Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   
Bài mới nhất

Chương 5 - Chương kết

13/05/201318:41(Xem: 5936)
Chương 5 - Chương kết

Đàm Vô Đức Bộ Tứ Phần Luật Tỳ Kheo Giới Bổn Hiệp Chú

Chương 5 - Chương kết

Hòa thượng Thích Trí Thủ

Nguồn: Hòa thượng Thích Trí Thủ dịch

CHƯƠNG NĂM
BA DẬT ĐỀ

Thưa các Đại đức, đây là chín mươi pháp Ba dật đề, xuất từ Giới kinh, nửa tháng tụng một lần.

1. Tỳ kheo cố ý nói dối, Ba dật đề.

2. Tỳ kheo nói nhục mạ bằng các chủng loại, Ba dật đề.

3. Tỳ kheo nói lời ly gián, Ba dật đề.

4. Tỳ kheo ngủ đêm chung nhà với người nữ, Ba dật đề.

5. Tỳ kheo ngủ đêm chung nhà với người chưa thọ đại giới quá hai đêm, đến đêm thứ ba, Ba dật đề.

6. Tỳ kheo cùng tụng giới đọc chung với người chưa thọ đại giới, Ba dật đề.

7. Tỳ kheo biết vị khác có tội thô ác, đem nói với người chưa thọ đại giới, trừ Tăng yết ma, Ba dật dề.

8. Tỳ kheo đối với người chưa thọ Cụ túc mà tự nói mình chứng ngộ pháp Thượng nhân rằng: "Tôi biết điều này, tôi thấy điều này". Nếu đây là sự thật, Ba dật đề.

9. Tỳ kheo thuyết pháp cho người nữ quá năm, sáu lời, trừ có mặt người nam có trí, Ba dật đề.

10. Tỳ kheo tự tay đào đất hoặc bảo người đào, Ba dật đề.

11. Tỳ kheo phá hoại mầm sống cây cỏ, Ba dật đề.

12. Tỳ kheo cố ý nói quanh và gây phiền vị khác, Ba dật đề.

13. Tỳ kheo nào chê bai và nói xấu (tri sự Tăng), Ba dật đề.

14. Tỳ kheo nào mang giường nằm, ghế ngồi, hoặc ngọa cụ, đệm ngồi của Tăng bày ra chỗ đất trống, hoặc khiến người bày; khi bỏ đi không tự mình dọn cất, không khiến người dọn cất, Ba dật đề.

15. Tỳ kheo nào, ở trong tăng phòng, tự mình hoặc bảo người dọn trải ngọa cụ của Tăng để ngồi, hoặc nằm, khi đi không tự mình dọn cất, không khiến người dọn cất, Ba dật đề.

16. Tỳ kheo nào, đã biết đó là chỗ nghỉ của Tỳ kheo khác; mình đến sau cố chen vào giữa trải ngọa cụ để ngủ nghỉ, với ý nghĩ rằng: "Vị ấy nếu hiềm chật sẽ tự tránh đi chỗ khác". Hành động với nhân duyên ấy chứ không gì khác, không phải oai nghi khác, Ba dật đề.

17. Tỳ kheo nào, giận hờn, không ưa Tỳ kheo khác, tự lôi kéo ra khỏi tăng phòng, hay khiến người khác lôi ra, Ba dật đề.

18. Tỳ kheo nào, tại tăng phòng, trên tầng gác, nằm hay ngồi trên giường, ghế bằng chân lắp, Ba dật đề.

19. Tỳ kheo nào, biết nước có trùng, mà tự mình hoặc bảo người tưới lên bùn hoặc cỏ, Ba dật đề.

20. Tỳ kheo nào, làm phòng xá lớn, cánh cửa, khung cửa sổ, và các thứ trang sức khác, chỉ bảo người lợp tranh ngang bằng hai, ba tiết; nếu quá, Ba dật đề.

21. Tỳ kheo nào, không được Tăng sai mà giáo thọ Tỳ kheo ni, Ba dật đề.

22. Tỳ kheo nào, tuy được Tăng sai, nhưng giáo thọ Tỳ kheo ni cho đến mặt trời lặn, Ba dật đề.

23. Tỳ kheo nào, nói với các Tỳ kheo như vầy: "Tỳ kheo vì sự ăn uống mà giáo thọ Tỳ kheo ni", ba dật đề.

24. Tỳ kheo nào, cho y Tỳ kheo ni không phải thân quyến, Ba dật đề.

25. Tỳ kheo nào, may y cho Tỳ kheo ni không phải thân quyến, Ba dật đề.

26. Tỳ kheo nào, ngồi một mình với một Tỳ kheo ni tại chỗ khuất kín, Ba dật đề.

27. Tỳ kheo nào, hẹn và cùng đi chung đường với Tỳ kheo ni, từ một xóm đến một xóm, trừ trường hợp đặc biệt, Ba dật đề. Trường hợp đặc biệt là, cùng đi với khách buôn, hoặc khi có nghi ngờ, có sợ hãi. Đây gọi là trường hợp đặc biệt.

28. Tỳ kheo nào, hẹn và đi chung thuyền với Tỳ kheo ni, dù đi ngược dòng hay xuôi dòng trừ qua ngang, Ba dật đề.

29. Tỳ kheo nào ăn thức ăn được biết là do Tỳ kheo ni khuyến hóa, trừ đàn việt có chủ ý trước, Ba dật đề.

30. Tỳ kheo nào hẹn và đi chung đường với người nữ, dù chỉ trong quãng xóm, Ba dật đề.

31. Tỳ kheo nào, tại trú xứ cúng một bữa, Tỳ kheo không bệnh chỉ nên ăn một bữa, nếu thọ nhận quá, Ba dật đề.

32. Tỳ kheo nào, ăn nhiều lần, trừ các trường hợp khác, Ba dật đề. Các trường hợp khác là, khi bệnh, khi thí y. Đây gọi là trường hợp khác.

33. Tỳ kheo nào ăn riêng chúng, trừ các trường hợp khác, Ba dật đề. Các trường hợp khác là, khi bệnh, thời gian làm y, thời gian thí y, khi đi đường, khi đi thuyền, khi đại chúng tập họp, khi sa môn thí thức. Đây là các trường hợp khác.

34. Tỳ kheo nào, đến nhà bạch y, được mời thọ dụng vật thực, hoặc bánh, hoặc bột; nếu cần dùng, nên thọ hai ba bát; trở về trong tăng già làm nên chia cho các Tỳ kheo khác ăn. Nếu Tỳ kheo không bệnh, thọ lãnh quá hai ba bát, mang về trong tăng già lam, không chia cho các Tỳ kheo khác ăn, Ba dật đề.

35. Tỳ kheo nào, ăn đã đủ, hoặc khi thọ thỉnh, không làm phép dư thực mà ăn nữa, Ba dật đề.

36. Tỳ kheo nào, biết Tỳ kheo kia ăn đã đủ, hoặc khi thọ thỉnh, không làm phép dư thực mà ân cần mời vị kia ăn, nói rằng: "Trưởng lão, hãy dùng món ăn này". Chỉ với mục đích này chứ không có gì khác, tức là muốn người khác phạm giới, Ba dật đề.

37. Tỳ kheo nào ăn phi thời, Ba dật đề.

38. Tỳ kheo nào cất chứ đồ ăn qua đêm và ăn, Ba dật đề.

39. Tỳ kheo nào, đưa vào miệng thức ăn hoặc thuốc không được trao nhận, trừ nước và tăm, Ba dật đề.

40. Tỳ kheo nào không bệnh mà xin những thứ ẩm thực mỹ diệu cho mình như sữa, lạc, cá và thịt, Ba dật đề.

41. Tỳ kheo nào, tự tay cho thức ăn đến nam ngoại đạo, nữ ngoại đạo, Ba dật đề.

42. Tỳ kheo nào, trước đã nhận lời mời, nhưng trước hay sai bữa ăn đi đến nhà khác mà không báo cho Tỳ kheo khác biết, trừ trường hợp đặc biệt, Ba dật đề. Trường hợp đặc biệt là khi bệnh, thời gian làm y, thời gian thí y. Đây là những trường hợp đặc biệt.

43. Tỳ kheo nào, tại gia đình đang thọ thực, có vật báu, mà cố nán ngồi, Ba dật đề.

44. Tỳ kheo nào, tại gia đình đang thọ thực, có vật báu, mà ngồi ở chỗ khuất, Ba dật đề.

45. Tỳ kheo nào, một mình ngồi với một người nữ tại chỗ trống, Ba dật đề.

46. Tỳ kheo nào, nói với Tỳ kheo khác như vầy: "Đại đức, hãy cùng tôi vào tụ lạc, tôi sẽ cho Đại đức thức ăn". Tỳ kheo ấy cuối cùng không cho Tỳ kheo kia thức ăn, lại nói rằng: "Đại đức hãy đi chỗ khác. Tôi không thích nói chuyện hay ngồi một chỗ với Đại đức. Tôi thích ngồi một mình, nói chuyện một mình". Chỉ với mục đích ấy chứ không gì khác, là cố tình đuổi đi, Ba dật đề.

47. Tỳ kheo được thỉnh cầu thọ nhận thuốc 4 tháng; Tỳ kheo không bệnh có thể nhận; nếu quá hạn mà nhận, Ba dật đề, trừ có sự thỉnh thường xuyên, thỉnh tiếp tục, thỉnh chia phần, thỉnh suốt đời.

48. Tỳ kheo nào, đi xem quân trận, Ba dật đề, trừ có nhân duyên hợp thời.

49. Tỳ kheo nào, có nhân duyên được phép đến trong quân trại ngủ lại hai, ba đêm; nếu quá, Ba dật đề.

50. Tỳ kheo nào, ở trong quân trại hai, ba đêm hoặc khi xem quân đội diễn tập, hoặc xem thế lực quân bộ, quân voi, quân ngựa, Ba dật đề.

51. Tỳ kheo nào, uống rượu, Ba dật đề.

52. Tỳ kheo nào, đùa giỡn trong nước, Ba dật đề.

53. Tỳ kheo nào, lấy ngón tay thọc léc người khác, Ba dật đề.

54. Tỳ kheo nào, không nhận lời can gián, Ba dật đề.

55. Tỳ kheo nào, dọa nạt Tỳ kheo khác, Ba dật đề.

56. Tỳ kheo, nửa tháng tắm một lần; Tỳ kheo không bịnh nên thọ; nếu quá, Ba dật đề; trừ trường hợp đặc biệt. Trường hợp đặc biệt là, thời gian nóng, khi bịnh, khi lao tác, khi gió và mưa, khi đi đường. Đó là các trường hợp đặc biệt.

57. Tỳ kheo nào, không bịnh, để tự sưởi, nhóm lửa tại đất trống, hoặc bảo người nhóm, Ba dật đề; trừ có nhân duyên.

58. Tỳ kheo nào, giấu y, bát, tọa cụ, ống đựng kim của Tỳ kheo khác, tự mình giấu hoặc bảo người giấu, dù chỉ giỡn chơi, Ba dật đề.

59. Tỳ kheo nào, đã cho y đến Tỳ kheo, Tỳ kheo ni, Thức xoa ma na, Sa di, Sa di ni; về sau, không nói với chủ mà lấy lại dùng, Ba dật đề.

60. Tỳ kheo nào, được y mới, tùy ý dùng một trong ba màu hoặc là xanh, hoặc đen, hoặc mộc lan làm cho hoại sắc. Nếu không làm hoại sắc bằng ba thứ hoặc xanh, hoặc đen, hoặc mộc lan, mà mặc nguyên y mới, Ba dật đề.

61. Tỳ kheo nào, cố ý giết chết mạng sống loài vật, Ba dật đề.

62. Tỳ kheo nào, biết nước có trùng mà uống hoặc dùng, Ba dật đề.

63. Tỳ kheo nào, cố ý gieo nghi ngờ cho Tỳ kheo khác, dù chỉ khiến cho không yên tâm trong chốc lát, Ba dật đề.

64. Tỳ kheo nào, biết rõ Tỳ kheo khác phạm tội thô ác mà cố ý che giấu, Ba dật đề.

65. Người tuổi đủ hai mươi nên cho thọ đại giới; nếu Tỳ kheo biết người tuổi chưa đủ hai mươi mà cho thọ đại giới, Ba dật đề. Người ấy không đắc giới, các Tỳ kheo đáng bị khiển trách, vì là si.

66. Tỳ kheo nào, biết tránh sự đã được như pháp giải quyết rồi, sau đó lại khơi dậy, Ba dật đề.

67. Tỳ kheo nào, biết đó là đồng bọn giặc cướp, mà giao hẹn và cùng đi chung một đường, dù chỉ trong khoảng một xóm đến một xóm, Ba dật đề.

68. Tỳ kheo nào, nói như vầy: "Tôi biết rằng, theo pháp mà Phật dạy, sự hành dâm dục không phải là pháp chướng đạo". Các Tỳ kheo kia nên can gián Tỳ kheo này rằng: "Đại đức, chớ nói như vậy; chớ xuyên tạc Thế Tôn; xuyên tạc Thế Tôn là không tốt. Thế Tôn không nói như vậy. Thế Tôn bằng vô số phương tiện nói rằng sự hành dâm dục là pháp chướng đạo". Khi được các Tỳ kheo can gián, Tỳ kheo này vẫn kiên trì không bỏ. Các Tỳ kheo can gián ba lần cho bỏ sự ấy. Cho đến ba lần can gián, bỏ thì tốt; nếu không bỏ, Ba dật đề.

69. Tỳ kheo nào, biết người nói lời như thế chưa được tác pháp (giải), tà kiến như thế chưa bỏ, lại cung cấp các nhu yếu, cùng yết ma, cùng ngủ nghỉ, cùng nói chuyện, Ba dật đề.

70. Tỳ kheo nào, biết Sa di ấy nói như vầy: "Tôi nghe pháp từ Đức Phật, nói rằng: "Hành dâm dục không phải là pháp chướng đạo". Các Tỳ kheo nên can gián Sa di ấy như vầy: "Ngươi chớ xuyên tạc Thế Tôn. Xuyên tạc Thế Tôn là không tốt. Thế Tôn không nói như vậy. Này Sa di, Thế Tôn bằng vô số phương tiện nói rằng dâm dục là pháp chướng đạo". Khi được các Tỳ kheo can gián như thế mà Sa di ấy vẫn kiên trì không bỏ; các Tỳ kheo nên can gián ba lần cho bỏ sự ấy. Cho đến ba lần can gián, bỏ thì tốt; nếu không bỏ, các Tỳ kheo nên nói với Sa di ấy rằng: "Ngươi từ nay trở đi hãy đi khỏi đây; không được nói rằng: "Đức Phật là Thế Tôn của tôi". Không được đi theo các Tỳ kheo khác. Các Sa di được phép ngủ hai, ba đêm cùng với các Tỳ kheo; nhưng ngươi nay không có sự kiện ấy. Ngươi hãy ra khỏi đây, hãy đi khuất chỗ đây, không được sống ở đây nữa". Nếu Tỳ kheo biết Sa di đã bị đuổi giữa chúng như vậy, mà dụ đem về nuôi dưỡng, cùng ngủ chung, ba dật đề.

71. Tỳ kheo nào, khi được các Tỳ kheo như pháp can gián lại nói rằng: "Thưa Đại đức, tôi nay không học điều giới này, trừ phi tôi hỏi rõ Tỳ kheo trì luật có trí khác", Ba dật đề. Nếu muốn hiểu biết, muốn học, thì nên hỏi.

72. Tỳ kheo nào, khi tụng giới, nói như vầy: "Đại đức, nói những giới vụn vặt ấy có ích lợi gì? Khi nói giới ấy chỉ làm cho người ta phiền muộn, xấu hổ, hoài nghi" vì khinh chê giới, Ba dật đề.

73. Tỳ kheo nào, khi nghe tụng giới, nói như vầy: "Nay tôi mới biết pháp này được ghi trong Giới kinh, mỗi nửa tháng tụng một lần, xuất từ Giới kinh". Các Tỳ kheo khác biết Tỳ kheo này đã từng ngồi dự tụng giới hoặc hai hoặc ba lần, huống nữa là nhiều lần. Tỳ kheo ấy không phải do vì không biết mà khỏi tội. Nếu có phạm tội, thì phải được xử trị như pháp, rồi lại chồng thêm tội vô tri, bảo rằng: "Trưởng lão, thật không ích lợi gì cho ngài, không có sở đắc tốt đẹp gì cho ngài, vì trong khi tụng giới ngài không dụng tâm, không nhất niệm lắng tai nghe pháp". Vị ấy vì vô tri, Ba dật đề.

74. Tỳ kheo nào, sau khi đã dùng chung yết ma, lại nói như vầy: "Các Tỳ kheo tùy theo chỗ thân hậu mà cho vật của Tăng", Ba dật đề.

75. Tỳ kheo nào, khi Tăng đoán sự chưa xong, không giữ dục mà đứng dậy đi ra, Ba dật đề.

76. Tỳ kheo nào, đã giữ dục, sau đó tỏ sự bất bình, Ba dật đề.

77. Tỳ kheo nào, sau khi các Tỳ kheo tranh cãi nhau, nghe lời người này đem nói với người kia, Ba dật đề.

78. Tỳ kheo nào, vì giận hờn, không hoan hỷ, đánh Tỳ kheo khác, Ba dật đề.

79. Tỳ kheo nào, vì giận hờn, không hoan hỷ, khoa tay dọa đánh Tỳ kheo khác, Ba dật đề.

80. Tỳ kheo nào, vì giận hờn, vu khống Tỳ kheo khác bằng pháp tăng già bà thi sa không căn cứ, Ba dật đề.

81. Tỳ kheo nào, khi nhà vua quán đảnh dòng Sát đế lỵ chưa ra, bảo vật chưa được thu cất, mà vào cung vua, bước qua khỏi ngạch cửa, Ba dật đề.

82. Tỳ kheo nào, tự mình cầm nắm bảo vật hay đồ trang sức bằng bảo vật, hoặc bảo người khác cầm nắm, Ba dật đề; trừ ở trong tăng già lam hay chỗ ký túc, Ba dật đề. Nếu ở trong tăng già lam hoặc chỗ ký túc mà tự mình cầm nắm bảo vật hay đồ trang sức bằng bảo vật, hoặc bảo người khác cầm, nên nghĩ như vậy: "Nếu sở hữu chủ nhận ra, sẽ nhận lấy". Chỉ với nhân duyên ấy chứ không gì khác.

83. Tỳ kheo nào, phi thời vào tụ lạc mà không báo cho Tỳ kheo khác biết, Ba dật đề.

84. Tỳ kheo nào, làm giường dây hay giường gỗ, chân phải cao bằng tám ngón tay của Như Lai, đã trừ phần từ lỗ mộng để ráp thành giường trở lên; nếu quá, Ba dật đề, phải hớt bỏ.

85. Tỳ kheo nào, dùng bông Đâu la miên dùng làm đệm lớn, đệm nhỏ lót giường dây, giường gỗ, đã dồn thành, Ba dật đề.

86. Tỳ kheo nào, dùng răng, xương, sừng làm ống đựng kim; moi khoét và làm thành, Ba dật đề.

87. Tỳ kheo nào, làm ni sư đàn, cần phải làm đúng lượng. Trong đây đúng lượng là dài hai gang và rộng một gang rưỡi tay Phật; rồi thêm dài và rộng nửa gang nữa làm lề; nếu quá, Ba dật đề, phải cắt bỏ.

88. Tỳ kheo nào, làm y che ghẻ, cần phải làm đúng lượng. Trong đây đúng lượng là bề dài bốn gang và rộng hai gang tay Phật; nếu quá, Ba dật đề, phải cắt bỏ.

89. Tỳ kheo nào, làm y tắm mưa, cần phải làm đúng lượng. Trong đây đúng lượng là dài sáu gang và rộng hai gang rưỡi tay Phật; nếu quá, Ba dật đề, phải cắt bỏ.

90. Tỳ kheo nào, may y bằng lượng y của Như Lai, hoặc may quá lượng ấy, Ba dật đề. Trong đây, lượng y của Như Lai là dài mười gang và rộng sáu gang tay Phật. Đây gọi là lượng y của Như Lai.

Thưa các Đại đức, tôi đã tụng xong chín mươi pháp Ba dật đề.

Nay hỏi các Đại đức trong đây có thanh tịnh không? (3 lần).

Các Đại đức trong đây thanh tịnh, vì im lặng. Việc ấy tôi ghi nhận như vậy.

CHƯƠNG SÁU

BA LA ĐỀ ĐỀ XÁ NI

Thưa các Đại đức, đây là bốn pháp Ba la đề đề xá ni xuất từ Giới kinh, mỗi nửa tháng tụng một lần.

1. Tỳ kheo vào thôn xóm, nếu không bịnh mà tự tay nhận thức ăn từ Tỳ kheo ni không phải thân quyến và ăn; Tỳ kheo ấy cần phải đối trước Tỳ kheo khác mà phát lộ rằng: "Bạch Đại đức, tôi phạm pháp đáng khiển trách, làm điều không đáng làm. Nay đối trước Đại đức xin phát lộ sám hối". Đây gọi là pháp hối quá.

2. Tỳ kheo khi ăn trong nhà bạch y; trong đó có một Tỳ kheo ni chỉ bảo rằng: "Mang canh cho vị này; dâng cơm cho vị kia". Các Tỳ kheo nên nói với Tỳ kheo ni ấy rằng: "Này sư cô, hãy thôi. Hãy để yên các Tỳ kheo thọ thực". Nếu không có một Tỳ kheo nào nói với Tỳ kheo ni kia rằng: "Này cô, hãy thôi. Hãy để yên các Tỳ kheo thọ thực"; thì các Tỳ kheo này cần đối trước một Tỳ kheo khác mà phát lộ rằng: "Bạch Đại đức, tôi phạm pháp đáng khiển trách, làm điều không đáng làm. Nay đối trước Đại đức xin phát lộ sám hối". Đây gọi là pháp hối quá.

3. Nếu có gia đình mà Tăng đã tác pháp yết ma học gia; Tỳ kheo nào biết đó là học gia, trước không được thỉnh, lại không bịnh, tự tay nhận thức ăn và ăn; Tỳ kheo ấy cần đối trước Tỳ kheo khác phát lộ rằng: "Tôi phạm pháp đáng khiển trách, làm điều không đáng làm. Nay tôi đối trước Đại đức xin phát lộ sám hối". Đây gọi là pháp hối quá.

4. Tỳ kheo sống tại A lan nhã xa xôi hẻo lánh, chỗ đáng nghi ngờ, có sợ hãi. Tỳ kheo sống tại trú xứ A lan nhã như vậy, trước không nói cho đàn việt biết, không thọ nhận thức ăn bên ngoài tăng già lam, trái lại, không bịnh mà ở bên trong tăng già lam tự tay nhận thức ăn, Tỳ kheo ấy cần phải đối trước Tỳ kheo khác mà phát lộ rằng: "Bạch Đại đức, tôi phạm pháp đáng khiển trách, làm điều không đáng làm. Nay đối trước Đại đức xin phát lộ sám hối". Đây gọi là pháp hối quá.

Thưa các Đại đức, tôi đã tụng xong bốn pháp Ba la đề đề xá ni.

Nay hỏi các Đại đức trong đây có thanh tịnh không? (3 lần).

Các Đại đức trong đây thanh tịnh, vì im lặng. Việc ấy tôi ghi nhận như vậy.

CHƯƠNG BẢY

PHÁP CHÚNG HỌC

Thưa các Đại đức, đây là một trăm pháp chúng học xuất từ Giới kinh, mỗi nửa tháng tụng một lần.

1. Phải bận Niết bàn tăng cho tề chỉnh, cần phải học.

2. Phải khoác ba y cho tề chỉnh, cần phải học.

3. Không nên vắt ngược y khi đi vào nhà bạch y, cần phải học.

4. Không nên vắt ngược y khi ngồi trong nhà bạch y, cần phải học.

5. Không nên quấn y nơi cổ khi đi vào nhà bạch y, cần phải học.

6. Không nên quấn y nơi cổ khi ngồi trong nhà bạch y, cần phải học.

7. Không nên trùm đầu khi đi vào nhà bạch y, cần phải học.

8. Không nên trùm đâu khi ngồi trong nhà bạch y, cần phải học.

9. Không nên nhảy nhót khi đi vào nhà bạch y, cần phải học.

10. Không nên nhảy nhót khi ngồi trong nhà bạch y, cần phải học.

11. Không nên ngồi chồm hổm trong nhà bạch y, cần phải học.

12. Không nên chống nạnh khi đi vào nhà bạch y, cần phải học.

13. Không nên chống nạnh khi ngồi trong nhà bạch y, cần phải học.

14. Không nên uốn éo thân mình khi đi vào nhà bạch y, cần phải học.

15. Không nên uốn éo thân mình khi ngồi trong nhà bạch y, cần phải học.

16. Không nên khoác tay khi đi vào nhà bạch y, cần phải học.

17. Không nên khoác tay khi ngồi trong nhà bạch y, cần phải học.

18. Phải trùm kín thân thể khi đi vào nhà bạch y, cần phải học.

19. Phải trùm kín thân thể khi ngồi trong nhà bạch y, cần phải học.

20. Không nên nhìn ngắm ngang dọc khi đi vào nhà bạch y, cần phải học.

21. Không nên nhìn ngắm ngang dọc khi ngồi trong nhà bạch y, cần phải học.

22. Phải khẽ tiếng khi đi vào nhà bạch y, cần phải học.

23. Phải khẽ tiếng khi ngồi trong nhà nhà bạch y, cần phải học.

24. Không được cười cợt khi đi vào nhà bạch y, cần phải học.

25. Không được cười cợt khi ngồi trong nhà bạch y, cần phải học.

26. Phải dụng ý khi thọ nhận thức ăn, cần phải học.

27. Thọ nhận thức ăn vừa ngang bát, cần phải học.

28. Thọ nhận canh vừa ngang bát, cần phải học.

29. Ăn cơm và canh đồng đều, cần phải học.

30. Theo thứ tự mà ăn, cần phải học.

31. Không nên moi giữa bát mà ăn, cần phải học.

32. Tỳ kheo không bịnh, không được vì mình yêu sách cơm canh, cần phải học.

33. Không nên dùng cơm che lấp canh để mong được thêm, cần phải học.

34. Không nên liếc nhìn vào trong bát người ngồi cạnh sanh tâm tị hiềm, cần phải học.

35. Phải chú tâm vào bát mà ăn, cần phải học.

36. Không nên ăn vắt cơm lớn, cần phải học.

37. Không nên há miệng lớn đợi cơm mà ăn, cần phải học.

38. Không nên ngậm cơm mà nói, cần phải học.

39. Không nên vắt cơm thảy vào miệng, cần phải học.

40. Không nên để cơm rơi rớt khi ăn, cần phải học.

41. Không nên búng má mà ăn, cần phải học.

42. Không nên nhai cơm có tiếng khi ăn, cần phải học.

43. Không nên hớp cơm có tiếng mà ăn, cần phải học.

44. Không nên lấy lưỡi liếm khi ăn, cần phải học.

45. Không nên rảy tay khi ăn, cần phải học.

46. Không nên dùng tay lượm cơm rơi mà ăn, cần phải học.

47. Không nên tay dơ cầm đồ đựng thức ăn, cần phải học.

48. Không nên đổ nước rửa bát trong nhà bạch y, cần phải học.

49. Không nên đại tiểu tiện, hỉ, nhổ lên rau cỏ tươi, trừ bịnh, cần phải học.

50. Không được đại tiểu tiện, hỉ nhổ trong nước sạch, trừ bịnh, cần phải học.

51. Không nên đứng mà đại tiểu tiện, trừ bịnh, cần phải học.

52. Không nên thuyết pháp cho người vắt ngược áo không cung kính, trừ người bịnh, cần phải học.

53. Không nên thuyết pháp cho người quấn áo nơi cổ, trừ người bịnh, cần phải học.

54. Không nên thuyết pháp cho người trùm đầu, trừ người bịnh, cần phải học.

55. Không nên thuyết pháp cho người quấn khăn trên đầu trừ người bịnh, cần phải học.

56. Không nên thuyết pháp cho người chống nạnh, trừ người bịnh, cần phải học.

57. Không nên thuyết pháp cho người mang dép da, trừ người bịnh, cần phải học.

58. Không nên thuyết pháp cho người mang guốc gỗ, trừ người bịnh, cần phải học.

59. Không nên thuyết pháp cho người ngồi trên ngựa, trừ người bịnh, cần phải học.

60. Không nên ngủ nghỉ trong tháp Phật, trừ vì canh giữ, cần phải học.

61. Không được chôn giấu tài vật trong tháp Phật, trừ muốn cho chắc chắn, cần phải học.

62. Không được mang dép da vào tháp Phật, cần phải học.

63. Không được tay cầm dép da đi vào trong tháp Phật, cần phải học.

64. Không được mang dép da đi nhiễu quanh tháp Phật, cần phải học.

65. Không được mang giày phú la vào trong tháp Phật, cần phải học.

66. Không được xách giày phú la vào trong tháp Phật, cần phải học.

67. Không được ngồi dưới tháp Phật mà ăn, cần phải học.

68. Không được khiêng tử thi đi qua dưới tháp Phật, cần phải học.

69. Không được chôn tử thi dưới tháp Phật, cần phải học.

70. Không được thiêu tử thi dưới tháp Phật, cần phải học.

71. Không được đối diện tháp Phật thiêu tử thi, cần phải học.

72. Không được thiêu tử thi quanh bốn phía tháp Phật, làm hôi thối xông vào, cần phải học.

73. Không được mang áo và giường người chết đi qua dưới tháp Phật, trừ đã giặt nhuộm xông hương, cần phải học.

74. Không được đại tiểu tiện dưới tháp Phật, cần phải học.

75. Không được đại tiểu tiện trước tháp Phật, cần phải học.

76. Không được đại tiểu tiện quanh bốn phía tháp Phật, khiến hôi thối xông vào, cần phải học.

77. Không được mang tượng Phật đến chỗ đại tiểu tiện, cần phải học.

78. Không được nhăn nhành dương (đánh răng, súc miệng) dưới tháp Phật, cần phải học.

79. Không được nhăn nhành dương (đánh răng, súc miệng) đối diện tháp Phật, cần phải học.

80. Không được nhăn nhành dương (đánh răng, súc miệng) quanh bốn phía tháp Phật, cần phải học.

81. Không được hỉ, nhổ dưới tháp Phật, cần phải học.

82. Không được hỉ, nhổ đối diện tháp Phật, cần phải học.

83. Không được hỉ, nhổ quanh bốn phía tháp Phật, cần phải học.

84. Không được ngồi duỗi chân về phía tháp Phật, cần phải học.

85. Không được đặt (thờ) tháp Phật (nhỏ) ở phòng dưới, mình ở phòng trên, cần phải học.

86. Không được thuyết pháp cho người ngồi mà mình đứng, trừ người bịnh, cần phải học.

87. Không được thuyết pháp cho người nằm mà mình ngồi, trừ người bịnh, cần phải học.

88. Không được thuyết pháp cho người ngồi chính giữa, còn mình ngồi một bên, trừ người bịnh, cần phải học.

89. Không được thuyết pháp cho người ngồi chỗ cao, còn mình ngồi chỗ thấp, trừ người bịnh, cần phải học.

90. Không được thuyết pháp cho người đi trước, còn mình đi phía sau, trừ người bịnh, cần phải học.

91. Không được thuyết pháp cho người ở chỗ kinh hành cao, còn mình ở chỗ kinh hành thấp, trừ người bịnh, cần phải học.

92. Không được thuyết pháp cho người ở giữa đường, còn mình ở bên đường, trừ người bịnh, cần phải học.

93. Không được nắm tay khi đi đường, cần phải học.

94. Không được leo lên cây cao quá đầu người, trừ khi có nhân duyên, cần phải học.

95. Không được bỏ bình bát vào trong đãy rồi xỏ vào đầu gậy, không cung kính, trừ người bịnh, cần phải học.

96. Không được thuyết pháp cho người cầm gậy, không cung kính, trừ người bịnh, cần phải học.

97. Không được thuyết pháp cho người cầm gươm, trừ người bịnh, cần phải học.

98. Không được thuyết pháp cho người cầm mâu, trừ người bịnh, cần phải học.

99. Không được thuyết pháp cho người cầm dao, trừ người bịnh, cần phải học.

100. Không được thuyết pháp cho người cầm dù, trừ ngườøi bịnh, cần phải học.

Thưa các Đại đức, tôi đã tụng xong một trăm pháp chúng học.

Nay hỏi các Đại đức trong đây có thanh tịnh không? (3 lần).

Các Đại đức trong đây thanh tịnh, vì im lặng. Việc ấy tôi ghi nhận như vậy.

CHƯƠNG TÁM

PHÁP DIỆT TRÁNH

Thưa các Đại đức, đây là bảy pháp diệt tránh xuất từ Giới kinh, mỗi nửa tháng tụng một lần.

Nếu có tránh sự khởi lên giữa các Tỳ kheo, tức thì cần phải trừ diệt.

1. Cần giải quyết bằng hiện tiền tỳ ni, phải giải quyết bằng hiện tiền tỳ ni.

2. Cần giải quyết bằng ức niệm tỳ ni, phải giải quyết bằng ức niệm tỳ ni.

3. Cần giải quyết bằng bất si tỳ ni, phải giải quyết bằng bất si tỳ ni.

4. Cần giải quyết bằng tự ngôn trị, phải giải quyết bằng tự ngôn trị.

5. Cần giải quyết bằng mích tội tướng, phải giải quyết bằng mích tội tướng.

6. Cần giải quyết bằng đa nhân mích tội tướng, phải giải quyết bằng đa nhân mích tội tướng.

7. Cần giải quyết bằng như thảo phú địa, phải giải quyết bằng như thảo phú địa.

Thưa các Đại đức, tôi đã tụng xong bảy pháp diệt tránh.

Nay hỏi các Đại đức trong đây có thanh tịnh không? (3 lần).

Các Đại đức trong đây thanh tịnh, vì im lặng. Việc ấy tôi ghi nhận như vậy.

CHƯƠNG KẾT

I. KẾT THUYẾT

Thưa các đại đức, tôi đã tụng tựa của giới kinh, đã tụng bốn pháp ba la di, đã tụng mười ba pháp tăng già bà thi sa, đã tụng hai pháp bất định, đã tụng ba mươi pháp ni tát kỳ ba dật đề, đã tụng chín mươi pháp ba dật đề, đã tụng bốn pháp ba la đề đề xá ni, đã tụng các pháp chúng học, đã tụng bảy pháp diệt tránh. đó là những điều phật đã thuyết, xuất từ giới kinh, mỗi nửa tháng tụng một lần. và còn có các phật pháp khác nữa, trong đây cần phải cùng hòa hiệp học tập.

II. THẤY PHẬT GIỚI KINH:

1. Nhẫn: khổ hạnh bậc nhất;

Niết bàn: đạo tối thượng;

Xuất gia, não hại người,

Không xứng danh sa môn.

Đây là Giới kinh mà đức Tỳ Bà Thi Như Lai, bậc Vô sở trước, Đẳng chánh giác, đã giảng dạy.

2. Cũng như người mắt sáng,

Tránh khỏi lối hiểm nghèo;

Bậc có trí trong đời,

Tránh xa các xấu ác.

Đây là Giới kinh mà đức Thi Khí Như Lai, bậc Vô sở trước, Đẳng chánh giác, đã giảng dạy.

3. Không báng bổ, tật đố;

Vâng hành các học giới;
Ăn uống biết vừa đủ;
Thường ưa chỗ nhàn tịnh;
Tâm định, vui tinh tấn;
Là lời chư Phật dạy.

Đây là Giới kinh mà đức Tỳ Diếp La Như Lai, bậc Vô sở trước, Đẳng chánh giác, đã giảng dạy.

4. Như ong đến tìm hoa,
Không hại sắc và hương,
Chỉ hút nhụy rồi đi,
Vậy Tỳ kheo vào xóm,
Không chống trái việc người,
Người làm hay không làm;
Chỉ xét hành vi mình,
Đoan chính không đoan chính.

Đây là Giới kinh mà đức Câu Lưu Tôn Như Lai, bậc Vô sở trước, Đẳng chánh giác, đã giảng dạy.

5. Chớ để tâm buông lung,
Hãy cần học Thánh pháp;
Như thế dứt ưu sầu,
Tâm định nhập Niết bàn.

Đây là Giới kinh mà đức Câu Na Hàm Mâu Ni Như Lai, bậc Vô sở trước, Đẳng chánh pháp, đã giảng dạy.

6. Hết thảy ác chớ làm,
Hãy vâng hành các thiện;
Tự lóng sạch tâm chí;
Là lời chư Phật dạy.

Đây là Giới kinh mà Đức Ca Diếp Như Lai, bậc Vô sở trước, Đẳng chánh giác, đã giảng dạy.

7. Khéo phòng hộ lời nói;
Tâm chí tự lắng trong;
Thân không làm các ác;
Thực hành được như thế;
Ba tịnh nghiệp đạo này,
Là đạo đấng Đại Tiên.

Đây là Giới kinh mà Đức Thích Ca Mâu Ni Như Lai, bậc Vô sở trước, Đẳng chánh giác, đã giảng dạy cho các Tỳ kheo vô sự trong khoảng mười hai năm đầu. Từ đó về sau được phân biệt rộng rãi. Các Tỳ kheo tự mình hâm mộ Chánh pháp, hâm mộ sa môn hành, có tàm có quý, hâm mộ học giới, hãy tu học ở trong đây.

III. KHUYẾN GIỚI:

1. Kẻ trí khéo hộ giới,
Sẽ được ba điều vui:
Danh thơm và lợi dưỡng,
Sau khi chết sanh thiên.
2. Hãy quán sát điều này,
Bậc trí siêng hộ giới.
Giới tịnh sanh trí tuệ;
Thành tựu đạo tối thượng.
3. Như chư Phật quá khứ,
Và chư Phật vị lai,
Các Thế Tôn hiện tại,
Đấng chiến thắng khổ đau,
Thảy đều tôn kính giới,
Đấy là pháp chư Phật.
4. Nếu ai vì tự thân
Mong cầu nơi Phật đạo,
Hãy tôn trọng Chánh pháp,
Đây lời chư Phật dạy.
5. Bảy đấng Thế Tôn Phật,
Diệt trừ mọi kết sử,
Thuyết bảy Giới kinh này,
Giải thoát các hệ phược,
Các ngài đã Niết bàn,
Các hí luận vắng bặt.
6. Các đệ tử tuân hành,
Lời dạy đấng Đại Tiên,
Giới Thánh hiền khen ngợi,
Thảy đều nhập Niết bàn.
7. Thế Tôn khi Niết bàn,
Vận khởi tâm đại bi,
Họp các Tỳ kheo chúng,
Ban giáo giới như vầy:
8. Chớ nghĩ Ta Niết bàn,
Không còn ai chăn dắt,
Giới kinh và tỳ ni;
Những điều Ta dạy rõ,
Hãy xem đó như Phật,
Dù Ta nhập Niết Bàn.
9. Giới kinh này còn mãi,
Phật pháp còn sáng rỡ,
Do sự sáng rỡ ấy,
Niết bàn được chứng nhập.
10. Nếu không trì giới này,
Không bố tát như pháp;
Khác gì mặt trời lặn,
Thế giới thành tối tăm.
11. Hãy hộ trì giới ấy,
Như trâu mao tiếc đuôi,
Hòa hiệp ngồi một chỗ,
Như lời Phật đã dạy.
12. Tôi đã thuyết Giới kinh
Chúng Tăng bố tát xong,
Tôi nay thuyết Giới kinh,
Công đức thuyết giới này,
Nguyện ban khắp chúng sanh,
Cùng trọn thành Phật đạo.

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn