Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   
Bài mới nhất

Phần 3

13/05/201319:38(Xem: 2771)
Phần 3



Những Nét Văn Hóa Của Ðạo Phật

Trung Tâm Văn Hóa – Chùa Việt Nam

TT. Thích Phụng Sơn

---o0o---

Phần 3

8. Thiền Và Phân Tâm Học

Phật giáo chú trọng đến sự hiểu biết chân thật. Thiền là một tông phái của Phật giáo hướng đến việc thể nghiệm trạng thái an vui trong sáng, lành mạnh tự do, linh động sáng tạo, hạnh phúc tràn đầy trong đời sống hàng ngày. Thiền nhấn mạnh đến giác ngộ, giải phóng mình ra khỏi những sự bám bíu, những dính mắc vào những cái hư giả che mờ tánh tự nhiên trong sáng bao la của mỗi chúng ta. Những cái hư giả ấy là những ý tưởng, những điều ta suy nghĩ hay tưởng tượng về thực tại mà không phù hợp, không dính dáng gì đến sự thật đang xảy ra, là những điều chúng ta ưa thích hay ghét bỏ ngấm ngầm chi phối, thúc đẩy chúng ta suy nghĩ hay hành động mà chúng ta không biết đến chúng trên mặt ý thức, là những tâm tư vui buồn thương ghét, là những cảm giác sướng khổ nối tiếp không ngừng làm cho ta quay cuồng điêu đứng nhưng lại luôn luôn bám chặt lấy chúng, lệ thuộc vào chúng, dính mắc vào chúng để có được cảm tưởng mình đang sống trong cuộc đời. Thời trước người ta nói theo Descarte: “Tôi suy tư vậy tôi hiện hữu”. Thời nay người ta có thể tự nhủ: “Tôi cảm xúc vậy tôi hiện hữu.”

Ngày nay, nhiều nhà tâm lý trị liệu đã tìm đến thiền để tìm hiểu về lý thuyết hay thực hành tu tập nhằm chiếu rọi thêm ánh sáng hiểu biết vào chốn vô thức cũng như kinh nghiệm được trạng thái an vui lành mạnh mà thiền đem đến cho họ.

I. Khoa Sức Khỏe Tâm Trí

Khoa chăm sóc sức khỏe tinh thần và chữa trị bệnh tâm trí gồm có ba ngành chính: Phân tâm học (psychoanalysis), tâm trí bệnh học (psychiatry) và tâm lý học (Psychology) xử dụng các phương pháp tâm lý trị liệu (psychotherapy) để chữa trị cho những người bị bệnh tâm trí. Nhóm thứ nhất gồm các nhà phân tâm (psychoanalysist) là những bá sĩ y khoa được huấn luyện về ngành phân tâm học rất đầy đủ và chính họ cũng trải qua các cuộc phân tâm. Ngành này đặt căn bản trên những khám phá của bác sĩ Sigmund Freud về các hoạt động vô thức nơi con người cùng cách thức chữa trị những chứng bệnh bất an tâm thần bằng cách giúp cho bệnh nhân biết được những ý tưởng, những ham muốn, những xúc cảm, những ước mơ mà họ đã dồn nén trong chốn vô thức. Sở dĩ những điều ấy bị dồn nén là vì chúng ngược lại với những gì mà luân lý hay đạo đức chấp nhận. Những thứ cấm kỵ ấy không phải là những luật lệ bên ngoài mà là sự kiểm soát ở bên trong chúng ta mà chúng ta thường gọi là lương tâm.

Tánh chất của ngành phân tâm là một tiến trình thổ lộ để giải tỏa (catarsis) các ẩn ức trong chốn vô thức của bệnh nhân. Hai bên bác sĩ và bệnh nhân nói chuyện với nhau trong một thời gian lâu dài. Từ những cuộc thổ lộ của bệnh nhân mà bác sĩ biết rõ những điều nằm sâu trong chốn vô thức của họ. Những điều người bệnh thương yêu, giận hờn, ghét bỏ, thù hận, sợ hãi xuất hiện qua mối liên hệ giữa hai người do người bệnh đồng hóa bác sĩ như là đối tượng để cho mình thương yêu hay tức giận. Sự kiện đó gọi là sự đổi ngôi hay hoán vị (transference): Người bác sĩ, trong con mắt người bệnh lúc đó, chính là người mà mình thương yêu hay thù ghét trước đây. Có điều khác biệt duy nhất là trước đây người bệnh không dám yêu hay ghét vì mặc cảm tội lỗi, giờ đây họ biểu lộ chúng một cách tự do. Bác sĩ trở tành đối tượng tình cảm của người bệnh và dùng mối lien hệ (theo cái nhìn của bệnh nhân đó) để giúp cho bệnh nhân có được sự tự tri hay nội kiến (insight), sự thấy biết rõ ràng về những niềm thương ghét ở sâu trong vùng vô thức của họ, nguyên nhân của những lo lắng, sợ hãi hay bất an làm cho họ khổ đau về tinh thần và nhiều lúc cả thể chất. Ngoài cách thức đó, bác sĩ phân tâm còn xử dụng các phương thức khác như sự lien tưởng tự do, phân tích và giải thích các giấc mơ, những phản ứng đối kháng cùng những hoán vị khác, v.v…

Qua Tiến trình phân tâm, các điều thầm kín được đưa ra ánh sáng. Nhờ sự hiểu biết đó mà bệnh nhân nhận biết những ý tưởng, ham muốn, cảm xúc cùng những mơ ước, mà mình không muốn biết tới hay sợ hãi không muốn nhận ra chúng, đang tác động nơi mình. Ðiều quan yếu là bác sĩ tâm thần không nói rõ như bác sĩ thường về chứng bệnh của bệnh nhân mà phải giúp cho chính họ nhận ra “chứng bệnh” của mình qua sự nhận biết về các cảm xúc của họ, những cách dồn nén những cảm xúc ấy cùng các cách thức thực hành sự tránh né không muốn biết đến chúng và những phương thức tự vệ (defensive mechanism) mà bệnh nhân xử dụng để phủ nhận những khó khăn mà mình đang có. Do đó, sự chữa trị rất lâu dài và tốn kém.

Kế ngành phân tâm là ngành tâm trí bệnh học (psychiatry) do các bác sĩ tâm trí (psychiatrist) phụ trách. Những vị này có thời gian huấn luyện chuyên môn ngắn hơn là các bác sĩ về phân tâm nói trên. Họ là những bác sĩ y khoa và cũng là chuyên viên tâm trí trị các chứng rối loạn tinh thần. Họ có thể xử dụng cả thuốc men hay các phương pháp phân tâm để chữa trị bệnh nhân.

Tiếp theo đó là ngành tâm lý học (psychology), ngành nghiên cứu về thái độ và cách ứng dụng các kiến thức ấy. Các chuyên viên tâm lý (psychologist), được huấn luyện rất kỹ tùy theo mỗi ngành chuyên môn họ phụ trách, thường chú trọng nhiều hơn đến thái độ (tức là sự biểu lộ ra ngoài của bệnh nhân) và dùng các kỹ thuật trị liệu tâm lý để giúp họ thích nghi với môi trường chung quanh. Phương pháp này nhanh chóng và ít tốn kém hơn.

Ngoài các điều ấy, còn có sự khác biệt quan trọng là những nhà phân tâm và những bác sĩ tâm trí là những bác sĩ y khoa nên họ có quyền biên toa cho thuốc, còn các chuyên viên tâm lý thì chỉ thuần xử dụng các phương pháp tâm lý trị liệu mà thôi. Vào năm 1991, một chương trình mới được mở ra cho phép các tiến sĩ tâm lý học được ghi tên học ngành tâm trí bệnh học như các bác sĩ y khoa, dù với một con số rất giới hạn.

Ngày nay ngành phân tâm và tâm bệnh học phát triển theo chiều hướng chữa trị bằng thuốc men nhiều hơn trước đây. Chữa trị bằng thuốc men có điều hay là đưa đến những kết quả nhanh chóng nhưng những tác động nguy hại (side effect) của thuốc men cùng sự lệ thuộc vào thuốc men của bệnh nhân là những điều mà người ta vẫn đang tranh luận rất nhiều.

II. Freud Và Những Nhà Tâm Lý Khác Với Freud

Theo Freud thì tất cả mọi sinh hoạt của con người đều nhằm vào việc thỏa mãn những nhu cầu của mình. Ông ta cho con người như một cái máy được vận chuyển bằng sức sống, một năng lực thúc đẩy con người thỏa mãn những nhu cầu như ăn uống, tính dục, v.v… mà ông gọi là Libido. Theo Freud, con người vốn ích kỷ và liên hệ qua lại với kẻ khác chỉ nhằm thỏa mãn những ham muốn của bản năng. Khi các dục vọng, các ham muốn này được thỏa mãn thì các sự căng thẳng trong người bớt đi, nhờ đó họ có cảm giác sung sướng hay là sự khoái lạc. Như thế, khoái lạc là một sự thích thú người ta có được qua sự xả bớt những căng thẳng, khó chịu do những thúc bách đời hỏi về thực phẩm, dục tình, v.v… tạo ra. Năng lực thúc đẩy con người thực hiện những thỏa mãn thể chất căn bản đó gọi là xung động bản năng mà Freud gọi là Cái Ðó hay là Nó: ID. Freud cho chính sự đè nén quá mức dục tính và sự hung hăng bẩm sinh đưa đến các chứng bệnh tâm thần. Ông ta nói đó là cái giá nền văn minh phải trả.

Nhiều nhà phân tâm ngày nay không còn cho tính dục có một địa vị ưu thế như trước đây nhưng họ vẫn dùng lý thuyết của Freud làm căn bản trị liệu. Còn các nhà chuyên viên tâm lý thuộc nhiều trường phái khác nhau, nói một cách tổng quát, họ đều chú tâm làm cho cái ngã (ego) bất bình thường trở nên lành mạnh và sinh hoạt bình thường trở lại.

Nhiều người đã không đồng ý với Freud về sự chú trọng quá nhiều đến xung động bản năng, nhất là sự quá chú trọng đến vai trò của dục tính và nhân cách bất bình thường (bệnh hoạn). Carl Jung ban đầu theo Freud nhưng sau đó tạo lập nên trường phái mới chú trọng đến ảnh hưởng của yếu tố văn hóa trong đời sống tâm lý con người. Khác hẳn với Freud, ông ta cho rằng libido không phải là sức mạnh tính dục thúc đẩy sinh hoạt con người. Theo ông, libido chỉ là năng lượng tâm lý.

Jung phân chia con người làm hai loại: Hướng nội (trầm tư, hay tự vệ và nghi ngờ) và hướng ngoại (thích ra ngoài, hướng về xã hội và thích phiêu lưu). Ông ta có cái nhìn tích cực về con người và cho rằng nỗ lực của con người thường hướng đến việc hoàn thành những điều tốt đẹp làm cho cuộc sống họ được vui sướng khi đạt được những điều mong ước. Những điều mong ước ấy lại phát xuất từ vô thức tập thể (collective unconciousness) chứa đựng rất nhiều thứ mà ý thức không biết đến. Ông ta lại hoàn toàn khác biệt với Freud khi chủ trương chính sức mạnh của các huyền thoại (myth) trong các nền văn hóa biểu lộ qua những hình ảnh mẫu (archetype) như hình ảnh của bậc đạo sư, người trinh nữ, kẻ anh hùng, người hiệp sĩ, đứa bé thơ ngây, v.v… tạo nên những phản ứng nơi chúng ta, khơi dậy những xúc cảm và thúc dục ta hành động theo chiều hướng nó mời gọi. Trường phái của Jung đang phát triển mạnh ở Hoa Kỳ qua các công trình nghiên cứu và trình bày về sức mạnh của huyền thoại của cố giáo sư Joseph Campbell cùng những nhà tâm lý chú trọng đến sự biểu lộ nam tính qua những “phong trào nam nhân” (men’s movement).

Sau Jung, các nhà tâm lý học Tân Thời Ðại (New Age) như Erich Fromm, Carl Roger, Abraham Maslow, v.v… thường nhấn mạnh sự tích cực của đời sống con người khi chữa trị cho các bệnh nhân tâm trí. Nhiều nhà phân tâm và tâm lý trị liệu đã tìm đến thiền vì thiền trình bày cho họ thấy, chỉ rõ cho họ biết, giúp cho họ có kinh nghiệm và sống được với niềm an vui trong sáng bao la. Nói theo thiền sư Suzuki: “Thiền là nghệ thuật nhìn vào tánh tự nhiên của mình, là con đường từ khổ đau đến tự do, thiền giải phóng các năng lực vướng kẹt của ta, thiền giúp ta khỏi hóa điên hay tàn tật cùng giúp ta biểu lộ khả năng hạnh phúc và thương yêu”. Hay nói một cách thơ mộng hơn:

“Ðạo vốn không nhan sắc

Mà ngày thêm gấm hoa

Trong ba ngàn cõi ấy

Ðâu chẳng phải là nhà.”

Thiền sư Viên Chiếu

(T.T. Nhất Hạnh dịch)

III. Mục Ðích Của Thiền 

Thiền là một tông phái của Phật giáo chú trọng nhiều đến thực hành. Những gì Ðức Phật kinh nghiệm và giảng dạy thì thiền chủ trương phải đạt được như thế. Một người chỉ hiểu lời Ðức Phật dạy khi họ có được kinh nghiệm về trạng thái tâm linh như Ðức Phật, nếu không họ chỉ biết chữ nghĩa mà không biết sự chân thật của Ðạo.

Trước khi giác ngộ, Ðức Phật cũng có những xao xuyến nội tâm, những khắc khoải về ý nghĩa cuộc sống và những khổ đau vì thấy những điều bất như ý xảy ra quanh mình. Ngài phải lặn lội đi tìm lời giải đáp qua thiền định, qua những năm tháng tu hành khổ hạnh để rồi tự mình tìm ra được chân lý vốn vượt lên tất cả những gì mình đã nghe nói về chúng. Nếu chúng ta thực hành thiền (hay các pháp môn Tịnh Ðộ, Mật Tông v.v…) ta cũng có thể kinh nghiệm được sự thật đó. Lúc ấy ta trực nhận tâm ta chỉ thuần là một tình thương yêu trong sáng (Từ bi) và sự hiểu biết chân thật (Trí tuệ) và nguồn an vui vô cùng (Cực Lạc hay Niết Bàn). Tuy nhiên, vì thói quen hay bám víu vào, hay dính mắc vào, thích ràng buột vào các ý tưởng phân biệt như tôi tốt, người kia xấu, tôi hiền lành, người kia hung dữ, tôi phải, người kia quấy, v.v… làm khơi dậy các tâm tư vui buồn, thương ghét, sướng khổ, thân thù mãi mãi không thôi. Những thứ ấy tạo ra những căng thẳng, những áp lực, những sự khó chịu làm ta khổ đau.

Tâm ta như bầu trời trong xanh bao la, các ý tưởng và tâm tư vui buồn, thương ghét như những đám mây bay qua. Nếu chúng ta không bám víu, không dính mắc vào chúng thì như những đám mây, chúng kéo đến và bay đi, chẳng để lại dấu vết. Dù có muôn ngàn đám mây bay ngang bầu trời, bầu trời vẩn luôn luôn không chút nhiễm ô, không chút thay đổi. Cũng như thế, nếu ta không đồng hoá, không cho mình là các ý tưởng, các tâm tư đó thì chúng lặng lẽ trôi đi và tâm ta lúc nào cũng là bầu trời trong sáng bao la. Thiền là quay về với bầu trời trong sáng tự nhiên đó, là sống với nguồn an vui bao la luôn có mặt nơi ta, là sống với tâm thức linh động bén nhạy để nhận biết tất cả mọi phản ứng, mọi ý tưởng, mọi cảm xúc, trực nhận tất cả mọi thứ xuất hiện bên trong cũng như bên ngoài mà không chút sợ hãi, không chút đè nén, không loại trừ, không biện minh, biện bạch hay không nhận biết chúng qua cơ chế tự vệ tâm lý nơi mỗi chúng ta. Sống được như thế thì ta không phân đôi tâm mình ra hai phần: phần ý thức và phần vô thức vì tất cả mọi hiện tượng tâm lý đều được trực tiếp nhận biết như thực, không thêm bớt. Ðó chính là sống đạo, là sống đời giác ngộ chân thật.


09netv19Nơi đây, chúng ta thấy có một sự gặp gỡ giữa thiền và phân tâm học: Cả hai đều chú trọng đến sự giải phóng con người ra khỏi tâm bệnh để con người được an vui hạnh phúc hơn. Một bên cần có bác sĩ để giúp cho bệnh nhân thấy rõ những động lực ham muốn, những mặc cảm tội lỗi, những sự tức giận, những khổ đau đang nằm sâu trong chốn vô thức và đang tác động vào đời sống của họ. Bên kia nhấn mạnh đến sự tỉnh thức của thiền sinh, chính họ phải nỗ lực quán chiếu, nhìn sâu vào tâm của mình để biết rõ những ý tưởng và phản ứng biểu lộ qua những tâm tư vui buồn thương ghét của mình mà không chút dính mắc vào chúng. Từ đó họ biết rõ qua kinh nghiệm cụ thể một trạng thái tự do và an vui tuyệt đối.

Trong thiền, vai trò của vị thầy cũng quan trọng nhưng vị thiền sư chỉ là người giúp đỡ bên ngoài chứ không đóng vai trò quyết định như bác sĩ trong ngành phân tâm. Vị thầy chân thật thúc dục thiền sinh phải nổ lực tối đa trên con đường giải phóng mình ra khỏi mọi sự nô lệ kể cả sự nô lệ vào hình ảnh hay sự sùng thượng vị thầy.

IV. Thiền Là Giải Phóng Chứ Không Phải Nô Lệ

Ðể thấy rõ tính cách chân thật và giải thoát của thiền, chúng ta thử tìm hiểu thêm một số tổ chức tôn giáo cùng so sánh với một số sinh hoạt mệnh danh tu thiền.

Tại Hoa Kỳ có nhiều nhóm sinh hoạt tôn giáo mà người Mỹ gọi là Tà Phái (cultism). Những người chủ trương các nhóm đó thường có khuynh hướng kiểm soát toàn diện đời sống tín đồ và giải thích mọi việc đang xảy ra theo cái thấy sai lạc của họ. Những nhóm này có thể ở khắp mọi tôn giáo và những người gia nhập thường bị đời hỏi phải tùng phục tối đa và hy sinh cuộc đời của họ để được sự che chở. Chúng ta có thể lấy một trường hợp điển hình là nhóm Ðền Thờ Nhân Dân (Temple’s people) của mục sư Jim Jones. Vị mục sư này có khoảng 3,000 tín đồ. Sau khi bị chính phủ Mỹ điều tra về các hoạt động bất hợp pháp của giáo phái này, mục sư Jim Jones di chuyển trụ sở từ California sang Guyana. Nơi đây ông ta đã ra lệnh cho hơn 900 người phải uống chất thạch tín để tự tử tập thể sau khi ra lịnh hạ sát một vị dân biểu quốc hội Hoa Kỳ sang điều tra. Ðó là một thảm kịch của Tà Phái làm dân chúnh Hoa Kỳ khiếp hãi. Thảm kịch này lai vừa tái diễn khi mục sư David Koresh ra lệnh cho tín hữu bắn các nhân viên chính quyền liên bang Hoa Kỳ khi họ đến tịch thu súng ống tại khu vực nhà thờ của họ ở vùng Waco, Texas.

Riêng trong các nhóm tu thiền hay tự cho mình là thiền Phật giáo, trong cộng đồng Hoa Kỳ cũng như Việt Nam, chúng ta chưa thấy có một bảng liệt kê những nhóm thuộc Tà Phái như các chuyên viên đã làm đối với các nhóm Tà Phái trong Thiên Chúa Giáo để giúp giáo dân nhận ra đâu là những tổ chức đạo chân chánh và đầu là những nhóm lợi dụng hay mê hoặc tín đồ.

Căn cứ vào những nguyên tắc do các chuyên viên tâm lý đề ra để nhận biết những Tà Phái đang hoạt động và nhất là lời dạy của các bậc chân tu như Thiền Sư Thích Thanh Từ, Ðức Ðạt Lai Lạt Ma, Thiền Sư Hư Vân, v.v… cùng các kinh điển Phật giáo nhất là Kinh Kim Cang và Pháp Bảo Ðàn Kinh của Lục Tổ Huệ Năng, người ta đã dễ dàng biết rõ điều trên.

Một cách rất giản dị, nếu người nào “dạy đạo” mà lại muốn thực hành sự kiểm soát toàn diện đời sống người tín đồ và dạy cho họ thực hành những phương thức “thiền” để duy trì và phát triển sự lệ thuộc đó thì đó chính là Tà Phái. Họ có thể xử dụng các danh từ Phật giáo nhưng thật ra họ chẳng dính dáng gì đến đạo Phật cả.

Hậu quả nguy hại của những người thực hành pháp môn “thiền” sai lầm là họ bị “tẩu hỏa nhập ma” như có các ảo giác (hallucination) tưởng tượng mình bay đến nhiều chỗ, gặp tiên Phật, thánh trời hay các loài ma quỷ. Trong kinh Thủ Lăng Nghiêm, Ðức Phật dạy phải tránh lối tu này vì đó là cách thực hành sai lầm tạo ra những tai hại cho đời sống.

Chúng ta nhận biết dễ dàng những người này vì họ mất đi khả năng phân biệt những gì vốn có thật, thực tại, và những gì là ảo giác, do tưởng tượng mà có. Có những người lại bị ràng buộc, lại bị nô lệ vào những hình ảnh không thật hay hình ảnh người hướng dẩn. Hậu quả trên là do sự thực hành thiền sai lầm như thay vì buông xả họ lại chấp dính vào một hình ảnh, thay vì trực tiếp nhận biết mọi ý tưởng đến và đi họ lại cố đè nén những ý tưởng, những cảm giác, những tâm tư mà họ e ngại hay sợ hãi hoặc là cố giải thích mọi điều theo sự tránh né ấy. Có người ngồi thiền mà cứ bị hình ảnh của “thầy” mình ám ảnh, không khác gì tâm trạng của một em bé luôn luôn muốn có cha hay mẹ mình ở kế bên. Ðể gia tăng sự lệ thuộc này, họ được khuyên là nên chấm dứt việc thờ Phật mà chỉ thờ hình ảnh người dạy họ. Vài người không hiểu dụng ý của họ đã đem hình Phật xuống và để hình người dạy họ lên bàn thờ. Nhiều người Phật tử cùng tín đồ tôn giáo khác đã làm như trên.

Ðiều ấy lại tạo ra những bất an nội tâm, những xung khắc trong gia đình vì nhiều người dùng sự ‘thiêng liêng” làm phương tiện để thách thức, chống đối, đàn áp hay trốn chạy những người khác trong gia đình. Hình ảnh của “vị thầy” cùng những lời “dạy đạo” được họ dùng làm vũ khí khích bác hay áp chế những người trong gia đình hay bà con thân thuộc. Hậu quả là các vấn đề khó khăn trong gia đình gia tăng và đưa đến sự đổ vỡ: nhẹ là xung đột, nặng là ly dị. Con cái của họ là những kẻ phải gánh nhiều hậu quả tai hại hơn ai hết.

Sự kiện trên rất dễ nhận biết và nếu biết sớm thì rất hữu ích cho người bị mê mờ. Những hành vi họ biểu lộ như thế giúp cho những người khác trong gia đình hiểu được các triệu chứng của căn bệnh tâm trí ở trong vùng vô thức của vợ, chồng hay con cái của mình và tìm cách đưa họ đến các chuyên viên tâm trí để chữa trị.

Các bác sĩ tâm trí đã nghiên cứu cách tẩy não của người Trung Hoa Cộng Sản vào thời Ðệ Nhị Thế Chiến và thấy những nhóm Tà Phái ngày nay đã bắt chước để tẩy não tín đồ theo họ. Ðó là sự nguy hại mới trong xã hội hiện nay vì khi thực hành những điều sai lầm đó thì người tín đồ đè nén những hiểu biết chân thật của họ dưới áp lực của nhóm. Người trong nhóm đề cao họ nhưng lại chê bai vợ con họ nếu những người này không theo hoặc đe dọa sẽ trừng trị qua sự trù ếm nếu họ rút lui khỏi tổ chức cùng nhiều cách thức khác.

Sự đè nén gia tăng, sự lệ thuộc gia tăng, sự tránh né giải quyết các vấn đề trong đời sống thực tế gia tăng khi càng cố thực hành “thiền đè nén” hay “thiền nô lệ” ấy. Sự thực hành “thiền” sai lạc nói trên đưa đến hậu quả là họ không còn phân biệt thực tế và ảo giác, những gì đang thực sự xảy ra và những gì họ tưởng tượng đang xảy ra. Họ có thể có những quyết định phi lý hay sai lầm làm tổn thương cho bản thân họ hay cho gia đình ho. Những người chung quanh đều thấy rõ như thế nhưng nhhững người nạn nhân của Tà Phái lại không nhận biết điều ấy vì họ xử dụng một cách vô thức, cơ chế tự vệ: Phủ nhận những gì đang thực sự xảy ra chung quanh. Trên thực tế, những ai thực hành như trên thì không phải họ “tu thiền” mà họ chỉ thực hành sự chạy trốn vào những ảo ảnh. Hậu quả là đời sống gia đình càng lúc càng mất hạnh phúc, công việc làm càng giảm sút hiệu quả, việc làm ăn thua lỗ hay thất bại do những quyết định không dính dáng đến thực tế. (Những điều nói về tu sai lầm và các ảo giác xuất hiện được Ðức Phật chỉ rõ trong Kinh Lăng Nghiêm).

V. Nét Chính Của Tà Phái 

Theo nhà xã hội học Wơdy Carlson thuộc viện đại học South Carolina thì “các tà phái (cult) có một đặc điểm chung là một người lãnh đạo làm cho mọi người trong nhóm đó thấy y là câu trả lời cho mọi câu hỏi và sự chọn lưa.” Bà Marcia Rudin, giám đốc Chương Trình Giáo Dục về tà phái ở New York nhấn mạnh đến những kẻ “vận dụng, hành hạ và trục lợi những kẻ theo họ…”. Như thế chúng ta nhìn vào thái độ của những người lãnh tụ tà phái này thì dù họ có nhân danh các tôn giáo khác nhau họ vẩn có những điểm hay những nét bệnh lý tương tợ:

1. Muốn kiểm soát toàn diện đời sống của tín đồ.

2. Ngưòi lãnh đạo được xưng tụng là Ðấng Cứu Thế, là Chúa, là Thượng Ðế, là Phật hay Thánh và thường loan truyền là người này có phép lạ.

3. Khuyến khích hay bắt buộc tín đồ không được thờ hình ảnh của Chúa hay Phật mà chỉ thờ hình ảnh của người lãnh đạo hoặc nghĩ tưởng đến hình ảnh người lãnh đạo để được cứu rỗi hay ban cho sức mạnh.

4. Tổ chức Tà Phái thường đe dọa trừng phạt tín đồ theo họ nếu không tiếp tục tham gia sinh hoạt. Sự đe dọa này có nhiều hình thức: Dùng áp lực của nhóm hay đe dọa “giáo chủ” sẽ trừng trị làm cho bị tai nạn, bệnh tật, hay bằng cách bạo động khác.

5. Dụ dỗ người tín đồ phải đóng góp tiền bạc: một lớn phần số lương, buôn bán kiếm tiền cho tổ chức hay cả bán nhà ở của gia đình mình, v.v…

6. Người lãnh đạo có thể vi phạm tất cả mọi điều cấm kỵ nhưng tín đồ thì hoàn toàn phải tuân phục các luật lệ do nhóm ấn định.

Như thế, trong phạm vi Phật giáo, những người Phật tử khi thực hành thiền thì nên hiểu rõ mình đang thực hành thiền loại nào. Những tông phái thiền Phật giáo có truyền thống vững chắc như thiền Nguyên Thủy (Theravada), thiền Lâm Tế (Rinzai), thiền Tào Ðộng (Soto), thiền Mật Tông (do quý thầy Tây Tạng dạy) hay Thiền-Tịnh-Mật phối hợp (Thuộc truyền thống Việt Nam) giúp chúng ta khai mở cõi lòng, nhận biết tất cả những ước muốn, những giận hờn thương ghét nơi vùng ý thức cùng những sự biểu lộ của chúng từ chốn thâm sâu nhất của vùng vô thức để giải thoát chúng ta khỏi chốn ẩn mình đó. Thực hành như thế trong đời sống hàng ngày thì chúng ta sống đòi lành mạnh, an vui và thành công hơn vì năng lượng tốt đẹp cần thiết của chúng ta không bị tiêu hao trong những mối xung đột nội tâm do sự đè nén, sự trốn chạy, sự từ khước không muốn thấy biết sự thật đang xảy ra bên ngoài cũng như bên trong lòng mình. Ðiều quan trọng đối với thiền Phật giáo dù thuộc tông phái Thiền, Tịnh hay Mật tông là tất cả đều tụng kinh Phật, thờ hình ảnh Ðức Phật và tôn kính Ðức Phật. Không có một thiền sư Phật giáo nào tự xưng mình là Phật. Chỉ có người dân Tây Tạng xưng tụng ngài DạtLai Lạt Ma là “Phật sống”. Tuy nhiên khi đuợc hỏi về điều ấy Ngài khiêm tốn trả lời: “Tôi chỉ là một người tu sĩ bình thường.” Ðó là sự khiêm tốn của Bậc chân tu và là một sự lành mạnh tinh thần mà người Phật tử chúng ta cần phải học hỏi.


09netv20

Ở trong các giáo phái Tin Lành tại Hoa Kỳ, người ta đang lo ngại rất nhiều về các hiện tượng có những kẻ tự xưng mình là Chúa Jesus hay Ðấng Cứu Thế thường có những hành vi bạo động như Jime Jones đã ra lệnh cho tín đồ sát hại và tự tử tập thể trên 900 người. Thảm kịch này lại tái diễn vào ngày 19 tháng 4 năm 1993 làm cho trên 80 tín đồ thiệt mạng khi lãnh tụ nhóm tà phái David Koresh, kẻ tự xưng là Chúa Jesus, đã ra lệnh tín đồ chế dầu xăng đốt toàn bộ khu chung cư khi cảnh sát liên bang dự định vào bắt họ. Ðạo Phật và đạo Chúa đều phủ nhận những kẻ tự xưng mình là Phật hay Chúa và nói rõ những kẻ mạo xưng đó phạm vào tội đại vọng ngữ.

Các nhà nghiên cứu nhấn mạnh tà phái thường có ở mọi xã hội và mọi tôn giáo chứ không phải chỉ ở Hoa Ky hay trong một ngành tôn giáo nào thôi. Trong Phật giáo, để nhận biết mình tu tập đúng pháp hay không thường rất giản dị: khi người Phật tử tu tập đúng pháp môn thì niềm an vui hạnh phúc trong gia đình gia tăng, sự thành công trong việc học hành hay việc làm ở sở gia tăng, trí thông minh và sự hiểu biết chân thật gia tăng. Người Phật tử thực hành một pháp môn tu tập sai lầm sẽ đưa đến những xung đột trong gia đình làm tổn thương hạnh phúc vợ chồng và con cái, học hành hay việc làm càng lúc càng sút giảm, trí thông minh và sự hiểu biết chân thật càng lúc càng mất dần. Họ bị nhiều nỗi bất an trong lòng nên phản ứng bất thường: Hung dữ, chấp chặt vào ý kiến của mình, vui buồn bất thường và suy luận không còn phù hợp với sự hiểu biết thông thường. Họ cũng có thể hoàn toàn mất khả năng suy luận và sống độc lập, họ hoàn toàn trở thành kẻ bị sai khiến.

Tóm lại, tu một pháp môn chân chính thì thân thế khỏe mạnh, tinh thần an vui, làm việc phát triển và gia đình hạnh phúc. Tu một pháp môn tà phái thì đang khỏe thành bệnh, đang tỉnh thành mê, đang làm ăn thành công lại bị tán gia bại sản, đang có hạnh phúc gia đình thì bị chia lìa, đổ vỡ, đang thông minh hoạt bát thì trở nên mờ tối và không còn tự chủ.

VI. Cái Không Chính Là Cái Có Tràn Ðầy

Phật giáo nhấn mạnh đến cái tâm trong sáng, linh động, tỉnh thức hay tâm Phật của mỗi chúng ta. Tu tập là sống với cái tâm chân thật đó chứ không phải bám víu vào các hình ảnh, âm thanh, màu sắc chợt đến chợt đi làm khơi dậy những vui buồn, thương ghét, sướng khổ trong đời sống hàng ngày.

Ðể nhắc nhở cho người tu tập đừng bị dính mắc vào cái hiểu biết sai lầm, Thiền Tông cũng như các tông phái Phật giáo khác đều tụng bài Bát Nhã Tâm Kinh nhấn mạnh đến tánh không của vạn pháp. Về phương diện nhận thức, tánh không là tánh trong sáng tự nhiên của mỗi sự vật. Chúng không dính dáng gì đến những xấu tốt, hay dở mà ta gán cho nó. Vạn pháp là mọi hiện tượng vật lý cũng như tâm lý, mọi sự và vật do nhiều yếu tố khác nhau nương tựa vào nhau hay kết lại với nhau mà thành, mà có mặt. Khi thuận duyên, các điều kiện thích hợp có mặt, thì chúng xuất hiện. Khi hết duyên, các điều kiện kết hợp không còn nữa, thì chúng tan rả. Không có một thứ gì là có tánh cách riêng biệt và mãi mãi như vậy (vô ngã). Do đó, “về mặt đời” thì ta làm mọi điều hợp với luân thường đạo lý nhưng “về mặt đạo” thì ta không bám víu vào những thứ ấy mà đề cao mình hay chê bai người để giải quyết những khó khăn nội tâm chính mình nên lúc nào cũng thong dong tự tại.

Về phương diện thực hành, tâm ta luôn luôn ở trong trạng thái bén nhạy, linh động và tỉnh thức trong đời sống hàng ngày. Thiền chú trọng đến sự tiếp xúc và nhận biết trực tiếp tất cả mọi thứ mà không bám víu vào bất cứ một ý tưởng, cảm giác, tâm tư, hình ảnh, mùi vị, âm thanh, xúc chạm nào như ngài Tam Tổ Tăng Xáng đã nhắc nhở trong bài Tín Tâm Minh:

“Ðạo lớn chẳng gì khó

Cốt đừng chọn lựa thôi

Nếu lòng không thương ghét

Thì tự nhiên sáng ngời…”

(Trúc Thiên dịch)

Sự sáng ngời đó là tâm an vui tỏa chiếu khi nó không còn bị che mờ bởi các hay biết sai lầm do ta bám víu vào sự phân biệt đưa đến việc thích cái này, không ưa cái kia. Dĩ nhiên, sự phân biệt vốn rất cần thiết trong đời sống hàng ngày vì óc phân biệt giúp chúng ta nhận biết những điều tốt, xấu, hay, dỡ trong sinh hoại hàng ngày. Tuy nhiên, nếu chúng ta bám víu vào sự phân biệt đó, dính mắc vào sự phân biệt đó đến nỗi chúng ta bị chúng ám ảnh không ngừng hay dùng sự phân biệt đó như một cách biện minh hay bào chữa cho mình và chê bai kẻ khác thì tâm ta bị mê mờ. Ðạo Phật chủ trương cắt gốc của vọng tâm hay tâm mê mờ đó (si), thì những áp lực bên trong, những lo lắng, sợ hãi, buồn rầu, khổ đau (luân hồi) sẽ rơi rụng.

Như thế, về phương diện chữa trị tâm bệnh, chúng ta thấy thiền và ngành tâm lý trị liệu rất gần gủi nhau nơi đây: nhận biết rõ ràng những xung động, những ham muốn, những động lực thực sự làm cho chúng ta lo lắng, sợ hãi, buồn rầu, bất an, phiền não. Hai bên đều tìm đến cội nguồn của khổ đau mà giải quyết chúng tận gốc rễ.

Khoa tâm lý trị liệu cố gắng làm cho cái tôi hay ngã (ego) trở lại bình thường, trở nên lành mạnh để có thể sinh hoạt trong đời sống hàng ngày. Một cái ngã lành mạnh là một cái ngã mềm dẽo, dễ thích nghi với hoàn cảnh mới và nó có sức chịu đựng tốt. Ðạo Phật nhấn mạnh đến cái ngã chân thật mà kinh Ðại Niết Bàn gọi là Chân Ngã (cùng ba yếu tố Chân Thường, Chân Lạc và Chân Tịnh) ở đàng sau những ý tưởng, những cảm giác sướng khổ, những tâm tư vui buồn mà chúng ta thường đồng hóa chúng với chính mình: Tôi suy nghĩ, tôi sướng, tôi khổ, v.v… Các ý tưởng, cảm giác, tâm tư ấy đến và đi như các đám mây bay qua bầu trời, bầu trời luôn luôn trong sáng không hề bị vẩn đục. Cái tôi hay ngã chân thật ấy rất lành mạnh, dễ dàng thích nghi với hoàn cảnh mới và luôn luôn tươi mát, linh động.

Khi sống với ngã chân thật thì chúng ta trực tiếp biết rõ cái mà chúng ta cho là cái tôi hay ngã trước đây chỉ là sự nối tiếp liên tục của các ý tưởng, các tâm tư, các phản ứng từ những chuyển biến tâm sinh lý làm cho ta có cảm tưởng có một cái tôi với các tính tình, thái độ, suy tư, phản ứng cố định, có mặt như thế hoài. Thiền là sống với cái tâm chân thật, hay cũng có thể gọi là cái ngã hay tôi chân thật như trong kinh Niết Bàn khi nói về Chân Ngã. Sống với cái tâm chân thật là sống tỉnh thức, là không bám víu vào những ý tưởng, những cảm giác, những tâm tư chợt đến chợt đi như trước đây, là luôn luôn để tâm trong trạng thái linh động, trong sáng, rộng lớn bao như bầu trời.

Với tâm tỉnh thức và bén nhạy như thế thì những ý tưởng, những ham muốn, những vui buồn, thương ghét tự chúng thong dong tự tại như những đám mây đến và đi trên bầu trời mà không bị dính mắc, không bị cột chặt. Cái trung tâm mà ta gọi là cái tôi hay ngã đó không còn là một vùng nhỏ bé mà ta phải bảo vệ qua cơ thể tự vệ (defense mechanism) nữa. Từ đó, áp lực bên trong giảm dần khi ý tưởng những cùng tâm thư nối tiếp thưa dần và trở nên yên tĩnh.

Lúc ấy, tâm của mỗi chúng ta chỉ là khoảng không gian bao la trong đó tình thương yêu trong sáng và sự hiểu biết chân thật tràn đầy. Niềm an vui sâu thẳm lúc đó tự nó biểu lộ, tự nó dâng tràn. Niềm an vui kỳ diệu ấy không nương tựa vào đâu cả, không phải lệ thuộc vào bất cứ một điều gì cả. Khi chúng ta kinh nghiệm trực tiếp điều ấy thì ta biết một cách chân thật không phải bản năng sinh tồn chi phối mọi hoạt động của con người mà chính Phật tánh, tình thương yêu trong sáng, sự hiểu biết chân thật và nguồn hạnh phúc tự nhiên tràn đầy thúc đẩy ta tiến lên trên con đường Bồ Tát Ðạo, thực hành đòi sống an lành hạnh phúc cho mình vàc ho người. Lúc ấy, chính là tình thương bao la, tâm đại bi, là nguồn động lực mãnh liệt như nước vỡ bờ xóa tan mọi điều ích kỷ và tiêu cực để hoàn thành những điều tốt đẹp nhất cho đời sống con người.

Ngày nay, nhiều bác sĩ phân tâm hay tâm trí thực hành thiền và áp dụng thiền trong tiến trình chữa trị cho bệnh nhân làm chúng ta đôi lúc muốn hiểu rõ thêm sự liên hệ của hai bên.

VII. Cuộc Chiến Tranh Không Bao Giờ Ngưng

Theo Freud, con người sinh ra với hai bản năng: Bản năng sinh tồn gọi là Eros và bản năng hũy diệt gọi là Thanatos. Bản năng sinh tồn là động lực thúc đẩy con người hoạt động để sinh tồn như như cầu ăn uống, được ấm áp và nhất là tình dục. Còn nhu cầu hũy diệt hướng đến không những các đối tượng bên ngoài mà cả ngay chính đời sống của mình nữa. Thói rượu chè, hút sách, lao vào những trò chơi nguy hiểm là những biểu lộ của bản năng hũy diệt này.

Trong mỗi người đều có một “tên man dã” muốn an ngay khi đói bụng hay thỏa mãn mọi nhu cầu khi chúng xuất hiện bất kể hậu quả ra sao. Phần đó Freud gọi là Id, cái đó, là một thành phần nhân cách của chúng ta có những hành động do bản năng sinh tồn thôi thúc để thỏa mãn các nhu cầu căn bản.

Bản năng sinh tồn đó tác động theo nguyên tắc khoái lạc: Khi thực hành những gì bản năng đòi hỏi thì người ta cảm thấy khoái lạc. Ðiều ấy ta thường thấy nơi thái độ của các em bé khi chúng đòi hỏi phải cho chúng những bình sữa hay kẹo bánh, v.v… Trẻ em bị bản năng sinh tồn thúc đẩy rất mạnh và theo Freud thì khi được 6 tháng, các em bé bắt đầu biết cách kiểm soát bản năng đó vì hoàn cảnh thực tế em đang sống. Em bé c’ thể đòi hỏi nhiều thứ nhưng cha mẹ em chỉ đáp ứng một số cần thiết cho em. Nếu em muốn nhiều hơn thì họ sẽ từ chối hay phạt em để cho em biết giới hạn nào cha mẹ có thể chấp nhận đưọc. Em bé được dạy cho những điều gì phải làm và những điều gì không được làm. Nếu em làm theo ý người lớn thì em được thưởng, nếu không làm thì em sẽ khổ vì bị la rầy, chê bai và nhiều khi cả đánh đập. Ðó là hoàn cảnh thực tế.

Theo Freud, chính từ sự hiểu biết do hoàn cảnh thực tế đó mà cái ngã hay cái tôi (ego) dần dần thành hình để dung hòa những đòi hỏi của bản năng và những cấm đóan của xã hội bên ngoài. Cái ngã này điều hành theo nguyên tắc thực tế. Như một người đói bụng thấy ổ bánh mì muốn lấy ăn ngay nhưng cái ngã suy nghĩ và biết làm như thế sẽ bị cảnh sát phạt nên anh ta phải cầm ổ bánh mì ra quầy hàng, sắp hàng và đợi trả tiền xong rồi mới ăn. Như thế, cái ngã giúp thỏa mãn những đòi hỏi, những nhu cầu của bản năng một cách an toàn nhất.

09netv21

Tuy nhiên, không phải lúc nào cũng có sự đáp ứng đầy đủ cho nhu cầu như thế cả vì nhiều lúc bản năng sinh tồn đòi hỏi quá gắt gao như một người thèm những thứ mà mình không có tiền mua. Anh ta có thể lấy bớt tiền dùng cho gia đình để mua các thứ mình ưa muốn. Tuy nhiên, làm như thế thì cảm giác tội lỗi xuất hiện. Cảm giác tội lỗi này khích động ý muốn trừng trị chính anh ta bằng cách gây thương tích hay hũy diệt đời sống anh ta. Ðiều này rất nguy hiểm cho mạng sống của mình nên anh ta dùng một “Cơ Chế Tự Vệ” (Defensive Mechanism) để bảo vệ đời sống tinh thần và thể chất của mình bằng các bào chữa cho rằng mình làm như thế là đúng vì mình là chủ gia đình, muốn sao cũng đưọc. Sự tự bào chữa như vậy giúp cho anh ta bớt đi những bất an bên trong.

Ðó là cuộc chiến tranh giữa Thiện và Ác. Cuộc chiến này không ngừng xảy ra bên trong ta cùng hậu quả tâm lý của nó với cơ chế tự vệ giúp chúng ta sinh tồn. Nhiều lúc chúng ta thấy cuộc xung đột nội tâm của con người được diễn tả trong văn chương, kịch nghệ, phim ảnh hay tôn giáo.

Qua những truyện xưa phổ biến trong dân gian hay qua nhiều câu chuyện về tôn giáo, chúng ta thấy có nhiều nền văn hóa thuộc nhiều dân tộc cùng nhiều tôn giáo đã nhân cách hóa hay thiêng liêng hóa cuộc xung đột nội tâm này: gọi lòng ham muốn, sự thúc dục của bản năng là ma quỷ và lương tâm hay siêu ngã là thiên thần. Ma quỷ rủ quyến người ta làm bậy và thiên thần chống lại sự quyến rủ xấu xa đó. Khi chuyền qua cho ma quỷ và thiên thần những dục vọng của chính ta cùng những chống trả, ngăn cấm của lương tâm hay siêu ngã, chúng ta đã tạo nên một cuộc chiến tranh bất tận trong lòng mình. Sự tranh chấp bên trong đó còn phản ảnh ra ngoài bằng những cuộc chiến tranh giữa thiện và ác, giữa kẻ anh hung và người tội lỗi. Trên thực tế, bao nhiêu cuộc chém giết tàn bạo xảy ra trong lịch sử loài người nhân danh đạo đức, nhân danh công lý, nhân danh tôn giáo, nhân danh chân lý hay nhân danh đủ điều tốt đẹp. Phe ta dĩ nhiên là tốt và phe đối thủ dĩ nhiên là xấu. Ðó là trò chơi của cái ngã mà đạo Phật gọi là ngã chấp. Thiền chỉ bày một cách trực tiếp và giản dị: Hãy biết rõ điều ấy nơi chính mỗi chúng ta khi chúng xuất hiện, không đè nén hay lẫn tránh chúng dù là điều chúng ta thích hay chúng ta ghét bỏ hoặc sợ hãi. Tâm ta như bầu trời trong sáng, không gì có thể làm vẩn đục nó cả. Khi sống tỉnh thức thì các ý tưởng ưa ghét cùng những tâm tư buồn phiền, sợ hãi, tức tối, hận thù tự chúng tan biến đi như bầu trời xanh cao không một gợn mây che mờ.

VIII. Cơ Chế Tự Vệ

Chúng ta hãy quán chiếu, nhìn sâu hơn vào những động lực bên trong. Những gì mà cha mẹ dạy dỗ về những cái đúng và sai cùng những điều luân lý và đạo đức trong xã hội hợp lại thành lương tâm của chúng ta hay là siêu ngã (superego). Bản năng hay cái đó (id) thúc dục phải thỏa mãn ngay những điều nó muốn, ngã (ego) tìm cách thỏa mãn những nhu cầu đó mà không tạo ra sự rắc rối còn siêu ngã hay lương tâm thì đặt vấn đề: cái điều ta muốn ấy có đúng không, có hợp luân lý không?

Một người nghiện rượu thèm uống rượu, anh ta đi mua rượu ở tiệm về uống và tránh uống dọc đường để khỏi bị cảnh sát phạt. Dù anh ta làm được điều ấy để có rượu uống một cách an toàn nhưng nếu mẹ anh trước đây thường dạy anh uống rượu là tội lỗi thì lòng anh vẫn không yên. Sự kết án như thế không phải từ ngoài mà do lương tâm anh hay siêu ngã làm cho anh thấy áy náy không yên vì mặc cảm tội lỗi. Sau đó anh ta có thể thực hành sự trừng phạt chính mình do mặc cảm tội lỗi nói trên bằng cách “vô tình” tạo ra những tai nạn cho mình.

Sự trừng phạt ấy có thể làm nguy hại cho đòi sống của anh ta nên cơ chế tự vệ giúp anh ta giải trừ bớt những căn thẳng do sự xung đột giữa thiện và ác, bản năng (id) và lương tâm hay siêu ngã (superego) đó. Nghĩa là anh ta vẫn tiếp tục uống rượu nhưng không bị xao xuyến bất an nhiều như trước đầy bằng cách tự bào chũa: “Nam vô tửu như kỳ vô phong” (Trai mà không uống rượu thì như cờ không có gió) hay uống rượu là một cách làm cho thân thể khỏe mạnh! Chúng ta thấy có nhiều người uống “rượu thuốc” cũng là một cách xử dụng cơ chế tự vệ tinh vi dù cho họ biết hay không biết điều ấy. Những cơ chế tự vệ chính gồm có:

Phóng Chiếu

Thấy những cái xấu của mình nơi người khác hay nói khác đi, không nhận mình có những điều xấu mà lại chiếu chúng lên người khác và thấy họ có những tật xấu của chính mình. Như người háo danh lại hay chỉ trích bạn mình là háo danh, người hay nói lời chia rẽ thì phê bình người khác không chịu đoàn kết, kẻ hèn nhát thì chê bai những người khác là hèn nhát, v.v… Khi họ có sự phóng chiếu như thế thì họ cảm thấy an ổn vì không thấy lỗi mình, chỉ thấy người khác có lỗi. Và dù cho họ biết mình có lỗi thì họ nghĩ mình cũng như người khác thôi. Tại sao họ làm như thế? Vì họ muốn giữ sự quân bình bên trong. Nếu nhận mình làm bậy thì mặc cảm tội lỗi sê làm cho họ bất an.

Hợp Lý Hoá

Lý luận cho hợp lý về hành vi của mình như xã hội ngày nay ai cũng uống rượu, mình uống rượu có sao đâu, hoặc uống rượu có chừng mực thì rất tốt cho sức khỏe.

Nhiều trẻ em da đen vùng thủ đô Hoa Thịnh Ðốn chế nhạo những em da đen khác học giỏi và thành đạt là “làm như bọn da trắng” (acting white). Bề ngoài thì các em như muốn bảo vệ nhóm chủng tộc mình nhưng bên trong là một cách bào chữa cho sự học dở của mình.

Dồn Nén Hay Tránh Né

Không muốn biết đến, hay ngăn chặn không cho mình nhận biết, những điều tạo ra lo âu, xao xuyến cho mình như trường hợp nhiều người hút thuốc lá không bao giờ đọc hay thấy hàng chữ “Hút thuốc lá có hại cho sức khỏe của bạn” trong khi những người không hút thuốc thấy hàng chữ này rất rõ.

Hoán Vị

Chuyển những xúc cảm (feeling) nơi mình đến một đối tượng khác. Như trường họp một người bị chủ la rầy ở sở nên bực bội ông chủ. Tuy nhiên anh không thể bày tỏ điều ấy vì sợ mất việc làm. Khi về nhà, anh ta hướng sự bực bội đến vợ con, la rầy vợ con để xả bớt áp lực bên trong.

Thăng Hoa

Chuyển sự tiêu cực thành tích cực. Một người buồn rầu vì người con bị một người lái xa say rượu tông chết. Bà dồn hết nỗ lực trong việc gây dựng phong trào cứu trợ những người nghèo. Thăng hoa tuy tốt nhưng cũng được liệt vào cơ chế tự vệ vì nó không đối diện thắng với nổi buồn rầu do cái chết của người con và giải quyết sự buồn rầu ấy, mà lại giúp người đó tránh đối diện với xúc cảm nói trên.

Phản Ứng Ngược

Làm ngược lại với những gì mình muốn. Một người có khuynh hướng đồng tình luyến ái lại cực lực lên án điều này, một người thích uống rượu có thể chống đối kịch liệt việc uống rượu. Họ làm như thế để che đậy hay trấn áp những xúc cảm thật sự của họ, để tránh khỏi phải đối diện với những thứ họ muốn thật sự vì những điều mong muốn ấy bị xem là ngược với luân lý, đạo đúc nên gây ra nổi sự bất an trong lòng họ. Tuy nhiên, rất khó nhận biết được hành vi nào là phản ứng ngược.

Phủ Nhận

Không chấp nhận sự thật đang xảy ra. Một người có thân nhân bị chết trận nhất quyết không chấp nhận tin trên là đúng. Họ cho người thân của họ còn sống đâu đó. Một người nghiện rượu thì phủ nhận mình không bị nghiện, chỉ uống cho vui mà thôi.

Những hành vi thuộc cơ chế tự vệ này xảy ra một cách vô ý thức, chúng ta không biết (Ý thức) về những hành động có tính cách “bao che” đó. Những hành vi của cơ chế tự vệ nói trên giúp chúng ta tránh không thấy được những thiếu sót, những yếu kém, những điều mà mình không muốn chấp nhận là sự thật. Vì nếu thừa nhận như thế thì chúng ta sẽ bị nhiều nỗi bất an như lo lắng hay sợ hãi vì mình đã làm ngược với những gì mà lương tâm mình chấp nhận. Cái ngã của ta thích ứng với những nỗi bất an bằng cách vặn tréo thực tại qua những cách nói trên.

Một cách tổng quát thì cơ chế tự vệ giúp cho chúng ta tránh chạm trán với sự thật đưa đến những nỗi bất an như lo lắng, sợ hãi hay u uất. Tuy nhiên, đó cũng là con dao hai lưỡi. Nếu sống lâu dài với cơ chế tự vệ như thế thì tâm chúng ta sẽ luôn luôn là một bãi chiến trường giữa một bên là sự chân thật, một bên là cố gắng che đậy không chịu nhìn vào sự thật để giải quyết tận cội nguồn. Cái tôi hay ngã như một tấm ván ở trên miệng một núi lửa đang gia tăng áp lực bên trong và dễ dàng đi đến tình trạng mất quân bình. Sống như thế thật rất thiếu hạnh phúc và có thể bị chứng tâm loạn (Neuroses).

Ngành tâm lý trị liệu giúp cho bệnh nhân thích nghi với những biến chuyển, những đổi thay của đời sống. Những đổi thay đó tạo ra những xáo trộn tâm sinh lý nơi họ. Các nhà tâm lý trị liệu giúp cho bệnh nhân biết được điều ấy và chữa trị cho họ đưọc lành mạnh bằng cách nói chuyện hay bằng thuốc men. Ðạo phật nói rõ thế giới luôn luôn biến chuyển (Vô thường). Nếu chúng ta không chấp nhận, không thích nghi với tính cách đổi thay đó chúng ta sẽ đau khổ. Thiền là kỹ thuật hay phương pháp cụ thể giúp ta có được sự hiểu biết trực tiếp bằng cách tiếp xúc thẳng với những ý tưởng đến đi, cảm giác sướng khổ, tâm tư vui buồn, những hiện tượng nội tâm hay ngoại cảnh mà không chút che đậy hay vặn tréo thực tại. Ðó là cách “phản văn văn tự tánh”, xoay cái nghe mà nghe tánh của mình hay cũng là thiền Tứ Niệm Xứ, trực tiếp hay biết về thân thể, về cảm giác, về tâm tư và về những đối tượng của các giác quan cùng ý thức.

Khi cùng chủ trương phái thấy biết rõ ràng những dòng sinh hoạt tâm lý bên trong thì chúng ta thấy nơi đây ngành tâm lý trị liệu và thiền gặp nhau: Nhận rõ, biết rõ sự thật và giải quyết chúng. Một bên dựa vào bên ngoài, bác sĩ phân tâm, bác sĩ tâm trí hay nhà tâm lý chuyên môn, một bên dựa vào chính nội kiến của mình, chính sự tự tri của mình, chính sự tiếp xúc trực tiếp của mình với những ý tưởng, những tâm tư, những ước muốn đến đi không ngừng trong tâm. Những vị thầy dạy đạo dĩ nhiên rất cần thiết nhưng cuối cùng người học trò phải đứng vững trên đôi chân của mình.

IX. Chính Qua Cái Ngã Lành Mạnh Mà Ta Biết Ðược Vô Ngã Hay Chân Ngã

Cái ngã, cái tôi lành mạnh thấy biết rõ ràng mọi thứ, không cần phải dùng những sự biện minh để hợp lý hóa những ý nghĩ hay việc làm của mình. Một người có tâm trí lành mạnh luôn luôn có sự hiểu biết đúng, biết rõ mình muốn gì và những gì mình có thể làm được và những gì không làm được. Người ấy biết quan sát, suy xét và quyết định hợp lý để không làm tổn thương đời sống của mình cũng như những người khác. Ngược lại, một người bị bệnh tâm trí thường không có cái ngã lành mạnh như thế như trong trường hợp người bị bệnh tâm phân biệt (schizophrenia), không còn khả năng biết được thật sự những gì đang xảy ra, có kẻ nhẹ hơn thì cơ chế tự vệ luôn luôn hoạt động để bảo vệ cho mình khỏi bị những lo âu xao xuyến nhất thời, tạo nên sự hay biết sai lạc về những gì đang xảy ra bên trong tâm mình cũng như bên ngoài cuộc đời.

Tâm lý trị liệu như thế có mục đích làm cho cái ngã được lành mạnh. Ngã xuất hiện là do sự xung đột giữa bản năng và siêu ngã để làm cho đời sốn chúng ta được quân bình. Do đó, một cái ngã lành mạnh là một cái ngã uyển chuyển, biết thích nghi với những đổi thay trong cuộc sống để giải trừ các mối bất an.

Nếu tìm hiểu sâu hơn nữa thì chúng ta thấy khái niệm (concept) về ngã trong khoa tâm lý trị liệu và đạo Phật có sự khác nhau một phần nào. Trong đạo Phật khi nói về ngã thì chúng ta nói về tính chất chấp chặt, bám víu vào những ý tưởng, những cảm giác, những ham muốn, những tâm tư vui buồn thương ghét, những hình ảnh, âm thanh, màu sắc, hương thơm, mùi vị, xúc chạm để mà tìm niềm vui trong cuộc sống. Như thế, chữ ngã (trong trạng thái mê mờ) trong đạo Phật bao gồm cả ba phần: xung động bản năng (id), ngã (ego) và siêu ngã (superego) hay là lương tâm trong ngành tâm lý trị liệu. Khi đạo Phật nhấn mạnh đến cái Vô Ngã hay là Chân Ngã, tánh rỗng lặng, rộng lớn, tinh sạch không chút dính mắc, uyển chuyển, linh động vô cùng thì đó là chính cái ngã ở trong trạnh thái lành mạnh nhất mà ngành tâm lý trị liệu đã nói đến một cái ngã lý tưởng. Chân ngã đó cũng còn đuợc gọi là chân tâm hay tâm giác ngộ.


09netv22Như thế, Vô Ngã hay Chân Ngã là sự hiện hữu tròn đầy và trong sáng nhất của mỗi chúng ta trong cuộc sống hàng ngày. Sống Vô Ngã không phải là một lối biện minh cho những kẻ muốn trốn chạy sự thật. Nhiều người có thể đã dùng ý niệm Không và Vô Ngã này như một lối bào chữa cho những hành vi sai lầm của họ. Ðạo Phật không phải là một cơ chế tự vệ giúp ta trốn tránh sự thật, giúp ta biện minh cho những hành vi sai lầm. Ðạo Phật còn giúp chúng ta thấy rõ sai lầm là sai lầm, đứng đắn là đứng đắn một cách rõ ràng hơn nữa. Thiền là cách thực hành rốt ráo điều nói trên từ giây phút này qua giây phút khác.

Do đó, người tu thiền thường được khuyến khích thọ Tam Quy (Nương tựa và Phật, Pháp và Tăng) và Ngũ Giới (Nguyện không giết người, không làm điều tà dâm, không nói láo, không trộm cắp và không xử dụng các chất độc hại). Nếu thực hành đứng đắn những điều trên thì chúng ta sẽ dần dần nhận biết rõ ràng mọi sự việc, cái ngã sẽ trở nên lành mạnh hơn. Trước đây chúng ta có quá nhiều ham muốn và dùng đủ cách để che đậy hay biện minh cho những cái xấu giờ đây đã biết mình rõ hon, không còn che đậy mình như trước kia nữa. Ngay cả những sự khôn lanh mà ta tự hào mình có nhiều hơn người khác giờ đây tự chúng tan biến dần đi.09netv23

Như thế, một người muốn tu thiền phải có đời sống lành mạnh trước đã. Nếu không họ có thể dùng thiền như một cách trốn chạy đời sống. Nhiều tà phái (cult) hiện nay ở Hoa Kỳ đang khai thác điều này và biến những người muốn trốn chạy khổ đau thành những kẻ nô lệ tinh thần cho tổ chức tôn giáo trá hình hay cá nhân họ.

Nếu phân tích đời sống của Ngài Huệ Năng, vị tổ thứ sáu của Thiền Tông Trung Hoa, chúng ta thấy trước khi tìm thầy học đạo, Ngài có một cái ngã rất lành mạnh: Thương mẹ già, sống chân thật, chất phát, làm việc (bán củi) có hiệu quả, đối xử với người rất lễ độ và thành thật nên dễ tạo sự cảm mến nơi người khác. Các vị thiền sư danh tiếng như vua Trần Nhân Tông, Tuệ Trung Thượng Sĩ, Hương Hải, v.v… ở Việt Nam cũng có cái ngã lành mạnh đó. Trần Nhân Tông là vị vua học rộng hiểu nhiều, đầy lòng nhân từ nhưng cũng rất dũng cảm. Tuệ Trung Thượng Sĩ là một người hoàng phái nhà Trần cũng đầy thao lược và vũ dũng, Hương Hải thiền sư vốn đạo hạnh và học rộng biết nhiều. Khi có được cái ngã lành mạnh, nói theo cách thông thường một người có hiểu biết, có nhân nghĩa, biết phải trái, có đạo đức, thì sự tu tập để biết được tánh không của ngã hay vô ngã tương đối dễ dàng. Một người có cái ngã hay vô ngã bệnh hoạn như tham lam quá độ về danh vọng, tiền tài, tình dục, ăn uống, hay rượu chè, v.v… thì thật khó cho họ biết rõ thật sự điều gọi là vô ngã. Họ sẽ dùng thiền, dùng đạo Phật hay bất cứ một đạo gì họ đang thực hành để biện minh cho lòng ham muốn của mình. Thảm kịch của đời họ sẽ biến thành thảm kịch của tôn giáo và xã hội họ nếu họ nắm được quyền uy. Thay vì thể hiện sự vô ngã, họ thổi phồng cái ngã mình lên cực độ và đồng hoá nó với chân lý tôn giáo. Ðó là thảm kịch của nhiều tôn giáo trong lịch sử vậy.

Khi Ngài Triệu Châu dạy: “Bình thường tâm là đạo” thì điều ấy mang một ý nghĩa sâu xa về hai mặt đời và đạo. Về mặt đời thì bình thường tâm là chính là sự hiểu biết những cái đúng, sai, hay, dở, tốt xấu trong cuộc sống mà hành động cho phù hợp với lẽ phải, với luân lý đạo đức mà người Mỹ gọi là common sense. Về mặt đạo thì thấy rõ, biết rõ, làm đúng nhưng lòng thong dong tự tại một cách tự nhiên vì tâm giác ngộ tự nó là trong sạch, tự nó là an vui, tự nó là tình thương yêu trong sáng, tự nó là niềm hạnh phúc và là sự thanh thản bao la.

X. Tìm Hiểu Thêm Về Ngã Và Vô Ngã

Sigmund Freud khi chữa trị cho một bệnh nhân tâm trí đã nói: “Ðiều mà tôi có thể làm nhiều nhất cho anh là thay thế khổ đau bệnh tật bằng sự khổ đau thông thường của kiếp người.” Như thế, khoa phân tâm và tâm bệnh học có mục đích chữa trị cái ngã (ego) bất bình thường, không lành mạnh trở thành bình thường, lành mạnh. Nhưng Freud vẩn cho rằng cái ngã ấy vẫn là “cội nguồn của sự lo âu” vì các sức mạnh của bản năng nơi chốn vô thức luôn luôn vùng dậy, luôn luôn khích động, luôn luôn đòi hỏi làm cho ngã mất sự kiểm soát, mất sự quân bình. Ðiều ấy tạo ra sự lo lắng, sự sợ hãi ngấm ngầm nơi mỗi chúng ta.

Nhiều người có cuộc sống đạo đức, tốt lành và vững vàng nhưng họ có thể có những giấc mộng thấy mình bị rượt bắt, thấy mình không bận áo quần mà lại đi ngoài đường phố, thấy mình bị lạc lõng đến những nơi hoang vắng mịt mờ, v.v… là sự biểu lộ của những xung đột ngấm ngầm từ chốn vô thức. Những người nói trên cần phải học đạo để khai mở cõi lòng, để tiếp xúc trực tiếp, để hiểu rõ những thương ghét sâu xa trong lòng mình, để giải phóng cho những mối lo âu, sợ hãi phát sinh từ những ý nghĩ và cảm xúc thầm kín đó. Nói khác đi, họ không cần phải xử dụng sự đè nén hay tránh né qua một bề ngoài cứng cỏi. Một người có lối sống như thế có thể rất tốt đẹp cho xã hội hoặc rất tai hại cho xã hội vì tác động của siêu ngã (super ego) trong đời sống của họ. Siêu ngã là sự chuyền vào bên trong lòng mình (nội hoá) những gì chúng ta được dạy dỗ là được làm và những gì chúng ta bị cấm đoán không được làm mà chúng ta gọi là lương tâm. Một siêu ngã quá mạnh cũng tạo sự mất quân bình vì ta dễ dàng trở thành độcđoán: luôn luôn muốn người khác phải làm điều này hay cấm đoán không được làm điều kia. Dù tốt đẹp hay tai hại cho xã hội, về phương diện cá nhân, người ấy không biết hạnh phúc chân thật là gì, vì họ phải xử dụng quá nhiều năng lượng bên trong để đè nén những ý tưởng và những cảm xúc của mình. Họ sống rất mệt mõi trong danh thơm tiếng tốt và trong nỗi lo sợ triền miên, những bất an ngấm ngầm của ngọn núi lửa lúc nào cũng gia tăng áp lực bên trong.

Phật giáo biết rõ cái gọi là cái “ngã bình thường” ấy vẫn chưa thật sự lành mạnh, vẫn chưa thật sự bình thường vì sức mạnh của những ham muốn và những giận dữ bắt nguồn từ sự mê mờ, sự không hiểu biết chân thật vẫn luôn luôn tác động trong đời sống hàng ngày. Chính động lực đó chi phối cách chúng ta suy nghĩ và hành động trong đời sống hàng ngày. Chúng ta “bị sống” bởi các thôi thúc đó mà không nhận biết.

Chúng ta thường nói về sự cần thiết của dưỡng khí, của lá phổi, của sự thở hít không khí mà chúng ta không cảm nhận sự sống đang xảy ra từng giây, từng phút qua mỗi nhịp thở ra và thở vào nơi chính hai buồng phổi của mình. Chúng ta ăn nhưng không hay biết rõ ràng về thực phẩm ngon ngọt mình đang nhai và nuốt mà lại thường bị cuốn hút theo những khích động hay những ý tưởng chợt đến chợt đi. Chúng ta thường nghĩ về cái ăn hơn là ăn, thường nghĩ về những cái mình thấy hơn là thấy, thường nghĩ về những cái nghe, ngửi, nếm, xúc chạm và hoạt động. Như thế, khi sống một cuộc đời dù cho là đạo đức thì có thể chúng ta đang nghĩ về sống cuộc đời đạo đức chứ không sống thật cuộc đời của ta như thế ấy. Theo Erich Fromm, chúng ta đánh mất mình, vong thân, chỉ chấp chặt vào những chiếc bóng mà cho đó là sự chân thật.


09netv24Trên bình diện tâm lý, vô ngã là trạng thái tâm tự nó cỡi bỏ trò chơi bám víu vào ký hiệu, vào ngôn từ, vào những kinh nghiệm quá khứ để mà biết hiện tại, cái đang là. Tâm trực tiếp kinh nghiệm về mọi thứ xuất hiện bên trong cũng như bên ngoài. Lúc đó, chúng ta sống thực sự chứ không còn suy tư về cuộc sống và nhất là không đè nén hay tránh né những gì xuất hiện nơi tâm. Chúng ta không phân đôi tâm mình thành cõi ý thức và vô thức để rồi sống bất an với những sự giả dối mình cho là sự thật vì cuối cùng mình cũng không thể chạy trốn sự thật. Sự tu tập giúp cho ta tự tri, tự biết chính mình một cách rõ ràng và chuyển hoá tất cả những sự dồn nén bên trong thành suối nguồn của tình thương yêu, sự hiểu biết chân thật và hạnh phúc bao la trong đời sống hàng ngày.

Sống với sự hiểu biết chân thật như thế là sống thật, là sống hạnh phúc vô cùng, một thứ hạnh phúc chân thật tự nhiên, không do gì mà có, không lệ thuộc vào điều gìcả, không có bắt đầu và không có tận cùng. Ðó là ý nghĩa thật sự câu trả lời của Ngài Triệu Châu, một vị thiền sư đạo hạnh đời nhà Ðường khi có người hỏi Ðạo hay chân lý là gì: “Bình thường tâm là Ðạo.” Hạnh phúc chân thật là cái bình thường nhất trong đời.

Vấn đề còn lại của chúng ta là nếu bị bệnh tâm trí như lo âu, sợ hãi bất an, kéo dài một cách bất thường thì nên đi khám bác sĩ tâm trí. Nếu mong muốn sống đời an vui hạnh phúc thì tìm thầy học đạo. Một vị bác sĩ tâm trí tốt và giỏi thường giúp người bệnh biết rõ nguồn gốc của bệnh mình mà không dùng sự tương quan chữa trị đó để lạm dụng bệnh nhân. Một vị thầy tốt và giỏi giúp cho người học đạo thấy rõ nguồn gốc của mọi khổ đau do sự bám víu vào những thứ bên ngoài. Xả trừ được sự bám víu, kể cả bám víu vào hình ảnh vì thầy là họ đạt đến chốn tự do và hạnh phúc bao la. Một người bệnh mà càng ngày càng lệ thuộc vào bác sĩ, một người học trò mà càng lúc càng phải lệ thuộc vào vị thầy thì đã đến lúc phải tự mình xét lại để đi đến một quyết định thích hợp vậy.

Tài Liệu Tham Khảo

·The Anatomy of Human Destructiveness, Erich Fromm, Holt, Rinehart and Winston, New York, 1973.

·The Power of Myth, Joseph Campbell with Bill Moyers, Double Day, New York, 1988

·Kinh Quán Niệm Hơi Thở, Nhất Hạnh dịch và chú giải, Lá Bối, San Jose, 1987

·Thiền Luận, Trúc Thiên và Tuệ Sỹ dịch, Chùa Khánh Anh tái bản, Pháp

·Zen, D.T. Suzuki, Double Day Anchor Book, New York, 1956.

·Thiền và Phân Tâm Học, Như Hạnh dịch, Kinh Thi, Việt Nam, 1973, chùa Khánh Anh tái bản tại Pháp, 1988

·Psychology, Principles and Applications, Stephen Worchel and Wayne Shelbilke, Prentice Hall, Inc., New Jersey, 1983

·Comprehensive Textbơk of Psychyatry/III, edit by Harold I. Kaplan, M.D et al., Williams & Wilkins, Maryland, 1980

·Newsweek, March 16, 1993

--- o0o ---


Vi tính: Chân Diệu Lan

Trình bày: Nhị Tường

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn