Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   
Bài mới nhất

Quyển thứ ba

15/05/201314:24(Xem: 6447)
Quyển thứ ba

Kinh Bát Nhã Ba La Mật Sao

Quyển thứ ba

Thích Nữ Tâm Thường

Nguồn: Thích Nữ Tâm Thường

Phẩm thứ tư: Thiện quyền

Bấy giờ Bồ tát Di Lặc bảo Tu-Bồ-Đề :

- Đại Bồ tát nào khuyến trợ người làm phước, ra vào bố thí trì giới, coi việc làm đó là trên hết, phước đó càng tăng thêm rất nhiều, không có phước nào hơn phước đức của Đại Bồ tát khuyến trợ.

Tu-Bồ-Đề thưa Bồ tát Di Lặc:

- Có Đại Bồ tát đã tạo công đức ở vô lượng vô số quốc độ chư Phật. Trong mỗi quốc độ có rất nhiều Phật, các Ngài đã Bát Niết-bàn. Từ khi phát tâm cho đến lúc đạt được Vô thượng chánh đẳng chánh giác, thành tựu Bất thối, cho đến cảnh giới Vô dư Niết-bàn để Bát Niết-bàn. Sau đó, lúc pháp diệt tận, công đức đã tạo được trong thời gian đó, công đức đó hơn tất cả các công đức. Đến như các hàng Thanh văn làm việc bố thí, trì giới, coi đó là việc làm phước đức, từ nơi công đức hữu dư đạt được công đức vô dư. Chư Phật Bát Niết-bàn, công đức đã tạo được trong thời gian đó đến như đạt được thân tịnh giới, thân tam muội, thân trí tuệ, thân giải thoát, thân giải thoát tri kiến. Phật pháp rất từ bi, không thể so lường được tâm Phật. Pháp mà Thiên trung thiên thuyết ra, học những công đức trong pháp đó, đến khi chư Phật Bát Niết-bàn, pháp đó tạo được công đức nên muốn làm điều gì đều thực hiện được hết.

Khuyến trợ là tôn quý, là cùng tột trong các đức. Khuyến trợ để đạt được Vô thượng chánh đẳng chánh giác, do đây thành Vô thượng chánh đẳng chánh giác.

Để việc của Bồ tát này qua một bên, giữ tâm luôn làm việc này để cầu Vô thượng chánh đẳng chánh giác. Do tâm cầu giác ngộ mới phát tâm làm việc này và cầu đạt cho được.

Bồ tát Di Lặc bảo Tu-Bồ-Đề:

- Người không cầu như vậy mới đắc. Người phát sanh ý nghĩ này là vì không thông huệ. Vì phát sanh ý nghĩ đó nên tư tưởng bị thối thất, đức tin bị thối thất. Do vì không thông huệ nên rơi trở lại trong bốn điên đảo, đó là: không thường cho là thường, khổ cho là vui, không cho là thật, không có thân cho là có thân. Do đó nên tư tưởng bị thối thất, đức tin bị thối thất. Bồ tát không nên phát tâm như vậy, nếu có tìm cầu thì nên tìm cầu chỗ không có chỗ.

- Thế nào là cầu Vô thượng chánh đẳng chánh giác?

Bồ tát Di Lặc bảo Tu-Bồ-Đề:

- Không nên nói những điều này trước Bồ tát tân học. Vì sao? - Hoặc làm cho họ quên mất đức tin, quên mất sở thích, quên vui vẻ, quên thực hành, liền từ đó bị sa đọa.

Người nào sẽ vì Đại Bồ tát này thuyết cho họ nghe? - Người ở bên thầy tốt sẽ vì những Bồ tát này thuyết cho họ nghe. Người không sợ hãi, Đại Bồ tát này sẽ luôn khuyến trợ họ làm phước để thành tựu Nhất thiết trí.

Với tâm làm việc khuyến trợ, tâm đó cũng diệt luôn, không còn sở hữu sở kiến.

Những tâm như thế nào sẽ trở thành Vô thượng chánh đẳng chánh giác? Nên vận dụng tâm như thế nào để tâm không còn đối đãi? Tự thể của tâm mới làm được.

Thích Đề Hoàn Nhơn thưa Tu-Bồ-Đề:

- Đại Bồ tát tân học nghe việc này hoặc khiếp sợ, nếu Đại Bồ tát muốn tạo công đức thì nên làm thế nào để khuyến trợ họlàm phước này? Để họ được thành Vô thượng chánh đẳng chánh giác?

Tu-Bồ-Đề thưa Bồ tát Di Lặc:

- Nên làm việc ủng hộ chư Phật, phá dẹp những xấu ác để đoạn trừ ái dục, mọi việc làm đều như nhau. Dẹp trừ việc ma, vứt bỏ gánh nặng tức là từ nơi sự tinh tấn của mình thì biết rõ hết tất cả, để tâm được giải thoát, không còn so lường. Từ vô số các cõi nước chư Phật đã Bát Niết-bàn, các công đức tạo phước trong đó và công đức đã tạo phước trong hàng Thanh văn nên muốn làm việc gì cũng đều thực hiện được hết.

Khuyến trợ là tôn quý nhất. Trong tất cả các công đức không gì hơn khuyến trợ. Người khuyến trợ luôn làm việc khuyến trợ. Khuyến trợ để trở thành Vô thượng chánh đẳng chánh giác.

Chỗ nào là chỗ Đại Bồ tát thối thất tư tưởng, thối thất đức tin?

Giả sử Đại Bồ tát giữ tâm trở thành Vô thượng chánh đẳng chánh giác, nhưng không nghĩ nhớ tâm đó, đó là tâm của đại Bồ tát đắc Vô thượng chánh đẳng chánh giác. Giả sử tâm có nhớ nghĩ và biết rõ thì đó là tâm thối thất, tư tưởng thối thất, đức tin thối thất. Giả sử tâm nghĩ nhớ lại biết rõ tâm này,do hành động như vậy nên có tư tưởng thối thất, đức tin thối thất.

Giả sử Đại Bồ tát đem tâm rõ biết cho đó là hiểu biết tất cả, nên biết tâm nào có tạo tác nên biết rõ tâm đó.

Tâm pháp ở chỗ nào? - Ở ngay nơi chỗ pháp có tạo tác.

Như pháp là sau khi học theo pháp rồi chân thật thực hành, đó là làm đúng, là chỗ Đại Bồ tát đã làm.

Đại Bồ tát nào ở chỗ chư Phật quá khứ, vị lai, hiện tại đã tạo côngđức, hoặc là ở trong các hàng Thanh văn cho đến phàm phu đã tạo công đức, hoặc súc sanh nghe pháp và chư Thiên, Duyệt xoa, Càn thát bà, A tu la, Ca lưu la, Chân đà la, Ma hầu lặc, loài người hoặc phi nhơn và người mới học đạo Bồ tát nghe pháp, phát tâm tạo công đức, biết hết tất cả, không còn tích chứa, phân biệt là trên hết.

Người khuyến trợ luôn làm việc khuyến trợ, vì đó là tôn quý nhất. Trong tất cả các công đức, không gì hơn khuyến trợ. Do vậy, người khuyến trợ sẽ khuyến trợ và luôn làm việc khuyến trợ. Nhờ phước đó trở thành Vô thượng chánh đẳng chánh giác. Giả sử có pháp như vậy bị diệt tận, ngay nơi pháp đó không sanh cũng không diệt và không có nơi chốn.

Pháp không sanh ra pháp được trở thành Vô thượng chánh đẳng chánh giác là pháp không rõ pháp, là trái ngược lại với việc trở thành Vô thượng chánh đẳng chánh giác, nên đó là tư tưởng không thối thất, tâm không thối thất, đức tin không thối thất. Với hành động không mong cầu như vậy thì đạt hết tất cả. Đó là chỗ làm của Vô thượng chánh đẳng chánh giác.

Đại Bồ tát nào không hiểu biết rõ ràng đúng đắn mà làm phước đức, là vì lẽ gì? - Vì Bồ tát ngay nơi thân thấy thân không chính xác, đối với việc khuyến trợ làm phước cũng thấy không chính xác. Bồ tát biết rõ thấy không chính xác, không sở hữu, cho nên Bồ tát tu Trí độ mà làm công đức đối với Niết-bàn của chư Phật. Đem công đức này muốn cầu việc gì, vị ấy biết rằng mình có thể làm được Vô thượng chánh đẳng chánh giác.

Chỗ chư Phật Thiên Trung Thiên dính mắc là không dính mắc “tưởng”. Quá khứ đã diệt cũng không còn có tưởng, nhưng không tạo tưởng. Người tạo tưởng là trái với đạo đức của Đại Bồ tát. Không nên học phương tiện ba la mật. Người chưa đắc Trí độ không vào được. Người đắc Trí độ mới vào được. Không nên cho rằng hành động của thân và sự hiểu biết của thức đưa đến diệt độ, bởi vì không có thân. Thân người có đức, có vọng tưởng như vậy liền bị trở ngại, trở lại muốn khổ vì trụ vào Như Lai Đẳng Chánh Giác nên không học theo cái đức này để khuyến trợ người. Vì sao? - Vì do bất chánh vậy. Vì chấp vào Niết-bàn cho nên có vọng tưởng, do đó nên có trở ngại. Công đức tạo được không thể sánh kịp, trở lại muốn trụ khổ. Người không tạo ra tưởng này là đức của Như Lai Chánh Đẳng Chánh Giác. Người tạo tưởng này giống như các thứ chất độc, vì sao? - Giả sử có thức ăn tốt, đem thuốc độc bỏ vào trong đó, màu sắc của thức ăn rất đẹp nhưng hương vị không tốt. Người không biết trong thức ăn có chất độc, người ngu ăn thức ăn đó no nê vui vẻ. Ăn vào xong, khi muốn tiêu hóa bị trở ngại cho thân thể rất nhiều. Người không biết đức hạnh rất là khó. Không biết hộ trì, không biết đúng sự việc và cũng không hiểu rõ. Người thực hành công đức như vậy là giống như nói thức ăn có các chất độc bỏ vào.

Thiện nam tử! Chư Phật quá khứ, hiện tại, vị lai giữ gìn thân trì giới, thân thiền định, thân trí tuệ, thân giải thoát, thân giải thoát tri kiến và đối với công đức đã tạo được trong hàng Thanh văn như Phật Thế tôn đã dạy: Nếu đã tạo công đức nơi Phật Bích Chi đều nên khuyến trợ họ. Khuyến trợ để đem phước đức này trở thành Vô thượng chánh đẳng chánh giác. Người bám chặt lấy hành động của mình do vọng tưởng, vì vậy nên nói giống các chất độc.

Đại Bồ tát nên học như vậy.

Chỗ nào là công đức của chư Phật quá khứ, hiện tại, vị lai? Nên làm thế nào để khuyến trợ làm phước? Để được thành Vô thượng chánh đẳng chánh giác?

Bồ tát vâng theo lời dạy của Như Lai, đó là tu học trí tuệ, sanh ra công đức tự nhiên của Phật. Và đối với những người nghĩ đến pháp, đem pháp của mình khuyến trợ cho họ làm phước đức, nhơn nơi việc khuyến trợ này mà đạt đến Vô thượng chánh đẳng chánh giác. Đại Bồ tát làm việc bố thí như vậy, không có bố thí nào hơn, quyết định không lìa Như Lai Đẳng Chánh Giác. Những lời Phật dạy đều chí thành.

Lại nữa, Đại Bồ tát nên làm việc bố thí như vậy, như giữ gìn tịnh giới, thiền định, trí tuệ, giải thoát, giải thoát tri kiến. Không có cõi Dục, cõi Sắc, cõi Vô sắc. Cũng không có quá khứ, hiện tại, vị lai. Cũng không có sở hữu, không có người thí, không có vật thí. Người bố thí như vậy là bố thí đúng như pháp. Pháp cũng không có sở hữu. Người làm bố thí như vậy là vì muốn thành tựu bố thí “không có chất độc”. Người bố thí khác đây là bố thí ngược lại. Đại Bồ tát này đã bố thí đúng như pháp.

Kính bạch Thế tôn! Người biết như vậy tức là bố thí được trở thành Vô thượng chánh đẳng chánh giác.

Phật dạy:

- Lành thay! Lành thay! Tu-Bồ-Đề! Người làm đúng như Phật dạy, đó chính là Đại Bồ tát bố thí. Tâm từ bi hỷ xả nghĩ đến tất cả người trong ba ngàn đại thiên quốc độ, không bỏ qua một ai. Là Đại Bồ tát bố thí đứng hàng đầu, là rất tôn quý.

Lại nữa, Tu-Bồ-Đề! Người trong ba ngàn đại thiên quốc độ đều trở thành Vô thượng chánh đẳng chánh giác. Dạy cho người trong cõi Phật nhiều như cát sông Hằng đều cúng dường Bồ tát này, cúng dường y phục, ẩm thực, mùng mền, sàn tòa, ngọa cụ, thuốc men chữa bệnh... Cúng dường như vậy trải qua kiếp số như cát sông Hằng, tùy theo chỗ người đó ưa thích mà cúng dường đầy đủ tất cả. Thế nào, Tu-Bồ-Đề! Phước đó có nhiều không?

Tu-Bồ-Đề thưa:

- Rất nhiều! Rất nhiều! Kính bạch Thiên Trung Thiên!.

Phật dạy:

- Công đức khuyến trợ được phước hơn đây rất nhiều.

Tu-Bồ-Đề bạch Phật:

- Tùy hỷ và khuyến trợ người làm phước đức, cõi Phật như cát sông Hằng cũng không thể nhận hết.

Phật dạy:

- Lành thay! Lành thay! Tu-Bồ-Đề! Bồ tát nào thọ trì Trí độ, chỗ ra làm bố thí của người này hơn của người đã bố thí ở trên gấp trăm lần, ngàn lần, vạn lần, ức lần, cự ức lần... do không ai có thể vượt hơn việc làm khuyến trợ bố thí như trên.

Bấy giờ Tứ thiên vương và hai vạn chư thiên trên thiên thượng đầu mặt đảnh lễ chân Phật, đồng bạch Phật:

- Kính bạch Thiên Trung Thiên! Bố thí rất lớn! Đại Bồ tát với phương tiện quyền xảo mới làm được việc bố thí này. Công đức đó rất là tôn quý. Vì sao? - Vì Đại Bồ tát này học Trí độ và ngay nơi đó khuyến trợ vậy.

Chư Thiên trên Đao Lợi đem hoa trời tốt đẹp, hương bột, hương đốt, hương xông, lụa là, lọng hoa, cờ phướn cùng các thứ kỹ nhạc cõi trời dâng lên cúng dường Phật. Cúng dường xong, cùng bạch Phật:

- Kính bạch Thiên Trung Thiên! Bố thí rất lớn. Đại Bồ tát với phương tiện quyền xảo mới có thể làm việc bố thí này. Công đức của bố thí rất lớn. Vì sao? - Vì Bồ tát này học Trí độ và ngay nơi đó khuyến trợ vậy.

Chư Thiên trên Giám Thiên đem danh hoa trên trời, hương bột, hương ướp, hương xông, lụa là, lọng hoa, cờ phướn, kỹ nhạc vui chơi cõi trời dâng cúng dường Phật. Cúng dường xong, đồng bạch Phật:

- Kính bạch Thiên Trung Thiên! Bố thí rất lớn. Đại Bồ tát với phương tiện quyền xảo mới có thể làm được việc bố thí này. Công đức của bố thí này rất lớn. Vì sao? - Vì Đại Bồ tát này học Trí độ, và ngay nơi đó khuyến trợ.

Chư Thiên trên Đâu Suất đem hoa trời, hương bột, hương ướp, hương xông, lụa là, lọng hoa, cờ phướn, kỹ nhạc vui chơi trên trời dâng cúng dường Phật. Cúng dường xong, cùng bạch Phật:

- Kính bạch Thiên Trung Thiên! Bố thí rất lớn. Đại Bồ tát với phương tiện quyền xảo mới làm được việc bố thí này. Công đức của bố thí này rất lớn. Vì sao? - Vì Đại Bồ tát này học Trí độ và ngay nơi đó khuyến trợ.

Chư Thiên trên Ni Ma La Đề Thiên đem hoa trời, hương bột, hương ướp, hương xông, lụa là, lọng hoa, cờ phướn và kỹ nhạc vui chơi trên cõi trời dâng cúng dường Phật. Cúng dường xong cùng bạch Phật:

- Kính bạch Thiên Trung Thiên! Bố thí rất lớn. Đại Bồ tát với phương tiện quyền xảo mới làm được việc bố thí này. Công đức rất là tôn quý. Vì sao? - Vì Bồ tát này học Trí độ và ngay nơi đó khuyến trợ.

Chư Thiên trên Ba La Ni Mật Hòa Đa Bạt Trí Thiên đem danh hoa, hương bột, hương ướp, hương xông, lụa là, lọng hoa, cờ phướn và kỹ nhạc vui chơi cõi trời dâng cúng dường Phật. Cúng dường xong, cùng bạch Phật:

- Kính bạch Thiên Trung Thiên! Bố thí rất lớn. Đại Bồ tát với phương tiện quyền xảo mới có thể làm được việc bố thí này. Công đức rất lớn. Vì sao? - Vì Đại Bồ tát học Trí độ và ngay nơi đó khuyến trợ.

Phạm Thiên, Phạm Ca Di Thiên, Phạm Phước Lâu Thiên, Phạm Ba Lợi Sản Thiên. Lệ Thiên, Ba Lợi Đà Thiên, Lệ Ba Ma Na Thiên, A Phả Hội Thiên, Thủ Ha Thiên, Ba Lợi Thủ Ha Thiên, A Ba Ma Thủ Thiên, Thủ Ha Di Thiên, Tỷ Y Phiên La Thiên, A Tỷ Da Thiên, Tu Đà Thí Thiên, Ni Thiên... cho đến chư thiên trên A Ca Nị Tra.v.v....đều đầu mặt đảnh lễ sát chân Phật, thưa:

- Kính bạch Thiên Trung Thiên! Thật lành thay! Đại Bồ tát học Trí độ làm công đức bố thí rất lớn. Vì sao? - Vì Đại Bồ tát này học tập Trí độ và ngay nơi đó khuyến trợ.

Phật dạy Thủ Đà:

- Hãy hộ vệ chư Thiên!

Để việc trong ba ngàn đại thiên quốc độ qua một bên. Đại Bồ tát và người trong cõi Phật nhiều như cát sông Hằng đều thành Vô thượng chánh đẳng chánh giác.

Lại có người trong cõi Phật nhiều như cát sông Hằng cùng nhau cúng dường hàng Đại Bồ tát này. Bố thí y phục, ẩm thực, những việc đến đi, cúng dường ngọa cụ, thuốc men chữa bệnh, kiếp số nhiều như cát sông Hằng. Tùy theo chỗ người đó ưa thích đều bố thí đầy đủ. Nếu có người làm những việc hơn đây cũng không sánh kịp Đại Bồ tát khuyến trợ bố thí, vì chư Phật quá khứ, hiện tại, vị lai thân giữ giới thanh tịnh, thân thiền định, thân trí tuệ, thân giải thoát, thân giải thoát tri kiến và thân các Thanh văn. Công đức đã tạo được trong các thân đó biết hết tất cả cũng không sánh kịp công đức khuyến trợ. Người khuyến trợ, đó là người làm việc rất tôn quý, không ai có thể vượt qua. Làm việc khuyến trợ để trở thành Vô thượng chánh đẳng chánh giác.

Tu-Bồ-Đề bạch Phật:

- Chúc Thiên Trung Thiên đã dạy biết hết tất cả điều tôn quý cao nhất không gì hơn khuyến trợ. Tùy hỷ hết thảy để khuyến trợ. Khuyến trợ xong, Đại Bồ tát từ nơi đó đắc được những pháp gì?

Phật dạy Tu-Bồ-Đề:

- Đó là đạo đức của con người. Nên biết pháp quá khứ, đương lai, hiện tại không thủ cũng không xả, cũng không sở tri, cũng không sở đắc. Pháp đó là pháp vô sở sanh, cũng vô sở diệt. Pháp đó không từ đâu sanh ra, cũng chẳng diệt về đâu. Ngay nơi pháp đó quyết định không sanh, pháp đó cũng chẳng diệt về đâu. Đối với những pháp như vậy, tôi đều tùy hỷ khuyến trợ. Đó là khuyến trợ. Người làm việc bố thí như vậy mau đắc Vô thượng chánh đẳng chánh giác, vậy nên, này Tu-Bồ-Đề! Đại Bồ tát khuyến trợ là tôn quý.

Lại nữa, Tu-Bồ-Đề! Đại Bồ tát ở chỗ chư Phật quá khứ, hiện tại, vị lai đã tùy hỷ làm việc bố thí, tùy hỷ khuyến trợ trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định, trí tuệ để khuyến trợ họ. Hoan hỷ với sự giải thoát của họ mà khuyến trợ họ. Hoan hỷ với sự giải thoát tri kiến của họ mà khuyến trợ họ. Làm việc hoan hỷ khuyến trợ như vậy, làm cho họ được giải thoát, đó là bố thí, đó là nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định, trí tuệ, giải thoát, giải thoát tri kiến. Làm cho họ được giải thoát như vậy là đã giải thoát. Làm cho họ được giải thoát như vậy là hoan hỷ khuyến trợ. Làm cho họ được giải thoát đó là pháp. Thế nên đương lai chưa có người được giải thoát như vậy.

- Kính bạch Thiên Trung Thiên! Làm cho rất nhiều cõi nước chư Phật ngay hiện tại được giải thoát, đó chính là đệ tử của chư Phật. Người làm cho được giải thoát rồi là đệ tử chư Phật quá khứ. Người làm cho hiện nay được giải thoát, đó là đệ tử của chư Phật hiện tại. Ngay nơi pháp không trói, không dính, không mở. Pháp như vậy sẽ trở thành Vô thượng chánh đẳng chánh giác, vì bố thí từ trong đó nên không ai có thể vượt qua, không ai có thể phá hoại.

- Thế nên, này Tu-Bồ-Đề! Đại Bồ tát khuyến trợ là tôn quý hơn hết. Như trong cõi Phật nhiều như cát sông Hằng, Bồ tát sống lâu kiếp số nhiều như cát sông Hằng, người trong cõi Phật nhiều như cát sông Hằng, cùng nhau cúng dường tất cả Đại Bồ tát y phục, ẩm thực, sàn tòa, ngọa cụ, thuốc men trải qua kiếp số nhiều như cát sông Hằng, Tu-Bồ-Đề! Tất cả đều trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, không giải đãi, ngay nơi thiền định đắc được tam muội gấp trăm, gấp ngàn, gấp vạn, gấp vô số vạn ức cự lần, không bằng công đức làm phước khuyến trợ. Công đức này rất cao quý, vượt lên trên tất cả.

Phẩm thứ năm: Địa ngục

Xá-Lợi-Phất bạch Phật:

- Đại Trí độ thành tựu rất nhiều. Kính bạch Thiên Trung Thiên! Do Trí độ đâu chẳng phải không có danh tự.

Kính bạch Thiên Trung Thiên! Trí độ là rất sáng.

Kính bạch Thiên Trung Thiên! Trí độ trừ tối tăm.

Kính bạch Thiên Trung Thiên! Trí độ không dính mắc.

Kính bạch Thiên Trung Thiên! Trí độ rất tôn quý.

Kính bạch Thiên Trung Thiên! Người không có mắt, Trí độ làm cho có mắt.

Kính bạch Thiên Trung Thiên! Người mê mờ, Trí độ chỉ cho con đường.

Kính bạch Thiên Trung Thiên! Nhứt thiết trí tức là Trí độ.

Kính bạch Thiên Trung Thiên! Trí độ là mẹ của Bồ tát.

Kính bạch Thiên Trung Thiên! Không sanh không diệt tức là Trí độ.

Kính bạch Thiên Trung Thiên! Đầy đủ tam chuyển, mười hai hành pháp luân là chuyển Trí độ.

Kính bạch Thiên Trung Thiên! Trí độ là làm cho tất cả những người khốn khổ được hoàn toàn an ổn.

Kính bạch Thiên Trung Thiên! Trí độ làm hộ trì trong sanh tử.

Kính bạch Thiên Trung Thiên! Trí độ đối với tất cả các pháp đều tự nhiên.

Kính bạch Thiên Trung Thiên! Đại Bồ tát phải làm thế nào để được trụ trong Trí độ?

Phật dạy Xá-Lợi-Phất:

- Thế tôn nhơn trụ Trí độ, người kính tín Phật nên tự quay về Trí độ.

Thích Đề Hoàn Nhơn nghĩ: “Tôn giả Xá-Lợi-Phất vì lẽ gì thưa câu hỏi này?”. Ngay khi đó, Thích Đề Hoàn Nhơn thưa hỏi Xá-Lợi-Phất:

- Do nguyên nhơn nào tôn giả nêu câu hỏi này?

Xá-Lợi-Phất bảo Thích Đề Hoàn Nhơn:

- Câu Dực! Trí độ là hộ trì Bồ tát. Nhơn việc khuyến trợ làm phước đức này tạo nên Nhứt thiết trí, hơn việc làm phước của Bồ tát. Vì người nào bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định, giống như người từ lúc mới sanh ra đã bị mù. Nếu có trăm người, ngàn người, vạn người, ngàn vạn người mà không có người ở trước dẫn đường thì những người này muốn đi đến chỗ nào, hoặc muốn vào trong thành, sẽ không biết nên đi như thế nào.

Như vậy, này Câu Dực! Năm độ cũng như người mù không thấy. Người lìa Trí độ cũng vậy, muốn vào Nhứt thiết trí không biết phải đi như thế nào. Trí độ hộ trì năm độ là cho mắt sáng. Trí độ là ủng hộ, là làm cho năm độ kia đều có được danh tự.

Xá-Lợi-Phất bạch Phật:

- Làm sao để thủ hộ và nhập vào Trí độ?

Phật bảo Xá-Lợi-Phất:

- Sắc, chẳng thấy chỗ nhập. Thọ, tưởng, hành, thức cũng chẳng thấy có chỗ nhập. Xét kỹ năm ấm cũng chẳng thấy chỗ nhập. Đó là thủ hộ Trí độ.

- Như vậy, kính bạch Thiên Trung Thiên! Do vì thủ hộ Trí độ, làm người thủ hộ như vậy là để được pháp gì?

Phật dạy Xá-Lợi-Phất:

- Không thủ hộ, đó là đạt đến thủ hộ pháp, là Trí độ.

Thích Đề Hoàn Nhơn bạch Phật:

- Trí độ không mong Nhứt thiết trí, cũng không thể đạt được, cũng không mong thủ hộ. Kính bạch Thiên Trung Thiên! Ngay nơi sanh tử cũng không mong cầu, thì lấy gì để đắc?

Phật dạy:

- Không mong đạt, nên đạt.

Thích Đề Hoàn Nhơn thưa:

- Ít có người kịp. Kính bạch Thiên Trung Thiên! Như Trí độ đối với các pháp, các pháp không sanh, không diệt thì nên trụ ở chỗ nào để vô trụ?

Tu-Bồ-Đề bạch Phật:

- Bồ tát ngay khi nghĩ như vậy liền lìa Trí độ.

Phật dạy Tu-Bồ-Đề:

- Hoặc giả có nguyên nhân liền nghĩ đến Trí độ. Biết Trí độ là không, không có sở hữu, không gần, không xa, nên đó là Đại Bồ tát tu Trí độ.

Tu-Bồ-Đề bạch Phật:

- Trí độ tin vào pháp gì?

Phật dạy Tu-Bồ-Đề:

- Người tin Trí độ là không tin sắc; cũng không tin thọ, tưởng, hành, thức; không tin đạo Tu-đà-hoàn, Tư-đà-hàm, A-na-hàm, A-la-hán, Bích Chi Phật.

Tu-Bồ-Đề bạch Phật:

- Kính bạch Thiên Trung Thiên! Đại Trí độ tức Bát-nhã Ba la mật.

Phật bảo Tu-Bồ-Đề:

- Làm thế nào để biết trí độ là từ Bát-nhã Ba la mật?

Tu-Bồ-Đề thưa:

- Đối với sắc không lớn không nhỏ. Không lấy sắc làm sự chứng đắc. Cũng không bị sắc, thọ, tưởng, hành, thức làm sự chứng đắc; cũng không lớn không nhỏ. Không lấy thức làm sự chứng đắc, cũng không bị thức làm sự chứng đắc, liền ngay nơi Như Lai Chánh Đẳng Giác đạt được mười chủng lực, không còn bị yếu luốc. Nhứt thiết trí không rộng không hẹp. Vì sao? - Vì biết Nhứt thiết trí không rộng không hẹp nên đối với Trí độ không có chỗ thực hành. Vì sao? - Vì Trí độ không có nơi chốn. Người nào ngay nơi đó mong cầu, nghĩa là có sở hữu, thì đó là điều rất trái ngược. Vì sao? - Vì người không từ đâu sanh ra. Trí độ và người đều là tự nhiên. Người không thấy chính xác về Trí độ nên chắc chắn không thể phân biệt. Người cũng không hủy hoại, Trí độ cũng như vậy. Người như Trí độ, liền đắc Chánh giác.Người cũng có năng lực nên Như Lai cũng thị hiện có năng lực.

Xá-Lợi-Phất bạch Phật:

- Kính bạch Thiên Trung Thiên! Trí độ thậm thâm, thậm thâm! Đại Bồ tát nào tin Trí độ, không nói về những lỗi trong đó, cũng không nghi ngờ. người này từ nơi nào sanh đến đây để hành đạo Bồ tát? Từ đó đến nay đã nghe và hiểu được bao nhiêu việc của Trí độ? Theo chỗ chỉ dạy mà đi vào trong đó.

Phật bảo Xá-Lợi-Phất:

- Từ cõi Phật phương khác sanh đến nơi đây. Đại Bồ tát này ở phương khác đã cúng dường Phật, từng được thọ ký, được nghe Trí độ. Do đây nên được nghe Trí độ và tự nghĩ: Ta như được thấy Phật không khác.

Tu-Bồ-Đề bạch Phật:

- Có thể thấy, nghe Trí độ được không?

Phật dạy:

- Không thể thấy được.

Tu-Bồ-Đề bạch Phật:

- Bồ tát mà học Trí độ thậm thâm, từ khi thực hành đến nay bao nhiêu người được nghe?

Phật bảo Tu-Bồ-Đề:

- Không phải tất cả mọi người đều học. Nhiều người đều cúng dường vô số trăm Phật, vô số ngàn Phật, được thấy tất cả Phật rồi, ngay nơi đó thực hành giữ giới thanh tịnh, nhưng ở giữa chúng lại có người nghe Trí độ là bỏ đi, không kính trọng pháp Bồ tát. Khi Phật thuyết Trí độ sâu xa, người này bỏ đi không muốn nghe. Vì sao? - Vì người này ở đời trước khi nghe Trí độ đã bỏ đi nên cũng không vận dụng thân tâm nghe. Đây là việc làm của hạng người vô trí. Do vì tội này nên nếu nghe Trí độ thậm thâm lại bảo người dừng lại, không cho nói. Người bảo dừng Trí độ là dừng Nhứt thiết trí. Người dừng Nhứt thiết trí là dừng Phật quá khứ, hiện tại, vị lai. Vì tội đoạn pháp này, chết đọa vào đại địa ngục vô số trăm ngàn năm, vô số vạn ức năm, sẽ chịu vô số thống khổ không thể tả. Tuổi thọ nơi đó chấm dứt, lần lượt sanh đến trong địa ngục Ma Ha ở phương khác. Tuổi thọ trong đó hết, lần lượt sanh đến trong địa ngục Ma Ha phương khác nữa.

Xá-Lợi-Phất bạch Phật:

- Tội này bị đọa trong năm đường nghịch ác.

Phật bảo Xá-Lợi-Phất:

- Tội này dù muốn chỉ rõ cũng không thể đưa ra ví dụ. Nếu khi đọc tụng thâm nhập Trí độ, tâm người đó nghi ngờ pháp, cũng không chịu học, nghĩ và nói rằng: “ Đây chẳng phải là Như Lai thuyết”. Ngăn chận người khác rằng: “Chẳng cần phải học”. Đây là người tự phá hoại mình, lại phá hoại người khác. Tự mình uống thuốc độc, lại bảo người khác uống thuốc độc. Bọn người này là bọn đã tự mình quên mất, lại làm cho người khác quên mất.. Chính mình không hiểu biết Trí độ thậm thâm, trở lại phá hoại người khác. Bọn người này không nên gần gũi họ.

Này Xá-Lợi-Phất! Không nên cùng với bọn người này cùng ngồi chung, cùng nói chuyện, cùng ăn uống. Vì sao? - Vì bọn người này phỉ báng pháp, tự mình ở trong chỗ tối tăm, lại dẫn dắt người khác vào chỗ tối tăm. Người tự uống thuốc độc giết hại mình không khác với người đoạn pháp. Người này nói ra điều gì có người tin, do tin theo lời nói đó, người đó bị tội đồng như nhau không khác. Vì sao? - Vì phỉ báng lời Phật dạy. Phỉ báng Trí độ là phỉ báng tất cả pháp.

Xá-Lợi-Phất bạch Phật:

- Con nguyện muốn nghe người phỉ báng pháp chịu những hình phạt giống loại nào? Không biết nơi chốn và thân đó lớn thế nào?

Phật bảo Xá-Lợi-Phất:

- Người phỉ báng pháp, bỗng dưng được nghe việc này. Người này máu từ nơi miệng, mũi liền trào ra, hoặc sợ hãi chết ngất, nhơn đó rất đau đớn. Người nghe những việc đó trong lòng sầu khổ và chết, giống như chặt hoa để giữa trưa, liền bị héo khô.

Xá-Lợi-Phất thưa:

- Kính bạch Thế tôn! Nguyện vì người, xin Thế tôn dạy những việc đó để cho họ biết thân người đó chịu những hình phạt như thế nào. Nguyện vì người đời sau làm ánh sáng lớn. Người nào được nghe, lo sợ sẽ tự nghĩ: “Ta không thể phỉ báng và đọan pháp như người kia”.

Phật bảo Xá-Lợi-Phất:

- Đây là chỉ cho người biết cái rất sáng suốt. Do nhơn tạo tội nên thọ thân hình rất xấu xí, ở chỗ rất khổ cực, dơ dáy, hôi hám. Thật tình không thể tả hết. Nỗi thống khổ đó rất nhiều và rất lâu dài. Thiện nam tử, thiện nữ nhơn nghe lời này đủ để không còn dám trở lại phỉ báng.

Tu-Bồ-Đề bạch Phật:

- Kính bạch Thế tôn! Thiện nam tử, thiện nữ nhơn nghe người này nói về Niết-bàn mà phủ lấp lời nói của người đó nên mới đưa đến cái tội này.

Phật bảo Tu-Bồ-Đề:

- Người ngu si này ở trong pháp của ta làm Sa môn, trở lại phỉ báng Trí độ, nói rằng: “chẳng phải đạo”. Đó là người chấm dứt Trí độ, chấm dứt Phật, Bồ tát. Do chấm dứt Phật, Bồ tát nên bị đoạn dứt Nhứt thiết trí Phật quá khứ, hiện tại, vị lai. Người đoạn Nhứt thiết trí là đoạn pháp. Người đoạn pháp là đoạn Tỳ kheo Tăng. Do đoạn Tỳ kheo Tăng nên chịu vô lượng vô số tội.

Tu-Bồ-Đề bạch Phật:

- Kính bạch Thiên Trung Thiên! Người nào đoạn Trí độ, bị đoạn bao nhiêu việc?

Phật dạy Tu-Bồ-Đề:

- Vì ở trong chỗ ma nên thiện nam tử, thiện nữ nhơn này không tin, không ưa. Do hai việc này nên luôn đoạn Trí độ thậm thâm. Lại nữa, Tu-Bồ-Đề! Người đoạn Trí độ lại có bốn việc. Thế nào là bốn việc?. Đó là:

* Nghe theo lời dạy của thầy xấu.

* Không học theo Trí độ.

* Không nương theo pháp lớn là chủ làm việc phỉ báng, tìm tội lỗi người.

* Cống cao.

Đó là bốn việc.

Tu-Bồ-Đề bạch Phật:

- Kính bạch Thiên Trung Thiên! Ít có người tin Trí độ và chẳng hiểu rõ pháp này.

Phật bảo Tu-Bồ-Đề:

- Đúng như vậy! Đúng như vậy! Ít có người tin Trí độ và không hiểu pháp này.

Tu-Bồ-Đề thưa:

- Vì lẽ gì ít có người tin Trí độ thậm thâm?

Phật dạy Tu-Bồ-Đề:

- Sắc không dính, không buộc, không mở. Vì sao? - Vì sắc là tự nhiên của sắc. Thọ, tưởng, hành, thức không dính, không buộc, không mở. Vì sao? - Vì tự thể của thức là thức.

Sắc quá khứ không dính, không buộc, không mở. Vì sao? - Vì tự thể của sắc quá khứ vậy.

Sắc đương lai không dính, không buộc, không mở. Vì sao? - Vì tự thể của sắc đương lai vậy.

Sắc hiện tại không dính, không buộc, không mở. Vì sao? - Vì tự thể của sắc hiện tại vậy.

Thọ, tưởng, hành, thức quá khứ không dính, không buộc, không mở. Vì sao? - Vì tự thể của sắc quá khứ vậy (?). Thức đương lai không dính, không buộc, không mở. Vì sao? - Vì tự thể của thức đương lai. Thức hiện tại không dính, không buộc, không mở. Vì sao? - Vì tự thể của thức.

Vì vậy cho nên này Tu-Bồ-Đề! Ít có người tin Trí độ thậm thâm.

Phẩm thứ sáu: Thanh tịnh

Tu-Bồ-Đề bạch Phật:

- Ít có người hiểu Trí độ do vì bỏ qua không học tập.

Phật bảo Tu-Bồ-Đề:

- Đúng như vậy! Đúng như vậy! Ít có người hiểu Trí độ vì không quen học tập để đạt đến. Vì sao? - Này Tu-Bồ-Đề! Sắc thanh tịnh, đạo cũng thanh tịnh, nên ta nói sắc thanh tịnh, đạo cũng thanh tịnh. Thọ, tưởng, hành, thức cũng thanh tịnh nên nói đạo cũng thanh tịnh, vậy nên thức cũng thanh tịnh.

Lại nữa, Tu-Bồ-Đề! Sắc thanh tịnh, Nhứt thiết trí cũng thanh tịnh. Sắc cũng thanh tịnh, thế nên sắc thanh tịnh, Nhứt thiết trí cũng thanh tịnh như nhau không khác. Hiện tại không đoạn quá khứ, quá khứ không đoạn vị lai, nên không hư hoại. Vì vậy nên nói vì không đoạn quá khứ.

Xá-Lợi-Phất bạch Phật:

- Kính bạch Thiên Trung Thiên! Thanh tịnh là thậm thâm.

Phật dạy:

- Rất thanh tịnh.

Xá-Lợi-Phất thưa:

- Kính bạch Thiên Trung Thiên! Rất thanh tịnh, rất trong sáng.

Phật dạy:

- Rất thanh tịnh.

Xá-Lợi-Phất thưa:

- Thanh tịnh không cấu nhiễm, thanh tịnh không tỳ vết, thanh tịnh không sở hữu, thanh tịnh đối với dục nhưng không dục. Thanh tịnh ngay nơi sắc nhưng không sắc.

Phật dạy:

- Rất thanh tịnh.

Xá-Lợi-Phất thưa:

- Không sanh là sắc rất thanh tịnh. Ngay nơi hữu trí mà vô trí, rất thanh tịnh. Ngay nơi trí mà vô trí, rất thanh tịnh. Ngay nơi sắc hữu trí, vô hữu trí rất thanh tịnh. Ngay nơi thọ, tưởng, hành, thức nhưng vô hữu trí, vô hữu trí rất thanh tịnh (?). Trí độ thậm thâm cũng rất thanh tịnh.

Kính bạch Thiên Trung Thiên! Nhứt thiết trí không tăng không giảm. Nhứt thiết trí rất thanh tịnh, không nắm bắt các pháp.

Phật dạy:

- Rất thanh tịnh.

Tu-Bồ-Đề bạch Phật:

- Ngã thanh tịnh, sắc cũng thanh tịnh. Kính bạch Thiên Trung Thiên!.

Phật dạy:

- Vốn thanh tịnh.

Tu-Bồ-Đề thưa:

- Cho nên nói ngã thanh tịnh. Thọ, tưởng, hành, thức cũng thanh tịnh. Kính bạch Thiên Trung Thiên.

Phật dạy:

- Vốn thanh tịnh.

Tu-Bồ-Đề thưa:

- Ngã thanh tịnh, đạo cũng thanh tịnh. Ngã thanh tịnh, Nhứt thiết trí cũng thanh tịnh. Ngã thanh tịnh không có đầu mối, ngã thanh tịnh không có ranh giới. Sắc cũng thanh tịnh không ranh giới, kính bạch Thiên Trung Thiên.

Phật dạy:

- Vốn thanh tịnh.

Tu-Bồ-Đề thưa:

- Ngã không có ranh giới. Thọ, tưởng, hành, thức cũng không có ranh giới. Kính bạch Thiên Trung Thiên. Người hiểu biết thanh tịnh tức là Đại Bồ tát học đại Trí độ vậy. Kính bạch Thiên Trung Thiên! Trí độ cũng không ở chỗ này, cũng không ở chỗ kia, cũng không lìa đây, cũng không ở trung gian.

Phật dạy:

- Vốn như vậy.

Tu-Bồ-Đề bạch Phật:

- Đại Bồ tát biết như vậy là người thực hành Trí độ. Người có tưởng liền lìa xa Trí độ.

Phật dạy:

- Lành thay! Lành thay! Tu-Bồ-Đề! Có danh tự nên có tưởng, do tưởng nên có dính mắc.

Tu-Bồ-Đề bạch Phật:

- Kính bạch Thiên Trung Thiên! Thật khó đạt Trí độ. Quyết định an ổn nơi dính mắc.

Xá-Lợi-Phất thưa:

- Thưa ngài Tu-Bồ-Đề! Dính mắc chỗ nào?

Tu-Bồ-Đề thưa:

- Người biết sắc không, đó gọi là dính mắc. Biết thọ, tưởng, hành, thức không, đó là dính mắc. Đối với pháp quá khứ biết là pháp quá khứ, đó là dính mắc. Đối với pháp vị lai biết là pháp vị lai, đó là dính mắc. Đối với pháp hiện tại biết là pháp hiện tại, đó là dính mắc. Người biết pháp là được công đức lớn. Phát tâm Bồ tát là dính mắc.

Thích Đề Hoàn Nhơn hỏi Tu-Bồ-Đề:

- Sao gọi là dính mắc?

Tu-Bồ-Đề thưa:

- Do tâm biết được. Câu Dực! Đem tâm biết này bố thí cho người phát tâm Vô thượng chánh đẳng chánh giác vốn thanh tịnh luôn có tạo tác. Thiện nam tử, thiện nữ nhơn được Bồ tát khuyến trợ chỉ dạy người trở thành Vô thượng chánh đẳng chánh giác là giảng dạy chánh pháp. Ngay nơi thân tâm không có lỗi, có gieo trồng hạt giống Phật. Thiện nam tử, thiện nữ nhơn này do lìa các sự dính mắc, vì đã vứt bỏ cội gốc giao tiếp.

Phật dạy:

- Lành thay! Lành thay Tu-Bồ-Đề! Làm cho Đại Bồ tát biết được nguồn gốc là biết rõ việc dính mắc. Lại nữa Tu-Bồ-Đề! Có việc dính mắc rất sâu xa vi diệu. Nay ta sẽ nói rõ việc đó. Hãy lắng nghe kỹ. Lời nói đầu, giữa, cuối đều thiện.

Tu-Bồ-Đề bạch Phật:

- Cúi xin Thế tôn, con ưa thích được nghe.

Phật dạy:

- Nếu thiện nam tử, thiện nữ nhơn đối với Như Lai Chánh đẳng Chánh giác suy nghĩ nên phát khởi tưởng, theo chỗ nghĩ tưởng cho nên bị dính mắc vào Phật quá khứ, hiện tại, vị lai.

- Kính bạch Thiên Trung Thiên! Đối với pháp vô dư tùy hỷ khuyến trợ là người khuyến trợ Vô thượng chánh đẳng chánh giác. Ngay nơi pháp nhưng không có pháp, nên nói không có quá khứ, hiện tại, vị lai. Do vậy không thể có người tạo tác, cũng không thể có tưởng, cũng không thể tạo nguyên nhơn. Có người nhưng không thể thấy, nghe, không thể biết.

Tu-Bồ-Đề bạch Phật:

- Kính bạch Thiên Trung Thiên! Nguồn gốc này thanh tịnh thậm thâm.

Phật dạy:

- Vốn thanh tịnh.

Tu-Bồ-Đề thưa:

- Ngày nay con xin quy y Trí độ.

Phật dạy:

- Pháp không tác giả nên được thành Vô thượng chánh giác.

Tu-Bồ-Đề thưa:

- Các pháp thật chẳng tạo nên chánh giác.

Phật bảo Tu-Bồ-Đề:

- Không có pháp đối đãi, vì nó vốn thanh tịnh.Chỉ có một pháp làm thanh tịnh, cũng không tạo tác đối với tất cả. (Đối với tất cả cũng không tác giả)

Phật bảo Tu-Bồ-Đề:

- Thế nên lìa các dính mắc là bỏ nguồn gốc giao tiếp.

Tu-Bồ-Đề bạch Phật:

- Trí độ khó hiểu. Kính bạch Thiên Trung Thiên!

Phật dạy:

- Đúng như vậy! Không có người đắc Chánh giác.

Tu-Bồ-Đề thưa:

- Trí độ không thể phân biệt. Kính bạch Thiên Trung Thiên.

Phật dạy:

- Đúng như vậy! Tu-Bồ-Đề, chẳng phải chỗ tâm có thể biết được.

Tu-Bồ-Đề thưa:

- Vì không có tác giả. Kính bạch Thiên Trung Thiên.

Phật dạy:

- Không có tác giả nên không dính mắc.

Tu-Bồ-Đề bạch Phật:

- Bồ tát nên thực hành Trí độ như thế nào?

Phật dạy:

- Không nghĩ mình thực hành thọ, tưởng, hành, thức là thực hành Trí độ. Sắc không đầy đủ sắc là phi sắc, là hành Trí độ. Thọ, tưởng, hành, thức không đầy đủ là hành Trí độ.

Tu-Bồ-Đề bạch Phật:

- Khó kịp. Kính bạch Thiên Trung Thiên. Ngay nơi dính mắc mà không dính mắc, đó chính thật là không dính mắc.

Phật dạy:

- Không dính mắc sắc là thực hành Trí độ. Người thực hành không dính mắc thọ, tưởng, hành, thức là hành Trí độ. Đây là đại Bồ tát hành Trí độ ngay nơi sắc không dính mắc; ngay nơi thọ, tưởng, hành, thức không dính mắc. Đối với đạo Tu-đà-hoàn, Tư-đà-hàm, A-na-hàm, A-la-hán, Bích Chi Phật cũng không dính mắc. Lại từ nơi Nhứt thiết trí phát xuất ra nên đó là Nhứt thiết trí.

Tu-Bồ-Đề bạch Phật:

- Kính bạch Thiên Trung Thiên! Pháp Thế tôn thuyết thậm thâm khó đạt. Nếu Thế tôn có thuyết cũng không tăng, không thuyết cũng không giảm.

Phật dạy:

- Đúng như vậy! Đúng như vậy! Tu-Bồ-Đề! Ví như Như Lai trọn đời khen ngợi về KHÔNG thì KHÔNG cũng không tăng; hoặc không khen ngợi KHÔNG thì KHÔNG cũng không giảm. Ví như khen ngợi người huyễn thì người huyễn cũng không tăng; không khen ngợi người huyễn thì người huyễn cũng không giảm. Nghe điều tốt cũng không vui, nghe điều xấu cũng không buồn.

Như vậy, này Tu-Bồ-Đề! Đối với pháp, mỗi người đều đọc tụng, tu học pháp, pháp cũng không tăng không giảm.

Tu-Bồ-Đề bạch Phật:

- Đại Bồ tát rất khổ nhọc hành trì Trí độ. Người nào thủ hộ Trí độ không giải đãi, không khiếp sợ, không giao động, không thối lui. Vì sao? - Vì người thủ hộ Trí độ là thủ hộ KHÔNG, nên tất cả mọi người đều nên làm lễ Đại Bồ tát, vì Đại Bồ tát mặc áo giáp đại thệ nguyện, cùng với KHÔNG mà chiến đấu. Đại Bồ tát vì tất cả mọi người nên mặc áo giáp đại thệ nguyện. Vì tất cả mọi người nêu lên KHÔNG. Đại Bồ tát là người rất dõng mãnh.

Kính bạch Thiên Trung Thiên, dùng pháp KHÔNG đạt đến Vô thượng chánh đẳng chánh giác, được thành Chánh đẳng chánh giác.

Có Tỳ kheo khác nghĩ: “Ta nên quy y Trí độ vì pháp đó không sanh, cũng không diệt”.

Thích Đề Hoàn Nhơn hỏi Tu-Bồ-Đề:

- Bồ tát theo lời dạy của Trí độ là dạy những gì?

Tu-Bồ-Đề thưa:

- Là theo chỗ chỉ dạy về KHÔNG.

Thích Đề Hoàn Nhơn thưa:

- Chỗ nào là chỗ theo chỉ dạy KHÔNG?

Tu-Bồ-Đề thưa:

- Người muốn yên tịnh, đó là Đại Bồ tát, là người biết Trí độ.

Thích Đề Hoàn Nhơn bạch Phật:

- Kính bạch Thiên Trung Thiên! Người lãnh thọ Trí độ phải hộ trì trong thời gian bao lâu?

Tu-Bồ-Đề bảo Thích Đề Hoàn Nhơn:

- Thế nào, Câu Dực! Ông có thể thấy pháp là cần phải hộ trì hay sao mà ông nói là muốn hộ trì pháp?

Thích Đề Hoàn Nhơn thưa:

- Không phải.

Tu-Bồ-Đề bảo:

- Người học theo những gì Trí độ chỉ dạy, chính là người đã được pháp hộ trì, là người làm theo pháp. Người hoặc phi nhơn chắc chắn không thể phá hoại được người này.

Tu-Bồ-Đề thưa:

- Nếu Đại Bồ tát hộ trì pháp KHÔNG là đã học tập thực hành theo Trí độ. Thế nào Câu Dực! Có thể giữ gìn tiếng vang được không?

Thích Đề Hoàn Nhơn thưa:

- Không thể.

Tu-Bồ-Đề thưa:

- Như vậy này Câu Dực! Đại Bồ tát thực hành Trí độ, pháp đó cũng như tiếng vang. Do biết vậy nên cũng không nhớ nghĩ. Do không nhớ nghĩ tức là thực hành Trí độ.

Nhờ oai thần của Phật, các Tứ thiên vương, Thích, Phạm và Tôn thiên trong ba ngàn đại thiên quốc độ, tất cả đều đi đến trước chỗ Phật, đảnh lễ Phật, nhiễu quanh ba vòng rồi cùng đứng qua một bên.

Chư Thiên, Thiên vương, Thích, Phạm đều nương oai thần của Phật nên nghĩ: “Ngàn các đức Phật đều tên là Thích Ca Văn, Tỳ kheo của Phật đều tên là Tu-Bồ-Đề. Người hỏi Trí độ đều như Thích Đề Hoàn Nhơn”.

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn