Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   
Bài mới nhất

Quyển thứ tư

15/05/201314:24(Xem: 7117)
Quyển thứ tư

Kinh Bát Nhã Ba La Mật Sao

Quyển thứ tư

Thích Nữ Tâm Thường

Nguồn: Thích Nữ Tâm Thường

Phẩm thứ bảy: Bổn vô

Tu Bồ Đề bạch Phật:

- Kính bạch Thiên Trung Thiên, các pháp theo thứ tự của nó, đó là sự trình bày pháp không bị tổn giảm. Các pháp không có đầu mối và tướng của các pháp không chướng ngại, như “không pháp” là không sanh, các pháp có sanh không thể đạt được, đó là pháp sanh nên không thể đắc.

Các Thiên tử cõi Dục, cõi Phạm đồng bạch Phật:

- Tịch tịnh là đệ tử Phật. Nay tôn giả Tu Bồ Đề nói tất cả đều không.

Tu Bồ Đề bảo các Thiên tử:

- Vì đó là theo lời dạy của Như Lai.

Phật bảo Tu Bồ Đề:

- Làm thế nào để biết đó là lời dạy của Như Lai?

Tu Bồ Đề thưa:

- Như Lai vốn không, đó là theo lời dạy của Như Lai. Các pháp quá khứ, vị lai, hiện tại thảy đều không.

Phật dạy:

- Người theo vốn không là theo lời dạy của Như Lai. Các pháp cũng vốn không. Như các pháp vốn không, Như Lai cũng vốn không. Tất cả vốn không, hoàn toàn vốn không. Đó là Tu Bồ Đề đã theo lời Như Lai dạy. Không khác với vốn không, đó là Như Lai dạy. Không khác, không có khác theo Như Lai dạy, đó là theo vốn không.

Vốn không, đó là Như Lai. Chỗ an trụ mà Tu Bồ Đề an trụ là theo lời dạy của Như Lai. Như Như Lai vốn không, không chướng ngại, các pháp cũng vốn không, không chướng ngại. Vậy nên Tu Bồ Đề là người vâng theo lời dạy của Như Lai, vì giống như Như Lai vốn không, nên đối với các pháp cũng vốn không, hoàn toàn vốn không, giống nhau không khác.

Ngã, cũng không tác giả. Vốn không, cũng không tác giả. Tất cả đều vốn không, lại cũng không vốn không, như vốn không, vốn không ngã, cũng như vậy. Tu Bồ Đề là người theo lời Như Lai dạy. Như Như Lai vốn không, không khác, không có khác. Thế nên các pháp cũng vốn không, không khác, không có khác. Đó là Như Lai vốn không, cũng không hư hoại, cũng không mục nát, không thể đắc. Vậy nên Tu Bồ Đề là người vâng theo lời dạy của Như Lai. Như Lai cùng các pháp đều vốn không, không khác, cũng không khác. Vốn không cũng không có khác. Vốn không, hoàn toàn là vốn không. Như Tu Bồ Đề đã vâng theo, đã nhập không thể tính toán. Người cũng vô sở nhập, đó là theo lời dạy của Như Lai.

Như Lai đó là vốn không. Cũng không quá khứ, vị lai, hiện tại và các pháp đều là vốn không, nên cũng không quá khứ, vị lai, hiện tại. Như vậy nên Tu Bồ Đề là người vâng theo lời dạy của Như Lai. Do Như Lai vốn không, liền nói Như Lai dạy. Như Lai tức là vốn không, vị lai cũng vốn không, quá khứ cũng vốn không, hiện tại cũng vốn không. Do quá khứ vốn không, Như Lai dạy đó là vốn không. Do vị lai vốn không, Như Lai dạy đó là vốn không. Do hiện tại vốn không, Như Lai dạy đó là vốn không. Do như quá khứ, vị lai, hiện tại vốn không, nên Như Lai dạy đó là vốn không. Do như quá khứ, vị lai, hiện tại vốn không, Như Lai dạy đó là vốn không, chúng giống nhau không khác.

Như các pháp vốn không,vậy nên này Tu Bồ Đề, chúng giốngnhau không khác. Vì theo Như Lai dạy, chúng giống nhau không khác. Đó là vốn không của chơn Bồ tát đạt đến Vô thượng Bồ đề. Cũng đều vốn không giống nhau. Do như vốn không nên liền đắc tên Như Lai vốn không.

Đất liền chấn động sáu cách. Như Lai nhơn vốn không này màđược thành tựu. Thế nên Tu Bồ Đề là người vâng theo lời dạy của Như Lai.

Lại nữa Tu Bồ Đề! Vì không theo sắc, vì không theo thọ - tưởng - hành thức, cũng không theo Tu-đà-hoàn đạo, cũng không theo Tư-đà-hàm, A-na-hàm, A-la-hán, Bích Chi Phật đạo. Vậy nên Tu Bồ Đề là người vâng theo lời dạy của Như Lai.

Xá Lợi Phất bạch Phật:

- Kính bạch Thiên Trung Thiên! Bổn vô rất thậm thâm.

Phật dạy:

- Đúng như vậy! Bổn vô rất thậm thâm.

Khi thuyết về Bổn vô, ba trăm Tỳ kheo đều đắc A-la-hán, năm trăm Tỳ kheo ni đều đắc Tu-đà-hoàn đạo, năm trăm chư thiên và người đều đắc được Vô sanh pháp nhẫn, sáu chục Bồ tát đều đắc A-la-hán đạo.

Phật bảo Xá Lợi Phất:

- Hạng Bồ tát này đã từng cúng dường năm trăm đức Phật quá khứ, đã làm việc bố thí, giữ gìn tịnh giới, thành tựu nhẫn nhục, tinh tấn và đầy đủ thiền định. Bởi không đắc phương tiện quyền xảo của Trí độ nên tuy là đại Bồ tát có đạo ý thể nhập vào không, vô tướng, vô nguyện, vì xa lìa phương tiện quyền xảo, giữa đường đã cho là cứu cánh nên chứng đắc Thanh văn.

Này Xá Lợi Phất! Ví như có con chim lớn, thân của nó hoặc bốn ngàn dặm, hoặc tám ngàn dặm, một vạn hai ngàn dặm, một vạn sáu ngàn dặm, hoặc ba vạn dặm, từ trên trời Đao Lợi muốn đi đến Diêm Phù Đề, nhưng con chim này vì không có cánh để bay, nó bèn từ trên trời Đao Lợi lộn nhào xuống đất. Thế nào, Xá Lợi Phất! Con chim này giữa đường muốn quay trở lại trên trời Đao Lợi có thể được không?

Xá Lợi Phất thưa:

- Kính bạch Thiên Trung Thiên, không thể được.

Phật dạy:

- Con chim này rơi đến cõi Diêm Phù, muốn thân nó không bị đau đớn, có thể được không?

Xá Lợi Phất thưa:

- Không thể được, kính bạch Thiên Trung Thiên! Con chim này rơi đến đất, thân nó không thể không bị đau đớn. Hoặc là nó sẽ chết, hoặc nó sẽ bị hôn mê cực độ. Vì sao? - Vì thân nó rất lớn mà lại không có cánh.

Phật dạy:

- Đúng như vậy, Xá Lợi Phất! Giả sử đại Bồ tát làm việc bố thí, hộ trì tịnh giới, thành tựu nhẫn nhục, việc làm tinh tấn, thiền định nghiêm túc, phát tâm rất lớn, trải qua kiếp số như cát sông Hằng, muốn độ tất cả thành Vô thượng Bồ đề, nhưng không có phương tiện quyền xảo của Trí tuệ độ nên giữa đường bị rơi trở lại địa vị Thanh văn Bích Chi Phật.

Như vậy, này Xá Lợi Phất! Đại Bồ tát đối với Phật quá khứ, hiện tại, vị lai vì không trì giới, thiền định, trí tuệ, giải thoát, giải thoát tri kiến huệ, mà trở lại phát sanh tưởng, đó là không giữ giới, thiền định, trí tuệ, giải thoát, giải thoát tri kiến tuệ của Như Lai. Vì không biết lời dạy của Như Lai nên không hiểu không biết, chỉ nghe trên lời nói mà tưởng như vậy. Như điều đã nghe, muốn trở thành Vô thượng Bồ đề, điều đó không thể nào đạt được, nên giữa đường chứng đắc địa vị Thanh văn, Bích Chi Phật đạo. Vì sao? - Vì như vậy là không đắc phương tiện quyền xảo của Trí độ.

Xá Lợi Phất bạch Phật:

- Con nhớ Phật có dạy: lìa phương tiện quyền xảo của Trí tuệ độ, không thể đạt đến Vô thượng Bồ đề. Đại Bồ tát nào muốn đắc Vô thượng Bồ đề nên sáng suốt học tập phương tiện quyền xảo của Trí tuệ độ.

Các Thiên tử cõi Dục, cõi Sắc đồng bạch Phật:

- Trí độ thật sâu xa, khó hiểu, khó rõ, bỗng nhiên không thể đắc được Vô thượng Chánh giác.

Phật bảo các Thiên tử:

- Đúng như vậy! Trí độ thậm thâm khó hiểu rõ, bỗng chốc không thể đắc Vô thượng Chánh giác.

Tu Bồ Đề bạch Phật:

- Kính bạch Thiên Trung Thiên! Trí độ khó hiểu rõ. Như con nghĩ: người có trí tuệ như vậy mới có thể đắc Vô thượng Chánh giác. Vì sao? - Vì cũng không ngay nơi đó có người đắc Chánh giác nên nói là “pháp không”, không tạo nên Chánh giác. Do pháp không, nên đối với pháp cũng không thể đắc, sẽ tạo nên Chánh giác, nên các pháp đều không. Ngay nơi các pháp không có sở hữu, đó là pháp ngữ. Không tạo nên Chánh giác nên gọi đó là pháp không. Không tạo nên Chánh giác, cũng không đắc Chánh giác. Người nghĩ tất cả pháp đều không, người học theo như vậy. Kính bạch Thiên Trung Thiên, bỗng chốc đắc Vô thượng Chánh giác, thành bậc Chánhgiác.

Xá Lợi Phất bảo Tu Bồ Đề:

- Như thầy đã nói, bỗng chốc đắc Vô thượng Chánh giác, điều đó thật là khó. Vì sao? - Vì “không” không nghĩ rằng ta sẽ tạo nên Vô thượng Chánh giác, thành bậc Chánh giác. Pháp như vậy dễ đắc Chánh giác. Vì sao? - Vì các Bồ tát nhiều như cát sông Hằng, làm sao xoay trở lại?

Tu Bồ Đề thưa:

- Nên biết như vậy. Không vì bỗng nhiên, khó đắc Vô thượng Chánh giác.

Tu Bồ Đề hỏi Xá Lợi Phất:

- Vì trở lại sắc không trở thành Vô thượng Chánh giác phải không?

Đáp:

- Thưa không.

- Vì trở lại thọ, tưởng, hành, thức, không trở thành Vô thượng Chánh giác phải không?

Đáp:

- Thưa không.

- Có thể có sắc khác đắc pháp thì không trở thành Vô thượng Chánh giác phải không?

Đáp:

- Thưa không.

- Có thể có thọ, tưởng, hành, thức khác đắc pháp thì không trở thành Vô thượng Chánh giác phải không?

Đáp:

- Thưa không.

- Sắc vốn không thì không trở thành Vô thượng Chánh giác phải không?

Đáp:

- Thưa không.

- Thọ, tưởng, hành, thức vốn không thì không trở thành Vô thượng Chánh giác phải không?

Đáp:

- Thưa không.

- Thế nào, Xá Lợi Phất! Có thể có sắc khác vốn không, đắc pháp đó thì không trở thành Vô thượng Chánh giác phải không?

Đáp:

- Thưa không.

- Có thể có thọ, tưởng, hành, thức khác vốn không, đắc pháp đó thì trở lại không trở thành Vô thượng Chánh giác phải không?

Đáp:

- Thưa không.

- Thế nào, Xá Lợi Phất! Vốn không thì không trở thành Vô thượng Chánh giác phải không?

Đáp:

- Thưa không.

- Có thể có vốn không nào khác nữa, đắc pháp đó thì không trở thành Vô thượng Chánh giác phải không?

Đáp:

- Thưa không.

- Giả sử ngay nơi pháp này không đắc, thì pháp nào bị thối chuyển trở thành Vô thượng Chánh giác?

Xá Lợi Phất bảo Tu Bồ Đề:

- Pháp như thầy đã thuyết thì không có Bồ tát trở thành Bất thối chuyển.

Tu Bồ Đề thưa:

- Bồ tát là người có ba đức. Đó là Như Lai dạy:

Là Phật hành hạnh Bồ tát không kể ba đức trên. Như Tu Bồ Đề đã nói.

Phần Nậu Văn Đà Ni Phất thưa ngài Xá Lợi Phất:

- Thầy Tu Bồ Đề thuyết Nhứt đạo nhưng phải hỏi việc đó.

Ngài Xá Lợi Phất bảo Tu Bồ Đề:

- Thưa ngài Tu Bồ Đề, muốn hỏi điều ngài thuyết về Nhứt đạo và hỏi về việc Phật hành Bồ tát.

Tu Bồ Đề thưa:

- Thế nào, ngài Xá Lợi Phất! Ngay trong vốn không có thể thấy hai đạo, đó là Thanh văn đạo và Bích Chi Phật đạo không?

Phật bảo Xá Lợi Phất:

- Trong vốn không không thấy được hai việc ấy.

Tu Bồ Đề thưa:

- Thế nào, ngài Xá Lợi Phất! Vốn không là một phải không? Cho nên nói đắc. Nếu đại Bồ tát nào nghe vốn không, không giải đãi, thì đại Bồ tát này đã thành tựu Bồ tát.

Phật dạy:

- Lành thay! Lành thay! Tu Bồ Đề! Giống như thầy đã thuyết không khác, là chỗ oai thần chư Phật đạt đến. Đây là đại Bồ tát vốn không, không có khác. Nếu Bồ tát nào không giải đãi thì biết đã thành tựu Bồ tát.

Xá Lợi Phất bạch Phật:

- Sao gọi là Bồ tát?

Phật dạy Xá Lợi Phất:

- Chính là người thành tựu Vô thượng Chánh giác vậy.

Tu Bồ Đề bạch Phật:

- Sao gọi là Đại Bồ tát muốn thành tựu? Trụ ở chỗ nào?

Phật dạy:

- Thấy tất cả mọi người đó bình đẳng không khác. Không có ý làm hại, lòng từ thương xóùt mọi người như đối với chính mình không khác. Tâm người đó nhu hòa thương xót, không giận hờn, không chướng ngại, không nhiễu loạn, xem mọi người như cha mẹ mình không khác. Đó là chỗ trụ của tâm Bồ tát. Nên học như vậy.

Phẩm thứ tám. A Duy Việt Trí

Tu Bồ Đề bạch Phật:

- Đại Bồ tát Bất thối chuyển dựa vào hành tướng gì mà biết đó là đại Bồ tát Bất thối chuyển?

Phật bảo Tu Bồ Đề:

- Đối với người phàm và Thanh văn, Bích Chi Phật, cho đến địa vị Phật đạo nghe tất cả về vốn không, nhưng không hề lay chuyển, cũng không thay đổi. Ngay nơi pháp đó cũng vốn không. Đó là vốn không. Không lay động, đó là vượt qua. Như chỗ đã nghe không thay đổi, cũng không nghi ngờ, cũng không nói đúng, cũng không nói sai. Như vốn không là không mất. Lời nói của người đó không khinh bạc, không nói những việc khác, chỉ nói việc chính đáng. Không dòm ngó việc làm của người khác. Thấy vị ấy có đầy đủ hình tướng như vậy thì biết đó là Đại Bồ tát Bất thối chuyển.

Lại nữa, Tu Bồ Đề! Đại Bồ tát Bất thối chuyển không có hình tướng và diện mạo của Sa môn, Bà la môn, rằng đây là Sa môn, đây là Bà la môn. Hiểu biết rõ ràng đúng đắn, hoàn toàn không thờ tự lễ bái các vị trời khác, không đem hoa hương dâng lên những vị đó. Thấy vị ấy có đầy đủ hình tướng như vậy, thì biết đó là Đại Bồ tát Bất thối chuyển.

Lại nữa, Tu Bồ Đề! Đại Bồ tát Bất thối chuyển hoàn toàn không sanh ở những nơi xấu ác, không làm thân phụ nữ. Thấy vị ấy có đầy đủ hình tướng như vậy thì biết đó là Đại Bồ tát Bất thối chuyển.

Lại nữa, Tu Bồ Đề! Đại Bồ tát Bất thối chuyển hoàn toàn không xa lìa mười điều lành. Chính mình không giết hại, dạy người không giết hại, Chính mình không trộm cắp, dạy người không trộm cắp. Chính mình không dâm dật, dạy người không dâm dật. Chính mình không nói hai lưỡi, không nói lời hung ác, không nói dối trá, không nói thêu dệt, không ganh ghét, không tham lam, không si mê, làm việc làm ngay thẳng đúng đắn, dạy người giữ gìn việc chơn chánh. Đó là mười điều lành. Lại ngay trong giấc mộng cũng tự giữ gìn không mất mười điều lành. Đó là Đại Bồ tát Bất thối chuyển ngay trong giấc mộng cũng thấy mười điều lành. Thấy vị ấy có đầy đủ hình tướng như vậy thì biết đó là Đại Bồ tát Bất thối chuyển.

Lại nữa, Tu Bồ Đề! Đại Bồ tát Bất thối chuyển đem pháp đã học muốn làm an ổn cho tất cả mọi người, thuyết pháp cho tất cả mọi người nghe. Đó là bố thí pháp, làm cho tất cả mọi người đắc được pháp, đó tức là bố thí pháp cho tất cả. Thấy vị ấy có đầy đủ hình tướng như vậy thì biết đó là Đại Bồ tát Bất thối chuyển.

Lại nữa, Tu Bồ Đề! Đại Bồ tát Bất thối chuyển, dù vua chúa là người hùng trong mọi người, đem trí tuệ hiểu biết của mình nghe thuyết pháp thậm thâm hoàn toàn không nghi ngờ. Không nghi, không nói không tin, lời nói nhu hòa, lời nói dịu dàng, ít ngủ nghỉ, ra vào lui tới tâm không tán loạn, bước đi an nhàn thư thả. Giở chân cất bước chọn chỗ đặt chân. Và trong y phục, mùng mền không có rận rệp, luôn luôn sạch sẽ. Cũng không lo buồn. Trong thân không có tám mươi loại vi trùng. Vì lẽ gì? - Vì đại Bồ tát này đã có công đức vượt lên trên công đức xuất thế gian, luôn luôn muốn cho công đức đó được thành tựu viên mãn và tăng thêm lên. Thân thanh tịnh, tâm cũng thanh tịnh. Tu Bồ Đề bạch Phật:

- Kính bạch Thiên Trung Thiên! Vì lẽ gì tâm Bồ tát thanh tịnh? Nên làm thế nào để biết?

Phật dạy Tu Bồ Đề:

- Công đức Đại Bồ tát đã tạo càng tăng thêm rất nhiều, luôn luôn vượt lên trên. Tâm Bồ tát tự tại không ngăn ngại. Công đức đó đều nhờ tâm nên thanh tịnh. Vượt lên địa vị Thanh văn, Bích Chi Phật đạo, đó là tâm Đại Bồ tát thanh tịnh. Thấy vị ấy có đầy đủ hình tướng như vậy thì biết đó là Đại Bồ tát Bất thối chuyển.

Lại nữa, Tu Bồ Đề! Đại Bồ tát Bất thối chuyển không mong cầu tiền của, vật dụng. Nếu ra làm việc cúng dường thì không keo kiệt xan tham. Khi thuyết pháp thậm thâm không mỏi mệt, thực hành theo điều mình hiểu. Có người muốn nghe pháp thậm thâm, liền đem Trí độ giảng thuyết cho họ. Có ra làm việc với ngoại đạo hoặc việc thế gian, đem Trí độ làm chủ yếu, vì muốn cho họ đi theo con đường chính. Người không hiểu, đem Trí độ giải thích cho họ. Thấy vị ấy có đầy đủ hình tướng như vậy thì biết đó là Đại Bồ tát Bất thối chuyển.

Lại nữa, Tu Bồ Đề! Người này đến chỗ nào, ác ma liền đến chỗ đó hóa làm tám địa ngục lớn, trong mỗi địa ngục hóa ra vô số trăm ngàn Bồ tát chỉ dạy rằng:

- Bọn người này đều đã được Phật thọ ký rồi, đều là Bất thối chuyển, nay đều đọa vào trong địa ngục cũng đều là do Phật thọ ký. Giả sử người nào được thọ ký làm Bất thối chuyển rồi, nên mau ăn năn rằng: “Ta không phải là Bất thối chuyển”. Giả sử người nào nói như vậy, liền không đọa vào địa ngục, sẽ được sanh lên cõi trời.

Phật bảo Tu Bồ Đề:

- Giả sử tâm người này không lay động, đó chính là Đại Bồ tát Bất thối chuyển.

Phật dạy:

- Những lời ta dạy không sai khác. Giả sử người đó sanh đến chỗ xấu ác thì lời Phật dạy có sai khác. Thấy vị ấy có đầy đủ hình tướng như vậy thì biết đó là Đại Bồ tát Bất thối chuyển.

Lại nữa Tu Bồ Đề! Ác ma hóa làm Sa môn hoặc dùng y phục Sa môn mặc vào, đến chỗ Đại Bồ tát bảo:

- Nếu người nào trước đã từ nơi ta được nghe, từ nơi ta được lãnh thọ, nay bỏ hết không dùng, hoặc nay sẽ tự ăn năn lỗi đó, hoặc nhanh chóng ăn năn theo như lời ta dạy. Ta ngày ngày đi đến hỏi han. Nếu giả sử không vâng theo lời ta, ta quyết định không trở lại gặp gỡ. Nếu người không nói lại lời này chẳng phải lời Phật dạy, đây đều là của ngoại đạo làm ra. Nay lời nói của ta chính là Phật đã dạy.

Phật dạy:

- Người nghe những lời này mà lay động, nên biết đó là người không được Phật quá khứ thọ ký, được cất nhắc lên từ Đại Bồ tát. Có nhiều Đại Bồ tát chưa đến được địa vị Bất thối chuyển, giả sử không lay động, nghĩ đến pháp không có sanh tử, nghĩ không có sanh tử, tin lời người khác nói, ví như Tỳ kheo đắc A-la-hán, không nghe theo lời nói của người khác, trong giấc ngủ được thấy pháp, lấy đó để làm chứng, đó là không sở hữu, hoàn toàn không lay động, Đại Bồ tát này cũng không lay động. Như pháp mà địa vị Thanh văn, Bích Chi Phật đạo đã nghỉ đến, những pháp không có thối thất. Đại Bồ tát này hướng thẳng đến Nhứt thiết trí không còn thối thất. Thấy vị ấy có đầy đủ hình tướng như vậy thì biết đó là Đại Bồ tát Bất thối chuyển.

Lại nữa, Tu Bồ Đề! Ác ma đi đến chỗ của Đại Bồ tát hóa làm người khác. Nếu có tìm cầu rất siêng năng thì chẳng phải hạnh Nhứt thiết trí. Nếu làm ngược lại với sự khổ nhọc đó, hoặc dựa vào sự khổ nhọc để làm, không nên nhàm chán thối lui. Nên dựa vào cái gì để tìm thân này? Ngươi vì sao không sớm giữ lấy địa vị La-hán mà mong cầu làm Phật?

Phật dạy:

- Giả sử người không lay động, ác ma lại bỏ đi, trở lại tìm phương kế hóa làm vô số Bồ tát đứng ở một bên, lại nói lời chỉ dạy như vầy: “Ngươi thấy Bồ tát này không? Đều cúng dường tất cả Phật như cát sông Hằng rồi, cúng dường đầy đủ tất cả y phục, ẩm thực, sàn tòa, ngọa cụ, thuốc men, đều ở chỗ Phật nhiều như cát sông Hằng thực hành giữ giới thanh tịnh đã học, được thực hành theo điều học được bằng trí tuệ. Điều họ mong cầu là học hết tất cả và sống đúng như pháp. Vậy mà đến nay vẫn không thể đắc Vô thượng Chánh giác. Học như vậy xong, lãnh thọ như vậy xong, thực hành như vậy xong mà không thể đắc Nhứt thiết trí, huống là ngươi muốn đắc Vô thượng Chánh giác thế nào được?”.

Phật dạy:

- Giả sử người này không lay động, ác ma liền lui, lại hóa làm Tỳ kheo nói những lời thế này: “Đây đều là La-hán, đời quá khứ đều thực hành đạo Bồ tát, nay chứng quả La-hán, mà nay còn làm Tỳ kheo như đây, thì ngươi sẽ từ chỗ nào đắc Vô thượng Chánh giác?”.

Phật dạy:

- Đại Bồ tát này tuy từ chỗ khác nghe những lời này, tiếp tục tu hạnh này, tâm không lay động, cũng không có tâm khác, biết rõ đó là ma làm.

Phật dạy:

- Người nào học Trí độ, thực hành theo đó không đắc Nhứt thiết trí thì sẽ từ chỗ nào để đắc? Những lời Phật dạy là không sai khác. Học như vậy, thực hành như vậy, như Trí độ, tâm không lay động, giả sử không đắc Nhứt thiết trí thì lời Phật dạy là có sai khác. Những lời Phật dạy hoàn toàn không hư dối, Đại Bồ tát nên học như vậy. Thấy vị ấy có đầy đủ hình tướng như vậy thì biết đó là Đại Bồ tát Bất thối chuyển.

Lại nữa, Tu Bồ Đề! Ác ma đi đến chỗ Bồ tát Bất thối chuyển nói lên lời rõ ràng rằng:

- Nhứt thiết trí như hư không. Pháp này không thể đạt ranh giới, pháp này không thể không có chỗ tận cùng để có thể đắc. Vì sao? - Vì không có bất thối chuyển, cũng không đắc Phật Chánh giác. Nay được nhìn thấy pháp này, đều là hư dối, đều là trống không, chỗ làm của ngươi chỉ là khổ nhọc, không giác tri ngay, đây là ma làm, làm sao muốn đắc Vô thượng Chánh giác? Đây chẳng phải là Phật thuyết.

Phật dạy:

- Thiện nam tử, thiện nữ nhơn này nên biết như vậy, nên nghĩ đây là việc làm của ma. Tâm người đó ngay thẳng, không lay động. Thấy vị ấy có đầy đủ hình tướng như vậy thì biết đó là Đại Bồ tát Bất thối chuyển.

Lại nữa, Tu Bồ Đề! Đại Bồ tát Bất thối chuyển muốn tu đệ nhất Thiền, đệ nhị Thiền, đệ tam cho đến đệ tứ Thiền, Tam ma Việt. Thuận theo tứ Thiền nhưng không lựa chọn tầng Thiền nào trong tứ Thiền, đó là định, là sự ham muốn của người đó. Thấy vị ấy có đầy đủ hình tướng như vậy thì biết đó là Đại Bồ tát Bất thối chuyển.

Lại nữa, Tu Bồ Đề! Đại Bồ tát Bất thối chuyển không mong cầu danh tự hoặc lời nói khen ngợi, không nghĩ đến dục. Tâm người đó rộng lớn, chỉ nghĩ đến tất cả, làm cho tất cả được an ổn. Đi, đứng, nằm, ngồi tâm không tán loạn. Ra vào ý tứ, cung kính chí thành. Không mong có thế lực, không dâm dục, buông lung. Nếu dục đến, tự lo sợ cái dục đó. Đối với dục luôn có sự lo sợ. Ví như kẻ nam tử đi ngang qua giữa chốn rừng chằm rộng lớn, mông mênh hiu quạnh, muốn dừng lại nghỉ ngơi ăn uống, lại lo sợ giặc cướp, muốn mau mau đi qua khỏi chỗ này, nghĩ rằng: “Khi nào mới đến được chỗ tụ lạc an ổn để mau được thoát khỏi chỗ này?”. Đại Bồ tát Bất thối chuyển cũng như vậy, khi ái dục đến, tự nghĩ đây là việc không nên làm, đây là điều bất chánh, là điều quấy, chẳng phải là pháp ta nên làm. Cũng không nghĩ đến những việc xấu khác. Vì sao? - Vì muốn làm cho tất cả đều được an ổn.

Phật dạy:

- Người nghĩ như vậy đều là nhờ sức oai thần của Trí độ. Thấy người có đầy đủ hình tướng như vậy, biết đó chính là Đại Bồ tát Bất thối chuyển.

Lại nữa, Tu Bồ Đề! Duyệt xoa Hòa Di La Hoàn thường theo Đại Bồ tát Bất thối chuyển, các quỷ thần khác không dám theo Bồ tát, hoàn toàn không mất chí. Tâm người đó không tán loạn, thân cũng không phát sanh vọng tưởng. Thân thể hoàn bị, là người hùng, không dỗ dành phụ nữ của người khác. Người khác làm bùa chú hoặc thuốc độc, người này không làm những việc như vậy. Tự mình không làm, cũng không dạy người khác làm. Đó là Bồ tát thanh tịnh. Không nói việc của kẻ nam người nữ, vì đó là những điều rất xấu xa. Thấy người có đầy đủ hình tướng như vậy biết đó chính là Đại Bồ tát Bất thối chuyển.

Lại nữa, Tu Bồ Đề! Đại Bồ tát Bất thối chuyển không làm việc nhóm họp những công việc của người đời, không làm việc cho vua, không làm việc cho giặc, không làm việc cho binh lính, quân trận, không làm việc cho xóm làng, tụ lạc, không làm việc cho thành quách, không làm việc cho thế tục. Cũng không cùng người nữ, không cùng người nam, không cùng ngoại đạo, không làm việc cho thóc lúa, cho rượu chè, không thờ tự, cũng không dùng nhiều màu sắc, không hương, không hoa, không cười cợt, không ăn năn, cũng không lợi dưỡng, không tạo bao nhiêu thứ. Cũng không theo các việc sở hữu mà chỉ dự theo việc của Trí độ. Không lìa Nhứt thiết trí, luôn nhớ nghĩ không quên. Cũng không làm việc chiến tranh. Tự giữ gìn như pháp, thường làm việc ngay thẳng, không làm việc phi pháp. Thường khen ngợi người hiền, lấy đó làm hàng đầu. Thường muốn làm người thân hậu với người, không làm người oán cừu. Chỉ cầu pháp Như Lai, quyết muốn cầu sanh về cõi Phật ở phương khác. Cầu như vậy thì sẽ không sanh về chỗ kia. Do đây nên thường được thấy Phật, lại được cúng dường Đại Bồ tát Bất thối chuyển.

Hoặc từ cõi Dục, cõi Sắc, cõi Vô sắc, khi bỏ nơi đó đi sẽ sanh vào trung quốc, hoặc ở trong gia đình hiền lành, hoặc sanh trong hàng thông minh trí tuệ, nói năng lưu loát. Hoặc ở trong gia đình hiểu biết kinh điển, không ưa tham dự việc nhỏ. Có sanh ở chốn biên địa thì sanh trong nước lớn, hoàn toàn không phạm pháp. Thấy vị ấy có đầy đủ hình tướng như vậy thì biết đó chính là Đại Bồ tát Bất thối chuyển.

Lại nữa, Tu Bồ Đề! Đại Bồ tát Bất thối chuyển cũng không nói ta là Bất thối chuyển, cũng không nghĩ ta là Bất thối chuyển, cũng không nghĩ ta không ở địa vị Bất thối chuyển. Ví như nam tử được địa vị Tu-đà-hoàn đạo, ngay nơi địa vị đó hoàn toàn không nghi ngờ. Việc ma tuy phát sanh liền giác tri tất cả. Đã phát sanh, không theo mưu kế đó. Đại Bồ tát Bất thối chuyển cũng như vậy. Tự mình ngay nơi địa vị hoàn toàn không nghi ngờ, cũng không giải đãi. Việc ma tuy có phát sanh, liền giác tri tất cả. Đã phát sanh rồi, không theo mưu kế đó. Ví như nam tử làm việc xấu ác, tâm người đó hoàn toàn không quên, cho đến lúc chết tâm cũng hoàn toàn không thay đổi. Đại Bồ tát Bất thối chuyển hoàn toàn không dời đổi. Tâm an trụ trung chính. Đối với Đại Bồ tát Bất thối chuyển, tâm hoàn toàn không lay động. Nhơn gian, thiên thượng hoàn toàn không thể lay chuyển. Việc ma tuy có phát sanh liền giác tri tất cả. Đã phát sanh không theo mưu kế đó. Ngay nơi địa vị hoàn toàn không nghi ngờ. Cũng không có tâm Thanh văn, Bích Chi Phật, hoàn toàn không nghĩ rằng Phật khó đắc. Địa vị đó an ổn trang nghiêm, vững vàng không có ai hơn. Vì sao? - Vì người trụ như vậy không ai có thể vượt qua. Ác ma rất buồn, liền hóa làm Phật, đi đến chỗ người đó bảo rằng:

- Ngươi nên chấp nhận quả vị La-hán đi, thì được Như Lai thọ ký đắc Vô thượng Chánh giác. Vì sao? - Vì nếu không làm như vậy thì cũng không chứng đắc. Người có tâm như vậy, đầy đủ hành tướng như vậy có thể thành đại Bồ tát mà còn không chứng được Vô thượng Chánh giác, vậy ngươi làm sao mà được thành Phật?

Phật dạy:

- Giả sử tâm Bồ tát này không lay động thì biết đây là Đại Bồ tát. Từ quá khứ, Như Lai A-la-hán Đẳng Chánh giác đã thọ ký rồi. Giả sử có người nghĩ biết ma làm giống như Phật đi đến, nam tử này biết là chẳng phải Phật, đây là ma làm. Người làm việc làm như vậy là để mong địa vị Bất thối chuyển. Như Phật đã dạy, việc của ma không có khác. Người thấy rõ như vậy nên suy nghĩ rằng: “Ma vì muốn làm cho ta thối chuyển”.

Phật dạy:

- Giả sử người bất động, đó là Đại Bồ tát Bất thối chuyển đã được Như Lai A-la-hán Đẳng Chánh giác từ quá khứ thọ ký, đã trụ vào địa vị Bất thối chuyển rồi. Vì sao? - Vì thấy vị ấy có đầy đủ hình tướng như vậy thì biết đó chính là Đại Bồ tát Bất thối chuyển.

Lại nữa, Tu Bồ Đề! Đại Bồ tát Bất thối chuyển nhờ pháp nên không tham sở hữu, cũng không tiếc mạng sống của mình. Đại Bồ tát này vì muốn nhận lấy và hộ trì pháp của chư Phật quá khứ, vị lai, hiện tại. Người muốn hộ pháp của chư Phật quá khứ, vị lai, hiện tại chỉ vì số đông, đây là pháp thọ ký, đây là pháp hộ trì. Nhờ vậy, nên không tiếc vật gì. Cũng không tiếc thân mạng, chưa từng có lúc nào giải đãi, cũng không có mỏi mệt. Vì thấy vị ấy có đầy đủ hình tướng như vậy thì biết đó chính là Đại Bồ tát Bất thối chuyển.

Lại nữa, Tu Bồ Đề! Đối với pháp, Đại Bồ tát Bất thối chuyển Như Lai A-la-hán Đẳng Chánh giác thuyết chưa từng nghi ngờ, cũng không nói sai.

Tu Bồ Đề bạch Phật:

- Pháp Như Lai thuyết cũng không nghi ngờ, không nói sai, vì ngay nơi pháp Thế tôn thuyết cũng không nghi, cũng không nói sai. Pháp của các Thanh văn thuyết, ngay nơi đó cũng không nghi, cũng không nói sai. Vì sao? - Này Tu Bồ Đề!Vì Đại Bồ tát đạt Vô sanh pháp nhẫn. Vì thấy vị ấy có đầy đủ hình tướng như vậy, biết đó chính là Đại Bồ tát Bất thối chuyển.

Phẩm thứ chín. Hằng-Giá-Điều Ưu-bà-di

Tu Bồ Đề bạch Phật:

- Thật lành thay Đại Bồ tát Bất thối chuyển! Nhờ đại công đức đạt đến Bất thối chuyển nhiều như số cát sông Hằng để làm tướng ứng hiện. Hôm nay Thiên Trung Thiên thuyết pháp thậm thâm là sự thi hành của đại Bồ tát.

Phật dạy:

- Lành thay! Lành thay! Tu Bồ Đề! Lời hỏi của thầy thật là thậm thâm. Đây tức là không, vô tướng, vô nguyện, vô sanh tử, vô sở sanh, vô sở hữu, vô sở dục. Đó là Diệt. Niết-bàn là giới hạn.

Tu Bồ Đề bạch Phật:

- Niết-bàn là giới hạn, không thuộc về các pháp.

Phật dạy Tu Bồ Đề:

- Các pháp thậm thâm. Vì sao? - Vì sắc thậm thâm. Tu Bồ Đề! Thọ, tưởng, hành, thức cũng thậm thâm. Ấm cũng thậm thâm như sắc thậm thâm.

Tu Bồ Đề! Sao gọi là thọ, tưởng, hành, thức thậm thâm? Có thậm thâm là chẳng phải sắc thậm thâm. Đó là sắc thậm thâm, thọ tưởng hành thức cũng như vậy. Thức này là thậm thâm.

Tu Bồ Đề bạch Phật:

- Thật lành thay chút vi diệu sắc từ Niết-bàn!

Phật dạy Tu Bồ Đề:

- Thọ, tưởng, hành, thức là luôn luôn theo Niết-bàn thậm thâm. Thậm thâm là Trí độ. Đại Bồ tát tư duy đây là trụ. Như Trí độ dạy, vì học Trí độ. Đại Bồ tát theo tư tưởng này tư duy, nghĩ về lời dạy như hư không. Thực hành một ngày thậm thâm không thể nói hết.

Tu Bồ Đề bạch Phật:

- Đại Bồ tát này thực hành một ngày thậm thâm thì đẩy lui được bao nhiêu kiếp sanh tử?

Phật bảo Tu Bồ Đề:

- Ví như có một người thanh niên rất yêu mến một cô gái xinh đẹp, cùng hẹn hò gặp nhau nhưng cô gái không được tự do để đến gặp. Thế nào, Tu Bồ Đề! Chàng thanh niên này có nhớ đến cô gái kia không?

Tu Bồ Đề thưa:

- Người thanh niên này luôn nhớ nghĩ đến cô gái không có lúc nào quên.

Phật dạy:

- Chàng thanh niên này suốt ngày nghĩ đến cô gái kia, tâm anh ta không thay đổi. Đại Bồ tát nghĩ đến Trí độ, suốt ngày thực hành, đẩy lui được vô số kiếp sanh tử. Đại Bồ tát y theo Trí độ dạy, học tập theo như lời dạy trong đó, suốt ngày nghĩ nhớ thực hành theo thì Bồ tát này đã đẩy lui sự xấu ác và diệt trừ tội lỗi. Nếu đại Bồ tát lìa Trí độ, ngay khi làm việc bố thí số kiếp nhiều như cát sông Hằng, không bằng đại Bồ tát vâng theo lời dạy của Trí độ, suốt ngày thực hành theo, công đức của người này vượt lên trên công đức của người kia.

Lại nữa, Tu Bồ Đề! Đại Bồ tát sống lâu kiếp số nhiều như cát sông Hằng, làm việc bố thí cho Tu-đà-hoàn, Tư-đà-kàm, A-na-hàm, A-la-hán, Bích Chi Phật mà lìa Trí độ. Đại Bồ tát nào vâng theo lời dạy của Trí độ thì công đức của Bồ tát này vượt hơn công đức của đại Bồ tát sống lâu kiếp số nhiều như cát sông Hằng làm việc bố thí, trì giới... ở trên. Đại Bồ tát nào nghĩ đến Trí độ liền thuyết pháp, công đức người đó lại vượt hơn công đức của Bồ tát trên nữa.

Lại nữa, Tu Bồ Đề! Đại Bồ tát này vì đem pháp bố thí nên công đức của Bồ tát đó lại càng tăng thêm. Nếu đại Bồ tát làm việc bố thí pháp, đó là Vô thượng chánh đẳng chánh giác. Đại Bồ tát nào bố thí pháp mà không giữ đúng, công đức của Bồ tát đó không bằng công đức của đại Bồ tát bố thí pháp mà lại giữ đúng. Người nào thọ trì Trí độ không lìa, giữ đúng, thì công đức của đại Bồ tát này rất nhiều.

Tu Bồ Đề bạch Phật:

- Tất cả không sanh tử. Người nào không lay động? Kính bạch Thiên Trung Thiên! Trong hai việc này, công đức nào nhiều hơn?

Phật bảo Tu Bồ Đề:

- Đại Bồ tát đối với phước sanh tử, đối với công đức sanh tử đã thực hành Trí độ, ưa thích KHÔNG, ưa thích Vô sở hữu, ưa thích Diệt tận, ưa thích Vô sở đắc. Khi nghĩ như vậy là không lìa Trí độ. Ai không lìa Trí độ là đại Bồ tát đắc Vô lượng vô số công đức không thể tính.

Tu Bồ Đề bạch Phật:

- Thiên Trung Thiên thuyết sao gọi là công đức vô lượng không thể tính? Có gì sai biệt chăng?

Phật bảo Tu Bồ Đề:

- A tăng kỳ, số đó không cùng tận, không thể tính, không thể lường, hoàn toàn không thể đạt được ranh giới. Vì vậy nên gọi là “vô lượng vô số” không thể tính.

Tu Bồ Đề bạch:

- Lời dạy của Phật không thể tính. Sắc cũng không thể tính. Thọ, tưởng, hành, thức cũng không thể tính.

Phật bảo Tu Bồ Đề:

- Như đã nói, sắc không thể tính. Thọ, tưởng, hành, thức cũng không thể tính.

Tu Bồ Đề bạch Phật:

- Sao gọi là không thể tính?

Phật bảo Tu Bồ Đề:

- Như hư không cho nên không thể tính. Vô tướng, vô nguyện cho nên không thể tính. Như vậy, không thể tính tức là hư không, cũng không khác với pháp.

Phật dạy:

- Thế nào, Tu Bồ Đề! Ta nói các pháp đều không phải không?

Tu Bồ Đề thưa:

- Đúng như vậy, kính bạch Thiên Trung Thiên. Phật thuyết pháp đều là không, không cùng tận.

Phật dạy:

- Đúng như vậy. Này Tu Bồ Đề! Các pháp đều là không, không thể tính, không có từng pháp khác nhau. Có chỗ sai khác phân biệt, có thể đắc, không thể đắc, tức Như Lai, đắc không thể cùng tận, không thể tính kể. Như không, vô tướng, vô nguyện, vô sanh tử, vô sở sanh, vô sở hữu, không sanh không diệt, giống như Niết-bàn theo những lời dạy mà ưa thích. Đó là lời Như Lai dạy.

Tu Bồ Đề bạch Phật:

- Thật lành thay pháp Thiên Trung Thiên đã dạy. Pháp này thật không thể đạt được. Như con nhớ lời Phật dạy, các pháp cũng không thể đạt được.

Phật bảo Tu Bồ Đề:

- Đúng như vậy, không thể đạt được hết các pháp. Pháp như hư không cho nên không thể đạt được.

Tu Bồ Đề thưa:

- Như Phật dạy vốn không thể đạt được. Cúi xin Phật chỉ dạy về chỗ không thể đạt được đó.

Phật dạy:

- Thế nào Tu Bồ Đề! Lục Ba la mật là không thể đạt được. Đó là: bố thí không tăng không giảm, trì giới ba la mật, nhẫn nhục ba la mật, tinh tấn ba la mật, thiền định ba la mật, trí tuệ ba la mật là không tăng không giảm. Đó là lục ba la mật không tăng không giảm.

Sao gọi là đối với lục ba la mật không tăng không giảm? - Đó là Đại Bồ tát tự mình đạt đến Vô thượng chánh đẳng chánh giác.

Do nhơn gì được gần Phật Đại Bồ tát vì không lìa Trí độ tự đạt đến Vô thượng chánh giác.

Phật bảo Tu Bồ Đề:

- Như nguồn gốc không thể đạt được, không tăng không giảm. Đại Bồ tát là người thực hành Trí độ với phương tiện quyền xảokhông nghĩ tăng giảm của bố thí ba la mật, chỉ vì có danh tự ba la mật. Đây là bố thí ba la mật đem vật mình có mà bố thí, nghĩ đem công đức bố thí này tạo nên Vô thượng Chánh giác, bố thí như Vô thượng Chánh giác. Đại Bồ tát này là người thực hành Trí độ. Người hành Trí độ đó là phương tiện quyền xảo, không nghĩ tăng giảm của Trì giới ba la mật, chỉ vì có danh tự đây là trì giới ba la mật, đây là tâm niệm giữ giới, đem công đức này bố thí tạo nên Vô thượng Chánh giác, bố thí như Vô thượng Chánh giác. Đại Bồ tát này là người thực hành Trí độ: nhẫn nhục ba la mật, tinh tấn ba la mật, thiền định ba la mật cũng vậy. Đại Bồ tát này là người thực hành Trí độ phương tiện quyền xảo, không nghĩ tăng giảm của Trí độ, chỉ vì có danh tự, vì Trí độ tức là phát tâm trí tuệ, đem công đức này bố thí làm nênVô thượng Chánh giác, bố thí như Vô thượng Chánh giác, là hay làm việc bố thí.

Tu Bồ Đề bạch Phật:

- Những gì là Vô thượng Chánh giác thí?

Phật bảo Tu Bồ Đề:

- “Vốn không” đó là Vô thượng Chánh giác, đó là không tăng không giảm, thường nghĩ theo đây, hoàn toàn không lìa thực hành, nay được gần Vô thượng Chánh giác.

Như vậy, này Tu Bồ Đề! Vốn không này không thể đạt được, cũng không tăng không giảm. Suy nghĩ nhớ đến việc này là không mất, đó là Trí độ không tăng không giảm. Đại Bồ tát suy nghĩ nhớ việc này lìa chỗ ngồi Vô thượng Chánh giác.

Tu Bồ Đề bạch Phật:

- Đại Bồ tát đem tâm ban đầu sẽ gần Vô thượng Chánh giác. Nếu đem tâm sau gần Vô thượng Chánh giác, tâm đầu tâm sau cả hai tâm không đối đãi. Tâm sau tâm đầu cũng không đối đãi thì những công đức ở đâu để phát sanh ra?

Phật bảo Tu Bồ Đề:

- Ví như đốt tim của ngọn đèn thì tim đó làm cho cháy lên ánh sáng ban đầu hay cho ánh sáng ở giai đoạn sau cuối?

Tu Bồ Đề thưa:

- Cũng không phải tim đèn cháy đầu mà có ánh sáng, cũng không phải lìa tim đèn cháy dầu mà có ánh sáng. Cũng không phải tim đèn cháy sau mà có ánh sáng. Cũng không lìa tim đèn cháy sau mà có ánh sáng.

Phật dạy:

- Thế nào Tu Bồ Đề! Đúng như vậy phải không?

Tu Bồ Đề thưa:

- Đúng như vậy, đúng như vậy, kính bạch Thiên Trung Thiên!

Phật bảo Tu Bồ Đề:

- Đại Bồ tát cũng không phải từ sơ tâm đắc Vô thượng Chánh giác, cũng không phải lìa sơ tâm đắc Vô thượng Chánh giác. Cũng không từ hậu tâm đắc Vô thượng Chánh giác. Cũng không lìa hậu tâm đắc Vô thượng Chánh giác.

Tu Bồ Đề bạch Phật:

- Kính bạch Thiên Trung Thiên! Nhơn rất sâu xa. Đại Bồ tát không dùng sơ tâm được đắc Vô thượng Chánh giác, Đại Bồ tát cũng không lìa sơ tâm đắc Vô thượng Chánh giác, cũng không dùng hậu tâm đắc Vô thượng Chánh giác, cũng không lìa hậu tâm đắc Vô thượng Chánh giác.

- Thế nào Tu Bồ Đề! Tâm trước diệt, tâm sau mới sanh, phải không? - Không phải như vậy, kính bạch Thiên Trung Thiên!

- Thế nào Tu Bồ Đề! Tâm mới sanh ra bị diệt phải không?

Tu Bồ Đề thưa:

- Pháp đó là pháp diệt, kính bạch Thiên Trung Thiên!

- Thế nào Tu Bồ Đề! Pháp đó sẽ diệt và cái diệt đó có diệt mất không?

Tu Bồ Đề thưa:

- Thưa không, kính bạch Thiên Trung Thiên!

- Thế nào Tu Bồ Đề! Có thể trụ như bổn vô không?

Tu Bồ Đề thưa:

- Người nào muốn trụ sẽ như bổn vô.

- Thế nào Tu Bồ Đề! Giả sử làm cho trụ như bổn vô sẽ không có khác phải không?

Tu Bồ Đề thưa:

- Thưa không, kính bạch Thiên Trung Thiên.

- Thế nào Tu Bồ Đề! Bổn vô là thậm thâm phải không?

Tu Bồ Đề thưa:

- Thậm thâm, kính bạch Thiên Trung Thiên.

- Thế nào Tu Bồ Đề! Bổn vô là có tâm phải không?

Đáp:

- Thưa không có. Kính bạch Thiên Trung Thiên.

- Thế nào Tu Bồ Đề! Hay có bổn vô khác có tâm phải không?

Đáp:

- Thưa không. Kính bạch Thiên Trung Thiên.

- Thế nào Tu Bồ Đề! Bổn vô thấy được ý không?

Đáp:

- Thưa không. Kính bạch Thiên Trung Thiên!

- Thế nào Tu Bồ Đề! Ai thực hành được như vậy có phải là thực hành sâu xa không?

Đáp:

- Người thực hành như vậy, kính bạch Thiên Trung Thiên, là không hành. Vì sao? - Vì hành như vậy là không thấy hành, vì không thể thấy hành.

Phật bảo Tu Bồ Đề:

- Đại Bồ tát hành Trí độ là hành những gì?

Tu Bồ Đề thưa:

- Là xét rõ việc làm, kính bạch Thiên Trung Thiên.

- Thế nào Tu Bồ Đề! Người xét kỹ việc làm là hành tưởng phải không?

Đáp:

- Thưa không, kính bạch Thiên Trung Thiên.

- Thế nào Tu Bồ Đề! Đại Bồ tát vì biết niệm tưởng phải không?

Đáp:

- Thưa không, kính bạch Thiên Trung Thiên.

- Thế nào Tu Bồ Đề! Vì không biết niệm tưởng là niệm phải không?

Tu Bồ Đề thưa:

- Đại Bồ tát không làm như vậy.

- Thế nào Tu Bồ Đề! Không tưởng về hành động mà hành động đúng thì rơi vào Thanh văn.

Tu Bồ Đề thưa:

- Đại Bồ tát phương tiện quyền xảo, ngay nơi vô tưởng không tham.

Xá Lợi Phất hỏi Tu Bồ Đề:

- Nếu Đại Bồ tát ngay trong giấc mộng hướng đến ba việc niệm giải thoát môn: “Không không, vô tướng vô tướng, vô nguyện vô nguyện” tam muội này là có tăng trưởng. Bát-nhã độ làm cho ngày đêm thêm tăng trưởng, hoặc ban đêm trong giấc mộng cũng tăng trưởng. Vì sao? - Vì Phật đã dạy: ngày hay đêm trong giấc mộng đều giống nhau không khác.

Tu Bồ Đề hỏi Xá Lợi Phất:

- Nếu Đại Bồ tát ban ngày nghĩ đến Trí độ, ban đêm trong giấc mộng nghĩ đến Trí độ cũng tăng trưởng.

Xá Lợi Phất thưa:

- Thế nào, thầy Tu Bồ Đề! Nếu trong giấc mộng có tạo tác, tạo tác ấy đâu có sở hữu, phải không?

Đáp:

- Thưa không. Tất cả các pháp thuyết ra cũng như những gì có ra trong giấc mộng.

Tu Bồ Đề hỏi Xá Lợi Phất:

- Trong giấc mộng làm việc thiện, thức dậy rất vui, đó tức là tăng trưởng. Nếu làm ác thì không vui, đó tức là giảm.

Xá Lợi Phất thưa:

- Giả sử trong giấc mộng thấy có giết hại, tâm người đó rấtvui, thức dậy nói: “ Ta giết rất vui thích!”. Như vậy thì thế nào?

Tu Bồ Đề thưa:

- Đó là không nói dối, đều có nguyên nhân. Tâm không rỗng không, gặp đủ các duyên, hoặc thấy, hoặc nghe, hoặc nghĩ, liền biết đó chính là nguyên nhân làm cho tâm người bị dính mắc, liền có sở đắc. Sao gọi là sở đắc? Từ nhân duyên nào chịu tội này? Không từ không có nguyên nhân mà chịu tội này, đều từ nhân duyên sanh ra.

Xá Lợi Phất thưa:

- Tất cả nguyên nhân tạo ra đều là không chính xác, đều là không. Thế nào, kính bạch Thiên Trung Thiên, từ nhơn nào mà được sanh ra?

Đáp:

- Từ nhơn “tưởng” được sanh ra.

Xá Lợi Phất thưa:

- Đại Bồ tát ngay trong giấc mộng bố thí, đem việc bố thí này cùng tạo nên Vô thượng Chánh giác, thì có đem thí này thí hay không?

Tu Bồ Đề trả lời Xá Lợi Phất:

- Đại Bồ tát Di Lặc nay ở gần đây, sắp thành Phật, đem câu hỏi này hỏi Di Lặc thì Ngài sẽ trả lời cho.

Xá Lợi Phất bạch Bồ tát Di Lặc:

- Nay tôi đã hỏi. Tu Bồ Đề thưa, Đại Bồ tát Di Lặc có thể giải thích việc đó.

Bồ tát Di Lặc bảo ngài Xá Lợi Phất:

- Như tên của tôi là Di Lặc, ngài sẽ giải thích thế nào? Sẽ dùng “sắc” giải thích hay là sẽ dùng “thọ, tưởng, hành, thức” giải thích? Sắc tức là không, sẽ dùng không sở hữu giải thích, hoặc dùng thọ, tưởng, hành, thức giải thích không? Cũng không thấy pháp sẽ giải thích thì chỗ nào để hiểu được. Cũng không thấy pháp giải thích sẽ đắc Vô thượng Chánh giác.

Xá Lợi Phất bạch Bồ tát Di Lặc:

- Những điều Ngài nói ra là đã chứng đắc.

Bồ tát Di Lặc bảo Xá Lợi Phất: Pháp thuyết ra không nói chứng đắc.

Xá Lợi Phất liền nghĩ: “Bồ tát Di Lặc đã nhập trí tuệ thậm thâm. Vì sao? - Vì Trí tuệ độ đến nay đã lâu xa.

Phật dạy:

- Thế nào, Xá Lợi Phất! Có thể thấy người kia trở thành A-la-hán không?

Xá Lợi Phất thưa:

- Thưa không, kính bạch Thiên Trung Thiên.

Phật bảo Xá Lợi Phất:

- Đại Bồ tát thực hành Trí độ cũng như vậy, không nghĩ ta được thọ ký từ pháp này, không từ pháp này được thọ ký, hoặc ngay nơi pháp này sẽ đắc Vô thượng Chánh giác, tự đạt đến bậc Chánh giác. Đại Bồ tát này làm việc làm như vậy là thực hành Trí độ, không sợ không đắc Bất thối. Người theo lời dạy này là thực hành Trí độ. Đại Bồ tát này là người không sợ hãi. Vì sao? - Vì nếu vị này đi đến trong chỗ hổ lang nhưng không sợ hãi, trong tâm nghĩ rằng: “Giả sử hổ lang có ăn nuốt ta, ta sẽ bố thí cho chúng. Đó là thực hành đầy đủ bố thí ba la mật, gần Vô thượng Chánh giác. Nguyện khi ta được thành Phật, làm cho trong cõi đó không có cầm thú”.

Nếu Đại Bồ tát đi đến trong chỗ giặc giã rất nguy hiểm, cũng không sợ hãi. Vì sao? - Vì giả sử giặc có làm cho ta ngay trong đó bị chết, tâm nghĩ: “Tập hợp của thân ta sẽ tan rã, giả sử có giết ta, ta cũng không giận hờn. Đó là thực hành đầy đủ nhẫn nhục ba la mật, sẽ gần Vô thượng Chánh giác. Nguyện khi ta được thành Phật, làm cho trong cõi đó không có giặc cướp”.

Nếu Đại Bồ tát đến chỗ hoàn toàn không có nước uống, cũng không sợ hãi, tâm nghĩ: “Tất cả mọi người đều do không có đức nên khiến cho không có nước uống. Nguyện khi ta được thành Phật, làm cho trong cõi nước của ta thường có nước tám vị, làm cho tất cả mọi người đều được uống dùng. Vì người đời nên thường tinh tấn”.

Nếu Đại Bồ tát đến chỗ lúa thóc khan hiếm đắc đỏ cũng không sợ hãi. Trong tâm nghĩ: “Ta sẽ vững vàng tinh tấn, tự đạt được Vô thượng Chánh giác. Khi thành Chánh giác, làm cho trong cõi nước của ta không có những thứ xấu ác, làm cho tất cả mọi người ngay nơi sở nguyện, các thức ăn uống như đã có ở trên trời Đao Lợi hiện ngay trước mặt”. Thiện nam tử này vì tất cả mọi người nên tinh tấn đạt đến Vô thượng Chánh giác, thành bậc Chánh giác.

Nếu Đại Bồ tát lúc ở chỗ giặc ác cũng không sợ hãi. Vì sao? - Vì không thấy có pháp sẽ làm khổ. Nhờ vậy nên không sợ. “Giả sử thân ta gặp bệnh chết, tâm không thay đổi, quyết tinh tấn. Nguyện khi ta thành Vô thượng Chánh giác, làm cho tất cả mọi người trong nước của ta đều không có sự xấu ác, không có người chết”. Lời nói của Đại Bồ tát này như lời của Phật không khác.

Lại nữa, Xá Lợi Phất! Đại Bồ tát này không lâu sẽ thành Vô thượng Chánh giác, tự đạt đến bậc Chánh giác. Tự mìnhđối với pháp cũng không sợ hãi. Vì sao? - Vì từ lâu xa đến nay phát tâm nói lớn rằng: “Không lâu sẽ chứng đạt cứu cánh”. Vì rất lâu xa nhưng chỉ trong phút chốc đã đạt được cứu cánh. Đại Bồ tát này nay gần Vô thượng Chánh giác, thành bậc Chánh giác. Nghe nói như vậy nhưng không sợ hãi.

Bấy giờ Ưu bà di Hằng Giá Điều đứng dậy, đến trước đảnh lễ Phật, quỳ thẳng bạch Phật:

- Con nghe lời này không sợ hãi, chắc chắn sau này muốn vì tất cả nọi người thuyết pháp làm cho mọi người không sợ hãi.

Khi đó Phật mỉm cười, từ trong miệng phóng ra năm sắc hào quang. Ưu bà di dùng hoa vàng dâng lên cúng Phật, nhờ oai thần của Phật, hoa đó trụ ở trên hư không bên chỗ Phật, không rớt xuống đất.

Tôn giả A-Nan rời tòa đứng dậy, sửa y phục,đến trước Phật đảnh lễ chân Phật, lui quỳ thẳng bạch Phật:

- Như Lai mỉm cười không phải là không có nguyên do, ắt Ngài có điều gì chỉ dạy?

Phật bảo A-Nan:

- Ưu bà di Hằng Giá Điều này đời vị lai, kiếp tên làTinh Tú, sẽ ở trong kiếp đó thành Phật hiệu là Kim Hoa Phật.

Phật bảo A-Nan:

- Ưu bà di này đời sau sẽ bỏ thân hình nữ nhơn, thọ thân hình nam tử, liền sanh ở nước của Phật A-Súc.

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn