Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   
Bài mới nhất

3- A-Nậu-Lâu-Đà tiến lên Thánh hạnh A-la-hán

15/05/201316:42(Xem: 3517)
3- A-Nậu-Lâu-Đà tiến lên Thánh hạnh A-la-hán

Tu Tập Hạnh Bồ Tát

Cuộc đời Tôn giả A Nậu Lâu Đà (Anuruddha)

3- A-Nậu-Lâu-Đà tiến lên Thánh hạnh A-la-hán 

Nguyễn Điều

Nguồn: Tác giả: Hellmuth Hecker, Dịch giả: Nguyễn Điều


Sau khi đắc được Thiên nhãn thông và các thần thông khác, nhờ tinh tấn thực hành Thiền định (Sama(dhi, nhất là đã vượt lên các bậc thiền Hữu sắc, A-nậu-lâu-đà nguyện nhất tâm phát triển xa hơn nữa công phu thiền pháp của mình, hầu sớm đạt đến đạo quả giải thoát A-la-hán (Arahatta). Nhưng trước khi chứng thật cứu cánh ấy, ông đã phải rèn luyện Thánh hạnh và đấu tranh rất nhiều với bản thân, để tẩy trừ mọi phiền não vi tế trong tâm, nhất là căn tánh cuối cùng của cái "ta" là "không muốn hành động theo ý của người khác". Có ba thuật sự gương mẫu đáng kể lại cho đời sau là :

Một lần nọ, Thiền sư A-nậu-lâu-đà tịnh tu cùng với Sa-môn Nandiya, vốn là anh em chú bác trong hoàng tộc, (theo Tôn Túc Kệ Ngôn câu 25 : Theragàthà 25), và Tỳ-kheo Kimbila, em ruột của ông, (theo Tôn Túc Kệ Ngôn câu 118, và Tăng Chi A Hàm số 5/201, 6/40, 7/56, cũng như Tạp A Hàm số 54/10 = Theragàthà 118, Anguttara Nikàya 5/201, 6/40, 7/56, Sam(yutta 54/10).

Cả ba vị đã đến hành thiền giữa ngôi rừng phía Đông vườn Trúc Lâm, một cách hoàn toàn "cô độc". Ý nói tuy họ có mặt đến ba người trong cùng một hoang địa. Nhưng hằng ngày họ chẳng bao giờ gặp nhau. Trình độ thuần thục thiền pháp của họ đã hoàn toàn vững chắc, khiến cả ba hành giả thật không cần sự hỗ trợ qua lại. Tuy nhiên, luật cộng đồng chẳng cho phép họ sống biền biệt, nên họ phải ước hẹn cứ mười lăm ngày hội họp một lần, để làm lễ "phát lồ" (sám hối) và luận đạo. Sự hội họp của họ cũng an lạc, hòa thuận một cách đặc biệt, đến đỗi biến thành ba huyền thoại phạm hạnh, loan truyền ra khắp vùng xung quanh, khiến cho ai nghe cũng khen ngợi ! Không như nhóm Tăng sĩ luôn luôn gây gổ, chia rẽ nhau ở Kosambì !

Khi Đức Phật đến thăm ba đệ tử ấy và hỏi Sa-môn A-nậu-lâu-đà nhờ pháp gì mà ông sống hòa thuận một cách tuyệt đối với hai huynh đệ, thì được ông trả lời :

– Bạch Đức Thế Tôn ! Thật vậy, chúng đệ tử ba Tỳ-kheo ẩn tu trong ngôi rừng này, hằng ngày hành động qua thân, khẩu hay ý, luôn luôn dựa trên thiện pháp quên mình, dẹp bỏ cái "ngã" và làm mọi cách đem an vui đến những người xung quanh. Pháp ấy không bắt buộc chúng đệ tử phải thường xuyên gặp nhau bằng xương bằng thịt, mà vẫn gặp nhau bằng tâm hồn ôn hòa, từ ái. Không có một hành động, lời nói hay ý nghĩ nào của chúng đệ tử ba người mà bắt nguồn từ sự bất thiện cảm với đồng đạo, có thể phát sanh. Thành thử sự bình an và hòa thuận là một tịnh quả tất nhiên. Mỗi cá nhân trong chúng đệ tử luôn luôn tâm niệm rằng : "Khi ta muốn làm một điều gì, thì ta hãy dẹp cái điều ta muốn sang một bên, và ta phải cố gắng làm những điều mà huynh đệ ta muốn". Rồi chúng đệ tử cả ba đều hành động như thế, nên an vui vô cùng. Có thể nói là chúng đệ tử tuy ba người, nhưng chỉ có một tâm hồn thiện hạnh nằm trong ba thân thể tạm bợ này.

Tiếp theo Đức Phật hỏi A-nậu-lâu-đà về tiến bộ tu tập của cả ba Sa-môn ra sao, xem họ có thành quả tâm linh nào đáng kể, vượt khỏi khả năng trung bình phàm tình hay không, thì được A-nậu-lâu-đà trả lời :

– Bạch Đức Thế Tôn ! Chúng đệ tử đã gặp nhiều chướng ngại pháp, nhất là "nội ma" trong tâm luôn luôn quấy nhiễu, nhưng nhờ tinh tấn và kiên trì dẹp bỏ cái "ta" mà chúng đệ tử đã vượt qua. Giờ đây chúng đệ tử đã củng cố được linh lực của trí tuệ, chứng thật sự bừng sáng của nội tâm (Obhãsa Sanõnõà) (1), thấy rõ nhiều "hình thái" vô cùng quang minh, kỳ diệu và vi tế (Rũpãnamï Dassanamï) (2)

Nhưng bạch Đức Thế Tôn ! Kết quả siêu phàm ấy, chúng đệ tử chỉ chứng đắc trong khi hành thiền mà thôi, chứ bình thường không thể vận dụng được ! Và chúng đệ tử không hiểu tại sao ? Thỉnh cầu đức Bổn Sư chỉ dạy.

Đức Phật liền giảng giải rằng :

– Một hành giả khi tham thiền, đối diện với trạng thái tâm linh biến hiện có điều kiện tiên lập như thế, mà muốn vượt qua thì phải tinh tấn loại trừ mười một Tùy phiền não (Ekadasũpakkilesã).

– Này A-nậu-lâu-đà ! Vậy chứ mười một Tùy phiền não ấy là gì ? Là Hoang mang (hồ nghi), Lơ đãng (phóng tâm), Mỏi mệt (buồn ngủ) và Lo âu (hồi hộp) (3) v.v... Bốn chướng ngại pháp đầu tiên này nếu hành giả không vượt qua thì chẳng thể tu thiền được ! Còn ngược lại nếu họ chiến thắng nổi chúng, thì bảy Tùy phiền não tiếp theo sẽ lần lượt phát sanh, hễ cái này bị loại thì cái kia hiện ra, như một hàng số lũy tiến, số sau là kết tập của số trước.

– Này A-nậu-lâu-đà ! Ví thử có một hành giả, nhờ tinh tấn tu thiền mà vượt thắng được bốn Tùy phiền não đầu tiên nói trên, thì họ sẽ thọ chứng rõ rệt một trạng thái khoái cảm thuộc về thân thể rất đáng ưa thích. Sự "khoái cảm" ấy sẽ nhập vào ý thức, biến thành một thứ phỉ lạc làm cho tâm tư nhẹ nhàng, ngây ngất, ngây ngất đến độ họ có thể bị mắc dính trong "phỉ lạc", không muốn mất "phỉ lạc". Tình trạng này làm cho nhiều thiền giả bị dừng lại ở đó, không tiến xa trên con đường tu thiền. Nhưng nếu có hành giả dũng mãnh tinh tấn hơn nữa, thì họ phải sử dụng một thiền lực cực tịnh, tách rời mọi sự ưa thích phỉ lạc, để đưa tâm linh quán trú vào đề mục. Từ đó "thiền lực cực tịnh" ấy sẽ đẩy tâm tư của thiền giả vào một trạng thái mới gọi là Tán thức, tức là khi vượt qua giai đoạn "phỉ lạc", thiền giả vốn dùng quá nhiều "định lực" (Cực tịnh), nên thiền tâm lại rơi vào trong tình trạng "tán thức", nghĩa là như muốn bay bổng, hụt hẩng, như muốn khinh thân vậy. Và vì cường độ cảm nhận ngoại trần ở tình trạng "tán thức" này rất yếu, nhường chỗ cho những tỉnh niệm hướng thượng, nhất là hướng về Thiên giới, hay Phi địa tiên, hoặc hội tụ để phát sanh "nội quang" trong tâm thiền giả.

Nhưng này A-nậu-lâu-đà ! Khoảng giữa "Cực tịnh" và "Tán thức" lại có một giai đoạn mà thiền tâm của hành giả hội tụ ở nhiều "cảnh sắc" khác nhau, thường là thiền tâm ấy vừa hội tụ vừa tìm kiếm những cảnh sắc thích hợp để thử an trú nơi đó, nên cái "nội quang" nói trên chợt xuất hiện, chợt biến mất, và lập lại nhiều lần, khiến cho hành giả sanh lòng ham muốn nắm giữ. Kết quả, có một Tùy phiền não thứ chín xuất hiện là Dự tưởng. "Dự tưởng" này sẽ dẫn thiền tâm của hành giả đến nhiều "Nhiễu ấn" chập chờn, để cuối cùng chỉ có một "Ấn pháp" thích hợp ở lại để làm điểm tựa cho thiền tâm. Và sự thỏa mãn của hành giả cũng sẽ phát khởi để ôm chặt "Ấn pháp", rồi gia tăng tinh tấn. Mức độ gia tăng tinh tấn của Tùy phiền não thứ mười này sẵn được thỏa mãn của hành giả hỗ trợ, nên rất mạnh, có thể đưa đến Tùy phiền não thứ mười một là Chấp niệm.

Và này A-nậu-lâu-đà ! Một thiền giả khi rơi vào trong Tùy phiền não "Chấp niệm" mà không biết áp dụng pháp Tứ Vô lượng tâm, nhất là pháp Vô lượng tâm Xả, để giải trừ, thì sẽ bị lầm lạc.

(

Lời thêm của dịch giả : Để cho quý vị dễ nhớ hơn, chúng tôi xin kê khai vắn tắt, tên của mười một Tùy phiền não theo thứ tự như sau : 1- Hoang mang, 2- Lơ đãng, 3- Mỏi mệt, 4- Lo âu, 5- Khoái cảm, 6- Phỉ lạc, 7- Cực tịnh, 8- Tán thức, 9- Dự tưởng, 10- Nhiễu ấn, 11- Chấp niệm. Ngoài ra, ba ký số (1), (2) trong lời thưa của A-nậu-lâu-đà và (3) trong lời giảng của Đức Phật, cũng xin chú thích như sau :

(1) Sự bừng sáng trong tâm : Obha(sa Sanõnõã, ám chỉ những ảnh tượng có hào quang. Nhưng theo chú giải, trạng thái ấy còn có tên là Parikammobha(sa, tức là thiền giả đã đạt được Cận định, gần đắc vào Sơ thiền, nên mới có ánh sáng như thế.

(2) Ru(pa(nam( Dassanam( ám chỉ sự thấy tương đương với bậc có Thiên nhãn thông.

(3) Lo âu là Tùy phiền não thứ tư, ám chỉ phản ứng của hành giả trước các quái tượng thường hiện ra, có đặc tính gây sợ sệt cho những ai tu thiền, đã cố gắng vượt qua ba Tùy phiền não đầu. Các quái tượng này hầu hết không phải do ma chướng trong tâm thiền giả hiển lộng, mà là do những chúng sanh vô hình, như ngạ quỷ hay A-tu-la chẳng hạn, sống trong môi trường của người tu thiền, đồng thời tịnh tâm của người tu thiền cũng thuần thục, có thể "giao kiến" được với những chúng sanh vô hình đó.

(

Theo Kinh Trung A Hàm số 128 (Majjhima Nika(ya 128) thì khi ấy Đức Phật đã giảng giải rõ mười một Tùy phiền não luôn luôn xảy ra cho một thiền giả nhiều quyết tâm, nhẫn nại và tinh tấn, đúng như kinh nghiệm bản thân của Phật đã từng trải qua, chứ không ph���i do Ngài dùng Thánh tuệ của một bậc Toàn giác mà biết được.

Phần cuối, Đức Phật lại dạy cho A-nậu-lâu-đà cách áp dụng Vô lượng tâm Xả để giải trừ Tùy phiền não thứ mười một, và cũng là "Tùy phiền não chót" trong các chướng ngại pháp, hầu giúp ông tiến lên Thánh hạnh một cách vững chắc. Đoạn Đức Phật chúc lành cho ba đệ tử tinh tấn tu hành, rồi Ngài trở lại Trúc Lâm tịnh xá...

A-nậu-lâu-đà, sau đó tuy đã tiến triển mỗi ngày một tinh vi trong các bậc thiền, và dù hoàn toàn thuần thục trong nhiều tịnh pháp hữu sắc, thế mà một hôm ông đã đến gặp Trưởng lão Xá-lợi-phất (Sa(r(putta) và nói rằng :

– Này đạo huynh Xá-lợi-phất ! Bằng "con mắt thanh tịnh" (Thiên nhãn) đã được định lực rèn luyện, trở nên siêu phàm, tiểu đệ thường nhìn thấy hàng ngàn vạn chiều vũ trụ. Nhất thời nguyện lực của tiểu đệ rất hùng hậu và bất thối. Tinh thần của tiểu đệ luôn luôn giác tỉnh và sáng tỏ. Thể xác của tiểu đệ đang lành mạnh và không bị kích thích bởi bất cứ trần cảnh gì. Trí nhớ của tiểu đệ có thể gợi lại dễ dàng và rõ rệt trước mọi đề mục. Thế nhưng tâm linh của tiểu đệ hiện tại vẫn chưa được tự do, giải thoát khỏi những phiền não vi tế là nghĩa làm sao ?

Trưởng lão Xá-lợi-phất liền trả lời :

– Này hiền đệ A-nậu-lâu-đà ! Khi hiền đệ nghĩ rằng hiền đệ đã đắc "Thiên nhãn", có thể nhìn thấy ngàn vạn chiều vũ trụ, tức là sự tự phụ đang hiện diện trong tâm hiền đệ ! Khi hiền đệ nghĩ rằng nguyện lực của hiền đệ đang bất chuyển, tinh thần của hiền đệ luôn luôn giác tỉnh, thân thể của hiền đệ vẫn lành mạnh, trí nhớ của hiền đệ hằng minh mẫn, tức là sự loạn động vì tự mãn (một loại tư duy ràng buộc) đang có mặt trong tâm hiền đệ đấy. Khi hiền đệ nghĩ rằng tâm linh của mình không được tự do với những phiền não vi tế, tức là hiền đệ bị chướng ngại pháp hồ nghi quấy nhiễu. Tốt hơn hiền đệ nên xua đuổi ba thứ tư tưởng bất thiện ấy đi, rồi dồn hết mọi tư duy vào các pháp vô thường, khổ não và vô ngã, nhất là dồn chú ý vào cứu cánh "Bất hữu", "Bất thủ", "Vô sanh", "Vô diệt", "Niết-bàn".

Sau khi nghe những lời hướng dẫn của Trưởng lão Xá-lợi-phất (Sa(r(putta), A-nậu-lâu-đà (Anuruddha) liền trở về tịnh cốc, tiếp tục cuộc sống cô độc, tinh tấn hành thiền, cố gắng loại trừ ba chướng ngại ấy trong tâm. (theo Anguttara Nikàya 3 : 128 – Tăng Chi A Hàm số 3 : 128)

Một lần khác, A-nậu-lâu-đà ẩn tu trong lãnh thổ bộ lạc Cetiya, nằm về hướng Đông vườn Trúc Lâm. Một hôm trong khi đang hành thiền thì thiện tư duy sau đây bỗng hiện lên trong tâm ông :

– Bậc Đại sĩ (Maha(purisavitakka) là người phải có đời sống gồm đủ bảy phẩm cách cao thượng là : 1- Thanh đạm, 2- Tri túc, 3- Ẩn dật, 4- Quả cảm, 5- Cảnh giác, 6- Định tâm, 7- Trí tuệ. Như thế một Sa-môn trong Phật giáo không nên thiếu bảy đức tánh này.

Đức Phật dùng Tha tâm thông biết rõ ý nghĩ ấy trong tâm vị Tỳ-kheo em họ, và cũng là đệ tử. Ngài liền hiện đến trước mặt A-nậu-lâu-đà để tiếp độ và khen ngợi rằng :

– Này A-nậu-lâu-đà ! Lành thay là điều ông đang tư duy ! Ông đã ngưỡng mộ bảy đức tánh mà một vĩ nhân không thể thiếu được như thế nào, thì trong thiền pháp của Như Lai, một Sa-môn hành giả, chẳng những không thể thiếu bảy đức tánh ấy, mà họ còn phải có thêm đức tánh thứ tám là không phóng tâm vào trần cảnh nữa ! Tỳ-kheo nào là người đã nghe hiểu giáo pháp của bậc Toàn giác, mà còn có khuynh hướng để tâm duyên theo những thỏa mãn phàm tình, thì Tỳ-kheo ấy thật không xứng đáng làm đệ tử Phật dạy.

(Nhóm chữ "không phóng tâm vào trần cảnh" trên đây ám chỉ từ ngữ (Pa(li) trong Kinh Phật là "Nippapanõca", tức không có khuynh hướng mắc dính vào Ngũ trần : sắc, thinh, hương, vị, và xúc. Hay sự giải thoát dứt khoát khỏi tham luyến xác thân hữu hình, đa tánh và phức tạp của con người. Rồi "Hữu dư Niết-bàn" bản chất vốn là trạng thái giải thoát khỏi khổ thân hiện tại này vậy ! Ngược lại, cũng trong Kinh Pa(li, chữ "Papanõca", không có tiếp đầu ngữ "Nip" có nghĩa là tâm mắc dính, đắm chìm trong các dục lạc ngũ trần, và chịu vô số thống khổ, tương đương với đặc tính đa dạng và phức tạp của những chúng sanh hữu thể luân hồi).

Đức Phật còn nhấn mạnh với A-nậu-lâu-đà rằng :

– Nếu trong khi hành thiền, phát triển được tám đức tánh ấy mà ông có thể đạt được Tứ thiền dễ dàng, theo ý muốn, thì từ đó ông sẽ không còn bị Ngũ trần (sắc, thinh, hương, vị, và xúc) ảnh hưởng tới tâm nữa. Đời sống thể xác của ông lúc ấy cũng sẽ an vui, tri túc với bốn món vật dụng tối thiểu là y phục, thực phẩm, chỗ ở, và thuốc trị bệnh... Trạng thái này có thể so sánh như một người trần tục hưởng thụ những xa xỉ phẩm vậy. Bốn món vật dụng đạm bạc ấy hằng ngày không làm cho ông mắc dính Ngũ trần, trái lại nhờ nó che chở thân thể mà ông có thể tinh tấn hành thiền để đạt đến đích giải thoát cao thượng.

Lúc Đức Phật từ giã vị đệ tử này, Ngài cũng khuyên A-nậu-lâu-đà nên tiếp tục ẩn tu trong vùng phía Đông vườn Trúc Lâm. A-nậu-lâu-đà cung kính vâng lời, và ông đã tịnh nhập một mùa an cư kiết hạ viên mãn ở đó. Theo Kinh Tăng Chi A Hàm số 3/30 (Anguttara Nika(ya 3 : 30), thì A-nậu-lâu-đà nhờ tinh tấn vượt bậc, nên sau đó chẳng bao lâu ông đắc quả A-la-hán (Arahatta). Thành thử, lần Phật đến hỗ trợ ông ấy, cũng là lần tiếp độ sau cùng, bởi một Thánh nhơn A-la-hán là bậc đã biến thành "Vô học", "Vô nhiễm" và "Bất đọa" vậy !

Ngay khi vừa đắc quả A-la-hán, Thánh nhơn A-nậu-lâu-đà đã ứng khẩu ngâm mấy câu kệ, cúng dường Đức Phật rằng :

Người đã biết tận tâm tư đệ tử
Đức Bổn Sư, bậc Siêu thế đến đây
Bằng linh ý, bằng khinh thân bí tự
Người khai quang tâm tánh cá nhân này.
Phật xuất hiện khi thiền tâm cần học
Đem phúc ngôn cao ngất chín từng mây
Dạy cho thấy căn ngũ trần ô trọc
Diệt tư duy ([1]) dứt sanh tử đọa đày
Giờ đệ tử trong xứ thiền an trú
Không phân tâm ra ngoại cảnh vần xoay
Tuệ giải thoát và Tam thông ([1]) tích tụ
Phật ngôn kia hành đắc chữ Không này.


(N. Đ. thoát dịch ra văn vần, theo các Tôn Túc
Kệ Ngôn số 901-903 trong Tăng Chi A Hàm 8:0
- Theraga(tha( 901-903, Anguttara Nika(ya 8:30)



Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn