa. Đức Thế Tôn về sau nói đại bát Niết Bàn với bốn đức thường-lạc-ngã-tịnh khiến môn đệ bỏ tiểu quả hướng Đại thừa; nghe xong lìa bỏ bèn được Phật quả. Cả hai đều là dùng phương tiện dẫn dắt mà không phải thật. Các pháp thật thì không phải hai. Cho nên nói rằng chư Phật có lúc nói ngã lúc nói vô ngã; còn thật tướng mọi pháp thì không ngã cũng không phi ngã. Ngoài ra ba đức khác cũng vậy. Giờ đây quán thật tướng để thi thiết cúng dường mà quán các pháp là thường hay vô thường đều không thể được. Quán các pháp hoặc không hoặc chẳng không đều không thể được. Cúng dường khắp chư Phật mà quán các pháp hữu tướng hoặc vô tướng đều không thể được. Cúng dường khắp chư Phật mà quán các pháp hữu nguyện hoặc vô nguyện đều không thể được mới gọi là chân thật cúng dường các đức Như Lai. Đây là pháp nói về thực hành ba môn giải thoát. Như hàng nhị thừa quán khổ là không tức là thực hành cái không vô ngã, quán tập và đạo toàn là khổ đế là tu tập một phần vô nguyện, quán triệt chân thật là thực hành vô tướng để hoàn thành tu tập trong niềm phấn khởi. Nếu hàng Đại thừa quán biến kế sở chấp thật ngã là thực hành cái không, quán tánh y tha khởi là hành vô nguyện, quán tánh viên thành thật là thực hành vô tướng, hay cả ba đều bổ xung nhau. Không, vô tướng, vô nguyện cùng phá vọng tưởng phân biệt của phàm phu, trừ hai món ngã chấp và pháp chấp. Cho nên không phải là không ngơ, hữu nguyện và hữu tướng cũng thế, là lối chấp của phàm phu. Thực hành không, vô nguyện, vô tướng đều nhắm vào pháp môn phương tiện. Dựa vào lý thật tướng thì không không, cũng chẳng phải không, hữu nguyện, vô nguyện, hữu tướng, vô tướng nay quán thật tướng thì không thể được. Suy một pháp trên thì rõ được tất cả các pháp. Nên ở phần lý luận có đề cập từ "thuấn nhã đa" tức là tánh không. Song pháp tánh không phải tánh không ngơ.
Quán các pháp hoặc xa lìa hoặc không xa lìa đều là bất ổn không thể chấp nhận. Cúng dường chư Phật mà quán các pháp hoặc vắng lặng hoặc không vắng lặng đều không thể được mới chân thật là pháp cúng dường rộng khắp các đức Như Lai. Phàm phu vọng chấp tham đắm sanh tử tâm không thanh tịnh mà vẫn không chịu xa lìa, Phật muốn phá chấp của phàm phu nên bảo phải xa lìa để tâm được vắng lặng. Nương pháp xa lìa và vắng lặng để phá trừ bệnh chấp chúng sanh là cố đưa vào chân tánh để xa lìa và thanh tịnh. Căn cứ vào thật thể các pháp thì chẳng có gì phải xa lìa với không xa lìa, chẳng có gì vắng lặng với không vắng lặng cả. Tịnh hay bất tịnh đều là mới nhập môn, không phải là pháp tánh. Dùng cái thể thật tướng pháp thì tuyệt đường nói năng, dứt luận bàn suy tư đạo lý nên xa lìa cũng không thể chấp nhận được.
Nhìn sâu qua trí tuệ siêu việt thì việc nghe, sao chép (in ấn), thọ trì, đọc tụng, suy xét, tu tập là làm cho giáo pháp lưu truyền rộng khắp chúng sanh như tự mình cúng dường pháp hay chuyển nhờ người cúng dường rộng khắp đến các đức Như Lai. Từ đây trở đi nói pháp môn tu tập gồm có: 1/ in ấn, 2/ lắng nghe, 3/ thọ trì bằng cách yêu quí bảo trọng tâm không rời pháp, dù sống chết quyết nguyện theo đuổi, 4/ đọc, 5/ tụng, 6/ suy xét, 7/ tu tập đúng như lời dạy, 8/ giảng giải sâu rộng khắp chúng sanh cho pháp lưu truyền mãi, 9/ tự mình cúng dường pháp, 10/ giúp người cúng dường. Mười cách trên là phương pháp tu tập thực hành như tự mình làm hoặc dạy người khác làm, tán dương, tùy hỷ, chúc mừng v.v... Trong các cách cúng dường thì tự mình phát tâm hoặc khuyên người khác cúng dường. Căn cứ vào thực tế mà nói thì tự mình cúng dường, dạy người khác cúng, tán dương, tùy hỷ, chúc mừng v.v... đều gọi là pháp cúng dường. Trường hợp giúp người khác in ấn cho chí khuyên họ cúng dường, tán dương công đức v.v... đều gọi là thực hành hay cúng dường pháp. Người tu tập mười pháp như thế sẽ đạt được phước báu thù thắng vô lượng hay là vô tận, như khuyên người khác tu tập không ngừng, như trong Trung Biên luận có giải rõ.
Phật nói pháp chân thật cúng dường như thế là pháp cao thượng lý thú, rồi bảo Bồ tát Kim Cang Thủ cùng chư Bồ tát, nếu người nào nghe được pháp vô thượng trí tuệ lý thú như thế mà cúng dường tin hiểu, thọ trì, đọc tụng, tu tập thì chóng hoàn thành hạnh nguyện Bồ tát, mau chứng vô thượng chánh đẳng Bồ đề. Đây là phần tán dương công đức kinh thù thắng. Cúng dường pháp là thực hành hạnh Bồ tát nên hạnh Bồ tát chóng được viên mãn.
Lúc bấy giờ đức Thế Tôn lại nương tướng khéo điều phục của Phật vì chư Bồ tát mà nói trí tuệ siêu việt rốt ráo để giáo hóa điều phục chúng sanh pháp diệu trí lý thú thâm sâu này. Căn cứ sự quán chiếu tu hành trong phần hai sau đây nêu pháp khéo điều phục trí tuệ. Do sự tu quán mà dứt trừ sân giận v.v... trong mạch văn có ba ý như trên đã giải thích. Phần 1 nêu tổng quát tên pháp đã giải thích. Hay khéo điều phục, tức trừ dứt nóng giận v.v... là người khéo điều phục thu nhiếp trí tuệ cẩn thận điều phục chúng sanh, dùng trí tuệ quán chiếu sâu sắc gọi là mật. Trí tuệ này là kho tàng giữ gìn Phật pháp và những công đức nên nói nhiếp thọ hay còn gọi là trí tạng. Dùng trí tạng này trừ những lỗi quấy: ta, người, giận, ghét ... nên nói là điều phục. Pháp này nghĩa rõ ràng do trí quán xét mà đạt được bản tánh của pháp, những tánh xấu cáu giận ... cũng có thể chế ngự. Tất cả chúng sanh đều giống nhau, tức là tánh giận dữ như nhau. Mọi chúng sanh chế ngự được bản tánh, tức là chế ngự được tánh giận dữ. Mọi loài hữu tình là chân pháp tánh tức tánh nóng giận thật hữu. Chúng sanh chân như tánh, tức tánh giận dữ có sẵn. Chúng sanh pháp giới tánh tức tánh nóng giận khắp pháp giới. Chúng sanh ly sanh tánh, tức không xa lìa tánh giận tức. Chúng sanh mang sẵn bản tánh thực, tức tánh giận dỗi có thật. Chúng sanh vốn tánh không, tức bản tánh giận dữ vốn là không. Chúng sanh tánh vô tướng, tức tánh nóng giận vô tướng. Chúng sanh tánh vô nguyện tức không mong tánh giận tức. Chúng sanh tánh vi-n ly, tức xa lìa tánh nóng giận. Chúng sanh tánh vắng lặng, tức tánh nóng giận vắng lặng. Chúng sanh tánh bất khả đắc, tức không thể có tánh nóng giận. Chúng sanh tánh vô sở hữu, tức tánh nóng giận không ai làm chủ. Chúng sanh tánh khó thể nghĩ bàn, tức tánh giận dữ khó di-n đạt. Chúng sanh tánh vô hý luận tức tánh giận không thể bàn suông. Chúng sanh tánh cứng rắn như kim cương, tức là giận tức cũng chắc nịch như vàng lõi vậy. Phần sau giải rõ những điều đã giải trong đó có hai điểm: trước nêu 17 thật tướng tức nói hành tướng cơn giận tức, sau giải thích nguyên nhân. Phần một văn kinh phân làm 5 đoạn. Trước lấy pháp bất nhị trừ ba tướng không biến đổi trong cơn sân giận. Trong cơn giận phải nghĩ điều này: các pháp bình đẳng làm sao có sân giận ? Các pháp không nhi-m, mà giận áp đảo được ta chăng? Pháp không thay đổi thì tánh giận cũng vậy. Sao còn phân biệt thấy người khởi nóng giận mà nổi tức bực ? Quán xét như thế thì tất cả sai lầm đều trừ sạch. Sau đây là những mẫu mực cần phải học. Thứ hai dùng đức chân thường phá trừ bốn tướng chấp cho là cảnh thật để khởi giận tức. Thứ ba dùng phi hữu tức lìa hết các tướng không mong ba thật tướng để khởi giận tức. Thứ tư dùng pháp đoạn nhi-m lìa hai món ly sanh khởi giận tức. Thứ năm dùng vô đắc, hư dối vi tế lìa 5 loại nói năng chân thật, nên khởi tức giận. Theo thứ tự trên thì mỗi phần đều do giận tức làm chủ chi phối. Đây là các pháp như trên đã nói nên không giải thích nữa. Các phiền não trong đây đơn cử sân giận là nặng nhất; nói về thực tướng nó chứa đủ các thứ ô nhi-m. Tức giận như ta biết là gốc nhi-m ô. Chúng sanh vốn sân giận nên bản tánh sân luôn có sẵn. Nhơn và pháp bản tánh là thật tướng không thể phân hai, biết thế thì không thấy giận tĐc nên không sanh phiền não sai lầm.
Tại sao thế ? Vì tất cả chúng sanh điều phục được bản tánh là thành vô thượng chánh đẳng Bồ đề, là trí tuệ rốt ráo siêu việt, là nhứt thiết trí chư Phật. Phần sau đây giải thích nguyên nhân, vì chúng sanh đã chế ngự (điều phục) được bản tánh nên thật tướng là pháp thân vô thượng Bồ đề. Đây nói về thật tướng của bản tánh Bồ đề là dùng năng quán để quán chiếu trí tuệ thì thể của pháp tánh, pháp tướng không khác, cũng như con dao và sự sắc bén của dao thể không khác. Do đó nên biết rằng bản tánh giận tức cũng là nhứt thiết trí chư Phật. Có nhiều cách giải như chân trí, tục trí đều có tên riêng. Cách giải thứ hai nói nhứt thiết trí là Phật trí. Cũng có thể nói Phật là người đạt thành trí. Bản tánh trí tuệ siêu việt đây là Phật trí, nên tức giận trở thành chân như hay cũng gọi là Phật trí, cho nên phiền não tức Bồ đề hoàn toàn không khác. Lại nữa biết là phiền não thì chắc hẳn nó không phát khởi; pháp tánh vốn cũng như vậy, không có gì khác biệt. Hơn thế, điều phục bản tánh tức còn là thật tướng. Bồ đề cũng là thật tướng; Bát Nhã cũng là bản tánh chư Phật. Bản tánh là gốc của trí biết. Bốn trí có tên tuy khác nhau song thể nó là một tướng không khác. Trí và huệ trí đều gọi là Bát Nhã, ý nghĩa như nhau.
Phật phương tiện khéo nói pháp điều phục trí tạng lý thú vi diệu như thế xong bảo Bồ tát Kim Cang Thủ cùng chư Bồ tát rằng, nếu người nào nghe được pháp như thế mà tin hiểu, thọ trì, đọc tụng, tu tập rồi tự kiềm chế được cơn nóng giận, những sai lầm, thì cũng có thể chế ngự được tất cả chúng sanh. Đây là phần tán thán công đức thù thắng của kinh; nêu lên những thói nhi-m, giận tức v.v... thuộc về phần nhi-m ô.
Thường sanh vào cõi thiện, thọ hưởng mọi điều vui thú tốt đẹp; gặp những oán ghét đời này đều khởi lòng từ bi. Đây là cái quả thù thắng ở đời. Chỉ cơn nóng giận nổi lên chắc chắn sẽ thọ sự khổ. Nay lìa giận tức nên sanh vào cõi thiện được mọi sự an vui tốt đẹp. Do không giận tức, không phiền nhi-u người khác nên những oan gia đời nay đem lòng từ tiếp xử.
Nếu biết khéo tu Bồ tát hạnh thì mau chứng đạo quả vô thượng Bồ đề. Đây là quả xuất thế thù thắng.
Lúc bấy giờ đức Thế Tôn nương nơi các pháp lành lập pháp tánh bình đẳng hiện thân Như Lai vì chư Bồ tát mà nói trí tuệ rốt ráo siêu việt, là pháp vô cùng lý thú mầu nhiệm tuyệt vời. Trong pháp thực hành nêu chung có sáu đoạn: hai đoạn chót nêu rõ hai pháp tu rộng khắp. Đoạn này nói tánh bình đẳng, là pháp tối thắng hơn cả. Quán chiếu thật tướng nhơn, pháp đều bình đẳng cùng khắp. Đoạn sau cùng nói chúng sanh nương nơi pháp mật tu tập quán chiếu khắp cả nhơn và pháp đều là pháp thiện. Trong 3 tiểu đoạn, đây là đoạn thứ nhất nói tổng quát về tên của pháp môn tu, khéo thiết lập tánh bình đẳng. Pháp chính là pháp tánh bình đẳng. Pháp cũng tức chân như cùng khắp ở nhơn và pháp nên gọi là tánh bình đẳng. Cái thật tánh thi vi này không thể dùng ngôn ngữ phân tích được. Bây giờ giả lập pháp bình đẳng gọi là kiến lập. Pháp tánh chân thật nên là pháp tối thắng khiến đi thọ sanh nên gọi là pháp môn.
Tất cả chúng sanh tánh bình đẳng nên trí tuệ rốt ráo siêu việt tột cùng cũng bình đẳng. Tất cả pháp tánh bình đẳng nên trí tuệ rốt ráo siêu việt tột cùng cũng bình đẳng. Tất cả chúng sanh tánh chế ngự nên trí tuệ rốt ráo siêu việt tột cùng được điều phục. Mọi loài chúng sanh đều có thật nên trí tuệ rốt ráo siêu việt tột cùng cũng có thật. Mọi pháp thật nghĩa như nó là nên trí tuệ rốt ráo siêu việt tột cùng cũng như thế. Phần sau nêu lên những điều đã nói có 6 điểm: thứ nhất, nhơn và pháp cùng khắp nên lìa ba món nhi-m căn bản là được trí tuệ siêu việt, cũng giống như trên. Thứ ba là pháp không biến đổi. Đây gọi là chân lý mà ở trên nói là pháp chân thật đúng nghĩa. Thế gian hay xuất thế gian không ngoài hai thứ: pháp và chúng sanh. Ngộ hai pháp nầy là trí tuệ rốt ráo siêu việt, là trí quán chiếu. Bản tánh cả hai đều là thật tướng của trí tuệ siêu việt nên đều bổ sung nhau.
Mọi loài chúng sanh là chân như nên trí tuệ rốt ráo siêu việt cũng là chân như. Hết thảy các pháp là chân như nên trí tuệ rốt ráo siêu việt tột cùng cũng là chân như. Tất cả chúng sanh là pháp giới nên trí tuệ thâm sâu rốt ráo cũng là pháp giới. Mọi pháp là pháp giới nên trí tuệ rốt ráo siêu việt cũng là pháp giới. Tất cả mọi loài chúng sanh là pháp tánh nên trí tuệ rốt ráo siêu việt cũng là pháp tánh. Tất cả pháp là pháp tánh nên trí tuệ rốt ráo siêu việt cũng là pháp tánh. Mọi loài hữu tình là thực nên trí tuệ rốt ráo siêu việt cũng thực hữu. Mọi pháp thực có nên trí tuệ rốt ráo siêu việt cũng thực hữu. Thứ hai, nhơn và pháp là tánh thường hằng; thể của pháp là bốn loại chân như cũng tức là Bát Nhã.
Tất cả chúng sanh vốn không nên trí tuệ siêu việt tột cùng cũng không. Các pháp vốn không nên trí tuệ siêu việt cũng không. Hết thảy mọi chúng sanh là vô tướng nên trí tuệ siêu việt cũng vô tướng. Tất cả pháp vô tướng nên trí tuệ siêu việt cũng vô tướng. Tất cả chúng sanh vô nguyện nên trí tuệ siêu việt cũng vô nguyện. Tất cả pháp vô nguyện nên trí tuệ siêu việt cũng vô nguyện. Thứ ba, nhơn, pháp phi hữu, lìa tướng vô nguyện ba pháp ấy tức là trí tuệ.
Tất cả chúng sanh đều xa lìa nên trí tuệ siêu việt cũng xa lìa. Tất cả pháp đều xa lìa nên trí tuệ siêu việt cũng xa lìa. Tất cả chúng sanh vắng lặng nên trí tuệ siêu việt cũng vắng lặng. Tất cả các pháp vắng lặng nên trí tuệ siêu việt cũng vắng lặng. Thứ tư, nhơn và pháp lìa cả hai: lìa nhi-m, lìa sanh tức trí tuệ siêu việt.
Tất cả chúng sanh không thể được nên trí tuệ siêu việt tột cùng cũng không thể được. Hết thảy các pháp không thể được nên trí tuệ siêu việt cũng không thể được. Tất cả chúng sanh vô sở hữu nên trí tuệ siêu việt cũng vô sở hữu. Hết thảy chúng sanh không thể nghĩ bàn nên trí tuệ siêu việt cũng không thể nghĩ bàn. Tất cả các pháp không thể nghĩ bàn nên trí tuệ siêu việt cũng không thể nghĩ bàn. Tất cả chúng sanh không hý luận nên trí tuệ siêu việt cũng không luận bàn suông. Các pháp không hý luận nên trí tuệ siêu việt cũng không hý luận. Thứ năm, nhơn và pháp đều vô đắc, hư dối hoàn toàn, lìa nói bàn bốn loại tức là trí tuệ.
Tất cả chúng sanh không ngằn mé nên trí tuệ siêu việt cũng tột cùng. Tất cả các pháp tột cùng nên trí tuệ siêu việt cũng không ngằn mé. Tất cả chúng sanh có nghiệp dụng nên biết trí tuệ siêu việt cũng có nghiệp dụng. Các pháp có nghiệp dụng nên biết trí tuệ siêu việt cũng có nghiệp dụng. Thứ sáu, nhơn và pháp hai loại tác dụng rộng lớn tức trí tuệ. Cảnh rộng lớn thì trí cũng thế. Cảnh đầy đủ các nghiệp lưu chuyển thì trí tuệ cũng dùng quán chiếu đoạn diệt cảnh giới.
Phật nói tánh bình đẳng, pháp cao siêu lý thú mầu nhiệm như thế xong bảo Bồ tát Kim Cang Thủ cùng chư Bồ tát rằng, nếu có người nghe được pháp trí tuệ bình đẳng lý thú thù thắng như thế mà tin hiểu, thọ trì, đọc tụng, tu tập thì có thể hiểu được pháp tánh bình đẳng trí tuệ siêu việt tột cùng. Đây là tán thán đức tánh bình đẳng. Tánh thật tướng chân như, là thể tánh bình đẳng nhơn và pháp nên gọi là tánh bình đẳng tánh; thì có thể hiểu pháp tánh bình đẳng. Do oai lực nghe pháp tin hiểu tánh bình đẳng nên có thể thông hiểu thế nào là pháp tánh bình đẳng. Pháp tánh bình đẳng tức là trí tuệ siêu việt, là ý nghĩa sâu của Bát Nhã ba la mật, là dung hợp hai loại thật tướng và quán chiếu. Nay hiểu rõ thật tướng là nhờ quán chiếu bản chất nhơn và quả cùng khắp. Văn kinh trên nói thâm nhập Bát Nhã tức là quán chiếu. Nếu không, làm sao biết được thật tướng Bát Nhã cũng có nghiệp dụng.
Đối với tất cả mọi chúng sanh tâm không còn ngăn ngại thì chóng đạt được vô thượng chánh đẳng chánh giác. Được nương nơi pháp tánh mà còn thông đạt huống nữa tự mình thấu triệt nhơn và pháp không bị ngăn ngại. Quái là ngăn che, ngại là khuất lấp. Hiểu tường tận nhơn và pháp thì không còn gì ngăn che, thấu đạt được sở y nên cũng hiểu thông năng y.
Lúc đó đức Thế Tôn lại an trú trong tướng ẩn tàng của Phật vì chư Bồ tát mà nói Bát Nhã ba la mật đa cho tất cả chúng sanh an trụ trong pháp thắng tạng lý thú vi diệu này. Đoạn hai đây nói chúng sanh an trú pháp môn thắng tạng dùng sức quán quán chiếu nhơn và pháp đều cùng khắp. Đoạn văn kinh phân ba phần, đây là phần thứ nhất nêu tên pháp đã nói mà trong đó lại chia hai: trước nói tướng, sau nêu tên pháp. An trú trong tạng pháp là sao ? Trụ là đình chỉ, dừng, dứt, từ vô thỉ chúng sanh an trú nơi Như Lai tạng này. Hay nói như thế này: trước trụ trong chúng sanh, trì là trì Như Lai tạng, là an trú trong chúng sanh tánh. Vì chúng sanh vốn sẵn Phật tánh nên an trú trong chủng tử Phật pháp. Tạng pháp là Như Lai tạng thuộc vô vi hàm tàng vô biên Phật công đức nên gọi là tạng. Chúng sanh an trú cùng khắp nên Như Lai tạng biến khắp thân tâm chúng sanh để duy trì Phật pháp. Đây là những công đức thù thắng quí báu mà hiểu rõ lời dạy nầy là một pháp môn. Như Lai tạng là phần căn bổn (chính) nên ngoài ra không nói Kim Cang tạng.
Tất cả mọi chúng sanh đều có Phật tánh, có Bồ tát Phổ Hiền biến khắp. Sau đây nêu lên những điều đã thuyết gồm bốn điểm: thứ nhất: tất cả mọi chúng sanh đều có Như Lai tạng. Như Lai tạng là tên của chân như còn trong ràng buộc. Khi ra khỏi ràng buộc là pháp thân. Tạng là kho chứa, gôm hết tất cả sở hữu công đức chư Phật trong đó nên gọi là Như Lai tạng. Hiện tại công đức chưa phát khởi nên chưa gọi là pháp thân. Lại nữa, bản tánh này đúng là Phật tánh mà còn trong ràng buộc nên gọi là Như Lai tạng. Tất cả mọi chúng sanh đều có Phật tánh như Kinh Thắng Man nói: "luận về sanh tử thì Như Lai tạng cũng là tự thể Bồ tát Phổ Hiền biến hiện". Phổ là cùng khắp, Hiền là thiện. Biến thể ba nghiệp thuần thiện là Phổ Hiền. Bồ tát chứng ngộ được lý chân này nên gọi là Phổ Hiền. Hơn nữa, tự thể Bồ tát khắp cùng đều là hiền thiện. Hết thảy ba nghiệp đều thiện do đó Bồ tát thấu đạt chân lý, nên ngộ được tự thể pháp hữu vi. Tất cả tốt đẹp đều thiện lương, do tánh thiện này biến khắp ba nghiệp làm cho ba nghiệp đều thiện nên gọi là Phổ Hiền Song bổn tánh Bồ tát Phổ Hiền bây giờ là Phật tánh nên nói tự thể Phổ Hiền biến khắp nơi chúng sanh. Tất cả chúng sanh đều có Phật tánh, nhưng bị bỏ phế, nên phổ hiền là tự thể cùng khắp.
Thứ đến, tất cả chúng sanh đều có Kim Cang tạng tức Như Lai tạng. Tánh này bền chắc khó phá hoại nổi nên có thể phá trừ gốc sanh tử nên gọi là Kim Cang tạng. Bồ tát ngộ được lý Kim Cang này cũng đạt được trí Kim Cang là Kim Cang tạng. Nhưng mà hiện tất cả chúng sanh bản thể đều là Kim Cang tạng. Song dùng trí Kim Cang rải khắp thân tâm thì được bền vững, pháp kiên cố phá diệt sanh tử. Như ta biết chúng sanh có tánh Kim Cang. Quán nghĩa là rưới vào thân tâm, đảnh là phá nghiệp sanh tử. Lấy trí Kim Cang tạng tuần tự xem xét lời dạy kia lúc ban rải thì phá diệt được sanh tử.
Tất cả chúng sanh đều có chánh pháp tạng, đều tùy thuộc nơi chánh ngữ. Thứ ba, tất cả chúng sanh đều có chánh pháp tạng. Chánh pháp là chân trí tuệ siêu việt: Tạng là kho chứa, chúng sanh đều là kho tàng chứa chánh pháp. Vì mỗi chúng sanh đều phải tùy vào chánh ngữ chuyển hóa. Lời nói chánh ngữ là lời nói hợp lý, lời nói đúng thật. Khế kinh nói rằng chúng sanh đều thuận theo chánh ngữ mà chuyển hóa. Chuyển là chuyển động dựa vào chánh ngữ thực hành giáo pháp với sự nhất tâm kiên quyết. Tánh tướng chúng sanh đều là hữu tình, do mỗi chúng sanh khởi chánh ngữ nên tất cả có chánh pháp tạng.
Hết thảy chúng sanh có tất cả sự nghiệp diệu nghiệp tạng nương nơi gia hạnh. Thứ tư, tất cả chúng sanh đều có diệu nghiệp tạng. Diệu nghiệp là ba thiện nghiệp mà Bồ tát có được như đã nói trên: tất cả chúng sanh đều là kho tàng diệu nghiệp Bồ tát. Bồ tát muốn phát khởi mọi nghiệp lành là vì chúng sanh, hoặc vì bản tánh hoặc muốn vén bạt sanh tử, vì chúng sanh khổ mà phát gia hạnh, cho nên chúng sanh nương theo gia hạnh, là nơi nương tựa sâu kín mà chúng sanh phát khởi diệu nghiệp. Trở lên là bốn loại, thứ nhất, cái thể các pháp bàn về tánh ẩn tàng, thứ nhì, cái dụng của pháp để phá diệt sanh tử, thứ ba: dạy nương theo gốc không điên đảo, thứ tư: đức tánh tốt nương theo gốc các đức tốt. Nếu không hiểu như thế thì làm trái những điều này.
Phật nói pháp lý thú vi diệu như thế chúng sanh an trụ xong, bảo Bồ tát Kim Cang Thủ cùng chư Bồ tát rằng, nếu có người nào được nghe pháp trí tuệ lý thú vi diệu cùng khắp này mà tin hiểu, thọ trì, đọc tụng, tu tập thì có thể hiểu được pháp tánh thắng tạng mau chứng được vô thượng chánh đẳng chánh giác. Phần ba tán thán công đức kinh này. Pháp thắng tạng tức là Như Lai tạng. Có bốn loại thắng tạng, là bản tánh các pháp. Do bây giờ nghe pháp nên về sau thông đạt rốt ráo.
Lúc bấy giờ đức Thế Tôn y pháp rốt ráo vô tướng, Như Lai vì chư Bồ tát mà nói trí tuệ siêu việt rốt ráo, an trú nơi pháp bình đẳng Kim Cang. Phần này có hai đoạn, nêu rõ tu tập đắc quả trong đó chia làm hai phần: phần đầu là pháp sâu rộng, vô cùng rốt ráo. Khi đạt được quả vị thứ hai thì thông đạt một pháp vị thù thắng, là đức tự lợi đã thành. Phần sau là pháp môn sâu nhiệm vô cùng lý thú. Đạt đến quả thứ hai là đã được tự lợi lợi tha làm chủ ba cõi và đáp ứng nguyện vọng chúng sanh mong cầu là đức lợi tha. Trong đoạn này kinh văn có chia ra ba tiết: tiết 1/ nêu chung tên pháp môn đã nói. Trong đó lại chia làm hai: về chỗ được nương theo và nêu rõ tên pháp. Cứu cánh nghĩa là rốt ráo. Đệ nhất nghĩa là vô thượng, tức là cùng cực: Vô biên là rộng, vô tế là sâu như ý này nói; Thân Phật là vô cùng sâu rộng, hoàn toàn an trụ trong pháp bình đẳng cứu cánh như trên đã giải thích. 2/ Trụ là dừng, trì là duy trì. 3/ Pháp là giáo nghĩa thành văn tự. Nghĩa là làm rõ ý nghĩa lý thú. Bình đẳng là giống nhau, là không khác. Kim Cang là rắn chắc, có nghĩa là sức phá vỡ. Pháp tối thắng là chỗ an trụ pháp bình đẳng để phá diệt sanh tử. Đây gọi là pháp vô biên không cùng. Lại nữa, rốt ráo an trụ là an trú nơi pháp của chư Phật. Pháp nghĩa là bình đẳng, đồng thuận không hai. Kim Cang có thể phá diệt sanh tử là pháp môn kiên cố vững chắc.
Trí tuệ sâu thẳm siêu việt tột cùng nên hết thảy chư Phật cũng vô cùng. Tiết hai nêu rõ những điểm đã trình bày. Tánh đề cập ở đây là tánh bình đẳng trong pháp tối thắng. Nói rằng tất cả chúng sanh vô cùng tận nên trí tuệ thâm sâu rốt ráo cũng vô cùng. Trí tuệ thông suốt thật tướng pháp quán chiếu pháp thứ năm là văn tự Bát Nhã mà ba thân Phật theo đó cũng vô cùng. Lý thật tướng của pháp thân thì không cùng, quán chiếu báo thân cũng không cùng. Nương hai thân ấy mà hóa thân tùy nhân duyên ứng hiện, tức là nghiệp dụng hiện hữu cũng vô cùng. Vô cùng tận là rộng lớn khó đo lường được. Tướng tốt nơi thân Phật rực rỡ vô cùng, mà vô số căn lành thể hiện rõ rệt.
Trí tuệ thâm sâu siêu việt tột cùng thì vô tận nên chư Phật cũng vô tận. Vô cùng tận là sâu thẳm khó lường được, cần phải trải qua ba kiếp khổ tu mới thành tựu. Trí tuệ thâm sâu nên nói là vô cùng, đạt được ba thân cũng vô cùng. Trừ nhị thừa và phàm phu, hàng thập địa Bồ tát mới có thể hiểu thấu suốt.
Trí tuệ thâm sâu siêu việt rốt ráo là một vị nên tất cả các pháp đều là một vị. Đây dùng năng quán để quán chiếu và lý các pháp được quán làm phương tiện đều là một vị nên nói là bình đẳng. Một vị nghĩa là một tướng; không có tướng khác xen vào, cũng có nghĩa là không phân biệt. Lại nữa, một vị là chắc thật nên xa lìa tướng khổ, vui, cũng không mừng. Các pháp hoặc giáo hoặc nghĩa cũng cùng một vị, tùy hai trí tuệ không trái nhau. Kinh Phật Địa nói: ví như trời thứ ba mươi ba chưa đi vào rừng rậm, thì không thể biết hoặc làm gì hoặc nhận gì, không có ngã và những gì thuộc về ngã mà hòa hợp thọ dung. Khi đi vào rừng hoang rồi thì không còn phân biệt mà tùy tiện tự nhiên. Rừng có những đặc tính như thế để chư thiên đi vào đó. Các quả báo cõi trời hoặc sự việc hoặc thọ nhận đều không thể suy lường mà hoà hợp tự nhiên. Bồ tát cũng thế khi chưa đạt được pháp vô sanh nhẫn thì không có được tâm bình đẳng, xã bình đẳng. Còn đối với Thanh Văn, Độc Giác thì hai tư tưởng đó không có gì khác biệt nhau. Họ không thể an trú tự nhiên hòa hợp giữa tuệ giác và sự việc cùng một vị. Khi đã đạt được pháp vô sanh nhẫn làm cho hai tư tưởng tự do bình đẳng. So với Thanh Văn, Độc Giác thì khác biệt nhau. Do tâm bình đẳng mà an trú trong xã thọ, tuệ giác và sự việc hòa hợp một vị. Kinh còn luận giải rằng, trời thứ ba mươi ba có một khu rừng hoang mà chư thiên dù hòa phước lực oai đức lại khiến chúng trời cũng không thể vào được khu rừng ấy. Các cung điện ở đó, mọi sự thọ khổ vui, hơn kém có khác nhau. Nhận có ngã và những gì thuộc về ngã khác nhau. Nếu đã vào khu rừng này rồi thì dù sự việc dù thọ dụng hoàn toàn không còn thấy có sự hơn kém mà hoàn toàn giống nhau tuyệt đối không có ngã và những gì thuộc về ngã được hòa hợp, thọ nhận tự nhiên, có thể khiến làm cho hòa hợp bình đẳng nên gọi tên là rừng hoang. Việc này do chư thiên mỗi vị tu tập hòa hợp bình đẳng làm phước lực gia tăng khiến các trời biết được sự biến hiện đồng nơi cùng lúc, cùng một tướng. Do khu rừng hoang kia gia tăng sức bền bỉ làm cho vị trời ấy nhận thức cũng thay đổi theo, dù mỗi vị trời thọ nhận giống nhau. Như thế sự khác nhau giữa Bồ tát và các địa khác không sai biệt cũng thế. Hai tướng hay không tướng đều dẫn đi thọ sanh nên chưa đạt vô sanh và người đạt được khác nhau. Cho nên cũng Kinh Phật Địa nói: như nhiều dòng nước lớn nhỏ khác nhau khi chưa tới biển mỗi dòng theo một lối riêng. Có nhiều loại nước khác nhau ít nhiều tăng giảm tùy chỗ phát nguyên mà tác dụng của mỗi dòng không giống nhau. Hầu hết mọi loài nương vào nước duy trì mạng sống. Nước đã vào biển rồi thì không thể phân biệt chỗ phát nguồn, nước giống nhau không có khác biệt. Nước cùng khắp, nước không tăng giảm, do chỗ tạo nghiệp sâu dày mọi loài nương vào nước để duy trì mạng sống. Bồ tát cũng thế, nếu chưa ngộ được pháp giới thanh tịnh của Phật thì biển cả là từ các dòng nước đổ dồn về. Trí sai biệt, thiểu trí, đa trí tăng giảm tùy nghiệp chúng đã tạo mà mỗi mỗi khác nhau. Một phần nhỏ chúng sanh đã an trụ căn lành thuần thục. Nếu đã ngộ được biển pháp giới rộng lớn thanh tịnh của Phật thì không còn phân biệt. Trí không hạn lượng, không tăng giảm nên việc thọ dụng hòa hợp cùng một vị. Việc và trí vô lượng nên chúng sanh đã an trụ căn lành thuần thục. Kinh còn luận rằng, nước theo nhiều địa phương khác nhau làm chỗ nương theo nên Bồ tát dựa chư Phật làm chỗ nương tựa. Nói nhiều loại nước khác nhau gồm trong, đục, dơ, sạch mỗi thứ riêng biệt. Bồ tát trí khác nhau do chỗ tu mà thành hơn kém sai khác. Ngoài ra các pháp thí dụ khác tùy nghĩa có thể biết được. Bồ tát hẳn nhiên khi tu thành tựu quả vị Phật thì ba thân, vạn đức là một vị - vị giải thoát.
Vì trí tuệ thâm sâu siêu việt rốt ráo nên tất cả pháp cũng rốt ráo. Đây là phần năm quán chiếu về văn tự Bát Nhã tối thắng gọi là rốt ráo đệ nhứt. Các pháp và ý nghĩa tùy thuộc thì trí tuệ cũng thế, trong đó lấy ý hiển bày. Do trí tuệ sâu sắc biết nhân vị, văn tự, quyến thuộc, các cảnh giới vô biên vô cùng rốt ráo cùng một vị. Hành những việc cần hành đạt được ba thân, nói những pháp đáng nói tùy lúc cũng vậy, là nhờ có trí tuệ sâu xa hiểu rõ bản tánh các pháp. Bản tánh là một vị giải thoát nên các pháp cũng vậy.
Phật nói pháp Kim Cang lý thú rốt ráo vô biên vô tận như thế xong bảo Bồ tát Kim Cang Thủ cùng chư Bồ tát rằng, nếu có người nghe được pháp Kim Cang Bát Nhã lý thú rốt ráo như thế mà tin hiểu, thọ trì, đọc tụng, tu tập thì hết thảy mọi sự chướng ngại đều được tiêu trừ, ắt được trí kim cương của Phật mau chứng vô thượng chánh đẳng chánh giác. Phần nầy tán thán công đức thù thắng của kinh. Đã hiểu trí tuệ và ba thân Phật có ý nghĩa vô cùng vô tận thì hết thảy mọi sự chướng ngại đều tiêu trừ, ắt được trí Kim Cang của Phật. Vì có trí Kim Cang nên phá sạch sanh tử, là bản tánh chân thật pháp giới chân như, mau chứng vô thượng chánh đẳng chánh giác. Trong đó phải đủ hai đức tánh cao cả là diệt ác và tu thiện.
Lúc bấy giờ đức Thế Tôn nương nơi tướng biến hóa của Phật vì chư Bồ tát mà nói trí tuệ siêu việt tột cùng được chư Phật gia trì mật pháp. Cũng như tất cả mọi pháp không thể nói bàn suông. Đại Lạc Kim Cang là thần chú bất không; là pháp Kim Cang ban đầu, giữa, sau đều ưu việt, là pháp môn vô thượng lý thú vi diệu đệ nhứt.
Đoạn nầy nói tu pháp môn vô thượng lý thú đạt được hai kết quả: tự lợi và lợi tha làm chủ ba cõi, tùy theo nguyện vọng chúng sanh đều được thỏa mãn đức tự lợi và lợi tha. Trí biến chiếu là gì? Trí biến chiếu là nhứt thiết trí, nhứt thiết chủng trí. Như trong lúc ngủ nằm mơ thấy hoa sen nở. Hiểu rõ các pháp có thể hàm thông tự lợi và lợi tha một cách thấu suốt gọi là biến chiếu. Được chư Phật gia trì mật pháp tức ngộ được tánh Kim Cang. Pháp môn này gọi là pháp bí mật đáng quí đáng trọng vì là pháp tạng khó hiểu nên nói là mật, tức là các pháp hữu vi cùng tất cả pháp vô vi thù thắng khác, là pháp giải thoát. Cũng như tất cả các pháp không luận bàn suông, tức là chân pháp giới, lìa hết nói năng và phân biệt. Đại lạc là được cái vui vô lậu: Vui có năm thứ: 1/ nhân vui, 2/ thọ nhận vui, 3/ trị dứt khổ: vui, 4/ đoạn dứt thọ vui, 5/ vui không làm tổn hại. Trong đó lại chia làm 4 loại: a/ ra khỏi vui, b/ xa lánh vui, c/ vui giác ngộ, d/ vui Niết bàn. Bây giờ đã đạt được 5 thứ hay bốn thứ vui nên nói đại lạc cùng khắp pháp giới thảy đều vui. Kim Cang nghĩa là năng phá, phá trừ mọi sự chướng ngại đều có thể phá hết. Bát không là nêu pháp mầu nhiệm tánh không phải không ngơ mà thật linh diệu thù thắng đưa tới kết quả phi thường nên gọi là "chẳng không". Thần chú là gì ? Thần là thánh đức lý sự tự tại; chú là tổng trì, là gom sức tinh anh thánh đức mười phương chư Phật mà thành. Dùng một lời mà hàm đủ cả Phật pháp, nó có công năng phá diệt hết các oán đối sanh tử, tổng hợp các đức lại là tổng trì, tức là chú vậy.
Kim Cang là trí tuệ kiên cố của chư Phật, trong các pháp đây là pháp kiên cố đệ nhứt. Trên đây đã nói các pháp tu sở đắc. Và sau đây nói chung pháp tu năng đắc (tự mình đạt được). Kinh này Phật nói gồm ba phần: phần đầu (sơ), phần giữa hay chánh văn (trung), phần sau hay lưu thông (hậu), vì người phát tâm tu chứng được ba bậc, hoặc kẻ nghe kinh tu tập ly dục chứng ba quả vị. Đây là kinh cao thượng không có hai khác, là pháp vô thượng đệ nhất. Vì pháp này cao tột đệ nhứt nên có thể ngộ được các pháp bí tàng của chư Phật.
Nói đại tham là thành tựu việc lớn tức đạt đại Bồ đề, hoàn thành đại an lạc. Phần sau đây nêu rõ những điều đã nói trong đó có hai phần: phần trước lại phân ba: nói về Bồ tát hạnh, mười nghiệp ác và những kết quả đạt được. Phần sau phân ba nói về Đà la ni hay ấn chú. Trước nêu rõ nghiệp ác mà tham v.v... là nhân, phải có kết quả của nó. Sau nêu rõ nghiệp lành mà trí tuệ là nhân phải có kết quả của nó. Rõ ràng tham là nhân kết quả hẳn phải tự lợi. Phần sau nêu rõ quả lợi tha và tự lợi. Trong đó nêu rõ do tham là nhân dần dần đưa tới bốn loại hậu quả: 1/ do nhân tham được đại lạc, 2/ nhân đại lạc được đại giác, 3/ nhân đại giác chinh phục bốn loài ác ma, 4/ nhân hàng phục bốn loài ác ma mà được tự tại. Tại sao gọi đại tham mà thành tựu lớn lao như thế ? Vì Bồ tát đối trong nhân đi ngược dòng sanh tử, 10 ác nghiệp, thực hành đạo xuất thế. Mười ác nghiệp là: sát sanh, tức làm mất mạng chúng sanh nên xoay vần trong sanh tử. Đoạn có nghĩa là giết hại làm mất mạng sống, 2/ trộm cắp của người không cho mà cố lén lấy để mưu lợi cho mình, 3/ ham muốn tà dâm, biết rõ ham muốn không chánh đáng là tà thì phải giữ chánh hạnh. Nên phân biệt chánh dâm với tà dâm như bài tụng:
Tham-sân-si do phân biệt sanh
Tịnh bất tịnh bởi điên đảo thành
Do nhân duyên thành tịnh, bất tịnh
Đều chẳng thật vốn là tự tánh.
4/ vọng ngữ: như hư dối nói lời không chân thật là vọng, như có bài tụng rằng:
Trong những lời gian dối,
Như Lai nói lời thật
Trong các pháp không thật,
Các hành hư dối nhất.
5/ lời nói ly gián: tại sao nói Phật thường ở cõi không tối thắng ? Vì Phật nói lời rõ ràng sâu kín, mắt lìa sự ly gián thường vượt thắng không. Cù nghĩa là thắng, mậu là không, ni nghĩa là thường. Đây dùng nghĩa bóng chỉ Phật. 6/ lời nói thô ác là nói cộc cằn thô lỗ, mắng nhiếc chưởi rủa. Phật nói lời ái ngữ, an trụ trong thiện ích nên đạt giác ngộ. Giác ngộ là toàn trí hay nhất thiết trí. 7/ lời nói ngọt ngào trau chuốt cốt làm lung lạc lòng người. 8/ tham dục. Luận Nhiếp Đại Thừa nói: nếu người ít ham muốn thì tự mình ngộ pháp định cao siêu. Ý nói tham dục thì tâm loạn nên chỉ nghĩ tham. Định là khởi đại tham dục muốn thành đạo vô thượng Bồ đề. Tham ở sanh tử muốn độ thoát chúng sanh, ấy chính là tham dục. 9/ sân hận: nơi tâm phát ra ghét gõng đủ thứ phiền não, làm dứt đoạn, tiêu diệt là nghĩa oán hại. 10/ tà kiến: như ở mọi nơi tà kiến phổ thông mà thấy cho là đúng. Tức lấy hết thảy hư vọng phân biệt, tà loạn cho là chánh. Dù Bồ tát có mật hạnh thì mười ác nghiệp đó, ý nghiệp quan trọng mà đại tham đứng đầu. Y cứ nơi sự liên hệ giữa ba nghiệp làm nhân nên Bồ tát thành tựu được hạnh tối thắng. Đây là 10 nhân như trên nói được 5 loại an lạc, vượt hơn các thứ an lạc trong cõi phàm phu nên gọi là tối thắng. Ngoài ra, đại lạc còn có nghĩa là năm quả tu chứng đã lìa hết mọi tướng được pháp lạc, như trên giải rõ.
Thành tựu được cái vui lớn khiến đại Bồ tát giác ngộ thành Phật tối thắng. Ngộ được năm pháp lạc thật an lạc mới có thể đạt được tự giác, giác tha theo sự và lý trong nghĩa đại giác. Quả vị Bồ tát được nhân Phật, địa vị Phật nên được đại giác viên mãn.
Tất cả chư Phật thành tựu đại giác tối thắng khiến chư đại Bồ tát chế phục được đại ma quân hoàn thành viên mãn. Do hiểu rõ sự-lý, tự tha, tà-chánh nên vĩnh vi-n dứt đọan bốn loài ác ma. (27)
Hàng phục các loài ác ma thành tựu viên mãn khiến chư đại Bồ tát độ khắp ba cõi được thành tựu tự tại. Do hàng phục bốn loài ma vượt ngoài ba cõi được quả vị cao quí nên rộng độ khắp ba cõi. Bồ tát không còn bị sanh tử, và bốn loài ma làm hại, nên luôn được an lạc tự tại. Nói tóm lại, tự tại có 10: 1/ thọ mạng tự tại, 2/ tâm tự tại, 3/ chúng đầy đủ tự tại. Ba loại này do nhân bố thí viên mãn mà thành tựu. 4/ nghiệp tự tại, 5/ sanh tự tại. Hai loại này do giữ giới đầy đủ mà có, 6/ thắng giải tự tại - do tu nhẫn nhục thành, 7/ nguyện tự tại - do tinh chuyên tu tập viên mãn, 8/ thần lực tự tại - do tu thiền định, 9/ trí tự tại, 10/ pháp tự tại - do trí tuệ viên mãn. Như Nhiếp Đại Thừa luận quyển 9 nói: mười loại tự tại này lấy ý nói là thành tựu quả tự lợi, đến khi chứng ngộ đã có phần, nên Phật độ sanh tự tại trong ba cõi. Có bài tụng rằng:
Thiên địa cõi này nhà đa văn
Thiên cung xứ xứ mười phương không
Trượng phu, ngưu vương, đại sa môn
Đất đai, núi rừng biến hư không.
Cứu độ ba cõi Phật Thế Tôn.
Lược nói về pháp giới thanh tịnh thì đại viên cảnh trí, bình đẳng tánh trí, diệu quan sát trí, thành sở tác trí, có đầy đủ hai loại phước đức, trí tuệ trang nghiêm nên nói là tối thắng.
Độ khắp ba cõi là thành tựu tự tại khiến chư đại Bồ tát độ chúng sanh lợi ích an lạc không còn thừa sót một ai. Hết thảy mọi loài chúng sanh rốt ráo được đại an lạc là thành tựu tối thắng. Trên nói tự lợi, dưới nêu lợi tha trong đó có hai: 1/ trước nêu rõ tâm quảng đại đệ nhứt về hạnh lợi tha, 2/ sau nêu thường tâm, tâm không điên đảo làm hạnh lợi tha, cứu vớt tất cả mọi loài mà không bỏ sót một chúng sanh nào. Chúng sanh gồm bốn loài: loài đẻ trứng, sanh bào thai, loài sinh nơi ẩm ướt và loài hóa sanh, hoặc có hình hoặc vô hình, có tưởng, vô tưởng hoặc phi hữu tưởng, phi vô tưởng thảy đều vén bạt sạch khổ để ban vui cho chúng. Không một chúng sanh nào mà không dùng trí bi độ nên nói không còn thừa sót. Như các từ: Di là lưu lại, sót thừa lại, dư là thừa, bỏ sót. Trương tàn nghĩa là bất tận. Bạt là nhổ sạch, vớt cứu lên; vớt hết mọi loài không còn một chúng sanh nào còn sót mà không cứu vớt. Niềm vui ban rãi khắp mười phương, ba cõi, năm đường và bốn loài nên gọi tâm quảng đại là như thế.
Nói về lợi ích, an lạc, rốt ráo, đại lạc, thành tựu tối thắng. Lợi ích có 10 món như Kinh Bồ Tát Địa nói: 1/ thuần lợi, 2/ cộng lợi, 3/ lợi ích nhiều loài, 4/ an lạc cho tất cả, 5/ nhân nhiếp lợi, 6/ quả nhiếp lợi, 7/ lợi đời này, 8/ lợi nhiều đời khác, 9/ lợi rốt ráo, 10/ lợi không rốt ráo. An lạc có năm thứ như trước đã nói. Ngoài ra, nhiếp thiện là làm lợi ích, lìa ác là được an lạc. So sánh 10 loại ích lợi như Duy Thức Sớ nói rõ. Kinh Kim Cang, Niết Bàn nói rốt ráo đại lạc như sau: Ta đều khiến nhập vô dư Niết bàn, kia hiểu ba thừa nên chỉ nói Niết bàn mà không nói "dư". Bây giờ được giác ngộ và an lạc Niết bàn là các pháp hữu vi vô vi, tất cả những công đức có được thuộc vô lậu làm cho chúng sanh vui thích hài lòng không một mảy may thương tổn. Không bị bức xúc nên gọi là đại lạc tức là lòng dục số một khiến chúng sanh an trú nơi thắng địa nên gọi là đệ nhứt.
Tại sao thế ? cho chí ở trong dòng thác sanh tử cũng có trí tuệ thù thắng đem giáo pháp cao siêu lợi lạc hữu tình mà không nhập diệt? Phải tìm nguyên nhân, cứu vớt chúng sanh không còn bỏ sót một ai cho đến khi chứng Niết bàn là thế nào? Là cho đến đời vị lai vô cùng tận, có bất cứ chúng sanh nào trong mười phương bị trôi lăn trong dòng sanh tử cũng kịp thời cứu vớt. - mười phương thế giới bất cứ chỗ nào cũng thể hiện tâm từ rộng lớn cứu độ chúng sanh. Kẻ thắng trí là sao ? Là kẻ đã lìa được ngã và ngã sở (cái thuộc về mình), nhơn và pháp đều không chấp là thắng trí. Nhơn và pháp hai trí đều viên mãn như kinh nói: tâm không điên đảo nên kẻ thắng trí xa lìa hai pháp chấp đó. Có đủ pháp thắng trí để làm lợi ích chúng sanh nên không vội nhập Niết bàn. Khắp mười phương cùng tận đời vị lai trong sanh tử ngút ngàn thường dùng pháp cao diệu đệ nhất không thể so sánh này làm lợi lạc cho chúng sanh. Chúng sanh vô số lượng nên thời kỳ nhập Niết bàn cũng không cùng tận. Kẻ thắng trí độ mọi loài hữu tình nên không vào tịch diệt. Tại sao ? Vì không còn chấp có pháp và có chúng sanh được độ, không còn có tướng ta, tướng người mới có thể đem lại lợi lạc chúng sanh rốt ráo vô tận. Như ở đời cha mẹ thương các con tâm không phân nam nữ, không còn thấy mình và con, không nề khó nhọc nên luôn luôn sanh lòng thương giúp. Bồ tát cũng thế, có tâm quảng đại thường hằng, bốn tâm viên mãn độ chúng sanh không kỳ hạn tới khi thành Phật. Thường nhổ sạch sanh tử trong mười cõi pháp giới, dùng bốn tâm Kim Cang nên đạt được bốn quả giải thoát.
Lại nữa dùng trí tuệ rốt ráo siêu việt làm phương tiện khéo đạt được thắng trí, hay hoàn thiện tất cả mọi sự nghiệp rốt ráo thanh tịnh khiến chúng sanh đều thanh tịnh. Phần trên từ chỗ "Lại nữa đến thượng lai" lấy đại tham làm nhân nên được quả lợi lạc. Đây lấy trí tuệ làm nhân nên được quả tốt đẹp. Phương tiện là do trí tuệ giúp chửa bịnh chúng sanh nên thuyết pháp hợp thời, cho nên gọi là phương tiện uyển chuyển thích thời làm cho chúng sanh gia tâm tu tập là phương tiện. Như đi đường gặp người thợ săn đuổi theo con thỏ; y hỏi có thấy không ? Trả lời là không thấy để giữ giới không sát sanh. Mặc dù có thấy con vật vẫn trả lời không thấy. Nói sai không thấy vẫn không phạm nói dối mà vì muốn bảo trọng việc sát sanh. Bồ tát cũng thế, muốn làm cho chúng sanh bỏ tà theo chánh, đối với pháp vô danh đặt tên để thuyết làm cho chúng sanh tội nặng nhẹ đều hợp thời thích nghi tu tập. Tùy hợp căn cơ mà nói pháp khiến chúng sanh nhập đạo. Dùng hình ảnh tiêu biểu những cái vô hình, lấy lời lẽ bày tỏ cái vô ngôn, không xưng tên thật của vật gọi là phương tiện, cốt đạt chỗ tuyệt diệu thẩm sâu, tùy thời tiếp vật trong việc xử sự mà không hề lỗi lầm là thiện xảo. Thắng trí thành tựu do phép thiện xảo này làm nhân nên được quả thù thắng. Thắng trí tức bao gồm hai trí: thiện xảo, phương tiện Ba la mật. Sự khác nhau của trí có hai loại: một là hồi hướng, hai là cứu vớt. Đây nói về trí hồi hướng, rốt cuộc quay về nhứt thiết trí. Trên nói khéo thành tựu sự nghiệp thanh tịnh gồm có ba loại: thần thông, tâm thọ ký, phiền não vi tế dứt sạch. Nhân tu phước trí nên được quả tự lợi lợi tha, nói chung là hết thảy việc thiện đều làm xong tốt đẹp khiến cho loài hữu tình đều thanh tịnh. Nhân quả ba cõi 9 loài cũng đều dứt, sanh tử nhi-m ô đều sạch là được thanh tịnh, có nghĩa là tất cả việc ác đều trừ sạch. Trước nói tham là nhân tuy có hai việc lợi song chính vẫn là lợi tha. Muốn có lợi tha phải khởi bốn tâm, lấy trí tuệ siêu việt làm nhân dốc lòng tu thiện mới có thể tận trừ việc ác. Tâm Bồ Đề có ba loại nên kết quả lợi lạc cũng có ba. Tuy trên đây nói tham là nhân mà tánh là trí tuệ gọi bằng tên khác. Tất cả lấy trí tuệ làm tánh. Từ đây trở lên là giải thích từ đầu ... lại nữa xong. Lại nữa, lấy tham v.v... nhiếp phục thế gian mọi thời đến mọi loài khiến được thanh tịnh, là nhiếp phục một cách tự nhiên. Phần sau chú trọng giải thích tham đạt được lợi ích có hai phần: trước nói lợi tha, sau nói tự lợi. Đây về phần lợi tha, như lấy tham nhiếp phục thế gian mà chư Phật, Bồ tát quán sát chúng sanh phần nhiều keo kiệt che lấp cho dù có của báu cũng không chịu lo tu phước, cũng như không tự dũng mãnh như cắt thân, xẻ thịt ... thì sanh tâm thống thiết lẫn tiếc biết chừng nào ! Chư Bồ tát nhận thấy chúng sanh do tâm keo kiệt lấp mờ làm gia tăng ác nghiệp phải đọa ác thú không có kỳ hạn ra khỏi. Các Ngài khởi lòng đại tham (bi) chứa của báu làm cho chúng sanh bỏ keo lận không khởi ác nghiệp. Trong hậu đắc trí Bồ tát thực sự do tâm đại bi nên khởi lòng tham, không vì mình, vì danh lợi, không vì những người thân thuộc. Cho nên phát khởi một niệm tham là tăng thêm trăm nghìn việc thiện ích. Do đó mà Thiện Tài tham học các bậc thiện tri thức, như khi gặp một ông vua giết vô số chúng sanh, trói đánh bằng roi gậy. Thiện Tài khởi lòng hối tiếc nói với vua: "Các chúng sanh này ngu muội, giận dỗi hoặc không biết đau xót trọn không thể chịu nổi, tôi chịu khổ thay cho". Thiện Tài dẫn giải như quốc vương Tiên Dự giết 500 người Bà la môn mà lại càng thêm công đức. Đây cũng thế, tất cả 10 điều ác nên biết do nghiệp hình thành, nên lúc khởi tham Bồ tát được đại lợi ích.
Như màu hoa sen sáng sạch không bị những chất bùn dơ làm ô nhi-m. Cái tham cũng thế vì lợi lạc cho đời dù lỗi quấy mà vượt qua lỗi quấy nên không bị xấu ác chi phối. Đây nêu rõ tham v.v... là tu hành tự lợi. Thâm tâm Bồ tát khởi niệm tham này là bản sắc thanh tịnh sáng sạch không bị những phiền não làm ô nhi-m. Cho nên các Ngài lấy phiền não làm nguyện lực đi thọ sanh được hoàn toàn tự tại. Như một vị Phật cũng giống Bồ tát khởi niệm tham dùng đó làm lợi lạc chúng sanh. Giả như cái tâm ở trong phiền não lỗi lầm, hữu dư, hữu lậu, che tâm thiện vô ký gọi là có lỗi. Lỗi lầm nghĩa là lậu, mà ở trong ba tánh trong mọi lúc không bị nhi-m ô. Như hoa sen tuy mọc trong bùn mà không bị dính bùn. Tâm Bồ tát cũng y hệt như thế.
Lại nữa đại tham v.v... được thanh tịnh đại lạc trong ba cõi tự tại với tâm kiên cố làm lợi lạc chúng sanh. Phần này từ "Lại nữa ... giải thích thêm" là nói về đại tham tức là Ngã tham v.v... Tham tức ham cái tốt, sợ thân tạo ác rơi trong đường sanh tử. Tham vì mình tu hành để lìa khổ, nên Kinh Duy Ma nói: "Thà khởi ngã kiến to hơn núi Tu Di, còn hơn khởi không kiến nhỏ như sợi tóc". Vì người khởi chấp không, tà kiến không một niệm tu hành. Như tham chấp ngã tăng thêm điều ác làm cản trở con đường đạo. Nhân khởi tham v.v... mà được quả đại an lạc là bảy pháp thánh tài, vật báu trong pháp giới, là vua trong ba cõi. Không lỗi lầm nhi-m ô thì được 10 việc tự tại. - mọi thời, mọi nơi chốn, mọi việc đều đem lại lợi lạc mọi loài chúng sanh một cách vững chắc. Lợi ích chúng sanh tức là lợi ích Bồ tát. Có ba loại lợi ích, do nhân trước hoặc do kết quả mà tham là chính trong việc tu tập cho nên được quả vị rốt ráo. Trước tiên thực hành dứt trừ xấu ác cũng là tham, thứ hai khởi lòng đại bi thương giúp cũng ví như tham, thứ ba mong đạt kết quả tốt đều là tham cả. Song việc chính mà tâm phát khởi là muốn diệt trừ phiền não, ác nghiệp của sanh tử. Cho nên mọi ô nhi-m tham ... tất cả đều tiêu sạch như trên đã nói.
Lúc bấy giờ đức Thế Tôn liền nói thần chú: Nạp mộ bạt già phiệt đế nhứt bát thứ nhưỡng ba la nhỉ đa duệ, Bạt để phiệt sát la duệ. Án bạt phú nhỉ đa lâu nô duệ, tát phược đát tha yết đa bạt phú bố thị đa duệ, tát phược đát tha yết đa nô nhưỡng đa nộ, nhưỡng đa bí, nhưỡng đa duệ, đát điệt tha, bát thứ khoa, bát thứ khoa mạt ha bát thứ khoa, bát thứ nhưỡng bà bà yết lệ, bát thứ nhưỡng lộ ca yết lệ. Án đà ca la tỳ đàm mạt nê tất đệ, tô tất đệ. Tất điện đô mạn bạt già phiệt để, tát phòng già tôn đạt lệ. Bạt để phiệt sát lệ. Bát thứ sa phú đa yết tất đế, sâm ma thấp phược sa yết lệ bột đà bột đà, tất đà tất đà, kiếm ba kiếm ba, triết la triết la, hạt la bạt hạt la bạt. A yết xa, a yết xa, bạt già phiệt để, ma tỳ lam bà, sá ha.
Thần chú này ba đời chư Phật đều tuyên thuyết cùng hết lòng hộ niệm. Người thọ trì thần chú thì mọi chướng ngăn đều trừ sạch, tùy tâm mãn nguyện không điều mong muốn nào mà không thành tựu, nên mau chứng chánh đẳng chánh giác. Lúc bấy giờ đức Như Lai lại nói thần chú:
Nạp mộ bạt già phiệt đế, bát thứ nhưỡng ba la nhỉ đa duệ, đát điệt tha, mâu ni đạt mê, tăng yết lạc ha đạt mê, kiết nô yết lạt ha đạt mê, tỳ mục để đạt mê. Tát đà nô yết lạt ha đạt mê. Phệ thất lạc mạt noa đạt mê, sâm mạn đa nô bả phú phiệt thứ đát na đạt mê. Lâu noa tăng yết lạc ha đạt mê, tát phược ca la bả phú ba thứ na đạt mê, sa ha.
Thần chú này các đức Phật mẫu chuyên trì tụng, nên hết thảy tội chướng đều tiêu sạch thường dùng trí quán chiếu biết kiếp trước của chư Phật, mau chứng được vô thượng chánh đẳng chánh giác. Lúc đó Phật lại nói tiếp thần chú:
Nạp mộ bạt già phiệt đế, bát thứ nhưỡng ba la nhỉ đa duệ, đát điệt tha, thất lệ duệ, thất lệ duệ, thất lệ duệ, thất lệ duệ tuế, sá ha.
Thần chú có oai lực lớn làm cho người trì tụng nghiệp chướng tiêu trừ, nên nghe chánh pháp nhiếp tâm không quên sót, chứng được quả vô thượng chánh đẳng chánh giác. Đoạn sau nói mỗi câu thần chú cần trì tụng ba lần. Lần thứ nhất ca ngợi công đức, chư Phật miệng nói chú, tâm hộ niệm người trì tụng. Hộ niệm là gia trì bằng sức mạnh tâm linh, chư Phật gia trì không dứt, tùy tâm người mong muốn điều ác tiêu trừ, việc thiện thành tựu. Tụng lần thứ nhì cũng tán thán công đức nên thấy chư Phật hiện là Phật mẫu. Vì đây chính là thần chú gốc chư Phật nói ra. Người túc trí đều nhờ thần chú này được diệu trí, biết rõ kiếp trước, những việc quá khứ của mình; việc nhân quả thiện ác đều nhận chân thông suốt, là trí biết về kiếp trước. Tụng lần thứ ba thần chú đủ oai lực được các đức trang nghiêm khiến mọi loài kính nể. Lực là sức mạnh làm cho tất cả nể phục, được nghe giáo pháp để định tâm. Luôn luôn hằng nghĩ tới pháp bằng ký ức không một niệm xao lãng qua đoạn văn tán thán thần chú vừa giải thích. Những phần khác còn lại có thể giải nghĩa chính như sau:
Nói thần chú xong lúc đó đức Thế Tôn bảo Bồ tát Kim Cang Thủ, chư Bồ tát rằng nếu có chúng sanh nào mỗi ngày từ sáng sớm chí tâm đọc tụng chú Bát Nhã Ba La Mật Đa, pháp vi diệu lý thú cao siêu này không gián đoạn thì những nghiệp xấu ác đều tiêu diệt; những niềm vui cao đẹp hiện tiền. Phần sau tán thán công đức thù thắng của kinh gồm có hai phần: phần đầu tán thán riêng về môn Trí Tuệ trong một đoạn. Phần sau tán thán chung công đức toàn quyển kinh Bát Nhã. Phần đầu văn kinh chia làm ba đoạn: thứ nhất, ca ngợi trừ tánh ác và công đức tu thiện, thứ nhì: tán thán việc gieo nhân tốt mới gặt quả đức về sau, và thứ ba tán thán công đức cao quí đạt được. Phần thứ nhất đoạn thứ nhất: tán thán công đức dứt ác, tu thiện. Phần thứ nhì của đoạn thứ nhất: tán thán riêng việc thọ sanh các cõi lành.
Đại lạc Kim Cang là thần chú chẳng phải không mà hiện thân ắt được thành tựu rốt ráo pháp Kim Cang bí mật của chư Phật nên chẳng bao lâu đạt được đại trí Kim Cang và Phật tánh tối thắng. Phần sau tán thán riêng việc thọ sanh nơi cõi thiện, có ba phần:1/ hoàn mãn chú Kim Cang với việc đại an lạc, 2/ thành tựu pháp Kim Cang bí mật, nhờ giới hạnh và thực hiện tu tập pháp Kim Cang mà đạt được, 3/ được trí Kim Cang là Phật tánh. - địa vị Phật trí Kim Cang, là trí tuệ chân thật mới được Phật tánh là pháp thân, thật là quí báu. Sau nói về 2 phần nhân quả chưa thành nên nói phải đợi đến thành Phật mới đạt được.
Nếu có chúng sanh nào chưa gieo thiện căn nơi Phật mà đã phát đại nguyện thì đối với môn trí tuệ siêu việt lý thú vi diệu tối thắng này không thể nghe, biên chép, đọc tụng, cúng dường, suy niệm, tu tập với lòng thành kính. Phần sau do hai nhân lành mới được quả thiện. Phàm tu phải đầy đủ nhân tu tập và hạnh nguyện. Nếu lúc đầu không có hai nhân đây thì không thể khởi được 10 pháp lành mà ở đây chỉ nêu 7 pháp như: 1/ nghe trong sự chú tâm, 2/ biên chép, 3/ đọc, 4/ tụng, 5/ thành tâm cúng dường, 6/ suy niệm, 7/ tu tập. Ba pháp thực hành còn lại cũng như thế. Đó là bố thí pháp, thọ trì và quảng bá pháp. Phần biên chép nói trên còn phải do nhân duyên gặp được kinh, huống nữa là việc thọ trì. Đây nói rõ không do nhân thì không gặp được kinh.
Điểm quan trọng đối chư Phật đều có là gieo trồng các căn lành phát đại nguyện lâu dài, thì có thể nghe được một lời một câu pháp cao siêu vô cùng mầu nhiệm này, huống gì còn được đọc tụng, thọ trì đầy đủ. Phần sau điểm chính nói có nhân mới gặp được kinh, các đoạn trước đã giải thích tưởng không cần phải nêu đầy đủ 10 pháp ở đây.
Nếu có chúng sinh nào thành tâm cúng dường, tán thán tôn trọng kinh trải qua 80 ức hằng hà sa cõi Phật mới có thể nghe được pháp trí tuệ vô cùng siêu việt này một cách đầy đủ. Trên nêu rõ nghe một câu một lời kinh mà còn được nhân lành dường ấy, huống gì từ đầu chí cuối gia tâm tu hành qua bốn sự cúng dường ân cần đầy đủ. Ba nghiệp thành tâm cung kính đầu đội ân cần lại hết lòng tôn trọng nữa, tức là không ngớt tán thán như trên đã nói.
Khắc già là tên của một vị thần dùng chỉ số nhiều. Cõi Phật nhiều như số cát, như cát của sông thuần cát không lẫn lộn đá. Nay ví như con sông Vị nước trong thuần cát không có đất đá pha trộn. Phật dạy phải cúng dường 80 ức hằng hà sa cõi Phật mới nghe được kinh này đầy đủ. Nếu không như thế thì không thể nghe được đầy đủ nghĩa mầu của kinh. Nghĩa lý kinh sâu xa hàng tiểu trí mông muội khó biết được cho nên nói do nhân duyên lớn gặp được kinh này lại tu tập nữa thật quả là một sự hạnh ngộ hy hữu !
Như ở các nơi chỗ nào lưu hành kinh này thì được trời, người, A tu la v.v... đều cúng dường; như Phật dạy để kinh nơi thân hoặc nơi tay thì chúng trời, người kính l-. Phần sau, công đức có được cần phải tôn trọng. - khắp nơi nơi đều tôn kính, người người đều quí trọng, tùy theo văn mà giải. Từ Phật "chế đa" theo cựu dịch là chi đề, tức là tháp miếu (chùa tháp). Chùa tháp an trí Phật tượng, Phật cốt hóa thân của Phật còn phải nghiêm kính, huống nữa pháp thân Phật (kinh) lại không cúng dường ư ?
Nếu có chúng sanh nào thọ trì kinh này trong vô số kiếp thì được túc trí, thường hằng tinh tấn tu các thiện pháp thì ác ma, ngoại đạo không thể phá quấy. Được bốn vị đại thiên vương và thiên chúng thường theo ủng hộ không bỏ rơi. Khi chết không bị oan ức, nạn tai, bịnh hoạn ... Chư Phật, Bồ tát thường gia hộ khiến mọi lúc việc thiện gia tăng, việc ác tiêu diệt. - các cõi Phật tùy nguyện được vãng sanh cho đến khi chứng quả giải thoát không đọa vào đường ác. Sau đây tán thán chung công đức thù thắng của toàn kinh gồm có hai phần: tán thán riêng, tán thán chung. Trong phần tán thán riêng có 10 đức: 1/ qua nhiều kiếp được túc trí, 2/ sanh ra đời thường tinh tấn tu tập, 3/ truyền bá pháp rộng không giữ riêng, 4/ chư thiên thường ủng hộ, 5/ không chết oan, 6/ không tai ương, bịnh hoạn, tức những mối họa phát sanh làm tan nhà mất mạng và những chứng bịnh ung thư nguy hiểm, 7/ chư Phật và Bồ tát thường hộ niệm, 8/ làm cho việc ác tiêu trừ, việc thiện gia tăng, 9/ nguyện sanh cõi Phật, 10/ từ nay trở đi cho tới khi chứng quả không đọa ba đường ác. Nói đường ác có ba trong đó có con người, hình kẻ huỳnh môn (bán nam bán nữ), thần, thân đàn bà, đều không mắc phải.
Các chúng sanh thọ trì kinh này nhứt định được vô biên công đức thù thắng, nay ta lược nói một ít. Đây là phần tán thán chung, được sáng tỏ chân tướng cùng bản tánh sâu xa mới có thể hiểu rõ chỗ vi diệu của tông yếu. Người thọ trì kinh được lợi lạc vô cùng không thể nào nói hết được nên chỉ nói một ít. Người tu hành luôn luôn phải tinh tấn tu học nghiên cứu nếu muốn đạt những đức ấy mới biết kinh này thù thắng vô cùng.
Lúc đức Bạc Già Phạm nói kinh rồi Bồ tát Kim Cang Thủ, chư đại Bồ tát và chư thiên nghe Phật nói xong đều lấy làm hoan hỷ tin tưởng phụng hành. Phần ba đây nói về tu hành chứng ngộ. Các bậc đại Bồ tát là hàng thượng nhơn (28) của mọi người và của thiên chúng những bậc đại sĩ hóa thân đều cảm niệm lời Phật thuyết ngộ được tông yếu ý chỉ từ thâm tâm thuận phát tu hành không gián đoạn.
HẾT
KINH BÁT NHÃ LÝ THÚ PHÂN THUẬT TÁN






CHÚ THÍCH

(1) Hữu vi, vô vi (pháp): pháp hữu vi hay pháp thế gian hoặc pháp sanh diệt chỉ mọi hiện tượng, vật thể biến thái không ngừng ở cõi này và nhiều cõi khác. Những sự vật nào ta có thể dùng mắt quan sát thuộc pháp hữu vi. Ngược lại pháp vô vi hay còn gọi là pháp xuất thế, khó hình dung hay di-n tả đúng dưới mắt phàm nên gọi là vô vi. Tuy nhiên, có sáu khái niệm về pháp vô vi như sau: hư không vô vi, tịch diệt vô vi, phi tịch diệt vô vi, bất động diệt vô vi, tưởng thọ diệt vô vi và chân như vô vi hay cũng gọi là Niết Bàn tịch tịnh.
(2) Ngũ thừa: năm cổ xe chuyên chở hay năm cõi chuyên chở giáo pháp của Phật. Đó là: thiên thừa, nhơn thừa, Thanh Văn, Duyên Giác và Bồ Tát thừa.
(3) Thập địa: mười địa vị hay thứ tự tu chứng theo Thanh Văn, Duyên Giác hay Bồ Tát thừa giải khác nhau. Đây riêng nói thập địa của Bồ Tát thừa. 1/ Hoan hỷ địa, 2/ Ly cấu địa, 3/ Phát quang địa, 4/ Diệm huệ địa, 5/ Cực nan thắng địa, 6/ Hiện tiền địa, 7/ Vi-n hành địa, 8/ Bất động địa, 9/ Thiện huệ địa, 10/ Pháp vân địa.
(4) Đà la ni: nghĩa là trì hay giữ gìn, có sức gom nhóm các pháp lành không để tản lạc mất, như món đồ tốt dùng chứa nước, nước không thể chảy ra ngoài. Có bốn loại Đà la ni: 1/ Văn hay pháp đà la ni, 2/ Nghĩa đà la ni, 3/ Chú đà la ni, 4/ Nhân đà la ni. Pháp đà la ni đối với giáo pháp của Phật nghe rồi thu nhiếp lấy không để quên mất. Nghĩa tức nghĩa lý ý thú các pháp, giữ gìn, ghi nhớ không quên. Chú hay chơn ngôn, thần chú. Những câu nói bí mật của chư Phật, Bồ Tát trợ lực cho việc tu hành trừ dứt những sự độc hại xấu ác, thì thọ trì cả thảy không quên cũng gọi là pháp ấn hay linh phù. Nhân đà la ni là nhân thật tướng vạn pháp mà hành nhẫn nhục thì thân tâm an trụ không xao động.
(5) Tam ma địa: Dịch là chỉ, quán, định hay đại định hay tổng trì. Nhập đại định tam ma địa có nghĩa nhập sâu trong chánh định, có khi 1 tuần, 1 tháng hoặc 3 tháng ... mà tâm trí vẫn sáng suốt mở rộng như hư không.
(6) Vô sanh pháp nhẫn hay vô pháp nhẫn, tức pháp giải thoát hay pháp dứt sanh tử.
(7) Nhị chướng: Hai sự cản ngăn chướng đạo là: 1/ phiền não chướng là những điều bất như ý, những sự bất an, suy nghĩ lầm lạc, những ý kiến sai quấy. 2/ sở tri chướng: sự hiểu biết do trí khôn làm chướng ngại. Do chấp mê chỗ biết, chỗ thấy của mình làm ngăn ngại trí tuệ.
(8) Năm nón kiến chấp: Chấp thiên một bên, tà vạy của người phàm phu. Đó là 1/ thân kiến: chấp thân ngũ ấm giả hợp này là có thật nên chấp ngã, chấp những cái của ta, 2/ biên kiến: chấp thiên về một bên như chấp thường còn hay đoạn diệt (dứt hẳn), 3/ tà kiến: cứ khư khư giữ lấy ý kiến của mình, không tin nhân quả, tội phước, 4/ kiến thủ: tự cho chỗ hiểu biết của mình là tuyệt rồi sanh ra chấp trước, tự cho chỗ sở đắc của ta hơn hẳn người khác, 5/ giới cấm thủ: chấp giữ cấm giới cách cực đoan cho là thắng diệu, không biết rằng đó là sự lầm lạc của kẻ chẳng biết tùy nghi để học hỏi.
(9) Ba khổ: 1/ khổ khổ là cái khổ này chưa dứt lại tiếp cái khổ khác ập đến, 2/ hoại khổ: những hư hao, tan nát làm cho người ta quên ăn mất ngủ, 3/ hành khổ: thấy mọi sự mọi vật ở thế gian vô thường nên trong lòng phát sanh lo âu buồn khổ.
(10) Y tha tánh: hay y tha khởi tánh: tất cả vạn pháp do nhân duyên sinh. Lấy thức A lại da (thứ 8) làm nhân và nhờ nhiều trợ duyên khác mà sinh. Đó là lìa vọng tình để tự tồn, tức giả hữu.
(11) Viên thành thật tánh: tánh thành tựu viên mãn hay pháp tánh cũng gọi là thực hữu hay chân hữu.
(12) Tâm sở: tâm có hai phần: tâm vương và tâm sở. Tâm sở tâm sở hữu là những gì thuộc về tâm như cảm thọ, xúc, tác ý, tưởng, tư, tàm, quí, vô tham, vô sân, vô si, tinh tấn, khinh an, bất hại, hành xã v.v...
(13) Biệt cảnh: cảnh riêng thuộc 5 món tâm sở là dục, thắng giải, niệm, định, huệ.
(14) Dị thục: (thức) là tên gọi khác của thức A lại da. Thức thứ tám này có 3 tên gọi như:
- Từ địa vị phàm phu đến hết đệ thất địa gọi là tàng thức,
- Từ địa thứ tám đến Đẳng giác gọi là Dị thục thức,
- Đến quả vị Phật thì gọi là "vô cấu thức" (thức không cấu nhi-m) hay "Bạch tịnh thức".
(15) Nhị thừa: hai cổ xe dùng chuyển tải giáo pháp của Phật tu đạt giải thoát là: Thanh Văn tu pháp Tứ Đế đắc quả A La Hán, và Duyên Giác tu pháp 12 nhân duyên đắc quả Độc Giác hay Bích Chi Phật.
(16) Đẳng vô gián duyên hay thứ đệ duyên: tâm vương, tâm sở theo thứ tự nối nhau sanh khởi không hề gián đoạn nên gọi là đẳng vô gián.
(17) Sở duyên duyên: tâm vương, tâm sở mượn các duyên mà sanh khởi, là sở duyên của tự tâm.
(18) Tăng thượng duyên: do 6 căn chiếu cảnh phát thức. Lúc pháp sanh khởi có lực dụng không hề chướng ngại, là một trong tứ duyên (xem chú thích 16 và 17 trên).
(19) Nhiếp luật nghi: là một trong ba tụ tịnh giới: nhiếp luật nghi giới, nhiếp thiện pháp giới, nhiêu ích hữu tình (chúng sanh) giới. Như giữ giới sát thì lìa bỏ được điều ác việc sát sanh là giữ luật cẩn thận, làm tăng trưởng tâm từ bi.
(20) Nhiếp thiện pháp: là giữ gìn các thiện pháp và làm cho các pháp thiện tăng tấn mãi.
(21) Nhiêu ích hữu tình: làm lợi lạc cho các loài hữu tình, tìm cách bảo hộ tất cả chúng sanh.
(22) Trí vô ngại biện: là bốn trí biện thuyết của Bồ tát vô ngại: 1/ thuyết pháp vô ngại, 2/ nghĩa lý thông suốt vô ngại, 3/ lời (từ) lẽ tự tại ở bất cứ mọi phương sở nào, 4/ biện thuyết hay nhạo thuyết vô ngại. Đem trí mẫn nhuệ vì chúng sanh ưa thuyết pháp một cách tự tại để đem lại an vui mọi loài.
(23) Ngã câu sanh: chấp ngã gồm có hai phần: câu sanh ngã chấp và phân biệt ngã chấp. Ngã câu (cu) sanh tức là ngã chấp chứa sẵn trong tâm từ bao nhiêu đời trước, vừa sanh ra là đã có sẵn lòng câu nệ, ích kỷ ấy.
(24) Tánh biến kế chấp: do thói chấp của phàm phu vọng cho là thực. Chấp hết thảy mọi pháp do vọng tình biến bố cùng khắp. Ví dụ: ban đêm trông lầm sợi dây thừng tưởng là con rắn...
(25) Tánh viên thành thật (xem chú thích 11 ở trên).
(26) Tánh y tha khởi (xem chú thích 10 ở trên).
(27) Tứ ác ma hay bốn loài ma làm chướng ngại sự tu hành. Đó là: 1/ ma phiền não gồm: tham-sân-si, kiêu mạn, nghi ngờ, tà kiến ...
2/ ma ngũ ấm là ham mê sắc, ưa sự hưởng thọ không chịu buông xã, ý tưởng bao la vũ trụ rơi vào không tưởng, thực hành những việc phi pháp, lỗi quấy. Thức không nhận chân được chánh tà, chân giả nên d- bị phương hại nhiều mặt.
3/ ma chết (tử ma): người nào lúc sinh thời tạo nhiều ác nghiệp, khi chết thần thức không siêu thoát đi đầu thai được, nên theo phá quấy nhi-u kẻ khác.
4/ ma thần tiên (thiên ma): ma ở cõi thượng thiên, cũng gọi là ma vương, vị thiên chủ từng trời thứ sáu, cáo nhất ở cõi Dục giới. Nói chung, các loài ma hay thiên thần, tiên thường dùng sức biến hóa tự tại để ngăn cản đường tu của bậc hiền giả.
(28) Thượng nhơn: người đạo cao đức trọng, tài năng xuất sắc, xử sự với mọi người một cách bình đẳng, nên được mọi người tôn xưng.

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn