Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   
Bài mới nhất

Phần 2

13/05/201318:23(Xem: 3632)
Phần 2

Những đoản văn

viết trong 25 năm qua

Thích Như Điển

---o0o---

Phần 2

Bánh trái nhà chùa

Sau 2 loạt bài "Cây Trái Vườn Chùa" và "Cây Cảnh Vườn Chùa" đã được độc giả khắp nơi chiếu cố một cách hết sức bất ngờ. Bất ngờ vì việc không chờ đợi mà lại đến. Ngược lại có nhiều việc chờ đợi hoài nhưng vẫn không đến. Ví dụ như sau khi đọc hai loạt bài nêu trên đã có nhiều vị Phật Tử khắp nơi tại Âu Châu gởi thư về thăm hỏi và chia xẻ kinh nghiệm làm vườn với Bác Sáu, đồng thời gởi tặng thêm nhiều hạt giống bầu, bí đặc biệt sai trái. Có người lại thực tế hơn đã gởi tịnh tài về Chùa để Bác Sáu uống cà-phê cho khỏe, còn lo chăm sóc vườn Chùa nữa. Về tịnh tài thì Bác Sáu không nhận dùng riêng cho mình, mà Bác lại mua phân để bón cây cho năm nầy và năm tới. Đó là những nghĩa cử đẹp của người làm vườn, lẫn người thưởng ngoạn vườn. Khách thập phương khi đến Chùa, thấy cây cảnh tươi mát, cây trái ngọt bùi, nên đã cảm cái nhân lành mà muốn gặt hái nhiều quả ngọt, nên đã thổ lộ ra bằng hành động đẹp như vậy. Còn bác, bác chỉ đơn giản và cười xuề xòa thôi.

Vào hạ, cứ mỗi sáng sau thời công phu, tôi đều thấy Bác có mặt ở vườn Chùa, không ngắt đọt bầu nầy thì cũng bón phân cho cây bí nọ, vì vậy cho nên cây trái nhà Chùa càng ngày càng sai quả, vì nhân tốt và duyên thuận, dĩ nhiên là quả phải ra tốt rồi. Năm nay có người cho giống bầu mới, Bác đem gieo hạt làm 3 kỳ. Kỳ thứ nhất sau khi cây đâm chồi nảy tược, Bác đem ra vườn trồng, vào đầu tháng 4, nắng được mấy ngày bầu tươi tốt; nhưng sau đó lạnh lại, thế là cây phải để tang; cả 3 đợt đều như thế, xem như khó cứu chữa nổi. Nhưng một phép lạ đã đến. Đó là thời tiết. Đợt thứ 3 tưởng đâu đã chết luôn; nhưng nhờ khí trời ấm áp hẳn cả tháng 5 và tháng 6; nên cây bầu đã cải tử hoàn sanh, bò lên giàn vùn vụt, bông và nụ đua nhau khoe sắc trên giàn, thấy mà vui mắt. Thế là kết quả đã đến.

Năm nay có 3 loại bầu tất cả. Bầu nậm giống như bầu rượu, trông rất đẹp và dễ thương, độ chừng 15 trái. Bầu ngắn, do Bác Hải ở Neustadt cho giống, độ chừng 50 trái. Bầu dài, do một Phật Tử ở gần Frankfurt cho giống, độ chừng 50 trái nữa. Tổng cộng là 115 trái. Đặc biệt bầu dài, trái dài nhất đến 1 thước 50, cân nặng 5 kí-lô. Trái bầu nầy ở Việt Nam tôi chưa bao giờ thấy, mà hỏi thăm nhiều người cũng chưa ai thấy cả. Đây là một loại bầu lai giống, ở Á Châu khó có thể có được. Ngoài ra bí rợ năm nầy cũng đã cho được 30 quả, cả bí loại lấy giống từ Việt Nam và bí rợ Đức. Khổ qua chỉ cho độ 15 trái, không như năm rồi được 55 trái. Còn mướp tây (Zucchini) ít nhất năm nay vườn Chùa cũng thâu hoạch được 150 trái. Như vậy kể ra năm nay đã được mùa.

Nếu viết về cây cảnh hoài, quý vị trong Ban Trai Soạn và trong Ban Bánh Trái sẽ phân bì, tại sao Thầy chiếu cố bên ngoài mà lại không chiếu cố bên trong, quả là một điều thiếu sót. Vì vậy tôi cố gắng viết về những việc rất khó viết, vì không phải là chuyên môn của mình. Sự đóng góp của Tăng, Ni và Phật Tử cho sự trưởng thành của ngôi Chùa Viên Giác quá nhiều người và công đức quá lớn lao, tôi không thể kể hết được, nếu có thiếu sót ai, xin quý vị cảm thông cho.

Có nhiều người đàn ông nấu ăn rất ngon; nhưng tôi thì thuộc hạng dở nhất. Nếu có ai đó hỏi tôi rằng:

- Thầy nấu được món gì?

Tôi sẽ trả lời rằng:

- Chỉ nấu được món mì.

Thế là ai cũng cười. Kể ra thời còn sinh viên Tăng ở Nhật, cách đây 25 năm về trước, tôi cũng đã trổ tài để nấu nhiều món chay đặc biệt; nhưng gần 20 năm nay ở tại Đức, không biết tại vì tôi có đầy đủ nhân duyên phước đức như nhiều người đã nói hay sao, tôi không biết; nhưng thú thật tôi chưa biết cái nhà bếp là gì. Ai hỏi tôi chuyện gì thì tôi còn trả lời được, chứ chuyện nhà bếp thì tôi chỉ cho quý cô Hạnh Niệm, cô Hạnh Tịnh, cô Hạnh Ân, cô Hạnh Châu và cô Hạnh Ngọc. Ngày thường ở Chùa đã có quý Cô nầy lo cho miếng ăn thức uống cho chư Tăng, còn Phật Tử thì có những anh em công quả lo riêng, như Thiện Văn, Thiện Trí, Dũng, Thắng v.v..., lớp Đức cũng đã có các anh em lo nấu dọn. Những lễ lớn đã có Ban Trai Soạn của Chùa và chị Hạnh từ Braunschweig, cô Phượng từ Hamburg, Tý từ Nordhorn, Thiện Tấn từ Seelze, Tuấn từ Stuttgart, anh Đống từ Hamburg, Dinh, Minh Hòa, Nam, Quốc, v.v... và đặc biệt có những người Đức như Peter (chồng cô Phượng), và Hội Phật Giáo Chöling của người Đức cũng đã cộng tác rất tích cực để lo cho cả mấy ngàn người ăn. Đó không phải là điều đơn giản. Còn vô số những người làm công quả trong các mùa Phật Đản, Vu Lan như cô Thủy, mạnh hơn nam nhi, anh Hải từ Saarburg, anh Thành, anh Tâm Lượng, anh chị Nguyên Biên, anh chị Quảng Đạo Frankfurt v.v... Ban Tổ Chức và những người thiện nguyện cho mỗi lễ như vậy có đến 200 người, nên không thể kể hết ra đây. Kính mong quý vị hiểu cho.

Hôm nay đặc biệt tôi sẽ kể cho quý vị nghe về một số công việc làm bánh tại Chùa. Vì đây cũng là một nguồn lợi khá quan trọng để giúp Chùa trang trải nợ nần, mỗi năm số thu vào không nhỏ, là nhờ vào những bàn tay và khối óc tiêu biểu sau đây:

Khi cô Hạnh Niệm còn mạnh khỏe, cô cũng đã chăm lo các lễ lộc lớn và làm bánh trái cho Chùa từ năm 1981 cho đến năm 1990; nhưng bây giờ thì cô đã lớn tuổi, nên không còn lo được nữa; chỉ có cô Hạnh Tịnh và quý cô khác lo đảm đang.

Có một loại bánh đặc biệt, gọi là "bánh khoai mì", ai dùng cũng thích. Bánh nầy do cô Hạnh Châu chủ xướng, đầu tiên phải mua sắn (củ mì) về lột vỏ và bào cho thật nhỏ, sau đó đem trộn với đường, bơ, sữa và nướng lên thành bánh. Ở Việt Nam vào những năm 76, 77 ai thấy khoai mì cũng ngán; nhưng ở đây và bây giờ là vàng là bạc đấy. Tôi không có cộng nghiệp với Cộng Sản; nên tôi không biết cái khổ của dân mình thời đó; nhưng ở ngoại quốc, khi nhận được những lá thư vàng khè là biết được sự tiến bộ của Xã hội Chủ nghĩa thời bấy giờ rồi. Dĩ nhiên bây giờ sau 20 năm có thay đổi nhiều; nhưng nếu không nhờ tư bản của ngoại quốc đầu tư vào, thì chắc chắn không thể có thành quả ấy được.

Cô Hạnh Ân thì chuyên đổ bánh da lợn. Tôi không biết công thức trộn bột và pha màu như thế nào; nhưng biết được rằng phải bắt một cái xửng lớn lên bếp và để những chén nhỏ hoặc khuôn vào đó, khi nước nóng đến độ nào đó, thì đổ bột nước vào từng đợt một để bánh có nhiều lớp nhiều màu khác nhau. Bánh nầy được rất nhiều người thích, nhất là những người răng yếu hoặc không có răng.

Cô Hạnh Ngọc có làm một loại bánh rất đặc biệt. Đó là bánh "bía", chữ Tàu không biết viết bằng chữ gì; nhưng gọi là bía. Bánh phải cần nhồi bột và làm nhưn; nhưng đậu xanh phải ngâm từ hôm trước để ngày hôm sau xay nhuyễn và quết đều với gia vị, sau đó đem gói nhưn vào bánh rồi cho vào khuôn in ra, nướng, đem ra khỏi lò, đóng ấn chữ THọ lên đó cho dễ coi. Trông hình thù của bánh không đẹp lắm; nhưng ai cũng thích, chẳng biết tại sao? Có lẽ ăn bánh vào chắc bụng và mau no chăng?

Bánh xanh là một loại bánh đặc biệt, trước đây Đạo Hữu Cân từ Pháp qua chỉ lại cho Bác Sáu và quý Cô tại Chùa. Nghề nầy được truyền lại tại đây và ngày nay mỗi lần lễ, quý cô quý bác làm từ 5 đến 10 ngàn cái. Không biết bao nhiêu là công phu, mà tôi thì vô tình quá, không có thì giờ để mắt đến đã đành, mà nhiều khi chưa đánh giá đúng sự khó nhọc của những người đã ra công làm lợi lạc cho Chùa, quả tôi là người đáng trách nhất. Tôi thấy bánh nầy cũng có nhưn đậu; nhưng hòa bột là cả một nghệ thuật; toàn là nước lạnh, nhưng khi bắt lên lửa thì phải cần những thanh niên có sức khỏe, chịu đựng hơi nóng mới đứng suốt ngày nơi đó mà quậy bột đều tay, đến khi bột đặc lại cũng phải xào đều tay. Đôi khi phải nâng cả một cục bột lên cao, kẻo bị cháy. Xào như thế cho đến độ bánh dẻo tới mới thôi. Lúc nào dẻo và lúc nào bột pha đúng, đố ai biết được. Chỉ có người trong nghề mới cảm nhận được sự thiếu đủ đó mà thôi; nếu không bắt tay vào nghề thì đành chịu.

Cũng là bột, là đường, là dầu, là lửa mà sao đã có nhiều bàn tay khéo léo tạo nên những món ăn thật đậm đà hương vị quê hương như vậy? Vị ngọt của bánh, mùi thơm của bột đã quyện vào lòng người xa xứ, như một chất men ngọt lịm trộn lẫn cuộc đời với những khổ đau và tục lụy, để trở thành một mùi toan khổ mà cuộc đời mấy ai lại đã chẳng phải trải qua.

Tục ngữ Việt Nam có nhiều câu rất hay như: "Có bột mới gột nên hồ" cũng đã mô tả được việc ấy. Nếu không có nhân thì sẽ không có quả bao giờ. Nếu nhân tốt thì quả sẽ tốt và ở đây cái duyên cũng đóng một vai trò quan trọng lắm. Nhiều khi cũng có những câu mang ý nghĩa trái ngược với việc trên như: "Nước lã mà vã nên hồ, tay không mà dựng cơ đồ mới ngoan" cũng đúng chứ chẳng sai. Vì có nhiều loại bánh chỉ bằng nước lã như bánh cuốn, chị Diệu Cam hay làm, bánh bèo bác Tám hay làm, bánh xèo v.v... tất cả đều từ nước lã và bột; nhưng cũng chính nhờ những loại nước lã nầy mà đã góp phần vào cơ đồ của Chùa Viên Giác được thành tựu như ngày hôm nay. Xin đa tạ tất cả và hồi hướng công đức nầy đến mười phương pháp giới chúng sanh vậy.

Cô Hạnh Tịnh lo cai quản nhà bếp của Chùa, đâu đó rất ngăn nắp, tôi không biết cô chuyên môn loại bánh gì; nhưng nếu nhà bếp không có cô thì xem như hỏng. Vì bao nhiêu chuyện lớn nhỏ, cô đều trông nom, quán xuyến, sắp đặt để mọi việc được mỹ mãn. Nhắc đến đây phải nhớ đến Bác Diệu Nhụy, người luôn luôn vui cười, mà cũng lắm khi hờn mát; nhưng lại làm chả chay thì chẳng ai bằng. Muốn làm loại này phải ngâm tàu hủ ki, là một loại váng đậu hủ, cho mềm và nhuyễn, sau đó mới nấu và cho gia vị vào, xào. Sau đó đem gói thành đòn như đòn bánh tét để nung trong một tiếng đồng hồ. Thế là ta lại có một món ăn chay ngon miệng qua việc cho đồ gia vị hợp khẩu của mỗi người. Tiếng Phổ Thông gọi là "Tao hu bi", có nghĩa là da đậu hủ. Còn "Tàu hủ ki" có lẽ là tiếng Quảng Đông, pha tiếng Việt Nam. Học bao nhiêu ngôn ngữ rồi tôi cũng thấy mình còn kém, vì học hoài chẳng hết chữ của thế gian nầy. Mỗi một ngôn ngữ có một đặc thù riêng và hỏi tại sao như vậy thì đố ai mà trả lời được. Ví như chữ Nga, một ngôn ngữ có thể gọi là khó nhất thế giới tôi đang cố gắng học, chữ y thì đọc là u. Chữ bl thì đọc là ư, chữ m thì đọc là t. Chữ h thì đọc là n, thì thử hỏi lấy gì để định nghĩa. Chẳng qua tất cả do thói quen mà thôi.

Bác Diệu Nữ thì chuyên môn làm xôi vị. Tại sao gọi là xôi vị, thì hỏi người miền Nam trả lời nôm na là xôi có vị và màu sắc nên gọi là xôi vị; tôi chưa thỏa mãn với câu trả lời nầy. Cách làm thì tôi không biết, nhưng thấy nấu xôi lên, để xôi cho nguội đem xào với đường và cho một ít vị vào, sau đó đem cho vào khuôn, rải mè lên trên, cắt ra thành miếng, đôi khi gói vào giấy gương, gọi là xôi vị. Người miền Trung, như chỗ quê mùa, nơi tôi đã sinh ra gọi là xôi ngọt. Bảo ngọt, vì có cho vào đó khá nhiều đường và đặc biệt xôi ngọt miền Trung còn nấu chung với đậu đỏ, nên sau khi nấu xong, màu xôi lại đỏ mà ngọt lịm cả môi người. Rất nhiều người thích ăn xôi nầy; nhưng nếu lỡ cắn trúng một hạt đậu chưa chín tới, có lẽ nhiều người sẽ không còn thích ăn loại xôi nầy nữa. Chị Thị Khiêm chuyên về loại xôi nầy và món bún bò chay Huế pha Quảng cũng rất đặc biệt.

Có một gia đình đã đóng góp công, của cũng như sức lực cho Chùa Viên Giác suốt gần 20 năm nay. Đó là gia đình Bác Diệu Anh. Ngoài Bác ra còn có Đạo Hữu Diệu Kim, chị Diệu Huệ, anh Minh Thiện, chị Sum; vợ anh Đống; Tố Hương v.v... cả một gia đình công quả từ năm nầy qua tháng nọ mỗi khi có lễ lớn tại Chùa. Bác Diệu Anh hay về Chùa trước lễ chừng vài tuần để coi sóc trong ngoài. Đạo Hữu Diệu Kim và Đạo Hữu Diệu Huệ lo nhồi bột, làm bánh, mà đặc biệt là bánh bao, quý vị nầy làm thì khỏi chê vào đâu được. Công thức thì tôi không biết, không phải vì quý vị ấy giấu nghề, mà vì tôi không hỏi kỹ, tôi chỉ thấy cũng nhồi từ bột, trước đây thì nhồi tay; nhưng bây giờ đã có máy nhồi, nhờ anh Minh Thiện mua dùm, nên đỡ đi rất nhiều. Đặc biệt là nhưn bánh, phải làm sao cho khỏi thiu, không mặn quá, không lạt quá. Đó là một nghệ thuật tuyệt vời, mà một người viết văn lưng chừng như tôi không thể diễn tả hết nổi.

Trong những tháng không có lễ là những tháng ngày mà quý cô tại Chùa và đặc biệt là quý Bác tại Laatzen cũng như Hannover, Hildesheim về Chùa làm bánh gồm có các Bác như sau: Bác Viên Tuyết, Bác Diệu Hiền khi còn sống, Bác Huệ Ngọc khi còn sống, chị Diệu Hiền, Bác Tăng, Bác Sáu, Bác Diệu Nhụy, Đạo Hữu Thiện Ý, Bác Tám, cô Nguyên Quế, gia đình anh Dũng và Nguyên Hoằng tại Hildesheim, cô Quảng Thái. Họ làm đủ loại bánh, bánh bao, bánh ngọt, bánh xanh, bánh cuốn, bánh bò, bánh da lợn, bánh hạt điều, bánh hạnh nhân, bánh bông lan v.v... ít nhất cũng 30 loại bánh mà tôi không tài nào nhớ hết nổi.

Có một loại bánh đặc biệt gọi là "giò cháo quảy", có lẽ là tiếng Tiều, cũng từ bột mà ra; nhưng cách pha bột và nhồi bột rất khó. Điều đặc biệt là phải chiên làm sao cho nổi. Đó là một nghệ thuật rất cao. Có nhiều người cũng nhồi bột, cũng chiên; nhưng không nổi và ăn dai nhách như kẹo cao-su, như vậy là hỏng rồi, phải nhồi bột khác để làm lại. Lúc cô Hạnh Như còn sống thì cô chuyên đứng chảo dầu cho loại bánh nầy vào những dịp lễ lớn. Bây giờ hình như có chị Tâm Phương thay thế.

Mỗi lần lễ lớn như Phật Đản, Vu Lan, Tết, Rằm Tháng Giêng v.v... có nhiều vị về Chùa cả tuần lễ ngoài những gia đình đã kể trên ra còn có Đạo Hữu Diệu Hương, Đạo Hữu Diệu Tịnh, Đạo Hữu Diệu Thiện, Đạo Hữu Diệu Phước, quý Đạo Hữu tại Aschaffenburg, Frankfurt, Karlsruhe v.v... và v.v... Có thể có cả hằng trăm, hằng ngàn người và với sức nhớ của tôi bây giờ thì không ghi trọn vẹn vào đây được.

Tất cả những loại bánh trái trên đây như tôi đã kể, không phải là một công thức, quý vị khi đọc, chớ làm theo mà hỏng bột hỏng đường. Vì tôi không phải là thầy giáo nữ công gia chánh, nếu quý vị muốn công quả và học hỏi thì về Chùa, quý Cô, quý Bác sẽ truyền nghề lại cho. Tôi chỉ nói lên cái nhìn tổng quát của mình khi thấy cái bánh được thành hình mà thôi, để nhắc nhở những ai khi ăn đến tô bún, nhâm nhi cái bánh ngọt bên chung trà hoặc ly cà-phê thì cũng nên nghĩ đến cái cực khổ của người làm bánh cũng giống như người nông phu chân bùn tay lấm, một nắng hai sương mới đổi lấy được hạt cơm, bát gạo đem về nuôi dưỡng gia đình hay bán ra cho chúng ta dùng vậy. Ở đây họ cũng làm, rất khó nhọc và lao tâm; nhưng không riêng cho ai cả, mà cả tấm lòng và sức lực cho ngôi Chùa chung của mọi người. Ngày nay khi người ta dư dả trong đời sống vật chất, ăn không phải là một nhu cầu nữa, mà còn là một nghệ thuật trong cuộc sống. Người thưởng thức nghệ thuật nầy bằng cách ăn để mà sống chứ không phải sống để mà ăn. Như thế ý nghĩa của nghệ thuật mới được thăng hoa vậy.

Phật Tử đi Chùa mua bánh trái cúng Phật một phần để tạo phước đức cho chính mình, phần khác cũng tạo nguồn vốn cho Chùa, để Chùa có cơ hội trả nợ cho nhà thầu càng sớm chừng nào càng tốt chừng ấy. Công đức nầy thật không nhỏ. Nhân việc viết về bánh trái nhà Chùa mà không nhắc về những vị lo lễ lộc nơi Chánh Điện nhân các lễ lớn quả là điều thiếu sót, nên xin ghi vào đây để cảm tạ thâm ân của những Đạo Hữu và Phật Tử xưa nay đã cộng tác với Chùa vậy.

Trên Chánh Điện phần nhang đăng mỗi khi lễ do Đạo Hữu Quảng Ngộ, Đạo Hữu Minh Tôn, Đạo Hữu Thiện Căn, Bác Hải, Đạo Hữu Viên Tuyết v.v... bây giờ thì có thêm Bác Hoành và một số anh em công quả thiện chí khác và các cô chú trong Chùa. Mỗi lần lễ Tết và Rằm Tháng Giêng độ 8.000 người đi lễ. Phật Đản độ 6.000 người. Vu Lan chừng 5.000 người. Cứ mỗi người chỉ cần đốt một cây nhang thôi là khói đã ngập trời rồi. Huống gì ở đây có những người đốt cả bó. Nhiều người đốt nhiều bó thì Chánh Điện của Chùa Viên Giác không khác gì Lăng Ông Bà Chiểu tại Sài Gòn. Vì vậy mới có người đề nghị là mỗi lần đốt chỉ cần 1 đến 3 cây nhang mà thôi; nhưng nói họ vẫn không nghe, khuyên họ vẫn làm ngơ, có người lại bảo đi Chùa chỉ cốt đốt cho được nén nhang cúng Phật nhưng cũng lại bị cấm. Quả là điều oan ức vô cùng. Bây giờ để cho mọi người đi lễ tự do đốt thì phải có những người đi nhổ nhang đi. Nhang mới cắm, bị nhổ cũng phiền não không ít; nhưng không nhổ thì đã có mấy lần nhang bị cháy phựt lên, mà người thì đông, người chịu trách nhiệm rút chưn nhang không thể nào đến kịp, quả là điều nguy hiểm vô cùng. Vì vậy sau nầy quý vị rút nhang tự chia nhau mỗi vị đứng tại chỗ một bàn thờ để lo phận sự của mình và phòng cháy. Nhưng sự than phiền vẫn không tránh khỏi, không biết phải làm thế nào đây, trừ phi mỗi người tự ý thức rằng, chỉ cần đốt ít nhang lại, lòng mình vẫn không thiếu lễ và người trách nhiệm tại Chùa mới khỏi bị trách móc. Mong lắm thay!!!

Có nhiều vị đề nghị là nên đem những nhang rút ra ấy cắm vào một lư nhang thật lớn phía Thiêu Hương Điện nơi Đức Phật A Di Đà đứng phía trước cửa ra vào; nhưng khổ nỗi không thể nào đi được ra đến đó với số người vào lễ quá đông. Mặc dầu Chánh Điện rất rộng, nhưng khói nhang vẫn mịt mù, bánh trái đầy dẫy, người lễ lạy, xin xăm nhộn nhịp cũng vui; nhưng hơi thiếu trật tự và tinh thần trách nhiệm khi đến chỗ trang nghiêm. Mong rằng quý vị đi Chùa cũng thoải mái, mà người cộng sự tại Chùa cũng đỡ lao tâm thì chúng ta mỗi người nên có một sự ý thức nhỏ. Việc ấy rất quý hóa vô cùng.

Một phần rất tế nhị cũng cần nói ra đây cho một số quý Phật Tử mới đi lễ Chùa, không nên mang đồ mặn như gà, vịt, heo, trứng, nem, chả v.v... lên bàn thờ cúng. Vì cúng Phật phải thanh tịnh, không nên dâng những loại sinh vật ấy, có tính cách hại lòng từ bi, có lẽ các Ngài cũng không chứng giám đâu. Khi sống chư Tăng còn không dùng đến, thì các vị Bồ Tát hay chư Phật làm sao thấy thân thể của chúng sanh bị cưa, chẻ, xẻ, bằm mà vui cho chúng ta, để chứng cho lòng thành ấy?

Ngoài ra có nhiều vị mang rượu và giấy tiền vàng bạc đến Chùa nữa. Đây là điều không nên. Vì lẽ rượu tuy làm bằng gạo nếp; nhưng có chất say làm cho trí tuệ của chúng ta không phát triển được. Trong 5 giới cấm của người Phật Tử tại gia đã cấm dùng rượu, thì chúng ta cũng không nên cúng rượu làm gì. Chư vị thần linh có thể hưởng những thứ ấy; nhưng A La Hán, Phật và Bồ Tát sẽ không dùng đến những vật dụng ấy. Thay vì cúng giấy tiền vàng bạc và rượu, chúng ta nên lấy tiền ấy in kinh ấn tống hay mua bánh, trái, hoa, đèn cầy, nhang, hoặc giả lấy tiền ấy cúng vào việc xây dựng, tu bổ Chùa chiền, giúp đỡ kẻ nghèo khó, tàn tật, việc ấy ích lợi rất nhiều. Kính mong quý vị mới đi Chùa lần đầu cố gắng cộng tác cho vấn đề nầy thì những ngày lễ hội mới trang nghiêm và thanh tịnh. Đúng ra chúng ta chỉ cần dâng các loại hương giới, hương định, hương huệ, hương giải thoát và hương tri kiến lên chư Phật là đủ rồi; nhưng những loại hương thơm nầy chỉ có được, khi biết tu hành và huân tu giới đức. Nếu chưa biết đạo thì khó có được hương nầy, mặc dầu mỗi chúng sanh đều có Phật tánh và với tánh Phật nầy, chúng ta sẽ thành Phật.

Bác Quang Kính pháp danh Viên Mãn cũng đã cộng tác với Chùa trong các lễ lạc về lãnh vực trật tự và đoán xăm hộ cho những người đi dự lễ; nhưng cũng kêu cứu không ngừng, với khói nhang mù mịt như thế thì không thấy chữ đâu mà dò. Bác được tiếng là ngay ruột thẳng lòng cũng rất được việc; nhưng đôi khi cũng bị chạm tự ái vài người. Kính mong quý vị thông cảm cho. Mọi việc Bác thâu nhập được trong các Đại Lễ đều cúng vào Chùa cả, chứ chưa bao giờ lo riêng tư cho chính mình. Bác còn lo trật tự bên ngoài với các lều trại dựng lên bên hông Chùa để buôn bán trong những ngày lễ nữa; nên công việc vất vả vô cùng. Nói mãi một việc cũng nhàm; nhưng không nói vẫn không được, mà nói thì khó vô cùng, chỉ mong rằng những vị về bán đồ nhân các lễ đừng bao giờ bán bánh hoặc đồ ăn mặn là quý hóa vô cùng. Đi��u đó đòi hỏi ở tinh thần ý thức trách nhiệm của mỗi người vậy. Chúng ta không nên chờ Cảnh Sát đến giải quyết, vì việc ấy nó không đẹp mắt chút nào. Mong rằng lời thật nầy không mất lòng những vị đã không nghĩ về chuyện chung mà chỉ lo cho chuyện riêng của mình.

Tại văn phòng Bác Thị Tâm Ngô Văn Phát, là Hội Trưởng Hội Phật Tử Việt Nam Tỵ Nạn tại Đức cũng đã hỗ trợ cho tôi và cho Chùa hơn mười mấy năm nay. Công đức thật khó nghĩ bàn. Những ngày lễ Bác lo tiếp khách, thu, chi, tiếp nhận, điện thoại, liên lạc, ngoại giao v.v... chuyện gì rồi cũng hoàn tất. Cũng có nhiều chuyến đi xa ở Âu Châu, Bác cũng đã tháp tùng với phái đoàn để thăm các Phật sự tại các nước sở tại.

Ngoài ra tại văn phòng có chị Nga, chú Sanh và anh Như Thân là những người cộng tác rất đắc lực cho Chùa và cho tôi suốt mười mấy năm qua chưa có lấy một kỳ nghỉ hè, trừ ngày cuối tuần; mỗi ngày làm việc từ 6 đến 8 tiếng: Nếu không có những vị nầy thì công việc văn phòng, sổ sách chi tiêu, phát hành kinh sách, báo Viên Giác, ấn tống kinh sách, computer v.v... không chạy được, mọi dịch vụ đều do những vị nầy đảm nhiệm với tính cách thiện nguyện. Lịch sử của Chùa Viên Giác phải ghi vào đây những dấu son đậm nét để lại đời sau.

Ông Helmut Hanefeld người đã phụ giảng cho tôi trong những lớp Đức đã ở Chùa hơn 4 năm nay cũng đã chăm sóc cho những người Đức tới học Phật từng miếng ăn, nước uống, từ chỗ sơ cơ thực tập thiền tọa, đến việc đi vào đạo. Quả là những nhịp đập của tim, nhịp thở của buồng phổi vậy.

Frank Sanzenbacher pháp danh Thiện Bình vào ngày 30.10.1996 nầy sẽ xuất gia, sẽ bỏ lại gia đình và tất cả; nhưng Thiện Bình sẽ có tất cả, nếu biết tiếp tục đường tu, tôi sẽ có thêm một người Đức biết rành về phong tục, tập quán, ngôn ngữ tiếng Hoa và tiếng Việt. Đó cũng là một cái phúc, không biết có phải của tôi, hay của người theo tôi học hỏi. Vì tôi có tiếng là khó, học trò cứ bị khảo bài và bị la hoài; nhưng vẫn có nhiều người tìm đến để xin xuất gia và học hỏi. Tôi không tự hào về việc nầy; nhưng những đệ tử của tôi cũng nên tự hỏi rằng đến với Thầy như vậy có học hỏi được gì không? hay chỉ để tập chịu đựng về cái khó tính trong việc tu và việc học của Thầy mình đã dạy dỗ cho?

Ngoài ra một nhà máy in với hai người làm. Đó là Tùng và Thiện Như. Những người đã miệt mài không biết bao nhiêu năm tháng để in những tờ báo thật đẹp, trang trọng gởi đến quý vị. Những người nầy ít được nhắc đến; nhưng trong từng trang sách đã có sự hiện hữu của họ nơi cái nhìn của quý vị. Khi báo in xong chưa hẳn đã rồi, còn bao nhiêu khâu nữa như lựa báo, xấp thành quyển, đóng gáy, cắt và dán địa chỉ, bỏ vào phong bì v.v... chừng ấy công việc phải cần không biết bao nhiêu người và không biết bao nhiêu thì giờ cũng như sự hy sinh cần có để mọi việc được thành tựu. Báo Viên Giác đã ra được 18 năm. Nếu là con người, tức đã trưởng thành, với 18 năm ấy Viên Giác đã có thể tự tin ở mình để góp mặt cho đời và đạo vậy.

Phần trên tôi đã giới thiệu về món ăn vật chất, bánh trái, cơm gạo nhà Chùa; nhưng phần dưới nầy thuộc phạm vi tinh thần, cũng rất cần thiết trong cuộc sống. Nếu trong cuộc đời chúng ta chỉ biết có ăn và ngủ thì nó vô dụng quá, làm sao cho những món ăn nầy nó tiêu thụ được nhanh hơn, để trí óc chúng ta biến thành trí tuệ, cái nhìn, cái hành động cho lợi mình, lợi người. Đó mới chính là con đường của Bồ Tát vậy.

Kể sơ như vậy quả tôi cũng là người có phước so với nhiều người khác. Từ một kẻ nông dân tay bùn chân lấm, đến một sinh viên Tăng nơi hải ngoại, rồi trở thành một người lãnh đạo tinh thần cho Phật Tử tại xứ Đức nầy, quả là điều tôi chưa bao giờ nghĩ tới. Đó là do nhân duyên vậy. Có duyên thì hợp, hết duyên thì tan và tất cả các pháp hữu vi đều do nhân duyên sanh, thì các pháp hữu vi cũng sẽ do nhân duyên mà diệt. Biết thế để không buồn khi bị mất chúng, mà cũng sẽ không quá vui khi được chúng. Vì như trong kinh Kim Cang đã dạy "Phàm sở hữu tướng giai thị hư vọng". Nghĩa là phàm cái gì có hình tướng, cái ấy đều không thật. Vậy là người tu, phải đi tìm cái chân thật, chứ không lẽ cứ sống mãi hoài trong cái đối đãi chăng?

Chùa Viên Giác tại đây do tôi sáng lập và lãnh đạo, đã gần 20 năm có mặt tại xứ Đức nầy. Đây là một thế hệ, một thế hệ đã qua, tóc mình đã bạc, không biết mình có phụ lòng người hay có hoài công dạy bảo của Thầy Tổ, cha mẹ chăng? nên lúc nào cũng phải cố gắng và cố gắng.

Chùa xây xong nhưng nợ ngân hàng, nợ Phật Tử và nợ nhà thầu vẫn chưa xong; nên tôi còn có bổn phận để phải lo chu toàn tất cả, thì ngày nào đó hết nhân duyên với nơi nầy, tôi chỉ còn là người Cố Vấn và tượng trưng cho mọi công việc, có lẽ lúc ấy sau 9 năm nữa, hy vọng sẽ hoàn thành. Năm 1996 tôi đã hoàn trả được gần 400.000 Đức Mã tiền nợ. Trong đó trả cho hãng Mehmel 220.000 Đức Mã. Trả cho Thượng Tọa Minh Tâm 80.000 Đức Mã. Trả cho ông Dr. Meihorst 30.000 Đức Mã. Cho Chùa Khuông Việt ở Na Uy mượn 30.000 Đức Mã. Trả cho ông Dr. Dienemann 12.500 Đức Mã và mấy chục ngàn trả tiền Hội Thiện cho Phật Tử nữa. Tổng cộng là 400.000 Đức Mã. Con số nầy không phải nhỏ. Xin đa tạ tất cả các Phật Tử đã cúng dường cho năm 1996 nầy. Ngoài ra Chùa cũng chi tiêu và điều hành cho mọi hoạt động cho toàn năm chừng 500.000 Đức Mã nữa. Trong số nầy Chính Phủ giúp khoảng 100.000 Đức Mã, còn 400.000 Đức Mã vẫn là số cúng dường định kỳ và bất thường của Phật Tử cũng như các lễ lộc và phát hành bánh trái mà thành.

Có người hỏi tôi rằng:

- Vậy Chùa còn nợ bao nhiêu nữa?

Xin thưa để bà con xa gần rõ:

- Trước đây 5 năm Chùa mượn ngân hàng 700.000 Đức Mã để xây Chùa. Nếu trả liên tục trong 15 năm, cả lời lẫn vốn khoảng 1 triệu 3 đến 1 triệu tư. Năm nầy đã trả đến năm thứ 5 rồi; nhưng chỉ trả tiền lời, chứ vốn chưa trả được đồng vốn nào cả. Mỗi năm trả độ 60.000 Đức Mã; như vậy 5 năm là 300.000 Đức Mã chúng ta đã cho ngân hàng ăn không. Nếu từ nay đến 10 năm còn lại, Chùa có bao nhiêu tiền cứ bỏ vào thêm, ngoài số định kỳ ngân hàng rút lại hằng tháng thì cả tiền lời lẫn tiền vốn càng được thâu ngắn lại, có thể 8 năm, 5 năm hay 3 năm là tùy vào số thâu vào của chúng ta. Việc nầy phải trông đợi vào từng cái bánh xanh và sự góp gió thành bão của quý Phật Tử xa gần.

Có nhiều người hỏi tôi rằng:

- Tại sao và làm thế nào để xây được ngôi Chùa lớn như thế?

Tôi trả lời rằng:

- Thông thường khi làm những việc lớn, người ta quên đi những cái nhỏ; nhưng ở tôi, chính nhờ lưu tâm đến những cái nhỏ ấy mà cái lớn lại thành. Mỗi người đi Chùa nhân lễ Phật Đản hay Vu Lan chỉ cần cúng đồng đều 20 Đức Mã là Chùa sẽ có 100.000 Đức Mã tiền cúng dường. Đó là chưa kể những phụ thu khác; nhưng số nầy đôi khi cũng chênh lệch, rất khó tính.

Vì vậy ngày xưa khi đi mượn tiền ngân hàng, tôi đã bị nhân viên ngân hàng hạch hỏi:

- Ông lấy gì để bảo đảm là số tiền hằng tháng vẫn luôn luôn được cúng dường?

Tôi bảo rằng:

- Điều ấy khó biết thật; nhưng tôi hỏi vặn lại ông chủ ngân hàng rằng:

- Nếu ông bảo vậy thì ngân hàng căn cứ vào đâu để cho khách mượn tiền?

- Ông ta trả lời rằng:

- Căn cứ vào công ăn việc làm và lương bổng.

Tôi nói tiếp:

- Nhưng nếu người ấy thất nghiệp thì sao? lấy gì để bảo đảm?

Chỉ một câu hỏi có tính cách hỏi lại người quyền lực như thế, trong một tuần sau ông ta đồng ý cho tôi mượn tiền và cười xòa nói với tôi rằng:

- Đúng là Thầy có lý.

Và cái có lý ấy cũng đã được bảo đảm qua 5 năm rồi chưa bao giờ trả gián đoạn một tháng nào của ngân hàng cả. Đúng là Phật Pháp nhiệm mầu.

Nợ của ông Mehmel hãng thầu có đạo đức, còn khoảng 1 triệu tư nữa. Nếu mỗi năm trả 200.000 Đức Mã thì chừng 7 năm nữa là xong. Nợ Phật Tử còn độ 150.000 Đức mã nữa và nợ các Chùa cũng chừng 150.000 Đức Mã nữa. Vị chi là 1 triệu 7 nhất định và linh động giữa 700.000 Đức Mã đến 1 triệu 2 của ngân hàng do tiền lãi suất mà thành. Vậy chúng ta có thể tính chung là còn nợ 2 triệu rưỡi nữa. Nếu trong 9 năm nữa, mỗi năm sự đóng góp của Phật Tử không thay đổi mà có đà tăng như năm 1996 thì thời gian có thể ngắn hơn lại như dự định.

Thỉnh thoảng tôi làm một số thống kê cho quý Phật Tử rõ. Nhiều vị không am tường thì nghĩ là Chùa bây giờ khỏe rồi, nên hơi lơ là. Kính mong quý vị tiếp tục hỗ trợ cho. Nếu không có sự đóng góp đều đặn của quý vị hằng tháng và trong các lễ lộc, chắc rằng tôi cũng phải bó tay thôi. Cứ mỗi 3 năm Chùa phải tường trình sổ tài chánh cho Bộ Tài Chánh một lần để được tiếp tục hoạt động với tư cách là một Hội Từ Thiện bất vụ lợi và mỗi năm phải tường trình cho Bộ Nội Vụ Liên Bang về những hoạt động Phật sự của Chùa, nên đây có lẽ cũng là một cơ hội để điểm sách cho quý vị tường tri và chính quý vị cũng sẽ biết được rằng sự đóng góp của mình tạo được lợi ích cho nhiều người, ngoài cái phước đức vô hình khó thấy mà mình có được.

Viết đến đây tôi xin cảm ơn tất cả quý Phật Tử xa gần đây đó đã hỗ trợ cho tôi để thành đạt ngôi Chùa Viên Giác như ngày hôm nay, với một giá trị vật chất độ 9 triệu Đức Mã; tương đương với 5 triệu rưỡi đô-la Mỹ. Nhưng đây không phải là cứu cánh của cuộc sống, mới chỉ là phương tiện để đi vào cửa đạo mà thôi. Đồng tiền là mồ hôi nước mắt; nhưng chúng ta chỉ nghĩ nó là phương tiện của cuộc sống, chứ không phải là cứu cánh của cuộc đời. Chúng ta hãy khéo léo dùng tiền để phục vụ mọi lợi ích cho cuộc đời; cho đạo pháp và không nên để tiền chi phối mình ở mọi lãnh vực, quả là điều mình còn yếu kém trước thế lực của vô minh.

Người tu sống trong Chùa không phải với mục đích lợi dưỡng cho cá nhân mình, nên mỗi một sự đóng góp của quý Phật Tử phải được xử dụng cho đúng nghĩa, thì đó là điều quan trọng hàng đầu, mới đúng với tinh thần giới luật của Đức Phật đã chế vậy.

Năm nầy Chùa Viên Giác đã mua được một chiếc xe 9 chỗ ngồi để mỗi lần đi xa, chở được nhiều người hơn. Đây cũng là mấy chục ngàn cái bánh xanh của quý Cô, quý Bác công quả tại Chùa mà có được. Có người bắt bánh đã phồng tay, hấp bánh không kịp bán, chiên giò cháo quảy chưa chín đã có người mua v.v... tất cả là những kỷ niệm rất đẹp đã ghi vào lòng dạ tôi, mà chắc rằng mai đây, ở cõi nầy hay nơi nào xa xăm khác, ở tương lai cũng như ở một kiếp kế tiếp nào đó, khi ngoái trông nhìn những Phật sự m��nh đã làm với con tim, khối óc và chỉ một tấm lòng thành mà có được, thì xin chắp tay lên thật cao và nhìn thật sâu vào không gian vô tận ấy để cảm tạ thâm ân của tất cả mọi tấm lòng, đã vì con đường giác ngộ, giải thoát của riêng tôi và của chính quý vị mà đã cộng tác hỗ trợ trong suốt một đoạn đường dài của quá trình sinh tử vậy.

Tôi xin chắp tay nơi đây để nguyện cầu cho quý vị được gội nhuần ân đức trong ánh sáng từ quang của chư Phật.

Viết xong vào lúc 14 giờ ngày 23 tháng 9 năm 1996

trên chuyến bay SQ025 từ Frankfurt hướng

về Singapore để đi tiếp đến Úc.

( Số 95 (Tháng 10.1996)

Công đức của việc xuất gia

Viết về người xuất gia và công đức của việc xuất gia đã được chư Tổ, chư Tăng, các bậc thân giáo sư đã viết ra rất nhiều sách vở và ngay cả Đức Phật, chính Ngài là người đã chế ra giới luật để giúp đỡ cho chư Tăng có cơ hội hành trì, mà đi vào con đường giải thoát nầy.

Hôm nay tôi viết lại về đề tài nầy tưởng cũng không thừa. Vì có nhiều người muốn biết về đời sống của người xuất gia như thế nào? Họ làm gì ở trong chùa? Họ có được tự do hay gò bó? Sự tu và học của họ ra sao? Sự ăn, ngủ và sự hành trì về giáo pháp của Như Lai như thế nào? Nên cảm thấy cần phải viết để cho những người đang và sẽ đi vào con đường nầy đỡ bỡ ngỡ.

Việc xuất gia không phải chỉ có bây giờ, mà ngay từ thời Đức Phật và trước đó nữa đã có. Chính những vị đạo sĩ Bà La Môn đã hướng dẫn Đạo sĩ Cồ Đàm đi vào con đường buông xả ấy. Trong tất cả những hình ảnh về cuộc đời của Đức Phật, có một hình làm cho tôi cảm động nhất và thấy hữu lý nhất đó là hình ảnh uy nghi của Đức Phật, với một thái độ rất dửng dưng, bước đi khoan thai, trong khi đó, một người Công chúa đẹp tuyệt trần, với dung nhan mỹ miều, với vòng vàng xuyến nhẫn đeo khắp thân mình nằm mọp phía sau Ngài và có lúc tôi đã tự cho chua vào bức hình nầy cả tiếng Việt lẫn tiếng Đức – có nghĩa là: xả bỏ tất cả để được tất cả. "Alles verlassen, um alles zu haben". Cuộc đời của Đức Phật, Ngài đã có tất cả; nhưng Ngài đã bỏ tất cả. Khi không còn gì tất cả, trong ý nghĩa không vướng bận nợ thê nhi triền phược, nợ áo cơm của cuộc sống, chính lúc ấy là lúc giải thoát của chính mình. Sự giải thoát có nghĩa là sự cởi trói mọi sự ràng buộc, mà sự ràng buộc ấy chính mình đã tự buộc ràng trong vô lượng kiếp; kể từ đây, cuộc sống của người xuất gia là cuộc sống trong một phương trời cao rộng.

Gần đây tại chùa Viên Giác có mấy chú mới xuất gia, mà mỗi người có một hoàn cảnh khác nhau. Có chú thì được cha mẹ cho xuất gia hẳn hòi, có chú thì phải tranh đấu nhiều lắm với gia đình mới được toại nguyện. Có chú thì gia đình vẫn cho, nhưng cũng vừa không cho. Tôi nêu ra ba trường hợp tiêu biểu như vậy thôi, nhưng trên thực tế thì có nhiều trường hợp khác nhau nữa.

Trường hợp thứ nhất là trường hợp rất hy hữu. Nghĩa là cha mẹ bằng lòng cho con xuất gia và người con cũng có ý xuất gia tu học. Đây quả là một nhân duyên thù thắng, vì giữa cha mẹ và con cái đã có duyên lành với Phật pháp từ nhiều đời nhiều kiếp rồi. Nên kiếp nầy mới dám sẵn sàng cắt đứt núm ruột của mình để hiến dâng con mình cho đời và cho đạo. Trong trường hợp nầy gọi là thuận duyên. Nhưng cũng có lúc cha mẹ thích cho con đi tu học, nhưng người con không có ý xuất trần làm thượng sĩ thì cũng đành hẹn kiếp lai sinh vậy thôi.

Trường hợp thứ hai khó khăn hơn nhiều. Nghĩa là chính quý chú có tâm cầu đạo, xuất gia tu học, nhưng gia đình khăng khăng từ chối. Việc này cũng không dễ chút nào, nhưng phải đòi hỏi ở người có tâm tu học, có một ý chí thật kiên cường mới có thể chinh phục được gia đình. Việc chinh phục nầy có thể thực hiện bằng nhiều cách khác nhau, như ăn chay nhiều ngày hơn thường lệ tại gia đình, để chứng tỏ cho cha mẹ và anh chị em thấy rằng mình đã quyết. Nếu làm vậy mà thấy cũng chưa có kết quả thì hãy đi chùa nhiều hơn ngoài giờ đi học ở trường để tạo thêm tăng thượng duyên trong sự xuất gia của mình. Phải thực hiện việc nầy liên tục trong nhiều năm tháng mới có thể chinh phục gia đình được. Mà đây cũng chính là thời gian để thử thách mình có còn đủ can đảm để bảo vệ ý muốn của mình nữa không?

Cha mẹ hoặc anh chị em có thể nêu ra rất nhiều lý do để làm sao cho mình nản chí và nản lòng; nhưng hãy nhìn kỹ lại cuộc đời của Đức Phật, Ngài cũng đã làm đủ mọi bổn phận, nhưng nào có được vua cha chiều ý theo. Nên cuối cùng Ngài phải vượt thành tìm đạo là vậy. Trong lịch sử Phật Giáo thế giới như Ấn Độ, Trung Hoa, Tích Lan, Thái Lan, Việt Nam, Nhật Bản thuở xa xưa, Đại Hàn, Đài Loan v.v... không thiếu những hình ảnh nầy. Mà phải nói rằng đại đa số chư vị xuất gia tiền bối, đương nhiệm hoặc hậu lai cũng đều nằm trong trường hợp nầy cả.

Nếu con đường giải thoát giác ngộ là độc lộ trường thiên với khách lữ hành cô độc trong phương trời cao rộng ấy, thì đó chính là nẻo về thênh thang của ý thức, của sự tu học sau nầy. Một chút gắn bó tình cảm cá nhân, gia đình và xã hội mà mình không vứt bỏ được thì làm sao vứt bỏ được tham, sân, si, nghiệp chướng của mình để đi vào cõi tĩnh lặng của tâm linh?

Trường hợp thứ ba cũng thường hay xảy ra nơi thiền môn lắm. Có nghĩa là người có tâm muốn xuất gia khi thì tinh tấn dũng mãnh nhưng cũng có lúc bị chùn tâm xuống, có lẽ vì nhiều lý do khác nhau trong khi chuẩn bị tư tưởng cho một cuộc sống xuất gia trọn vẹn. Có thể bị thử thách của gia đình làm mình khó khăn chọn lựa giữa Đạo và Đời. Nhưng cũng có thể khi v��o chùa thấy nhiều cảnh trái ý nghịch lòng trong khi chuẩn bị phát tâm xuất gia, nên lại thối chí. Loại người nầy là loại người tương đối thôi. Không phải là người có nghị lực mạnh. Tuy nhiên, nếu được hướng dẫn trong một môi trường tốt đẹp thì bồ đề tâm - tâm giác ngộ, tâm hiểu mình và hiểu người sẽ được phát triển thuận chiều, nhưng cũng dễ bị nghịch cảnh làm chán nản, dễ buông xuôi khi có vấn đề gì khó khăn trong cuộc sống xuất gia của mình.

Tôi nêu lên ba trường hợp đó là ba trường hợp có thật tại chùa Viên Giác, nơi tôi đang trụ trì và hướng dẫn tăng chúng tu học, mà cũng có nghĩa là ở rất nhiều chùa trên thế giới nầy cũng xảy ra tương tự như vậy đó. Dưới mắt tôi, trong ba trường hợp ấy đều đáng được độ hết. Vì sao? Vì chính họ là những người đã tự nguyện phát tâm sống cuộc đời tỉnh thức, làm lợi cho mình và cho cả tha nhân. Nếu ở tại gia cũng chỉ có thể làm lợi cho vài người trong gia đình; nhưng nhiều khi lại gây ra nhiều oan khiên nghiệp chướng nữa là đằng khác. Yêu thương đâu không thấy, mà chỉ thấy hận thù. Lợi lạc đâu không có, mà chỉ thấy bị sống chung chịu đựng cái phiền muộn với nhau. Quả là địa ngục, nhưng nào ai có lối thoát thân, để cứu mình và cứu tha nhân nữa?

Người xuất gia có cái sơ tâm lúc ban đầu rất vững, vì vậy trong thời gian tu học hãy tự trở về lại với mình trong lời nguyện ban đầu để được an ủi nhiều hơn. Lời nguyện ban đầu là lời thệ nguyện thoát ly gia đình để xuất ly sanh tử, thì không vì bất cứ một lý do nào đó trong cuộc sống tu hành mà mình phải trở lại với sự triền phược của thế gian chăng?

Có nhiều người sẽ nghĩ rằng nếu ai cũng đi tu thì thế gian nầy có còn ai đâu mà nối dòng, nối giống. Lo như vậy cũng hơi xa, vì trồng cây cau, cây quít, cây táo vào mỗi thời khác nhau thì hoa quả, trái chín sẽ cho ta khác mùa và khác thời điểm, chứ làm sao có cùng trong một lúc được. Nếu có được như vậy thì cũng tốt chứ có sao đâu? Vì thế giới Ta Bà nầy sẽ thành Tịnh Độ.

Sau khi đã quyết định kỹ càng thì vào chùa xin Thầy, xin Cô để mình được xuất gia tu học. Có nhiều người vẫn bị Thầy, Cô từ chối không nhận cho xuất gia bởi nhiều lý do khác nhau. Nhưng điều ấy phải hiểu vì nhân duyên để khỏi bận lòng. Vì có duyên sẽ thành thầy trò, đệ tử. Nếu thiếu duyên thì đành phải đi tìm nơi khác để thực hiện chí nguyện của mình vậy.

Sau một thời gian thử thách dài ngắn tùy theo mỗi người tại nhà và tại chùa, Thầy Bổn Sư sẽ cho giới tử ấy xuất gia chính thức. Ngày xuất gia là ngày rất quan trọng, đánh dấu một bước rẽ ý nghĩa trong cuộc đời. Nếu người con trai, con gái ở đời, ngày lấy vợ, lấy chồng là ngày quan trọng, thì đối với người xuất gia càng quan trọng hơn như thế nữa. Vì một bên là tự nguyện ký giấy tờ để chịu đựng sự khổ đau với nhau bên cạnh những hạnh phúc rất nhỏ nhoi, mong manh dễ vỡ; còn một bên là bước ra khỏi sự ràng buộc tầm thường của cuộc sống và hướng về một phương trời tự tại giải thoát hơn. Có nhiều người thân sẽ khóc cho người xuất gia khi mái tóc xanh đã đoạn lìa thân thể, nhưng chính kẻ xuất gia sẽ mãn nguyện, mỉm cười. Vì ít ra chính mình đã chiến thắng được mình trên hành trình thiên lý ấy. Đó là tâm trạng chung của những người tự chọn con đường thoát ly ấy.

Ngày xưa khi xuống tóc hay bây giờ khi tôi làm lễ xuống tóc cho các chú và các cô tại chùa, có hai bài kệ rất hay, đọc lên nguyên văn bằng chữ Hán rất cảm động. Đầu tiên là bài như vầy:

Thiện tại thiện nam nữ

Năng liễu thế vô thường

Khí tục thú Nê Hoàn

Công đức nan tư nghì.

Nếu dịch ra tiếng Việt, có thể dịch từ chữ như sau:

Lành thay kẻ thiện nam

Hãy biết đời vô thường

Bỏ tục vui Niết Bàn

Công đức khó nghĩ lường.

Tuy nghĩa rất thoát đó, nhưng đọc lên âm điệu vẫn không hùng tráng như chữ Hán, khi chư Tăng hộ giới trong ngày xuất gia cử giọng tụng lên bài nầy.

Bài kệ nầy ý nói: vì biết được bản chất của cuộc đời là vô thường nên mới xin xuất gia học đạo, khi đã được vào cửa giải thoát, có nghĩa là bỏ hết lại những niềm vui tạm bợ của thế gian. Cái gì của trần thế hãy trả về cho trần thế. Ơn nghĩa của mẹ cha xin gởi lại mẹ cha, để một mình mình thong dong trong cuộc sống tự tại ấy. Bản chất của cuộc đời là vô thường, ai cũng hiểu điều đó, nhưng chấp nhận nó và tự cởi trói nó, rất ít người đủ khả năng và tự lực để làm được việc nầy. Thật sự ra việc làm nầy không khó mà cũng không dễ. Nếu khó quá thì đã không có người đi tới đích, nếu nói dễ quá thì mọi người đã thực hiện hết rồi. Ăn thua nơi mình có hạ thủ công phu để chiến thắng mọi khổ đau, phiền não, tục lụy hay không. Đó mới là điều đáng nói.

Bài thứ hai có vẻ hùng tráng hơn. Khi tụng lên bài nầy người được xuất gia và kẻ dự phần xuất gia, cảm nhận như quả đất cũng chấn động. Bài kệ ấy như sau:

Hủy mình thủ chí tiết

Cát ái từ sở thân

Xuất gia hoằng thánh đạo

Thệ độ nhứt thế nhân.

Dịch sát nghĩa từng chữ bài nầy được hiểu như sau:

Bỏ hình giữ ý chí

Cắt ái xa người thân

Xuất gia hưng việc Thánh

Thệ độ hết mọi người.

Đọc câu văn tiếng Việt tôi cảm thấy vẫn không ưng ý chút nào. Dầu cho bài kệ ấy đã dịch thoát chữ và thoát nghĩa như vậy.

Tại sao người xuất gia phải hủy hình? Hủy hình không có nghĩa là giết mình hay làm cho thân thể của mình tiều tụy đi trong khi tu hành. Mà hủy hình có nghĩa là lâu nay sống với phấn son giả tạo, với quyền thế tạm bợ của thế gian, với sự ăn mặc trau chải bề ngoài nhưng không để ý về nội tâm. Giờ đây đã được xuất gia phải luôn luôn giữ ý chí của mình. Ý chí ấy là ý chí gì? Đó là ý chí xuất trần thượng sĩ. Thượng sĩ được hiểu ở đây là kẻ làm lợi cho cả mình lẫn cho người khác, gọi là Thượng sĩ. Người mà chỉ làm lợi cho mình, không làm lợi cho người gọi là Hạ sĩ. Người chỉ ưa làm lợi cho người, không làm lợi cho mình gọi là Trung sĩ. Ở đây Thượng, Trung, Hạ được chia ra làm ba bậc như thế để đánh dấu bước đường tu.

Ở đời có hai dây mà cứ ràng buộc mãi, khó thoát được. Đó là dây ái và dây ân. Có người cắt đứt được dây ái thì dây ân còn ràng buộc. Ngược lại có người cắt được dây ân thì dây ái tự cột chặt vào. Hai dây tuy vô hình nhưng rất khó dứt, mà chính nó buộc mọi người vào nhau để hành hạ con người cho khổ sở trên suốt đoạn đường sanh tử luân hồi nầy vậy. Có người chấp nhận nó một cách tự nhiên, thì nó sẽ làm nhiệm vụ quấn chặt. Có người muốn cởi trói, nó lại quấn siết vào cho sự khổ đau và tục lụy lại chồng chất lên nhau. Cha mẹ là những người sinh ra ta nên rất khó từ giã. Vì chúng ta là người Á Châu, không đợi đủ 18 tuổi để được trưởng thành, rồi ra ở riêng như nhiều người Âu Mỹ vẫn làm, mà cha mẹ đối với người Á Đông là nơi nương tựa của con cái, lúc còn thơ cũng như lúc trưởng thành. Những người đi tu phải tự cắt bỏ hai dây nầy. Vì muốn trở thành độ sanh, trong đó có cả cha mẹ mình, thì phải hy sinh những gì nhỏ bé mà mình đang có. Đó là cách đứng đắn nhất để được chấp nhận cái cao rộng hơn.

Kẻ xuất gia là người tuyên dương việc thánh. Đó là những gì? Là những chân lý của sự khổ, nguyên nhân của sự khổ, tìm cách diệt bỏ sự khổ đau và con đường đi đến cảnh giới giải thoát. Đây cũng là bài pháp đầu tiên của Đức Phật sau khi thành đạo đã nói lần đầu tiên cho năm anh em Kiều Trần Như nghe tại thành Ba La Nại, bên cạnh sông Hằng. Con đường Thánh là con đường giải thoát, mà trong bài kệ tụng trong lễ xuất gia của Đức Phật có mấy câu tôi rất tương đắc như sau:

Nơi đánh dấu bước đường lên Thánh

Dừng vó câu thả gánh tang bồng

Gởi lời về tâu trước bệ rồng

Cầu vương phụ dũ lòng trông đợi

Rừng khổ hạnh lần dò bước tới...

Đây là những câu kệ rất Việt Nam, vị nào dịch từ bài nào cũng không đề xuất xứ và tên người dịch. Nhưng khi tụng lên, nghe và thấy rất thâm trầm, đúng với ý nghĩa của việc xuất gia của Đức Phật.

Sau khi đã giác ngộ rồi, người xuất gia có bổn phận phải thực hành con đường Bồ Tát, có nghĩa là phải sống một cuộc sống lợi tha, chứ không phải chỉ sống cho mình, hoặc an ổn nơi núi rừng, vui sâu với Thiền Định. Hay ở vào trong Niết Bàn đại định, mà không tìm cách độ sanh.

Đó là ý nghĩa cao cả nhất và cũng là công đức thù thắng nhất trong việc xuất gia vậy. Ai làm được, người ấy sẽ thong dong tự tại cả một cuộc đời. Nếu ai không đi được trọn vẹn, giống như một người gánh một gánh nặng trên vai, không có khả năng gánh đi tiếp tục nữa. Hãy để gánh xuống, quay về trách nhiệm thế tục cũ ngày xưa, cũng không ai chê cười gì cả. Vì mình không có khả năng đi tiếp nữa, thì không có ai có quyền và nhân danh bất cứ một vấn đề gì để bắt một người không có khả năng để làm một công việc ngoài sức của họ, trừ phi họ phải tự nguyện gánh vác mới đi hết con đường khó khăn ấy được.

Trong thời gian qua có nhiều cô và nhiều chú đến xuất gia với tôi, ít nhất cũng trên dưới 20 người rồi. Sau hơn 10 năm, còn lại độ 16 người, cả Tăng lẫn Ni. Với tôi, ngoài những điều kiện phát tâm xuất gia là điều căn bản nhất để đi vào cửa Đạo, tôi còn đòi hỏi những người xuất gia phải có một trình độ thế học tương đối vững vàng, ít nhất là Tú Tài 2 trở lên đối với giới trẻ. Còn những vị Ưu Bà Di từ 60 tuổi trở đi hay ngay cả Ưu Bà Tắc với tuổi đó, tôi không đòi hỏi một điều gì thêm nữa, ngoại trừ chí nguyện xuất gia và sức khỏe mà thôi.

Có nhiều Thầy không đồng ý về vấn đề nầy, nhưng tôi nghĩ khác. Vì chính mình đã được đi tu và được đi học để trở thành như hôm nay, thì không vì một lý do nào đó, dẫu cho lý do ấy ẩn tàng dưới bất cứ một hình thức nào, cũng không đứng vững được, để không cho quý chú tiếp tục đến trường để học về ngôn ngữ, tôn giáo, giáo dục, triết học v.v... Tôi rất đồng ý là bằng cấp Cử Nhân, Cao Học, Tiến Sĩ không làm nên con người Tăng Sĩ, nhưng nếu Tăng Sĩ mà có thêm chương trình thế học ấy thì vẫn hơn là không có gì trong tay. Ví dụ một cú điện thoại hay một thư gởi tới cho vị trụ trì bằng tiếng Anh, Đức, Pháp, Nhật, Hoa v.v... mà vị Tăng sĩ hay vị trụ trì ấy không đọc được, để phải đi nhờ người này kẻ nọ. Quả là mất thì giờ vô ích. Riêng trường hợp nầy thì không thể dùng trí tuệ của sự tu mà soi sáng rõ chữ nghĩa được, mà phải dùng sự học mới chiến thắng được cái lười biếng học hành của mình. Bằng cấp không mang đến sự giải thoát. Điều ấy đúng. Nhưng sống trong cuộc đời tương đối nầy, phải lấy cái tương đối để đối đãi với nhau trước khi đi đến cái tuyệt đối của vô ngã, vô học, vô sở đắc v.v... Phật, chư Tổ ngày xưa không có mấy người có bằng cấp, nhưng ta không phải là Phật, là Tổ, và thời đại của Đức Phật khác, thời đại của chúng ta khác, đâu có giống nhau để mà so sánh. So sánh một chiều dài hàng tỷ năm ánh sáng, với chiều dài của một cây kim, sợi chỉ, quả là điều đáng trách vô cùng. Bằng cấp với người tu, nó chỉ là phương tiện thôi, chứ không phải là cứu cánh. Cũng như thế ấy, tiền bạc đối với người tu không phải là mục đích sau cùng của cuộc sống, mà nó chỉ là một phương tiện để trao đổi với con người như bao phương tiện khác thôi. Nếu nói bằng cấp cũng không cần đến, chẳng khác nào tụ tập một đám người dốt trong chùa, để kẻ bàng quang thiên hạ bên ngoài nhìn vào, lại có lời thị phi nhơn nghĩa, đúng là bọn họ đó! Không có công ăn việc làm, không bằng cấp, bị đời bạc đãi nên mới tìm vào chùa để nương náu, kiếm sống qua ngày, nương nhờ vào hạt cơm của đàn na thí chủ. Không! Trăm lần không và vạn lần không, vì cuộc sống của người Tăng sĩ ở trong chùa không phải là một cuộc sống lợi dưỡng, mà là một cuộc sống lúc nào cũng phải tự giác, chiến thắng với chính mình trong mỗi sát na và mỗi công việc.

Suốt ngày không thể chỉ ngồi để ăn cơm trong một hai tiếng đồng hồ mới xong bữa cơm, dẫu cho là một cuộc sống của Tăng sĩ đi nữa, phải chia sẻ khó khăn với đồng loại, phải cần có nhiều thì giờ để tỉnh thức trong mọi công việc, chứ không phải ngồi đó để nhơi cơm, trong khi mọi người phải đầu tắt mặt tối, lo cho cái ăn cái mặc, cái dư thừa để cúng dâng vào chùa, cho mình có nhiều thì giờ để nhởn nhơ trong cuộc sống. Chắc hẳn và hẳn nhiên cuộc sống của người xuất gia phải khác như thế, mới theo kịp đà tiến hóa của nhân loại ngày nay.

Học đạo vẫn là điều quan trọng, nên chư Tổ ngày xưa đã chế ra cho người xuất gia trước phải học luật, sau mới học kinh, luận và hai thời công phu chiều sáng hằng ngày cũng là những phương pháp thực hành sự tập trung tư tưởng vào một sự việc nào đó nhứt định. Như khi đi, mình biết mình đang đi. Khi ngồi, mình biết mình ngồi. Khi ngủ, mình biết mình ngủ, khi làm việc biết mình có ý thức trong sự làm việc. Đó là những việc làm căn bản của một người tu tại chùa. Các chú các cô học luật Tỳ Ni, tức là những bài kệ có tính cách cảnh tỉnh trong khi đi, đứng, nằm, ngồi, lễ bái, thực tập thiền tọa v.v... rất bổ ích cho người mới vào Đạo. Đây là con đường chuyển hóa thân tâm của hành giả mới vào cửa chùa rất diệu dụng.

Hai mươi bốn oai nghi của bộ luật sẽ giúp cho các chú các cô về cách hầu Thầy, nói chuyện với khách, khi ở trong phòng, lúc ra đi, khi đến chùa khác, khi tắm rửa, giặt giũ v.v... mỗi động tác đều nhắc nhở người xuất gia phải ý niệm về việc làm của mình. Rồi mười giới của Sa Di là những bờ mé căn bản để ngăn chận lòng mình phải tập sống xa lìa những cám dỗ thường tình của nhân thế. Trong khi đó năm giới căn bản khi còn là Cư sĩ và thêm năm giới phạm hạnh của một người xuất gia nữa. Ngoài ra còn phải học quyển Cảnh Sách của Tổ Qui Sơn là một quyển luật rất hay để nhắc nhở người tu lúc nào cũng phải tự cảnh tỉnh mình về ơn cha mẹ, Thầy, Tổ, ơn đàn na thí chủ v.v... Tất cả những ơn nghĩa đó ta chưa đền đáp được, thì không vì bất cứ một lý do nào đó mà chểnh mảng sự tu hành. Ai đọc đến văn Cảnh Sách nầy của Ngài Qui Sơn cũng phải ứa nước mắt, cũng giống như đọc văn bài "Phát Bồ Đề Tâm" của Ngài Thật Hiền vậy. Ngoài ra hai thời công phu sáng và chiều rất quan trọng. Trước hoặc sau các thời khóa nầy có thể tọa thiền để huân tu chủng tử tối thiện trong việc thực hiện tuệ giác siêu việt trong cuộc sống tu hành. Công phu sáng tập chúng ta huân tu đại định, mà kinh Lăng Nghiêm, nếu không chú tâm sẽ không bao giờ thuộc lòng được, mà không thuộc lòng thì việc xuất gia, thọ giới cũng như giữ mình khó được vẹn toàn. Ngay cả Ngài A Nan còn cần đến thần chú nầy, thì chúng ta thử hỏi dựa vào đâu để không hành trì thời công phu sáng?

Công phu chiều các chú tiểu phải hiện diện đầy đủ nơi chánh điện để thể hiện lòng từ bi đối với tha nhân, cầu nguyện cho những chúng sanh đã thác hóa sớm siêu thoát về cảnh giới an nhàn, không còn ở trong địa ngục lầm than, dầu cho đến địa ngục vô giám đi chăng nữa, cũng sẽ được lợi lạc một phần nào. Trong thời kinh nầy sẽ tụng Kinh Di Đà, Hồng Danh sám hối và Mông Sơn Thí Thực, có nhiều người chủ trương Thiền, nên bỏ luôn Tịnh Độ bài bác Tịnh Độ không còn một lối đi; nhưng những vị ấy đã lầm lớn, dầu cho họ là một Thiền sư hữu danh đi chăng nữa. Ví dụ như thế nầy để được dễ hiểu. Một người dầu tốt nghiệp cao học, tiến sĩ đi chăng nữa nhưng tự mình viết đơn để xin việc làm thì dễ bị từ chối lắm. Có thể bằng nhiều lý do như thiếu kinh nghiệm , vì mới ra trường, hay đó là người ngoại quốc, viết ngoại ngữ chưa thạo v.v... và v.v... Nhưng nếu người sinh viên mới ra trường ấy mà được sự gởi gấm của một ông giám đốc thì chắc chắn sẽ được nhận vào hãng làm ngay. Vậy thì tha lực của ông giám đốc vẫn cần có, trong khi tự lực mình cũng phải cần. Vậy thì đời mạt pháp nầy không thể không cần đến tha lực của Đức Phật A Di Đà mà có thể thành tựu sự giải thoát được mà phải nhớ rằng ngay cả Ngài Văn Thù Phổ Hiền cũng phải nguyện vãng sanh về Tịnh Độ, thì còn ta? Ta nên nương vào đâu? Mười hai vị Tổ Thiền Tông của Trung Hoa đã hơn quá nửa đều nói về Tịnh Độ. Còn Việt Nam chúng ta há không cần đến Tịnh Độ chăng? Hay chỉ có thiền ngồi đó để đếm hơi thở và thực hành chánh niệm trong khi người chết đang cần sự trợ niệm vãng sanh của những người tu?

Các chùa ở Việt Nam còn có thêm thời kinh buổi tối, gọi là thời khóa Tịnh Độ hay tụng Di Đà, đôi khi tụng Phổ Môn cũng rất hay. Vì đây là thì giờ mà các Cư sĩ bận công ăn việc làm ban ngày không có thể tham gia các thời khóa nầy tại tư gia hay tại chùa được. Cũng có nhiều chùa cúng Ng�� nữa. Thời kinh nầy rất ngắn. các chú Tiểu chỉ tụng trong ngày 10 đến 15 phút là xong. Ngày nay ra hải ngoại nhiều chùa chỉ còn tụng thời kinh chiều và sáng. Còn hai thời kia bị giảm đi. Tuy nhiên cũng có nhiều chùa vẫn còn giữ đúng quy củ của Thiền Môn, mỗi ngày 4 đến 6 thời và công phu Thiền Tọa; nên cũng có thể gọi là Thiền Tịnh song tu nữa.

Khi tôi còn ở Việt Nam, từ năm 1968 đến năm 1971, ở tại chùa Hưng Long ở Sàigòn, có Hòa Thượng Thích Pháp Ý trụ trì chùa nầy đã ngoài 70 tuổi, mà mỗi ngày không bao giờ thiếu hai thời tụng kinh cả. Tối và sáng là hai thời căn bản của Ngài. Tăng chúng Ngài cũng bắt buộc thế. Nếu đi công phu chiều thì khỏi đi tối, hoặc ngược lại. Nhưng thời công phu sáng thì không được bỏ. Dẫu cho đó là lý do quan trọng gì đi chăng nữa. Thuở ấy trong những Tăng sinh chúng tôi có người thi tú tài và học tại các Phật Học Viện, bận rộn vô cùng, xin phép Ngài được nghỉ một thời kinh để có thì giờ lo bài vở đi thi. Ngài tán thành. Nhưng nghỉ thời chiều hoặc tối. Còn thời kinh buổi sáng bắt buộc phải đi. Tôi cũng nằm trong trường hợp đó nên mãi đến bây giờ mấy mươi năm ở ngoại quốc rồi, lúc nào thời kinh sáng và thiền tọa nơi chánh điện vẫn không thể thiếu được. Đó là một thói quen cần phải hành trì.

Khi còn ở chùa Hưng Long, Hòa Thượng Pháp Ý đặt ra một cái luật cũng như Tổ Bách Trượng ngày xưa đã đặt ra là, nếu chỉ tụng kinh một thời trong ngày thì chỉ được quyền ăn một lần cơm vào buổi trưa hoặc buổi tối. Nếu tụng hai lần thì được dùng cả hai buổi. Nếu không tụng lần nào thì không được dùng gì cả, còn bữa sáng tại chùa thì không kể, có người ăn, có kẻ phải đi học sớm, nếu tối hôm trước còn cơm nguội thì tự chiên lại để dùng, không ai nói gì cả. Đây cũng là một cái lệ rất hay của chùa Hưng Long, mà nay thì Hòa Thượng đã tịch rồi, không biết có còn giữ lại được như thế chăng? Và Tăng chúng sống lâu ngày nếu không có một quy củ như thế thì đâm sanh ra lười biếng và cái sơ tâm xuất gia lần lần bị lãng quên đi để đắm vào những lợi danh của trần thế, quả thật uổng phí vô cùng. Có người nhờ tiếng tụng kinh hay, nên chỉ rèn luyện cho sõi để chỉ đi cúng đám, có người chuyên ngồi đàn chẩn tế để được nầy nọ, thì đó cũng là những hình ảnh mà làm cho người xuất gia bị giãi đãi hơn lúc ban đầu.

Tụng kinh, niệm Phật, ngồi Thiền mỗi ngày hai buổi mới chỉ là trả nợ áo cơm cho đàn na thí chủ, chứ chưa mang một ý nghĩa độ sanh nào cả, mà còn lười như thế thì làm sao để Bồ Đề Tâm được phát triển và con đường giải thoát vốn đang đi nhưng vẫn còn xa vời vợi. Vì vậy trong bài tựa của kinh Pháp Hoa mỗi lần chúng ta tụng đọc, đều được nhắc nhở rằng: mặc dầu con đang ở trong cảnh thanh tịnh nhưng vẫn thấy không an vui, sống trong cảnh giới giải thoát mà vẫn còn bị ràng buộc... Đó chẳng qua là tại tâm mình chưa vững, phát tâm chưa đúng cách, nên dễ bị sanh tâm nhàm chán như vậy.

Các chú, các cô tại chùa sống phải theo phép lục hòa để đối xử hàng ngày với nhau thì mới khỏi gây phiền toái cho nhau. Vì lẽ cha mẹ, anh chị em có tình thương, gắn bó của gia đình mà vẫn luôn bị kình chống, giận hờn nhau, thì thử hỏi một đoàn thể Tăng Già không quen biết nhau từ trước vào sống chung trong một Chùa, một Tu viện, một Tổ đình, một Phật Học Viện v.v... nếu không có giới luật và phép lục hòa thì không thể nào sống chung được.

Khi sống trong chùa, với sơ tâm xuất gia rất mạnh lúc ban đầu, có thể chiến thắng mọi thử thách như buồn ngủ, vì thức khuya dậy sớm, ăn chay mau đói, Thầy bạn hay rầy rà v.v... nhưng lần lần nếu Bồ Đề Tâm không phát triển mà cứ để cho các phiền não và danh lợi, thế quyền chen lẫn vào, quả là điều đáng tiếc. Đó là chưa kể đến những chuyện tình lẩm cẩm được núp dưới bóng thiền môn ở nhiều hình thức khác nhau như Thầy thương riêng bổn đạo, đệ tử hay ngược lại đệ tử đi quấy nhiễu Thầy. Viết đến đây nhớ lại thời còn đi học tại trường Bồ Đề ở Hội An thời 64-67, trong lứa tuổi hoa niên của nam nữ, các chú, các cô tại chùa trong tỉnh, ngoài việc học tại chùa, còn đi học thêm chương trình thế học ở ngoài đời, điều nầy ắt hẳn cũng đúng với tinh thần ngũ minh của Phật Giáo, có nghĩa là người tu phải thông làu nội điển (nội minh), ngoại điển (ngoại minh), ngôn ngữ (thanh minh), y học (y phương minh), và nghề nghiệp (công xảo minh). Thiết nghĩ ngày xưa chư Tổ cũng không lầm để phải chế ra phương pháp nầy cho người tu hành trì vậy.

Thuở ấy mấy cô con gái 15, 16 tuổi thấy mấy chú học giỏi nên chọc ghẹo, trêu đùa trong cái tình cảm học trò, của đầu tóc mới lú đuôi tôm, kể cũng vui vui, nhưng cũng có nhiều học sinh hiểu đạo nên mới khuyên quý cô rằng: Tụi bây đừng có bậy bạ. Nếu mầy không khuyên được một người đi tu để dứt nợ hồng trần được, thì cũng đừng nên kéo một người đang đi trên con đường thoát tục để về với trần thế. Tội lắm tụi bây ơi! Lời khuyên tuy đơn giản nhưng hàm chứa ý nghĩa rất sâu sắc, chỉ có những người hiểu đạo mới có thể nói được những câu ấy. Khi lớn lên rồi và khi đi làm việc đạo, tôi vẫn nhớ lại những kỷ niệm ngày xưa, khi thời còn Trung Học, cảm thấy vui vui.

Trong luật Phật dạy khi người Tăng sĩ gặp một người nữ bình thường hay một Ni cô gặp một nam Cư sĩ thì phải có ý niệm như vầy mới giữ tròn được ý chí của người xuất gia. Nếu họ hơn mình nhiều tuổi, xem họ như cha hoặc mẹ của mình. Nếu họ hơn mình vài tuổi xem họ như anh hay chị ruột của mình. Nếu họ thua mình vài tuổi hãy xem như em ruột của mình. Nếu họ bằng tuổi mình, hãy xem như anh em ruột song sinh hay bạn bè chí thiết thì những việc không lành ắt phải lánh xa. Ngoài ra trong luật dạy rất kỹ, không tiện viết ra đây cho mọi người đọc, vì nó chỉ có giá trị cho những người đã thế phác xuất gia mà thôi.

Có nhiều người nữ tín đồ vì cảm cái hiền từ, học giỏi của các chú, các Thầy mà nói năng những lời ong bướm, hoặc dụ dỗ ra đời để được cái nầy, cái nọ. Nhiều người tu vì không tự làm chủ được mình nên đã nghe theo ra đời, nhưng khi ra đời rồi, cái hiền từ ấy có được trong chùa, cái học giỏi ấy và tiếng tụng kinh hay ấy, không làm nên được cơm gạo cho đời để nuôi vợ con, nên 100 người ra đời đều khổ cả 100, chỉ trừ vài người có khả năng, hoặc bằng cấp đã học được trong chùa, nhưng so ra với người bình thường khác vẫn không sánh vai kịp. Dĩ nhiên bỏ tu như thế không phải là một tội lỗi, như đã trình bày bên trên, nhưng rất uổng phí cho lời nguyện lúc ban đầu là phải giải thoát cho chính mình và ngay cả tha nhân. Trong những trường hợp tâm bị chùn xuống như thế phải cần nương vào năng lượng tha lực của chúng Tăng, Thầy Tổ rất nhiều, để tâm không bị giao động, mà phải bị nổi trôi theo dòng đời sinh tử. Đức Phật cũng đã có lòng từ mở rộng cửa chùa cho cả người nam lẫn người nữ khi đã ra đời có quyền tái xuất gia lại để tiếp tục con đường Thiệu long thánh chủng, chấn nhiếp ma quân. Điều ấy có nghĩa là làm hưng thịnh hạt giống Thánh. Đó là sự giác ngộ giải thoát và lại tiếp tục con đường tự chiến thắng mình từ bên trong lẫn bên ngoài. Vì thế Đức Phật mới dạy rằng: Chiến thắng muôn quân không bằng tự thắng mình, tự thắng mình mới là chiến công oanh liệt nhất.

Thầy Bổn Sư phải nên thân cận, gần gũi hỏi han và bộc bạch những khó khăn của mình về sự tu, học, tài chánh, tình cảm, thương, ghét, giận, hờn v.v... vì Thầy đã thay thế cho cha mẹ, mà còn hơn thế nữa, vì cả hai phương diện từ vật chất đến tinh thần, người đều lo cho trọn vẹn, thì không thể không sám hối trước Thầy hoặc các vị Hòa Thượng, A Xà Lê để được hướng dẫn kỹ càng. Vì chính cuộc đời của các Ngài cũng đã phải trải qua những cuộc chiến đấu cam go như vậy. Các Ngài đã có kinh nghiệm và cũng sẽ không trách đệ tử của mình tại sao mà gặp khó khăn như vậy. Nếu tất cả những lời khuyên đều không có kết quả, thì lúc ấy được quyền hiểu rằng: Tất cả đều do nghiệp lực và chính đương sự ấy không có khả năng hoán đổi được nghiệp lực của mình. Đây là một sự mất mát to lớn lắm, chắc gì trong đời nầy hay cuộc sống kế tiếp có được tái diễn lại để được làm thân của một bậc Đại Trượng phu chăng?

Ta có tình thương, ta có tâm cứu khổ, ta có khung trời tự do cao rộng thênh thang rộng mở để đi vào cửa ngõ của cảnh giới Niết Bàn thì hãy trân quý nó, giữ gìn nó, đừng cho nó bị băng hoại theo thời gian năm tháng trong sự phát tâm lúc ban đầu.

Người Tăng sĩ phải chọn cho mình một hướng đi đích thực, mà Thầy ta, bạn ta chính là những tha lực rất cần thiết trong cuộc sống tu hành của mình. Nếu thiếu những tha lực nầy là một sự thiếu thốn rất to lớn trong cuộc đời tu hành. Nếu ở chùa mà thiếu sự thông cảm của Thầy, của bạn, thì sự ở chùa ấy tuy đang sống, nhưng lòng mình đã chết. Vì mình không tự làm chủ được mình, không khác nào như chú tiểu Lan ngày nào cũng âm thầm chôn xác bướm của Điệp. Liệu như thế lại có lợi ích gì?

Người Phật Tử đi chùa họ mong mỏi những gì nơi chư Phật, nơi giáo pháp và nơi chư Tăng? Ngược lại chư Tăng sẽ cho cái gì cho người Phật Tử tại gia? Đây là những vấn đề chính mà chúng ta cần phải nghiêm túc đề cập đến.

Người Phật Tử sống có gia đình phải lo săn sóc và chăm nom để gia đình cũng như xã hội được phát triển theo nhu cầu của xã hội. Người Phật Tử mang phần vật chất có được nơi khả năng của mình tự làm ra ấy vào chùa để cúng dường lên chư Tăng, mong chư Tăng nạp thọ, để có nhiều thì giờ lo tu hành, không phải vướng bận với công ăn việc làm, mà tất cả thì giờ dành cho việc tu học giải thoát. Người Phật Tử khi làm như vậy, sẽ được một cái quả hữu lậu ở đời nầy hay đời sau sẽ được giàu có an vui sung sướng. Ngoài ra khi trong gia đình hữu sự, Phật Tử thường hay đến chùa cầu nguyện để cho tâm của họ được an và cầu vào tha lực của chư Phật cũng như chư Tăng, để từ đó họ an tâm trong cuộc sống của một người tại gia.

Dĩ nhiên cũng có rất nhiều vị Cư sĩ tham cứu kinh điển một cách sâu sắc và cũng dành rất nhiều thì giờ để thiền tọa và tụng kinh tại tư gia hay tại chùa; nhưng mục đích của họ không phải là độ sanh, mà lo tự độ.

Như vậy người xuất gia sẽ cho lại người Cư sĩ được những gì? Điều đầu tiên người xuất gia có thể cho người tại gia một sự an lạc nơi nội tâm, mà sự an lạc nầy dầu tốn hết bao nhiêu tiền vẫn không có thể mua ở bất cứ nơi chợ đời của thế gian được. Nó chỉ có nơi những tâm hồn của những kẻ đã biết gạn lọc và tu tỉnh thân tâm. Tiêu biểu là những người xuất gia vậy. Người xuất gia mang hoài bão giải thoát và giác ngộ, nhưng trước khi đi vào sự giải thoát, người xuất gia phải tự mình gạn lọc thân tâm để được an lạc trong cuộc sống thế trần nầy. Mỗi người, mỗi chúng sanh chúng ta khi sinh ra trong đời nầy đều mang theo một nghiệp lực khác nhau và phước đức của mỗi người cũng khác nhau nữa. Có người thì thong dong tự tại trong cuộc sống, mà cũng có lắm người khổ đau tục lụy vẫn còn vây bủa chung quanh mình. Dẫu cho đó là người xuất gia đi chăng nữa, nhưng chính họ phải chọn một lối đi và lối đi ấy phải hợp với khả năng của mình, nhưng không phải ngoài tự độ và độ tha. Sự tự độ, trước tiên phải mang sự an lạc đến cho chính mình, cũng tương tự như tập lái xe hay lái thuyền vậy. Sau khi đã thuần thục tay lái, lúc ấy mới có thể chở mọi người cùng đi chung một chiếc thuyền được. Nếu người thủy thủ vững tay chèo thì mọi người mới an tâm. Nếu chưa vững tay lái mà đã lo chuyên chở cho bao nhiêu người thì người ngồi trên con thuyền ấy chẳng an tâm chút nào. Dầu cho con thuyền đó mang tên là con thuyền giải thoát đi chăng nữa.

Sự an tâm trong từng bước đi, trong từng lời nói, nụ cười, khi tụng kinh, niệm Phật, ngồi thiền, trì chú sẽ là một sức gia trì rất vững chãi và là một trọng lực của chánh định khi đối diện với mọi biến đổi của đời. Đây là một chiếc phao, một cán cân để quân bình cuộc sống tâm linh của người Tăng sĩ và cũng là một chỗ dựa vững chắc cho hàng Cư sĩ tại gia vậy.

Ở trong chùa, người xuất gia có cơ hội thực tập sự an lạc và sẽ cho người Cư sĩ sự an lạc của mình để họ an tâm hơn khi vào cửa đạo vậy. Sự an lạc là một nguồn suối vô biên để dẫn tới tình thương yêu vô tận của loài người cũng như vạn vật. Nếu người Tăng sĩ không có từ và bi tâm thì sẽ không độ thoát được muôn loài. Dưới con mắt hành động và vị tha và phải có lợi cho tha nhân đồng loại, đó mới là cuộc sống chân thật của người Tăng sĩ vậy. Từ và Bi, Hỷ và Xả là bốn đức tính vị tha, cho vui cứu khổ và tạo sự an lạc cho mọi người, tất cả những hành trang nầy, người xuất gia phải trang bị cho thật đầy đủ thì phương tiện độ sanh, đi vào cuộc đời mới mang một ý nghĩa thực tiễn được.

Khi người xuất gia tu tập có nghĩa là người xuất gia huân tu giới đức và giới đức nầy sẽ là một hành trang vi diệu để trang sức cho nội tâm của người xuất gia cũng như sẽ san sẻ cho mọi người ánh sáng trí tuệ ấy. Cái đức là một nhân vô lậu, không dứt mất như cái phước bên nhân hữu lậu, nên có thể truyền đạt mãi cho nhau trên phương diện vật chất cũng như tinh thần cho mọi người để cùng chung cộng hưởng. Cái đức là một sự cảm nhận vô hình; nhưng tâm ta sẽ tiếp thu nó như một luồng điện, một luồng ánh sáng, một sự tồn tại của không khí trong hư không. Tuy vô hình, nhưng thiếu những sự hiện hữu nầy thì con người và vạn vật sẽ không tồn tại được. Có những loại vật chất ta có thể sờ mó được, để tin rằng chúng có hình tướng và từ hình tướng đó, nó sẽ bồi bổ cho thân thể ta để được trưởng thành; nhưng cũng có những món ăn tinh thần như vừa kể, không sờ mó được; nhưng nếu thiếu nó, con người như cây cỏ của nội ngàn...

Tóm lại người xuất gia sẽ sống hài hòa trong cuộc sống của thế trần, giữa chơn đế và tục đế, giữa giải thoát và khổ đau. Giữa tục lụy và thanh cao, giữa con người và vạn hữu để trao truyền cho các thế hệ từ đời nầy đến đời khác, từ nơi nầy đến chốn khác trong phạm vi của mỗi con người, dầu tại gia hay xuất gia cũng cần phải thể hiện qua trong cuộc sống của mình.

Xuất gia là một việc khó làm, nhưng không phải là điều không làm được.Vì đã có biết bao nhiêu vị Tổ sư, bao nhiêu Thánh Tăng, phàm Tăng đã trải qua con đường tu học giải thoát ấy. Vậy nên, chúng ta có thể hiểu rằng ai cũng có thể bắt đầu đi vào con đường ấy cả; nhưng tùy theo mỗi người về sức khỏe, khả năng, điều kiện, thời gian v.v... Nếu biết hướng thượng thì ánh sáng chân lý sẽ rộng mở cho mọi người và mọi loài. Nếu không muốn đi và không muốn đến, thì con đường giác ngộ vẫn còn xa và do đó người xuất gia sẽ không làm được trọn vẹn ý nghĩa cho việc độ mình cũng như độ người.

Ngồi trên máy bay, với trời xanh mây biếc, ý nghĩ chập chùng lúc ẩn lúc hiện nơi nội tâm của mình, như đang đi vào một thế giới của chư Thiên chứ không phải của người trần thế. Xin ghi vội vài dòng để gởi về mặt đất và mong rằng với ý nghĩa an lạc, từ bi sẽ làm lợi lạc cho mọi loài và mọi người trong cuộc sống của người xuất gia đang mang hạt giống giác ngộ và giải thoát ấy đi gieo rắc khắp nơi trên mọi nẻo luân hồi.

Viết xong vào lúc 14 giờ chiều ngày 1 tháng 11 năm 1996,

trên chuyến bay AF346 từ Paris đến Montréal, Canada

( Số 96 (Tháng 12.1996)

Nửa dặm đường

Bầu trời tháng 3 năm nay tại Đức, mặc dầu chưa đến độ lập Xuân; nhưng đã sáng rỡ ra hơn mọi năm. Có lẽ đây là điều đền bù chăng, so với cái lạnh cắt da cắt thịt của tháng 12 năm 1996 vừa rồi. Ở Âu Châu đã có nhiều người chết vì lạnh, mặc dầu vẫn ở trong nhà, vẫn được sưởi ấm. Những ai sinh ra và lớn lên trong xứ lạnh, thường hay trông chờ cái ấm áp. Ngược lại, kẻ nào sinh ra từ vùng nhiệt đới, ít nhất trong đời mình cũng muốn xem cho được một lần tuyết bay. Cho hay đó là sự thật, mà cũng là hai mặt của một cuộc đời.

Đời người được chia ra làm nhiều giai đoạn khác nhau như tuổi ấu thơ, thiếu niên, thanh niên, trung niên và lão niên. Ai rồi cũng phải đi qua những chặng đường ấy cả. Có người đi suốt được một đoạn đường dài năm bảy mươi năm; nhưng cũng có người mới đi chừng vài bước chập chững vào đời đã nửa đường đứt gánh. Dầu cho công danh có rạng rỡ, sức khỏe vẫn còn ở độ trẻ trung; nhưng sự vô thường đến chẳng ai cưỡng lại nổi. Tôi đã chứng kiến biết bao nhiêu cuộc ra đi và bao nhiêu cuộc hội ngộ tao phùng của nhân thế; nên nhiều khi nghĩ lại cảm thấy lời Phật dạy là thậm thâm vi diệu. Đó là 4 chân lý vi diệu, là 8 con đường đưa hành giả vào cảnh giới giải thoát khỏi sự khổ đau tục lụy.

Mỗi năm Chùa Viên Giác tại Hannover tổ chức 3 lễ lớn. Đó là đón Tết và Rằm Tháng Giêng, Lễ Phật Đản và Lễ Vu Lan. Ba lễ nầy hàng ngàn người đã về Chùa tham dự. Mấy năm trước thì Lễ Phật Đản đông hơn Lễ Vu Lan; nhưng bây giờ thì số người tham dự gần bằng nhau. Có thể con số lên đến 5.000 người. Rồi những năm trước đây, mỗi lần Tết đến chỉ năm bảy người, rồi dần dần lên năm bảy trăm người và bây giờ, mỗi năm đón Giao Thừa không dưới 2.000 người. Rồi ngày mồng Một, mồng Hai, mồng Ba và kéo dài cho đến Rằm Tháng Giêng. Có nhiều năm Chùa không tổ chức Rằm Tháng Giêng vào ngày âm lịch; nhưng đã có hằng ngàn người về lễ; nên bây giờ mỗi lần Rằm Tháng Giêng đến, Chùa phải chuẩn bị thật chu đáo, mới cung ứng được mọi nhu cầu cho Phật Tử về Chùa.

Năm nay (1997) từ Tết đến Rằm Tháng Giêng số người đi lễ độ 8.000 người. Đây là số lượng lớn nhất từ trước đến nay chưa từng có. So với người Việt Nam hiện �� tại Đức là 100.000 người, thì số người về Chùa mỗi lễ chưa đến 10%, không phải là con số lớn; nhưng có lẽ Chùa Viên Giác tại Hannover cũng không có khả năng dung chứa nhiều hơn nữa.

Sau những buổi lễ như thế mọi người đều lả người, ai cũng muốn được yên tịnh vài ngày, nhất là những vị lớn tuổi. Tôi cũng không ra khỏi thông lệ ấy. Tuổi đời mỗi ngày mỗi chồng chất, thì sức khỏe con người cũng phải giảm từ từ. Một cỗ xe chạy gần 50 năm rồi, dĩ nhiên phải cần tu sửa máy móc lại. Mới Tết nầy đây tôi lại nghe tin Hòa Thượng Thích Minh Lễ, Viện chủ Chùa Tịnh Tâm viên tịch, với tuổi mới ngoài 60. Hòa Thượng đã xây ngôi chùa Tịnh Tâm gần Paris trong vòng hơn 10 năm trời. Nay đã hoàn bị, thì Hòa Thượng lại ra đi. Để lại bao nhiêu ngỡ ngàng của nhân thế. Ai cũng phải tự hỏi mình rằng: Cuộc đời nó ngắn ngủi thế sao? Rồi một hôm đang dùng sáng, có điện thoại từ Mỹ gọi sang, báo tin Thầy Minh Hạnh, trụ trì chùa Xá Lợi tại Cali viên tịch, mới tuổi ngoài 50. Rồi còn bao nhiêu vị khác bị tật bệnh phải mổ nữa. Thế là những tin tức không vui nó cứ đến mãi với tôi. Chung quanh mình bây giờ còn ai, hay cũng chỉ mình mình. Suốt mấy mươi năm làm việc, hơn nữa đời người ta đã làm được những gì cho mình, cho tha nhân và bằng hữu. Đây có lẽ cũng là thời điểm quý giá nhất để tri thiên mệnh rồi chăng? Có nhiều người rất trẻ nhưng hiểu đạo và sống đạo một cách thuần thục; nhưng cũng có nhiều người rất già chỉ mải mê danh lợi, quên đi nội tâm và con đường mà ai ai cũng phải đến. Ta đang sống cũng có nghĩa là ta đang đi đến chỗ chết. Vì mỗi sát na biến chuyển là mỗi tế bào trong ta hủy diệt, thế giới cũng tan rã dần và đồng thời thế giới cũng cấu tạo lại một mô hình khác. Cái nầy thay đổi, cái kia cũng phải thay đổi để tồn tại và đổi hướng. Nếu ai nắm bắt được ý nghĩa đó, người ấy gọi là hiểu đạo. Kẻ nào cố tình không hiểu, hoặc hiểu một cách lờ mờ, kẻ ấy gọi là người đứng ngoài sự thật, hoặc kẻ chối từ sự thật.

Thế rồi một hôm vào tiết trời tháng ba sau Tết và Rằm Tháng Giêng, tôi có ý mời quý Cô và quý Bác lớn tuổi làm công quả cho chùa trong những ngày lễ, nên có cuộc du ngoạn một ngày. Địa điểm là Vườn Chim tại Walsrode. Nơi đây tôi chưa đến lần nào; nhưng vì nghe nói cảnh đẹp nên có ý đến xem. 25 người trên 3 chiếc xe nhỏ và một xe lớn. Đoàn người vui vẻ ra đi, mặc dầu trời vẫn vần vũ mưa. Cũng chẳng ai biết được rằng sẽ tạnh lúc nào; nhưng ai cũng có một niềm hy vọng, khi đến đó có được một bữa cơm trưa ngon miệng, và nhất là trời đừng mưa để còn đi xem những con chim đang bị nhốt trong lồng nữa. Trên đường đi từ Hannover đến Walsrode mưa càng lúc càng nặng hạt, có lẽ ai cũng rầu, không biết trưa nầy ăn cơm ở đâu đây? Ở trong xe, hay ngoài thảm cỏ thiên nhiên? Phải che dù đi xem hay lại phải về Hannover? Toàn là những câu hỏi khó khăn mà trong đoàn người không ai có thể trả lời cho ai được. Thế rồi cái gì đến nó phải đến. Khi đến nơi, đoàn người xuống xe thì trời tạnh mưa. Sau khi mua vé vào cửa thì mọi người hớn hở đón mừng ánh thái dương chói lọi chung quanh vườn. Sau bữa ăn trưa ngon miệng bằng đủ loại thức ăn, nào cơm vắt, muối mè; nào xôi bắp, bánh mì và các loại bánh trái khác. Thế rồi mọi người túa ra khắp nơi để xem những con vật thiên nhiên đang bị gò ép trong lồng. Chỗ nầy con két, chỗ kia con công, chỗ nọ con bồ câu; thỉnh thoảng lại có những anh chim se sẻ vào ăn ké với những con chim bị nhốt. Cảnh vật nơi đây thật tuyệt vời. Nếu là mùa xuân và mùa hè có lẽ còn đẹp hơn thế nữa. Vì mùa nầy mới chỉ có mấy loài hoa nở. Đi suốt 3 giờ đồng hồ, xem hết một vườn chim rộng cả mấy mẫu đất. Xem hầu hết gần 1.000 loại chim có mặt khắp nơi trên thế giới đã hội tụ về đây, ai nấy đều vui mừng hớn hở ra về. Khi bước vào xe thì trời lại đổ mưa, mây kéo đen nghịt. Ngồi trong xe ai nấy nói cười vồn vã. Nào khen con chim nầy đẹp, con chim kia hiếm. Cơm nầy ngon, bánh nầy lạ v.v... Có người lại nói rằng đoàn người mình có phước nên được trời thương v.v... và v.v... mọi câu chuyện đang nổ dòn tan thì tôi có ý chen vào câu chuyện, nên mọi người lại cố ý lắng nghe. Tôi bảo rằng: Thông thường khi con người tuyệt vọng, khổ đau hay oán trời, trách đất; oán người, giận mình. Đôi khi nản chí, muốn thối lui. Hoặc tự tử, hoặc hủy hoại thân mạng của mình, nhằm kết liễu đời mình cho sớm để được rảnh nợ, rảnh tay. Những người như thế cũng giống như chúng ta khi mai nầy, lúc mới ra đi trời mưa vần vũ, ai cũng rầu; nhưng thế thường là vậy. Hãy bước thêm bước nữa đi. Vì "sau cơn mưa trời lại sáng". Hay "ánh lửa ở cuối đường hầm". Niềm hy vọng không có gì để xấu hổ hết. Sự hy vọng cũng không mất tiền mua. Vì vậy chúng ta nên hy vọng và hãy chấp nhận những khổ đau và xin đừng chạy trốn khỏi khổ đau. Chưa chắc gì đã hết khổ mà sự khổ cứ đeo đuổi theo ta hoài. Trong cuộc sống của chúng ta, ai cũng có vấn đề. Không vấn đề nầy thì vấn đề khác. Không ai tự hào rằng trong suốt cuộc đời mình chưa gặp vấn đề nào cả; nhưng vấn đề của chúng ta là phải tìm cách giải quyết vấn đề, chứ không chạy trốn vấn đề. Vì càng chạy trốn vấn đề thì vấn đề vẫn còn đó chứ vấn đề không mất đi. Vì vậy, là kẻ trí, hay tự xưng là Phật Tử, nên nắm rõ việc nầy, tức là ta biết chấp nhận khổ đau, để tìm cách vượt ra khỏi sự khổ đau.

Trong xe mọi người yên lặng nghe tôi nói, không biết họ có nhận diện được ra chân lý nầy không, chứ riêng tôi, cơn mưa kia, sự tạnh ráo nọ là một bài học cho cuộc sống rất nhiệm mầu, mà hơn nửa đường của cuộc đời, tôi đã nhận chân ra được. Có nhiều người bịnh cứ nằm than thân trách phận và khổ đau giằn vật. Ai đến cũng cầu cứu và gặp gì cũng tin theo; nhưng người bịnh ấy quên một điều là thân bịnh tuy khó chữa nhưng cũng có ngày thuyên giảm; chỉ có tâm bịnh mới là điều đáng nói mà thôi!

Thế nào là tâm bịnh? Đó là bịnh vọng ngoại, cứ nhìn ra bên ngoài mà chẳng nhìn vào tự thân của mình. Người hiểu đạo sẽ tự hiểu rằng: sở dĩ mình bịnh vì mình có thân, mà đã có thân, vì do nghiệp lực cấu tạo thành. Muốn hết bịnh phải sám hối tội lỗi để nghiệp được tiêu trừ. Khi nghiệp hết thì thân và tâm sẽ hết bịnh. Đó là nguyên tắc; nhưng rất ít người thực hành được. Khi nhìn ra ngoài sẽ dễ thấy mặt mày kẻ khác; nhưng khi nhìn vào trong, nó khó khăn vô cùng. Vì phải cần một lực tự chủ rất lớn và hiểu đạo một cách sâu sắc mới thực hành được.

Trên đường đời nhiều người đã từng trải, thì đường đạo cũng vậy thôi. Có nhiều lúc ta đi đến một nơi nào đó, tự nhiên hết đường đi. Lúc ấy cũng tự nhiên sẽ có một lối rẽ phải và một lối rẽ trái. Vì vậy trong kinh Dịch nói rằng: cùng tắc biến, biến tắc thông, thông tắc cửu là vậy. Thông thường cái gì đến cuối cùng, phải thay đổi. Khi thay đổi rồi thì thông suốt, khi thông suốt rồi thì trường cửu. Cứ thế và cứ thế biến đổi mãi cho đến vô cùng. Vì vậy Đạo Phật gọi thế giới nầy có từ vô thỉ và kết cuộc bằng cái vô chung là vậy. Không ai sinh ra trời đất cả, mà trời đất tự sinh tự diệt. Trong kinh Hoa Nghiêm nói: một niệm biến ba ngàn thế giới là vậy và trong ba ngàn thế giới ấy cũng có thể thâu về trong một niệm hay trong một vi trần. Rồi trong vi trần ấy có sự hiện hữu của ba ngàn thế giới lớn nhỏ.

Mỗi người đều có một hay nhiều niềm vui trong cuộc sống. Nhờ đó mà người ta có lý tưởng cũng như mục đích để tin theo. Có người vui bên rượu chè, trai gái, sắc đẹp, cờ bạc. Họ có lý của họ khi làm việc ấy; nhưng niềm vui kia chóng tàn. Vui đó rồi khổ đau. Sung sướng đó rồi tục lụy cũng đó. Có người tìm niềm vui trong công ăn việc làm, nơi mái ấm của gia đình, nơi công sở, nơi hội họp v.v... chính những nơi ấy họ thi thố tài năng của họ. Khi thành công hay thất bại cũng chính là một bài học đích đáng cho cuộc đời; nên họ vui. Có người vui nơi cờ tướng hay đua ngựa, đô vật, thể thao, đá banh, lội nước v.v... đây cũng là những niềm vui của mọi người. Riêng tôi cũng có một niềm vui, đó là uống trà, đọc sách và sống với thiên nhiên. Ngày xưa cụ Nguyễn Khuyến đã khóc cụ Dương Khuê một bài thơ rất dài khi hay tin người bạn tri kỷ của mình đã mất:

"... Rượu ngon không có bạn hiền

Không mua không phải không tiền không mua

Câu thơ nghĩ đắn đo viết được

Viết đưa ai, ai biết mà đưa..."

Bốn câu thơ ấy đã nói lên được tình tri kỷ của bạn bè khi đối ẩm, khi làm thơ, khi xem hát, lúc rạng rỡ công danh khi xuất xử v.v... Riêng tôi thú uống trà có lẽ đã tạo cho tôi nhiều cơ hội trong việc viết lách. Nhiều lúc uống một ngụm trà, thưởng thức hương vị của cỏ cây, tôi thấy mình nhẹ nhõm. Đã nhiều lần uống, đã nhiều lần thưởng thức; nhưng tiếc rằng tôi không có bạn hiền, không có người tri kỷ để trao đổi vấn đề, mà khi uống trà tôi tự nhủ với mình là hãy nhìn vào bên trong đi. Hãy nhìn thật kỹ về bản lai diện mục của mình. Nhìn lại mình thử mình muốn gì, mình có thành thực với chính mình không? Hỏi rồi tự trả lời. Những lúc như thế quả là nhàn hạ và lúc ấy tôi thấy cuộc sống của người Tăng Sĩ đúng là cuộc sống của những phương trời cao rộng; như có lần Vĩnh Hảo đã nói:

Đọc sách là một niềm vui khác mà lúc nhỏ tôi vốn làm biếng hay nhận định không sâu sắc; nên rất ít đọc báo và sách. Không phải vì lý do ngăn cấm của nhà chùa, không được phép đọc những sách có tình cảm, xã hội ngay như sách của Tự Lực Văn Đoàn chẳng hạn, mà còn những sách về giáo dục, văn hóa, ngôn ngữ v.v... tôi cũng ít có thiệm cảm. Nhưng càng ngày càng lớn lên tôi thử làm quen với báo chí và sách vở; nên tôi cần phải đọc. Đọc đủ loại, từ tôn giáo, chính trị, văn hóa, nghệ thuật, biên khảo, nghiên cứu v.v... thấy rất là hay. Sau khi đọc mỗi quyển sách tôi có được nhận xét rằng: đó chính là những tinh túy về quan điểm của người viết. Dầu sách có dở đi chăng nữa, đó cũng là những điều ưng ý nhất của người muốn giới thiệu đến cho người đọc, trong ấy có mình. Vì lẽ ấy tôi không bỏ sót một cuốn sách, một tờ báo nào đã gởi đến chùa cả. Nếu rau quả cho ta trái ngon, quả ngọt; khi chúng ta ăn, phải cảm ơn chúng. Thì ở đây văn chương, sách báo cũng thế. Khi đọc, chúng ta nên cảm ơn người sáng tác ra giá trị tinh thần ấy. Cũng giống như mình cảm ơn con tằm và người dệt vải đã cho ta sợi tơ, sợi chỉ và áo ấm để mặc đấy thôi. Nếu thực phẩn ăn vào làm cho con người no lòng, đỡ đói; thì kiến thức có được từ sách báo cũng là món ăn tinh thần mà ta không thể thiếu được.

Nhờ đọc sách mà tôi biết được chuyện đông tây kim cổ. Nhờ đọc sách mà biết được thuật xử thế của người xưa. Ví dụ như những sách của Nguyễn Hiến Lê hay của cụ Vương Hồng Sển. Mới đây tôi có đọc tác phẩm "Hơn Nửa Đời Hư" của cụ Vương mới biết được rằng hai chữ "lì xì" có nghĩa là "hối lộ". Thế mà lâu nay tôi đã dùng chữ ấy hoài; nhưng đâu có hiểu như vậy được. Nhiều cách sống, nhiều câu chuyện của nhiều tác giả kể, làm cho mình nhớ lại được một thời xa xưa nào đó. Dĩ nhiên câu chuyện của họ kể không nhất thiết hoàn toàn phải đúng hết; nhưng dẫu sao, trên phương diện ngôn ngữ, nó cũng chuyển đạt được phần nào một số tư tưởng chính cho người đọc hiểu, mà người viết cần trao truyền kiến thức của mình cho kẻ khác hiểu biết thêm về một sự kiện.

Mỗi ngày đôi khi tôi đọc nhiều loại sách khác nhau. Nếu là sách hay, tôi có thể đọc trọn một cuốn mỏng. Nếu sách khó đọc, phải chia ra nhiều ngày để đọc cho xong. Cũng có nhiều cuốn đọc không xong, vì thời gian tính, hay đã bị lãng quên trong những chồng sách cũ ở trong phòng. Sách đã mang lại cho tôi niềm vui. Vì thế không có ngày nào là tôi không đọc sách. Đọc để học hỏi, đọc để hiểu biết và đọc để cho qua thời giờ.

Trong Thư Viện của chùa Viên Giác có hàng mấy ngàn loại sách khác nhau, dĩ nhiên là tôi chưa đọc hết; nhưng hầu hết những sách đáng đọc tôi đã dạo qua. Những pho sách của Đạo như Kinh Hoa Nghiêm 8 quyển dày, Kinh Bát Nhã 3 quyển, Kinh Bảo Tích 12 quyển, Kinh Đại Bát Niết Bàn 2 bộ dày, tôi cũng đã đọc và tụng qua. Đây là những bộ sách khó hiểu; nhưng phải kiên nhẫn. Những bộ Kinh nầy rất đồ sộ; nhưng ít người đọc, gáy không mòn. Ngược lại những bộ kiếm hiệp như: Anh Hùng Xạ Điêu, Thái A Kiếm, Hồng Lâu Mộng v.v... đã làm hấp dẫn nhiều người, gáy sách rách tơi tả; nhưng ngoại trừ tôi, không bao giờ sờ đến ngoại trừ chỉ xem cái tựa, mỗi khi vào Thư Viện. Có lẽ những loại sách nầy sẽ buồn tôi lắm, không biết đến bao giờ tôi mới đọc được những loại sách nầy. Có lẽ phải có một lúc nào đó chăng? Tôi không có thành kiến với loại sách kiếm hiệp hay những loại cờ giải trí; nhưng chưa thấy hay khi đọc chúng hoặc lúc đánh cờ, mặc dầu chữ nghĩa trên bàn cờ tôi biết trọn vẹn. Có lẽ nơi sách kiếm hiệp có quá nhiều nhân vật, nhiều câu chuyện chồng chéo lên nhau nên tôi không thích chăng? Nhiều lúc cũng tự hỏi lòng; nhưng chưa có câu giải đáp.

Thông thường khi đọc sách, tôi đọc mục lục trước nhất, kế đó là lời nói đầu, sau đó mới vào nội dung. Vì lẽ tìm trong mục lục trước, ta sẽ có được cái nhìn tổng quát là ta muốn đọc mục nào trước, cứ vào đề ngay với mục đó. Khi đọc lời nói đầu của Tác giả ta sẽ có được một khái niệm tổng quát về nội dung của cuốn sách muốn nói gì. Nhiều người cầm tới sách có tật là xem hình trước. Hoặc khi đọc sách, gấp sách lại làm đôi, khiến cho ai yêu sách cũng cảm thấy đau lòng được. Khi đọc xong một chương sách hay một quyển sách tôi có thói quen là hồi tưởng lại về nội dung quyển sách họ đã nói gì, nhờ vậy mà sau nầy có dịp đọc lại, nếu là sách nghiên cứu, mình đã biết trước là chuyện gì sẽ xảy ra sau hoặc trước đó. Có nhiều người có thú chơi sách, chơi đồ cổ. Nhưng mua sách cũ về để bán cho có giá về sau cũng như đồ cổ là một việc khác. Người biết quý sách là những người biết thưởng thức nội dung của câu chuyện và hiểu được ý của tác giả muốn nói gì. Sách là niềm vui tri kỷ của tôi đã hơn mấy chục năm nay và hy vọng rằng niềm vui nầy sẽ còn ở mãi lại với tôi, khi mắt mình còn tỏ và ý chí mình còn muốn học hỏi cái hay cái đẹp của người khác.

Đọc sách của Vĩnh Hảo, tức chú tiểu Tâm Quang ngày nào, tôi thấy tuổi thơ của mình cũng đã được dưỡng nuôi nơi chùa chiền, nên rất gần gũi. Những pho sách của Vĩnh Hảo như: Thiên Thần Quét Lá, Phương Trời Cao Rộng, Ngõ Thoát, Cởi Trói v.v... văn chương rất trong sáng, dễ đọc, nhất là lớp thanh thiếu niên được sinh ra và lớn lên nơi hải ngoại. Vì văn cú ấy không cầu kỳ; nhẹ nhàng mà sâu sắc. Cũng là chuyện tình; nhưng rất thơ mộng. Cũng là chuyện đạo, nhưng không có vẻ huyền bí, khó tin.

Một số sách khác của Đời cũng như của Đạo tôi đều có thưởng lãm qua. Đôi khi trong một quyển sách chọn được vài ý hay lấy ra vài câu mà làm tâm đắc. Cũng có nhiều quyển sách đọc xong rồi thấy trống vắng chơ vơ lạ lùng. Có lẽ đây là một thành công của tác giả muốn trao tặng đến người đọc chăng?

Rồi gần đây tôi có nhân duyên đọc được mấy quyển của Hạnh Tấn, Hạnh Nguyện viết và dịch như: Xứ Phật Tình Quê; Uống Lửa Thở Đất; Milarepa v.v... thấy cũng hay hay. Những Thầy nầy là đệ tử của tôi, đang du học tại Ấn Độ. Thế hệ trẻ nầy tuổi ngoài 30 và chưa tới 40. Hai phần ba cuộc đời được giáo dục nơi ngoại quốc; nhưng những nhận định, những biểu lộ, những ước mong cũng rất đơn thuần mà chí lý. Văn vẻ còn mới mẻ; nhưng ý chí thì sâu sắc. Chỉ chừng ấy việc cũng có thể tiến bộ trong tương lai ở nhiều phương diện rồi. Mong rằng thế hệ trẻ nầy sẽ còn tiến xa hơn nữa.

Tôi vốn sinh ra trong một gia đình nông trang nơi xứ Quảng. Lúc nhỏ đã quen với hương đồng cỏ nội, sống mộc mạc nơi thôn dã với cây cối cùng lũy tre làng. Đấy có lẽ cũng là một lý do mà tôi rất trân quý thiên nhiên. Vì vậy mỗi lần đi đâu hay đến đâu có cảnh trí nhà quê, hoặc những nông trại trồng rau trái là tôi có cảm tình ngay. Sống nơi thị thành có nhiều tiện nghi thật; nhưng nó trói buộc con người vào những định kiến nhất định nào đó. Còn nơi thôn quê, cây cỏ là bạn, núi rừng là giao cảm giữa con người và sự vật. Thiên nhiên đó, cảnh vật đây đã làm cho tâm hồn con người phóng khoáng hơn, không sống vị kỷ cho mình nữa, mà hòa mình vào với núi sông cũng như vạn vật.

Có ai đó đi đến những chốn núi đồi vào một buổi sáng mùa xuân có hoa lá nở rộ, có chim chóc ríu rít trên những cành mận cành đào. Hay có người nào đó thưởng ngoạn nơi thôn dã vào một chiều thu, có lá vàng trải khắp lối đi, như vào chốn thiên thai, tuyệt diệu, mà chắc chắn điều nầy chúng ta không thể nào tìm thấy ở chốn thị thành được. Có lẽ đây cũng là cách nghĩ của riêng tôi, cũng có nhiều người ưa thích; nhưng cũng có lắm kẻ chê là quê mùa, dân dã; thế nhưng trong chúng ta ai cũng có một cách sống, một lối suy nghĩ khác nhau. Miễn sao những sự sinh hoạt ấy không ảnh hưởng xấu đến môi trường chung quanh là được. Thật ra những điều tôi nêu bên trên về sự ưa thích uống trà, đọc sách, vui thú thiên nhiên nó chỉ có tính cách cá nhân, không hại cho tập thể và cũng không bị ảnh hưởng chi phối với người chung quanh mình. Đây chẳng phải là lối sống tiêu cực; nhưng là một lối sống nội tâm, đơn thuần. Nếu trau giồi được hoàn bị thì cách uống trà cũng có thể trở thành một trà sư, cách đọc sách sẽ trở thành một người lão luyện và cách vui thú điền viên sẽ trở thành một cách thoát tục nho nhỏ trong chốn bụi trần nầy.

Có nhiều người thích cho người khác một cái gì đó và sống cho người khác lắm chứ. Như cho tình yêu; cho tiền bạc v.v... Nhưng trong tình yêu và tiền bạc chưa hẳn đã tràn đầy những thương yêu và hạnh phúc đâu, mà nhiều lúc trong sự thương yêu ấy vì vị kỷ nên vô tình hay cố ý chúng ta đã cho nhau những hờn giỗi, ghen tuông, đố kỵ rồi đi đến chỗ xa lìa nhau. Cũng chính vì thương yêu nhau ích kỷ cho nên chúng ta tự cho phép với nhau để nói những lời thương yêu nồng thắm và đồng thời chúng ta cũng mạt sát, chửi bới nhau rất thậm tệ, nếu đối tượng của thương yêu không làm giống ý mình. Vì mọi người đều chỉ muốn sống cho mình và rất ích kỷ khi thấy người mình thương không hợp ý. Chúng ta đâu có biết rằng trong mỗi một giây, một phút ở trên thế giới gồm 5 châu lục nầy xảy ra không biết bao nhiêu là chuyện cho 6 tỷ người nầy. Mới đầu thế kỷ thứ 20 nhân loại mới chỉ 3 tỷ. Vào cuối thế kỷ nầy đã vọt lên đến con số gấp đôi. Rồi đến thế kỷ thứ 21 chắc chắn quả đất nầy sẽ quá tải và dân số thế giới sẽ còn tăng lên nữa.

Chúng ta hãy có cái nhìn thoáng về một phương trời của nhân loại, chúng ta sẽ có được một nhận xét rằng, cứ từng giây từng phút đang có người sinh ra và có lắm kẻ chết đi. Có kẻ nắm bắt được hạnh phúc; nhưng đồng thời cũng có nhiều kẻ sa vào tội lỗi. Trong giây phút nầy có kẻ là triệu phú, đến giây phút thứ 2 trở thành kẻ ăn xin hay tù tội. Cũng chính giây phút nầy đây có những giọng hát rất hay được cất lên và cũng chính giây phút nầy đang có những bậc anh hùng cái thế đang hy sinh nơi trận mạc. Ở trong hiện hữu nầy có những bà mẹ thật hiền từ và đồng lúc trong những hiện hữu ở chốn kia có lắm bà mẹ đang thù ghét con cái của mình. Ở trong khoảnh khắc nầy có những con vật trong sở thú có người chăm lo tận tụy từng thức ăn, nước uống; nhưng đồng lúc ở những sa mạc Phi Châu, ở các rừng núi Brazil hay Ấn Độ, Trung Quốc có không biết bao nhiêu con cọp, beo, sư tử đang săn bắt những con nai tơ hiền lành vô tội. Đồng thời nơi nầy có những kẻ tạo tội lỗi ngút ngàn; nhưng cũng có lắm người xuất thế để chỉ làm việc từ thiện. Nhưng thói thường cái ác nó dễ xâm chiếm cái thiện. Dẫu cho cái thiện ấy có lý do tồn tại đi nữa; nhưng rất ít công bằng ở xã hội ô trược của dục giới nầy. Nếu có chăng, chỉ ở những nơi toàn là việc lành như thế giới Cực Lạc của chư Phật và chư vị Bồ Tát. Còn nơi cõi phàm trần nầy, con người càng ngày càng lún sâu vào hố thẳm của tội lỗi.

Có nhiều người bất lực sẽ buông xuôi hai tay và ngay cả ý thức để cho dòng đời cuốn trôi đi đâu thì đi, ngay cả việc đi về nơi vô định đi chăng nữa họ cũng chẳng màng gì. Vì họ không còn sức kháng cự nữa. Nhưng nếu làm như thế chẳng khác nào tiếp tay với tội lỗi và bóng đêm, mà hãy ngưỡng mặt lên với đời, nhìn sâu vào thực tại để chống đỡ những sự thất vọng, sự rã rời của tâm thức và thân thể. Ít ra chúng ta cũng còn được sống để trả nghiệp. Vì sự vay mượn từ nhiều đời nhiều kiếp trước, nó đã trói buộc chúng ta vào lợi danh và tục lụy.

Hơn nửa chặng đường, tôi đã đi và đã đến dĩ nhiên không phải chỉ đầy hoa thơm và mộng đẹp. Nhưng những khó khăn nếu có tôi phải ra sức chống chèo, quyết không lùi bước trước khó khăn trở ngại; nên mới có được ngày hôm nay. Đây không phải là một công trạng gì lớn lao cả, mà trong tất cả chúng ta ai cũng làm được. Tôi quan niệm cuộc sống của người xuất gia hay tại gia cũng giống nhau như cơn mưa và sự tạnh ráo của đất trời, vạn vật thế thôi. Người đi vào cơn mưa, nếu không được hướng dẫn bằng lý trí, sẽ nghĩ rằng trời sẽ mưa hoài nên đâm ra thất vọng não nề. Vì họ không biết rằng: "sau cơn mưa trời lại sáng". Đồng thời chúng ta cũng không nên hờ hững tin rằng mặt trời sẽ tồn tại mãi trong thế gian nầy, mà không có bóng tối phủ vây, để chỉ có niềm hy vọng mà không sẵn sàng chấp nhận sự thất vọng sẽ đến với mình vào bất cứ ở vào thời điểm nào. Bóng tối và ánh sáng cũng giống như tội lỗi và chân lý; cái nầy đến thì cái kia phải đi. Chắc chắn rằng cái nầy sẽ khó nương tựa cái kia để mà tồn tại.

Thế giới ngày nay khổ đau chồng chất và loài người mỗi ngày gặp những cảnh khổ khác nhau. Nếu nhân loại biết nhận chân về sự khổ và cố gắng thoát ra những cảnh khổ tự mình gây nên ngay bây giờ hay những tháng ngày của những kiếp luân hồi sinh tử trước, thì hãy tự thức tỉnh mình để trở về nội tâm, tìm uyên nguyên của sự việc. Đó cũng là cách giải quyết sự sinh tử của đời mình, ngoài việc giải quyết uống ăn, manh áo mặc hằng ngày. Khổ đau thì ai cũng biết, tục lụy thì cũng ít người muốn vào; nhưng có lẽ vì nghiệp lực mà con người không kham nhẫn nổi, nên mới bị dẫn dắt vào những tội lỗi khổ đau. Vậy, điều căn bản là ta phải tự biết ta. Phải tự hỏi lại lòng mình, nên bước ra khỏi sanh tử luân hồi như ra khỏi cơn mưa để đến nơi ánh sáng chân lý. Hay chúng ta chấp nhận mãi đi trong cơn mưa của 6 nẻo luân hồi.


Viết lại những mảnh suy nghĩ vụn vặt nầy chỉ để đánh dấu một đoạn đường đã đi qua và những ngày còn lại trên thế gian nầy, để cho mình cũng như cho mọi người một cái nhìn đơn thuần nào đó trong cuộc sống. Biết đâu trong bài nầy, nếu có được những điều hay, thì quý vị nên áp dụng để hướng nội tâm mình vào một thế giới cao thượng hơn.

Viết xong vào lúc 9 giờ sáng ngày 19 tháng 3 năm 1997,

trên chuyến tàu lửa tốc hành từ München về lại Hannover

( Số 98 (Tháng 4.1997)

Viết về báo Viên Giác số 100

Tôi không nhớ rõ là mình bắt đầu biết viết bài đăng báo và biết đánh máy cũng như làm báo tự thuở nào thì nay không còn nhớ rõ ngày tháng năm; nhưng chắc chắn một điều là, cũng gần một phần tư thế kỷ rồi thì phải. Nếu nói con số 25 năm nghe nó đơn thuần quá, mà nói một phần tư thế kỷ có vẻ như là lâu hơn, có phải vậy không quý vị?

Ngày xưa khi vào chùa đi xuất gia, tôi cũng không nghĩ là mình phải đi học. Rồi cũng không nghĩ là phải đi thi để được đi ngoại quốc. Khi ở ngoại quốc rồi, cũng chẳng nghĩ là phải học cho xong Đại Học. Sau đó đi đến nước Đức nầy cũng chẳng nghĩ là mình phải ở lại nơi đây. Thế mà đã hơn 20 năm trôi qua tại xứ băng giá nầy rồi. Đến đây rồi cũng không nghĩ là phải làm chùa to, thờ Phật lớn, làm báo, viết sách. Thế nhưng tất cả những việc trên đều có thật. Không lẽ tôi không làm chủ được cuộc đời của tôi sao? Không phải vậy, mà tất cả đều do nhân duyên có sẵn, dẫn dắt tôi vào những lối đi đã định trước, nhiều lúc có muốn cưỡng lại cũng không được; nhưng lạy Phật, cho đến ngày nay hầu hết là những duyên lành, chứ không phải duyên xấu ác, cho nên tôi chấp nhận việc nầy một cách đơn giản với hai chữ "vậy sao" rồi tiếp tục lao vào công việc.

Khi ở Nhật, từ năm 1972 khi quý Thầy Việt Nam du học tại đó đông đảo, trong Chi Bộ lúc bấy giờ muốn thực hiện một tờ báo, lấy tên là Khuông Việt. Ban Biên Tập gồm có quý Thầy trong Chi Bộ, mấy số đầu tôi được chỉ định lo phần bài vở cả hai thứ tiếng Việt và Nhật. Do vậy tôi đọc sách, nghiên cứu và thu góp bài vở. Ban đầu phải in bằng loại quay máy cầm tay trên bảng giấy in mực tím tại chùa Bổn Lập (Honryuji) ở Hachioji, Tokyo. Máy chạy không đều, nên mực chỗ rõ chỗ không. Thế mà tôi cũng đã rất vui vẻ khi tác phẩm đầu tay ấy được ra đời. Rồi sau đó cho đánh máy, tôi cũng tập gõ cò cò hai ngón và mãi cho đến bây giờ cũng vậy. Vì chưa đi học một khóa đánh máy nào cả; nhưng phải làm nhiệm vụ nầy. Phần tiếng Nhựt ban đầu nhờ Yamada, người bạn trai học cùng phân khoa giáo dục với tôi tại Đại Học Teikyo viết lên giấy Stencil, sau đó đem in; nhưng sau nầy giao cho nhà in ở gần chùa, họ đánh máy đẹp hơn. Phần tiếng Việt do quý Thầy trình bày, còn phần tiếng Nhựt do người Nhựt đánh máy, sau khi lay out chung vào, đem đi bỏ in. Số lượng lúc bấy giờ rất khiêm nhường, chừng 300 số. Lúc bấy giờ có Thượng Tọa Chơn Thành, Thượng Tọa Nguyên Đạt, Thượng Tọa Minh Tuyền, Thượng Tọa Bảo Lạc, Đại Đức An Thiên, Đại Đức Minh Tuấn, tôi và một số Phật Tử đóng góp bài vở cũng như giúp việc văn phòng như gởi đi, dán tem và địa chỉ v.v... Báo ra đến năm 1977 vẫn còn, khi tôi đi sang Đức thì Thầy Bảo Lạc và Thầy Minh Tuyền đảm nhiệm. Hình như báo ra gần 50 số thì đình bản từ năm 80, 81 thì phải? Vì lẽ quý Thầy du học tại Nhật không còn ai nữa, mà đồng bào Việt Nam tại đó lại ít, nên tài chánh không đủ, do đó phải ngưng việc xuất bản. Rất lấy làm tiếc; nhưng đó cũng là nguyên nhân và cơ hội để tôi biết được, muốn làm một tờ báo phải cần cái gì. Dẫu sao đi nữa tôi cũng phải cảm ơn nước Nhựt, đặc biệt nhất là ngôi chùa Honryuji, nơi đó tôi đã nương náu nhiều năm tháng và ơn ấy chắc suốt đời tôi chẳng bao giờ quên được.

Năm 1977 khi đặt chân đến xứ Đức nầy, tôi đã chẳng nghĩ rằng phải ở lại Đức cho tới ngày nay, mà đúng là nhân duyên đã đưa đẩy, nên rồi phải ở lại đây vậy. Năm đầu tôi ở tại Cư xá Sinh Viên với Trâm ở Kiel. Sau gần một năm học tiếng Đức tại Đại Học Kiel, tôi đã dời về Hannover. Vì nơi đây đã có chỗ học tại Đại Học giáo dục, qua sự giới thiệu của anh Lâm Đăng Châu. Tôi nhớ, năm 1977, 1978 là những năm mà các anh em Sinh Viên ra đi trước 1975 từ Miền Nam Việt Nam, hiện du học tại Đức như: anh Châu, anh Trường, Hưng, Minh, Diệp, Trâm, Đức v.v... của 3 vùng Berlin, Hannover và Kiel thường hay tổ chức những khóa Hội Thảo về tình hình đất nước và Giáo Hội Phật Giáo tại Việt Nam, do đó Thầy Minh Tâm từ Pháp được mời qua, và tôi cũng đã đi dự những buổi lễ cầu nguyện ấy. Trong các anh em Sinh Viên lúc bấy giờ có những người Phật Tử thuần thành như anh Tuấn, chị Cúc, Diệp, Bình, Hoàng, anh Cát, chị Giang, anh chị Phụng v.v... từ đó tôi có thêm một số người liên hệ chặt chẽ về Đạo. Vì v���y ý tưởng thành lập Niệm Phật Đường cũng nảy sinh ra, sau gần một năm tôi quyết định ở lại Đức và không còn về lại Nhật Bản nữa.

Niệm Phật Đường Viên Giác thành lập vào ngày 2 tháng 4 năm 1978 trong hoàn cảnh rất đơn sơ, dưới sự chứng minh của Thượng Tọa Thích Minh Tâm và chừng 20 Phật Tử và Sinh Viên tham dự. Lúc ấy Diệp đã về lo cho Niệm Phật Đường mọi việc từ trên chánh điện, xuống đến nhà bếp. Đây là một người Phật Tử phải nói rằng đa dạng, chuyện gì cũng có thể làm được một cách dễ dàng. Tôi quen Diệp từ đó và lúc ấy là cánh tay mặt của tôi và Vu Lan năm 1978 ấy tôi đã làm lễ quy y đầu tiên trong đời làm tu sĩ và Ngô Ngọc Diệp tôi cho pháp danh là Thị Chơn.

Đến tháng 12 năm 1978 chuyến tàu Hải Hồng đầu tiên đến Đức, bao nhiêu anh em Sinh Viên nghỉ làm, nghỉ học để đi giúp đỡ thông dịch cho họ và tôi là một trong những người ấy. Đây cũng là cơ hội mình giới thiệu Phật Giáo với người địa phương qua các công tác từ thiện xã hội. Qua những công việc làm ấy Chính phủ Cộng Hòa Liên Bang Đức mới có những tài trợ về sau nầy như nhà máy in, giúp in ấn báo chí, sách vở, tiền thuê chùa, lễ lộc, điện nước v.v... Quý vị nào muốn biết thêm chi tiết về vấn đề này, xin xem quyển "Chùa Viên Giác" xuất bản năm 1994 thì sẽ rõ ngọn ngành.

Thầy trò chúng tôi mới bàn nhau phải ra một tờ báo thì bà con Phật Tử mới biết được những sinh hoạt định kỳ và bất thường của mình trong tháng cũng như trong năm. Do vậy tôi lãnh phần lo bài vở và đánh máy và Diệp trang trí. Số đầu ra vào ngày 1 tháng 1 năm 1979 khổ A5 gồm 40 trang. Nội dung rất ư là đơn sơ và bìa hình màu vàng, photocopy một màu đen trắng tại tiệm. Số lượng đâu chừng 200 thì phải. Cứ như vậy lần lượt cho đến tháng 12 năm 1980 chúng tôi ra được 6 số. Đến số 6 nầy có anh Mai Vi Phúc, em ruột Ni Sư Diệu Ân, cộng tác; nên tờ báo có phần khởi sắc, nhất là sau khi có đăng bài "Ngọn Bấc Xoay Chiều" của anh. Số 6 đã tăng lên 80 trang và vẫn giữ khổ A5 và lúc bấy giờ đã mua được một máy in nho nhỏ cũng như máy làm bảng kẽm của Bộ Nội Vụ Đức giúp đỡ và qua sự cố vấn của hãng Orma tại Langenhagen, tôi trở thành người thợ in bất đắc dĩ. Diệp vẫn trang trí cho báo nầy và tờ báo vẫn mang tên là báo Viên Giác.

Ngoài ra chúng tôi cũng cho in 2 tờ báo tiếng Đức khổ A5 năm 1980 lấy tên là Information der Vietnamesischen Buddhistischen Aktivitaeten in Deutschland. Như vậy tổng cả trong 2 năm trường chúng tôi đã ra được 8 số khổ A5 gồm 6 số tiếng Việt và 2 số tiếng Đức.

Đầu năm 1981 chùa Viên Giác, qua sự giúp đỡ của Bộ Nội Vụ Đức, đã dời về đường Eichelkampstr. và nơi đây có phòng ốc rộng, nên chúng tôi đã cho thiết trí một nhà máy in đàng hoàng có đầy đủ máy cắt, máy photocopy, máy làm phim, máy làm hình v.v... tôi vẫn là người đứng máy in và làm phim cho đến năm 1983.

Anh Mai Vi Phúc đã có kinh nghiệm làm báo tại Việt Nam và đã đề nghị với chúng tôi nên đổi báo Viên Giác ra bộ mới, khổ A4, bìa in giấy láng và nên mời nhiều cây bút khác cộng tác để được khởi sắc hơn. Thế là tờ Viên Giác bộ mới số 1 được ra đời vào tháng 2 năm 1981 khổ A4, kể cả trang bìa là 40 trang. Số lượng đâu chừng 500 thì phải. Hầu hết tiền ấn loát và tem thư lúc bấy giờ đều do Bộ Nội Vụ Cộng Hòa Liên Bang Đức tài trợ. Thuở ấy có nhiều cây bút quen thuộc với anh Phúc cộng tác và phần tôi liên hệ với Giáo sư Nguyễn Khắc Kham nguyên là giáo sư trường Đại Học Sư Phạm và Văn Khoa tại Việt Nam, sau đó qua làm giáo sư dạy ngoại ngữ tại Đại Học Đông Kinh, Tokyo. Tôi đã nhờ Giáo sư cung cấp bài vở cho những số báo nầy. Những năm sau đó Giáo sư qua Pháp và cuối cùng định cư ở Aklahoma, Hoa Kỳ, và nghe đâu Giáo sư đã qua đời tại đó. Giáo sư là một nhà học giả rất nổi tiếng về ngôn ngữ học của Việt Nam.

Mỗi lần ra báo, ngoài việc in ấn, đọc bài, đánh máy ra, còn phải viết Thư Tòa Soạn nữa. Thư Tòa Soạn đa phần là do Chủ Nhiệm viết, nên đến nay 100 số bộ mới và 8 số bộ cũ hơn 19 năm qua là 108 Lá Thư của tôi đã viết, gởi đến quý độc giả xa gần. Chừng vài năm nữa, có thể tập trung lại để in thành một quyển sách cũng nên. Mỗi lần nhờ các anh em khác thay thế tôi viết Thư Tòa Soạn thì ai cũng thối thác. Vì ngại rằng khó. Họ bảo viết dài thì dễ; nhưng viết cô đọng một trang rất khó; nên việc nầy tôi lại mãi đèo bồng cho đến nay.

Năm 1981 có một thời gian Ni Sư Diệu Ân khi về ở chùa Viên Giác, có giúp tôi đánh máy một số bài vở cho báo Viên Giác. Phần trang trí vẫn do Thị Chơn Ngô Ngọc Diệp đảm nhiệm, mặc dù Thị Chơn lúc bấy giờ rất bận rộn cho công việc gia đình cũng như hãng xưởng, nhưng cứ hai tháng một lần giúp trình bày báo cho đến năm 1992 thì thôi không còn cộng tác trực tiếp nữa và sau đó anh Như Thân tiếp tục trang trí cho đến nay. Cũng có một thời gian khi anh Nguyễn Đồng và chị Nguyễn Thị Hợp là hai họa sĩ còn ở Đức trước khi sang Hoa Kỳ, cũng đã trình bày cho mấy lần báo Viên Giác cũng như mấy quyển sách của tôi. Số báo mỗi ngày mỗi tăng. Từ năm 1981 mỗi lần ra chỉ 500 số và bây giờ, năm 1997, mỗi lần ra 4.500 số và mỗi số 100 trang, đó là chưa kể số Xuân đặc biệt mỗi năm thường là 200 trang.

Những năm 81, 82, 83, sau khi đánh máy xong Thị Chánh Trương Tấn Lộc dò bài lại dùm tôi và những năm sau đó có Hưng và cho tới bây giờ là anh Dũng. Lỗi chính tả rất quan trọng. Nếu ta không rà soát kỹ trước khi lên khuôn, để in thành một tờ báo, cũng giống như khi chúng ta sinh ra một đứa con mà rủi thay nó bị tật nguyền. Tôi là người giữ nhiệm vụ xem lại sau cùng ấy, không phải về lỗi chính tả nữa, mà về ý tứ của bài viết. Nếu bài nào không ổn, có thể cắt bỏ từng đoạn văn, hoặc giả đôi khi bỏ cả bài viết ấy, để cho tờ báo đi đúng lập trường và ý nghĩa trong sáng hơn.

Năm 1983 hoặc 84 gì đó gia đình Bác Thị Tâm Ngô Văn Phát về định cư g��n chùa, Bác là thân sinh của Thị Chơn Ngô Ngọc Diệp, nên đã giúp đỡ chùa và tôi từ ấy cho đến nay trong nhiều công việc như in ấn báo chí, giao dịch và sau nầy Bác đã đảm nhận nhiều nhiệm kỳ khác nhau với chức vụ Hội Trưởng Hội Phật Tử Việt Nam Tỵ Nạn tại Cộng Hòa Liên Bang Đức. Bác đứng máy in thì tôi đỡ đi một phần, vì lúc bấy giờ việc chùa cũng khá bề bộn rồi. Sau khi in, lại phải sắp báo thành quyển và đóng, cắt. Lúc ấy có Giang, Phấn, cô Hạnh Niệm, anh Quang, chị Hồng, anh Phát và một số anh chị em Phật Tử tại Hannover đến giúp việc để hoàn thành một tờ báo, gởi đi đến quý độc giả xa gần.

Khoảng 1983 trở đi có chị Nga đến làm công quả tại chùa, sau đó lên giúp việc văn phòng và tôi bàn giao lại việc đánh máy báo Viên Giác cho chị từ ấy đến nay. Sau nầy có thêm chú Sanh, phu quân của chị Nga, lo việc đánh máy báo Viên Giác cho đến số 100 nầy. Tôi càng ngày càng rảnh việc nhà máy in và việc đánh máy, do đó có nhiều thì giờ để đi đây đi đó thuyết giảng cho Phật Tử và học hỏi thêm kinh nghiệm. Ban đầu khi tôi còn đứng nhà máy in, nếu ai đó vụng tay đụng vào máy là tôi la ó và không tin tưởng để cho ai đứng in cả. Thế nhưng điều ấy tôi đã lầm. Sau nầy những người như Bác Thị Tâm, rồi đến Hưng, Tú, Hữu, Tiến và các anh em sau nầy như Liêm, Tùng, Binh v.v... khi đứng máy in, thì đẹp hơn tôi thuở ban đầu từ 10 đến 100 lần. Từ đó tôi suy ra việc chùa hay việc gì cũng vậy cả, nên để cho người khác thay thế mình khi thấy đã đến lúc cần thiết, không nên bo bo giữ mãi như vậy. Vì những thế hệ đi sau bao giờ cũng có nhiều thay đổi hơn. Nếu đẹp hơn, mình sẽ cho đi tiếp. Nếu xấu hơn mình sẽ nhảy vào làm tiếp và cố vấn thêm những vấn đề quan trọng cho công việc. Nếu một bụi cây, một nhánh hồng, có đốn, tỉa cành lá, bón phân thì hoa mỗi năm sẽ khác đi. Nếu để nguyên cây hồng đó, thì năm sau sẽ không có hoa hồng đẹp đâu mà ngắm. Đây là một nguyên tắc mà tôi đã chấp nhận ngay từ những năm đầu tiên khi làm việc đạo tại xứ nầy; nên chùa Viên Giác trong tương lai cũng dựa trên cơ sở ấy mà làm việc.

Năm 1984 đến 1992 là những năm tháng mà tờ báo Viên Giác đã bắt đầu vững vàng, có nhiều độc giả và đặc biệt là có nhiều cây bút gạo cội của làng báo Việt Nam tại Hải ngoại lúc bấy giờ cộng tác viết bài như các vị sau đây:

Canada: Đạo Hữu Phạm Thăng, Nguyễn Văn Ba, ông Bảo Vân, Lê Thị Bạch Nga, Ngân Uyển, Vũ Thị Dạ Thảo, Nguyễn Minh Khánh ...

Mỹ: Hòa Thượng Thích Trí Chơn, Bs. Phan Quang Đán, Đoàn Văn Thông, ông Nghiêm Xuân Hồng, Phạm Kim Khánh, Nguyễn Tấn Hưng, Hồng Lan, Thiện Hỷ, Tuệ Nga, Thầy Thích Hạnh Tuấn, Lê Doãn Kim, Tâm Tràng Ngô Trọng Anh, Thái Tú Hạp, Ái Cầm, Thúy Trúc, Nguyễn Việt Nữ, Trần Kim Vy, PT Diệu Thái v.v...

Pháp: Ts. Hương Giang Thái Văn Kiểm, Hồ Trường An, Cư sĩ Đông Phương Mai Lý Cang, Phạm Hoàng Thái, Dr. Trần Đại Sỹ, Vân Nương LNC, Nguyễn Thùy, Nguyễn Phú Thứ, Mạnh Bích, Tô Vũ, Hoài Việt, Huyền Châu, Văn Tấn Phước v.v...

Thụy Sĩ: Bác Thanh Bình, Trần Thị Nhật Hưng v.v...

Hòa Lan: Gs. Lê Văn Quới, Nguyễn Đình Hùng.

Bỉ: Gs. Vũ Ký, ông Nguyễn Ang Ca, Phương Hà, Hoàng Ngọc Quỳnh Giao v.v...

Đan Mạch: Gs. Đặng Văn Nhâm.

Nga: Thiện Mẫn, Thiện Xuân.

Úc: Hoằng Phi Lưu Hoằng Nguyện, Phong Hưng Lưu Nhơn Nghĩa, Ts. Lâm Như Tạng, An Sơn v.v...

Ấn Độ: Thầy Thích Hạnh Tấn, Vô Thức, Thầy Thích Hạnh Nguyện.

Đức: Phù Vân, Vũ Ngọc Long, Bác Thiện Nghĩa Đào Trọng Hiếu, Diệu Huê, Bác Quang Kính, Nhà thơ Huyền Thanh Lữ, Hoài Khê, Bác B. Ph, Bs. Phan Ngọc Minh, anh Đan Hà, Vũ Nam, Huy Giang, Bé Ngọc, Tùy Anh, Phạm Hồng Sáu, chị Hồng Nhiên, KTS. Trần Phong Lưu, chị Quỳnh Hoa, ông Phan Hưng Nhơn, Sư Huynh Hà Đậu Đồng, Người Giám Biên, Giang Phúc Đông Sơn, Trần Văn Tích, Dr. Tôn Thất Hứa, Thiện Hữu Trần Hữu Lộc v.v...

Nếu kể đủ từ cộng tác thường xuyên đến không thường xuyên, chắc Viên Giác có khoảng hơn 100 vị đã, đương và sẽ cộng tác. Nếu tôi nhắc tên tuổi quý vị cộng tác viên có phần thiếu sót, thì xin quý vị cảm thông cho. Vì trí nhớ có giới hạn, chứ không phải không lưu tâm đến quý vị. Xin vô vàn tạ lỗi vậy.

Cũng vì muốn cho tờ báo Viên Giác được phát triển mạnh ở mọi phương diện, nên từ năm 1988 quý anh chị em trong Ban Biên Tập đề nghị là mỗi năm nên họp lại một lần để kiểm điểm những việc quan trọng về nội dung lẫn hình thức mà một tờ báo cần phải có. Có không biết bao nhiêu ý kiến hay được góp vào; nhưng đồng thời cũng đã gặp không biết bao nhiêu khó khăn khi chạm vào tự ái cá nhân của mỗi người trong Ban Biên Tập. Vì vậy vui buồn nghề nghiệp của nhà báo là thế đó. Tất cả chỉ vì cho Đạo và cho cộng đồng, chứ không vì cá nhân của ai cả, nên cuối cùng rồi đâu cũng vào đó và mọi việc lại đề huề sau những bữa dùng cơm chay thân hữu với nhau.

Kể từ những năm sau nầy, quý anh chị em trong Ban Biên Tập Viên Giác chia ra một số mục chính và cử một hoặc hai người có trách nhiệm về mục chính đó đảm nhiệm. Không phải mục nào cũng giao về cho Chủ Nhiệm hoặc Chủ Bút như trước đây nữa. Đó là lý do xác đáng trong vấn đề phân công phân nhiệm cho công việc của mình. Mấy năm đầu Thị Chơn giữ phần Chủ Bút, tôi giữ phần Chủ Nhiệm; nhưng từ năm 1992 khi Thị Chơn nghỉ rồi thì Chủ Bút để trống một thời gian và đến năm 1996 thì bầu anh Nguyên Trí - Phù Vân làm Chủ Bút, kiêm lo luôn mục Vườn Thơ Viên Giác và chọn đăng các bài vở trước khi đánh máy.

Tôi lo vấn đề Tôn Giáo.

Bác Thị Tâm lo vấn đề Thể Thao và Quản Lý Tòa Soạn.

Chú Sanh, chị Nga, anh Như Thân, anh Dũng lo phần đánh máy, trang trí kỹ thuật cũng như lỗi chính tả của tờ báo.

Trang Hoa Phượng và Gia Đình Phật Tử do chị Hồng Nhiên, anh Huy Giang và anh Thiện Căn lo.

Trang y học do chị Quỳnh Hoa lo.

Trang Thời Sự chính trị do anh Phan Ngọc Minh lo.

Trang quảng cáo do anh Như Thân lo.

Đó là những phần chính của tờ báo. Đa số nằm trong phần văn nghệ, nên trước đây anh Phù Vân và anh Vũ Nam rất cực cho vấn đề chăm sóc bài vở nầy. Phần điểm sách do anh Đan Hà lo. Khi bài vở gởi về chùa, chùa phải có bổn phận gởi bài đến những vị có trách nhiệm. Sau khi những vị ấy dò soát xong, lại gởi về chùa. Khâu đánh máy bắt đầu làm việc, sau đó đến khâu dò lỗi chính tả. Sau khi xong đem xuống trang trí. Sau khi trang trí, tôi sẽ dò lại lần cuối cùng trước khi đem đi làm phim và làm bảng kẽm để in. Ngày xưa in chỉ 3 ngày cuối tuần là xong báo. Bây giờ in 10 ngày, mỗi ngày 8 tiếng mà báo vẫn không xong. Nếu máy trục trặc thì không còn tính ngày nữa, cứ chờ thợ đến, sửa xong, sau đó mới in tiếp. Bây giờ Tùng và Binh hai người in thay đổi nhau; nhưng cũng mệt nhoài.

Sau khi in xong là cả một đội ngũ sắp báo, dán tem, đóng dấu địa chỉ, gấp thành quyển, cắt, bỏ vào bì, gởi đi độ chừng 15 đến 20 người nữa. Ngày xưa khi chưa có các anh em Đông Âu sang giúp việc, tôi thường hay động viên quý cô quý chú trong chùa phụ phần nầy. Hoặc đôi khi nhờ quý vị ở Hannover đến phụ giúp như Bác Sáu, Bác Tám, Bác Phong, Nghĩa, ĐH Thiện Lượng, anh chị Quảng Ngộ, anh Quảng Niệm, cô Quảng Thái v.v...

Nếu nói công của một tờ báo không biết bao nhiêu mà kể cho hết. Nếu nhận được những lời khen thì ai cũng vui; nhưng nhận được lời chê thì ai cũng lo và buồn, nhất là khi tờ báo chưa được cải tiến về nội dung cũng như hình thức ở những năm đầu. Ví dụ báo lúc bấy giờ đóng gáy, nhiều khi không kỹ bị sút gáy khi đọc, hoặc lựa không kỹ, khiến bị giấy trắng một hai trang v.v... thế là có nhiều thư gởi về chùa trách móc. Đôi khi báo ra chậm, độc giả nôn nóng quá gởi thư về chùa bảo rằng: Thầy quên con rồi. Sao con có ủng hộ mà không thấy báo? Hoặc giả bài của tôi gởi sao không được đăng mà đăng bài của người khác nhiều lần thế? Chắc Thầy vị nể họ chăng? Rồi thì chữ nhỏ quá, nhỏ hơn con kiến nữa làm sao mà đọc? v.v... và v.v... đại loại là những đóng góp ý kiến và trách móc như thế; nhưng đa phần là được khen, chứ không bị chê thậm tệ như trước nữa. Trước những diễn biến của cuộc đời, trước sự khen chê của nhân thế, tôi phải tập cho mình một quan niệm để sống, một chỗ dừng ổn định của tâm linh, nên thường tôi chỉ nói: thế sao! trong bất cứ hoàn cảnh nào. Được cũng như mất, hơn cũng như thua, buồn cũng như vui để luyện tâm của tôi, nên cố đừng trụ vào một nơi nào hết.

Tôi cũng chưa biết là mình phải làm Chủ Nhiệm tờ báo Viên Giác nầy cho đến bao giờ đây; nhưng nay 108 Lời Tòa Soạn đã viết xong trong 19 năm qua cũng để báo cho tôi và mọi người biết rằng 108 Anh Hùng Lương Sơn Bạc trong truyện Thủy Hử đã thể hiện được 108 pháp tu của Đức Phật rồi và họ đã trở thành những vị A La Hán để cho thế nhân phụng thờ. Còn tôi, phải làm gì đây sau 108 khinh công đã hoạt náo suốt một đoạn đường dài ấy? Nay thì đã đến số 100 rồi. Tuổi thọ 100 đối với người đời thì hiếm lắm. Tờ báo cũng thế, ở ngoại quốc một tờ báo ra đến số 100 và trải qua 19 năm không biết còn được mấy tờ.

Vậy thì nhân bài viết nầy, con xin đội ơn Tam Bảo đã giao phó cho con một trách nhiệm vô hình mà suốt 19 năm qua con đã hiện diện với báo Viên Giác và do ơn đức của Tam Bảo mà con đã làm xong một nhiệm vụ nho nhỏ của mình. Đối với quý vị cộng sự viên, gần cũng như xa, đệ tử cũng như không đệ tử, người Đạo Phật cũng như không phải tín đồ của Đạo Phật, xin thông cảm cho ông Thầy khó tính nầy. Đó là tôi - chỉ vì việc chung mà đôi khi khó khăn với quý vị, cũng mong quý vị hiểu cho và thông cảm cho những sơ sót của một người lãnh đạo khi gặp phải. Sau đó là những độc giả xa gần của Viên Giác. Nếu phải vì sự chủ quan mà có những sai lầm nhất định trên báo, dầu không cố ý đi chăng nữa, cũng kính mong quý vị niệm tình hỷ thứ cho về những sự kiện thiếu sót vụng về nầy. Nếu quý vị hoan hỷ được việc đó, chắc chắn Ban Biên Tập sẽ vui. Dĩ nhiên tờ báo viết ra gởi đến là để cho quý vị tham khảo. Do đó chúng tôi muốn rằng như người xưa đã muốn là: "luôn luôn bán những gì mà người ta thích mua, chứ không bán những gì mà người bán thích bán" cho được. Đây cũng là ý chính của chúng tôi khi phục vụ quý vị. Dĩ nhiên tờ báo Viên Giác đã không là tờ báo thương mại rồi; nhưng nếu không có sự hỗ trợ tiền bạc của quý vị và chính phủ chắc rằng Viên Giác không còn tiếp tục đến ngày nay và mãi mãi về sau nữa. Ơn nầy dẫu thiên thu, chúng tôi không bao giờ quên ơn của quý vị cả.

Nhìn lên kệ sách trong Thư Viện, những quyển báo và những quyển sách đã đóng thành tập đẹp đẽ, từng 2 năm một và để san sát bên nhau, đã làm cho riêng cá nhân tôi có một cái gì đó vui vui, vì ít ra sau nầy nếu có ai đó giở lại những trang báo nầy của bao nhiêu năm tháng về trước, họ cũng có thể tìm lại được một chút gì hữu ích trong đó. Vì người xưa thường nói: Thư trung hữu ngọc. Nghĩa là trong sách có chứa nhiều của quý. Đây không phải là vàng bạc, ngọc ngà, châu báu, mà là những lời hay ý đẹp để mang Đạo vào Đời và chính những ngày tháng năm nầy người Việt Nam ở tại xứ Đức nầy, đã có lần hay chưa có lần đến chùa Viên Giác hoặc đọc báo Viên Giác; nhưng biết đâu ở một thời điểm nào đó, họ sẽ có cơ duyên đọc được và Viên Giác ở đâu cũng mong mỏi mọi người và mọi loài chứng thành quả vị tròn đầy giác ngộ như tâm nguyện mà chùa, tờ báo đã mang đến quý vị bấy lâu nay.

Một lần nữa xin cảm ơn tất cả quý vị cộng sự xa gần; những sự giúp đỡ của quý độc giả dầu hữu danh hay ẩn danh hay bất cứ một hình thức nào đó, những việc nầy là sự động viên rất thiết thực cho việc xuất bản của tờ báo.

Cuối cùng, một lần nữa xin tự nhận những khuyết điểm về mình trên mọi bình diện trong bài viết nầy, nếu có thiếu sót điều gì, cũng mong quý vị hiểu cho rằng đó không phải là điều cố ý.

Xin đếm cho 100 hay 108 hơi thở, xin niệm cho 100 hay 108 câu niệm Phật để Viên Giác vẫn trường cửu với mọi người.

Viết xong vào ngày 28.6.1997 kỷ niệm ngày sinh nhật thứ 49

tại thư phòng chùa Viên Giác Hannover - Đức quốc

( Số 100 (Tháng 8.1997)

Đóa hoa tâm

Hoa là một loài thực vật tượng trưng cho vẻ đẹp của thiên nhiên mà loài người thường hay trân quý, nhất là những loài hoa hồng, hoa cẩm chướng, hoa mẫu đơn, hoa mai, hoa cúc, hoa huệ...

Cũng có rất nhiều người mến hoa, thương hoa nhưng cũng có nhiều người ghen tức với sắc đẹp của hoa; nên bắt hoa phải nở theo lệnh của mình, nếu hoa nào không chịu nở đúng kỳ hạn, sẽ bị đày như Từ Hy Thái Hậu lúc sanh tiền đã xử trí như thế.

Đặc biệt trong các vườn chùa ở Việt Nam hay ở ngoại quốc, nơi nào cũng trồng được một số cây cảnh mang màu sắc quê hương. Lúc chưa xa quê, ai cũng muốn hướng tới một phương trời cao rộng khác, nơi đó có tự do hơn, có cảnh đẹp hơn, giàu có hơn...; nhưng khi cuộc sống đã an ổn rồi, những khi nhàn rỗi, ai trong chúng ta cũng chạnh lòng hoài cổ. Do vậy mà những tập tục cổ truyền, những lễ hội, ngay cả văn hóa của sự ăn uống tại xứ người chúng ta cũng đều muốn mang từ quê hương sang đây. Ví dụ trong một bữa cơm của mỗi gia đình Việt Nam nơi hải ngoại, dầu ở tại Canada, Mỹ, Úc, Nga, Pháp, Đức, Tunésie... lúc nào cũng có rau thơm và những mùi vị khác của quê hương. Cho hay cái tinh thần dân tộc đã ăn sâu vào lòng người là thế.

Tôi đi nhiều nơi, đến nhiều chỗ trên thế giới, chùa Việt cũng như chùa ngoại quốc, trông thấy nơi nào cũng mang một vẻ đẹp hiền hòa, trang nhã, gói ghém văn hóa truyền thống của mỗi dân tộc vào ngôi chùa ấy qua cách kiến trúc, tạo hình và trang trí trong cũng như ngoài chùa.

Bài viết nầy, đặc biệt chỉ lưu ý đến các loài hoa và đi xa hơn nữa là một loại hoa nở không bao giờ tàn. Đó là đóa hoa giác ngộ nơi tâm thức của con người.

Tại sao người ta lại trân quý loài hoa như vậy? Dầu cho đó là loại hoa gì đi nữa, có lẽ câu trả lời đúng nhất phải dành riêng cho từng người một trong chúng ta; nhưng tựu trung, hoa tượng trưng cho vẻ đẹp, thanh cao và hoa vừa có hương lẫn có sắc, làm cho nhiều người ưa thích hơn. Người dầu khó tính đến đâu đi chăng nữa, khi ngắm hoa cũng không thể nào trút giận hờn vào hoa được, ngoại trừ những người có lý do đặc biệt như Từ Hy Thái Hậu.

Các vị Thiền Sư cũng ngắm hoa, văn nhân thi sĩ cũng viết về hoa, vịnh về hoa. Người bình dân cũng thưởng thức hoa. Do vậy mà hoa mang một ý nghĩa rất đa dạng.

Thiền Sư ngắm hoa dưới nhãn quan của người liễu đạo; nên bảo rằng:

"Mạc vị xuân tàn hoa lạc tận

Đình tiền tạc dạ nhất chi mai"

"Đừng bảo xuân tàn hoa rụng hết

Đêm qua sân trước, một cành mai"

Đây cũng là đóa hoa tâm, đóa hoa giác ngộ ở trong mỗi người của chúng ta. Khi đông đến xuân đi, vạn vật đang thay màu đổi sắc. Trong khi đó chỉ còn một đóa hoa mai duy nhất nở một cách muộn màng khi mùa xuân đã trôi qua trong buổi xế chiều của một mùa đẹp nhất trong bốn mùa và đóa hoa ấy cũng đã cố gắng nở ra, như đóa hoa giác ngộ kịp tỉnh thức sau bao nhiêu sự chiến đấu từ nội tâm cho đến ngoại cảnh.

Người xưa có câu:

Người trồng cây hạnh người chơi

Ta trồng cây phước (đức) để đời về sau.

Hoa, dầu là hoa gì đi chăng nữa, có nở, ắt sẽ có ngày tàn. Do vậy mà sắc đẹp nầy không bền bỉ. Qua thời gian phải bị đổi thay. Chỉ có cây phước đức, sẽ trổ hoa nhân nghĩa và giác ngộ, loại hoa nầy sẽ không bao giờ phai sắc, dẫu cho không gian có thay đổi, lòng người có băng hoại đi chăng nữa, thì đóa hoa tâm nầy vẫn luôn luôn hiện hữu ở thế gian nầy trong hai mặt của một cuộc đời.

Trong các vườn chùa tại Việt Nam thường hay trồng những cây hoa sứ, có nơi gọi là hoa đại. Thân cây sần sùi, lá cứng nhưng khi trổ bông màu trắng hay tím có hương thơm ngát cả sân chùa. Ở ngoại quốc ngày nay chẳng thấy nơi nào trồng được. Có lẽ vì khí hậu là vấn đề chính.

Chùa Thi���n Minh tại Lyon, Pháp, nơi Thượng Tọa Thích Tánh Thiệt trụ trì có một vườn hoa trong sân chùa rất tuyệt vời, không thể dùng viết để viết, dùng giấy để tả được, mà ai đó là người Phật Tử, nếu có dịp sang Âu Châu, nên đến đây để thưởng ngoạn một công trình có một không hai tại xứ nầy. Tại đây có đủ loại hoa, nhất là hoa đào Hà Nội và hoa đào Trung Quốc. Mỗi năm cứ vào độ cuối tháng ba đầu tháng tư dương lịch, cả hàng trăm cây hoa đào đủ màu khoe sắc thắm. Màu tím như hoa giấy, màu đào lợt như hoa cẩm chướng, màu bạch ngọc như hoa hải đường. Đặc biệt hoa đào Việt Nam khi trổ hoa, không bao giờ có lá, giống như Sakura của Nhật Bản. Sakura (anh đào) của Nhật Bản cũng rất đẹp; nhưng hoa đào của Nhật có sắc mà chẳng có hương; nên đã nhiều lần, tôi ví người Nhật Bản giống như loại hoa nầy. Hoa đào Nhật có chừng tám cánh, mười cánh hay mười hai cánh là cùng; nhưng hoa đào Việt Nam, đặc biệt là hoa đào Hà Nội và hoa đào Trung Quốc đang khoe sắc thắm tại chùa Thiện Minh, Lyon, Pháp, mỗi đóa hoa có đến hai mươi cánh. Có lúc tôi đếm kỹ hoa đào tại đây đến ba mươi cánh. Nhiều hoa hợp lại khiến cành hoa nặng trĩu những đóa hoa tuyệt mỹ, mà trong đời tôi, đây là lần đầu tiên mới thấy một loài hoa đẹp như thế; mà tại hải ngoại nầy chỉ có thể tìm thấy nơi vườn chùa Thiện Minh ở Pháp mà thôi. Trong vườn chùa nầy có tượng Đức Quan Thế Âm Bồ Tát cao hơn năm thước, tạc bằng đá cẩm thạch nguyên chất từ Ý mang về, sau đó Thượng Tọa Thích Tánh Thiệt cho thếp vàng khiến cho ngôi chùa lung linh thêm nhiều hình ảnh khác nhau, khi khách hành hương về đây lễ Phật và viếng cảnh.

Bên cạnh những đóa hoa đào tuyệt mỹ ấy còn có những đóa mẫu đơn, nở lớn như một loài hoa vương giả ngự trị tại chốn thiền môn nầy. Hoa mẫu đơn cũng có nhiều màu, có hương thơm; nhưng chóng tàn. Duy chỉ có hoa đào mỗi khi nở kéo dài cả một tháng. Nếu không có những cơn gió vô tình đưa đẩy qua, thổi vào trong không gian ấm áp ánh nắng xuân ấy, thì hoa đào hay mẫu đơn còn tồn tại lâu hơn nữa với thời gian của một mùa xuân đẹp đẽ của xứ trời Âu.

Tựa vào các vách đá, những đóa hoa nhỏ li ti như mũi kim, hoặc lớn hơn chút nữa như đầu cây tăm cũng đua nhau khoe nhiều sắc màu lộng lẫy, nào vàng, nào tím, nào trắng, nào xanh... đã dệt nên những gấm hoa, tạo thành một tấm thảm thiên nhiên tuyệt mỹ, nhằm trang trí cho cảnh vật nơi đây để cúng dường lên Đức Quan Thế Âm Bồ Tát.

Sau lưng chùa không phải là hoa, mà là một loài trúc. Trúc rất ít khi ra hoa; nhưng nếu trúc trổ hoa, tức trúc sắp tàn và mọi cây trúc khác cũng sẽ chết theo. Tại đây có nhiều loại trúc khác nhau, nào thanh trúc, bạch trúc, tử trúc và hoàng trúc. Những cây trúc đứng thẳng mình như những đấng trượng phu lăn xả vào cuộc đời không ngại bởi tiếng thị phi của nhân thế. Năm rồi, Thượng Tọa Tánh Thiệt có cho tôi một bụi trúc thật đẹp, đem về chùa Viên Giác bên Đức để trồng; nhưng nay thì trúc đã chết. Năm nay (1998) Thầy thấy tôi trân quý hoa đào, nên Thầy đã cho tôi hai cây đào con để mang về trồng. Theo lời Thầy bảo thì sang năm sẽ trổ bông; nhưng tôi thì khó tin điều đó. Vì qua kinh nghiệm, dẫu là loài hoa nào đẹp tuyệt vời đi chăng nữa, qua sự chăm sóc của tôi, cây sẽ chết vào một ngày nắng hạ hay thu sang nào đó, ít có cây nào sống qua khỏi một mùa xuân. Tôi chẳng biết tại sao? Nếu là người, dầu người đó có hư nết đến đâu đi chăng nữa, tôi cũng có thể giúp họ trở lại con đường chơn chánh, tu học đứng đắn, nhưng loài hoa, có thể tôi thiếu nhân duyên chăng?

Gần đến hè, cả một vườn hồng đua nhau nở rộ, mới nhìn như một bức thảm đỏ trải dài ra để đón rước một bậc giác ngộ nào. Hồng, dẫu sao đi nữa cũng có lắm gai; nhưng lại nhiều người thích. Điều ấy chẳng hiểu tại sao. Có lẽ vì đặc tính của hoa hồng là: sớm nở tối tàn chăng?

Mùa thu đến, hoa cúc vàng, một loài hoa vương giả thay thế vị trí của hoa hồng khi mùa hạ đã qua đi, mang đến cho con người nhiều sự nghĩ suy về sự thay đổi của cuộc đời. Không những thế, bạch cúc, hồng cúc, tử cúc cũng đã nở rộ vào lúc thu sang làm cho cây cảnh vườn chùa càng thêm nhiều hương sắc.

Hoa trà mi, hoa ngọc lan, hoa vạn thọ... cũng đã nở vào nhiều thời điểm khác nhau, khiến cho ai nấy khi đến chốn nầy đã nhớ lại cội nguồn của tâm linh và đặc biệt, là người Phật tử khi xem hoa thưởng ngoạn cảnh đẹp, thấy rằng đóa hoa tâm, tức đóa hoa giác ngộ cũng sẽ nở được như thế, để con người có thể thâm nhập vào thế giới giải thoát của chư Phật và chư vị Bồ Tát.

Trong cây có hoa, trong đá có lửa. đó là nguyên tắc tự ngàn xưa; nhưng hoa chỉ nở khi nào khí hậu ấm áp và đặc biệt nhân duyên của người chăm sóc hoa cũng không kém phần quan trọng. Trong đá có lửa; nhưng nếu chúng ta để hai viên đá xa nhau, chắc chắn rằng lửa sẽ không bao giờ phát sinh. Từ đó chúng ta có thể kết luận rằng: đóa hoa tâm cũng thế, chỉ nở khi nào chúng ta làm tròn bổn phận của một người Phật Tử biết tu phước và tu huệ trọn vẹn.

Nhân chuyến đi Bắc Mỹ kỳ nầy từ 14 đến 29.4.1998 tôi đã ghé qua Raleigh, Chicago, Montréal và Ottawa để viếng thăm chùa V��n Hạnh, Phật Bảo, Quan Âm và Từ Ân. Ở đâu cũng nói Pháp cho Phật Tử nghe và tại chùa Phật Bảo, Chicago, có một Phật Tử Mỹ đến quy y với tôi và sau giờ quy y anh ta có hỏi tôi một vài câu cũng có ý nghĩa, nên chép vội ra đây để quý độc giả lãm tường.

- Thưa Thầy, bây giờ tôi đã trở thành Phật Tử, thì cái nhìn của những người Mỹ lân cận không thân thiện mấy, vậy tôi phải xử trí ra sao đây?

- Anh hãy bảo với họ rằng: Phật Giáo giống như một loại y dược, có thể chữa nhiều thứ bệnh khổ của nhân sinh. Ví dụ lâu nay anh dùng thuốc Aspirin khi bị đau đầu, thì bây giờ anh cũng có thể dùng Optalidon, là loại thuốc khác để trị bịnh ấy kia m��.

- Nhiều người Mỹ họ hiểu rằng: Phật Giáo ngày nay đã có chân đứng tại Mỹ và Âu Châu. Họ không muốn tôn giáo truyền thống của họ bị mất đi quá nhiều tín đồ. Thầy nghĩ sao về vấn đề này?

- Phật Giáo như một bông hoa đẹp, nếu mang bông hoa ấy trồng vào vườn hoa tâm linh thuộc lãnh vực văn hóa, tôn giáo của xứ nầy, chẳng khác nào chúng ta điểm tô thêm ngôi nhà ấy một nét đẹp mỹ miều hơn. Trong một ngôi nhà, một ngôi vườn, nếu có nhiều đóa hoa tâm linh, đóa hoa giác ngộ rộ nở, chắc chắn rằng vườn hoa ấy sẽ đẹp đẽ hơn, có phải thế không?

Sau khi đã nghe lời giải thích của tôi như thế, anh ta vui vẻ ra về và anh ta hãnh diện là một người Phật Tử. Thế là một đóa hoa lòng, một nụ hoa tâm linh mới vừa hé nở. Phật Giáo đi vào lòng người một cách rất nhẹ nhàng. Không giáo điều, không bi quan, không theo uy quyền để mang mọi người vào đạo, mà ai, nếu muốn học hỏi hạnh xả ly của đạo Phật thì hãy vào chùa để cho đóa hoa tâm của mình mỗi ngày càng bừng nở.

Mỗi một ngôi chùa Việt Nam tại ngoại quốc đã trồng nhiều đóa hoa xinh xắn tại vườn chùa. Nay lại có những đóa hoa biết đi, biết nói, biết cười, biết tu học hạnh giải thoát của Như Lai, điều ấy quả thật là điều cần phải triển khai nơi nội tâm của mỗi chúng ta nhiều hơn nữa. Những đóa hoa trà mi, hoa hồng, hoa thuợc dược, hoa cúc, hoa đào... dầu cho đẹp đẽ bao nhiêu đi chăng nữa, nở lâu dài mấy tháng đi chăng nữa, chắc chắn có ngày sẽ tàn tạ theo năm tháng của tạo hóa đã an bày. Chỉ có đóa hoa giác ngộ nơi tâm thức của mọi người sẽ không bao giờ bị tàn phai hương sắc và loài hoa nầy sẽ không bị chi phối bởi gió sương giống như trong Kinh Pháp Cú đã nói:

"Hương thơm dầu là hương của loài hoa chiên đàn đi nữa cũng không thể bay được ngược gió. Chỉ có hương của người đức hạnh dầu ngược gió vẫn bay khắp mười phương"

Vi diệu thay loài hoa ấy và mong rằng những Phật Tử chúng ta hãy giữ lấy đóa hoa tâm nầy nơi mỗi người để tự tìm đến một hương vị giải thoát cho cuộc đời của mình.

Quê hương là gì, đố ai định nghĩa được. Nhưng khi xa rồi người ta mới ngoảnh mặt lại để đoái hoài. Khi xa rồi người ta mới có cơ hội để tìm lại cội nguồn của Tiên tổ. Loài ngỗng trời của Canada mỗi năm vào mùa lạnh, chúng bay đến Mễ Tây Cơ, đến Nam Mỹ, đến Panama. Có loài còn bay xa hơn, đến tận các đảo của Ấn Độ để trốn cái lạnh khắc nghiệt của mùa đông tại xứ nầy; nhưng đến khi xuân sang vào cuối tháng tư mỗi năm tại vùng Baie de Fèbre, cách Montréal về hướng Bắc chừng 150 km, bên dòng sông St. Laurent, những con ngỗng trời đủ loại, từ các nơi xa xôi ấy lại bay trở về, như tìm lại tổ ấm của ngày xưa. Người ta đến xem chim rất nhiều. Riêng tôi đến Canada và Bắc Mỹ cả gần hai mươi lần; nhưng lần nầy mới có cơ hội đi xem loài ngỗng trời nầy. Nghe đâu loài ngỗng nầy cũng rất đoàn kết, khi một con bị bệnh hay vì bất cứ một lý do nào đó, sẽ có hai con khác hộ tống lo lắng cho con bị bệnh đến khi lành, chúng dìu nhau bay theo hướng mũi tên để tìm đàn mà về lại với nhau. Xem ra chúng sống với nhau còn có nghĩa như vậy, không biết khi người ta đi xem chim có được ý niệm nầy chăng? Riêng tôi lúc nào cũng hướng về cố quốc, như loài chim Di, chim Lạc đã mấy ngàn năm bay từ miền Bắc đến miền Nam và ngày nay bay tứ tung ra bốn phương trời ở hải ngoại, rồi có ngày cũng sẽ bay về nơi đất Mẹ thân yêu để tìm lại tổ ấm xưa của cội nguồn dân tộc.

Loài cá Hồi cũng thế, khi mùa lạnh, cá đi, khi xuân sang, cá lại ngược dòng lội về nguồn, trên đường đi ấy gặp biết bao nhiêu chướng ngại. Ví dụ như bị gấu bắt ăn thịt, nước chảy không xuôi dòng... nhưng cá Hồi vẫn một mực trở về lại nguồn gốc của mình tận nơi những dãy non xanh ở những nơi cao nguyên muôn thuở ấy.

Ở Phi Châu có những đàn trâu nước mỗi lần di chuyển đến cả mấy chục ngàn con. Chúng di chuyển thành từng đàn. Mỗi khi có nạn như cọp hoặc sói bắt con của chúng lại, thì hai hoặc bốn con trâu lớn trong đàn sẽ tách rời ra để bảo vệ đánh đuổi cọp, beo, sói dữ, cứu trâu con cho đến khi nào trâu con thoát nạn mới thôi. Như những con trâu mẹ chiến đấu cho và vì con của mình, nếu ai có lòng từ bi và độ lượng, chắc chắn phải cảm động trước sự bảo vệ cũng như sự hy sinh cao cả ấy.

Những thú vật là những loài không tri giác như chúng ta vẫn thường hay hiểu như thế. Nhưng chắc chắn nơi chúng cũng đã nở rộ những đóa hoa lòng, ít nhất là thể hiện nơi đồng bọn khi bị hoạn nạn, lâm nguy. Do vậy mà Đức Phật vẫn thường dạy rằng: Tất cả chúng sanh đều có tánh Phật. Điều ấy vẫn không sai một mảy ly nào.

Những sự sinh hoạt của thú vật, sự trưởng thành của cây cỏ, sự có mặt của muôn loài nơi quả đất nầy, chúng ta phải hiểu rằng đó là một sự bổ sung cho nhau, một gia tài văn hóa chung của nhân loại, mà mỗi chúng ta cần có bổn phận phải giữ gìn, vun bồi, bón phân, tưới nước. Không vì bất cứ một lý do gì mà sát hại lẫn nhau, cấu xé nhau và nhất là chà đạp những đóa hoa, vốn mang đến cho chúng ta nhiều màu sắc xinh đẹp để trang điểm cho cuộc đời.

Con người là chúa tể của muôn loài, kể cả loài hoa. Nhưng nếu loài người không ý thức cứ mãi tranh bá đồ vương, lường gạt lẫn nhau và sát phạt lẫn nhau, tạo nghi ngờ cho nhau thì sẽ không bằng những động vật hoang dã khác. Vì chúng không hấp thụ nền văn hóa, văn minh trong hiện đại; nhưng chúng đã thể hiện tình đồng loại và sự nở rộ của đóa hoa tâm. Trong khi đó con người chúng ta được xưng tụng là một động vật có trí tuệ cao cả nhất trong muôn vật, chắc chắn chúng ta cũng sẽ không quên cội nguồn và con đường hoán chuyển của nội tâm luôn hướng về bên trong để đóa hoa giác ngộ, đóa hoa tâm, đóa hoa của cõi lòng được chuyển hóa một cách có định hướng để được thành tựu viên mãn.

Cầu nguyện cho mọi loài, mọi người đều có được một tâm hồn thành thực, từ bi và lợi tha để cho muôn vật được nhờ.

Viết tại Chùa Quan Âm, Montréal, Canada

Ngày 28 tháng 4 năm 1998

( Số 105 (Tháng 6.1998)

Cây đàn muôn thuở

Ít nhất cũng hai năm rồi, tôi mới có dịp đi lại Ấn Độ. Cứ mỗi lần đi như thế, có một số quý Thầy, quý Cô và quý Phật Tử đi cùng. Có nhiều lúc gần 50 người; nhưng cũng có lúc trên vài chục người. Dầu ít hay nhiều cũng là một chuyến đi; do vậy mà nơi tôi, có một cái gì đó sâu sắc hơn, ý nhị hơn cho những lần đi như thế trong cuộc đời.

Lần đầu tiên đi chiêm bái Phật tích vào năm 1989, cách nay cũng đã đúng 10 năm. Lần ấy có Hòa Thượng Thích Minh Tâm đi cùng. Cũng chính lần ấy, tôi có nói chuyện với Thầy Huyền Diệu rằng: "Tôi sẽ không bao giờ đi Ấn Độ nữa"; nhưng cho đến hôm nay tôi đã đi chiêm bái Phật tích đến 4 lần rồi. Không biết còn bao nhiêu lần trong đời phải đi và phải đến nữa; nhưng cứ mỗi lần đi như thế, có cái gì đó biến chuyển trong nội tâm của tôi rất nhiều.

Lần nầy tiếng đàn của một ông lão tại chùa Linh Sơn ở Câu Thi Na Thành, nơi Đức Phật nhập Niết Bàn đã làm cho tâm tôi xao xuyến lạ lùng. Hôm đó không biết là ngày mấy tháng 12 năm 1998, sau khi từ xứ Chư Thiên Đọa Xứ (Varanasi) đến đây, ai nấy đều mệt mỏi, ngủ rất ngon giấc sau khi đã dùng những món canh chua và các món rau đậu thuần túy quê hương Việt Nam khác, nên mọi người đã an ổn ngủ yên.

Sáng sớm hôm sau, chúng tôi dậy để tụng kinh Lăng Nghiêm và sau thời kinh, quý PhậtTử được Sư Cô Thích Nữ Trí Thuận, trụ trì chùa Linh Sơn tại đây cho chiêm bái Xá Lợi. Sau đó tôi trở lại phòng, ngơi nghỉ thêm một vài phút nữa để chuẩn bị điểm tâm, thì bỗng đâu từ sân chùa vọng lại, tiếng đàn của ai mà nghe sao ai oán lạ thường. Tôi cứ mãi nằm yên như thế để thưởng thức một âm thanh kỳ lạ, một nhịp điệu quen thuộc, mà chẳng biết là nhạc gì. Chỉ biết có một điều duy nhất là âm thanh ấy chỉ cùng một nhịp điệu và được lặp đi lặp lại nhiều lần y hệt như thế. Thỉnh thoảng có tiếng hát đi kèm theo giọng Ấn Độ. Tôi nghĩ lúc ấy có lẽ là một người đứng tuổi và cứ thế nằm yên trên giường để thưởng thức và chờ giờ điểm tâm.

Thế rồi 8 giờ sáng đã đến, mọi người đều xuống trai đường dùng điểm tâm. Tôi cũng không ra ngoài thông lệ ấy. Lúc bấy giờ tôi có nhiều thì giờ để quan sát ông lão hơn. Đầu ông ta chít khăn Ấn Độ, thân thể gầy còm, có lẽ đã trải qua dãi dầu với mưa nắng, mà cái ăn, cái mặc lại thiếu thốn; nên trông ông, thấy ông càng nhỏ thó nhiều hơn. Tôi đáo mắt nhìn kỹ cây đàn ông lão đang kéo. Cây đàn không có gì đặc biệt, có rất nhiều dây; nhưng chỉ có một dây mòn nhiều nhất. Nhìn thật chú tâm, thì thấy ông lão không bấm nút vào cung đàn, thế mà âm thanh vẫn cứ thế, theo cần đàn mà trầm bổng. Không phải ông lão bị mù, cũng chẳng phải ông chú tâm vào khán giả chung quanh ông, mà có lẽ, tất cả tâm tư của ông đều hướng vào phía nội tâm của mình, do vậy mà tiếng đàn lại trầm bổng lạ thường. Tôi cố nghe cho thật kỹ; nhưng vẫn không hiểu là điệu đàn gì. Từ miệng mình, thốt ra bằng tiếng Việt, tôi bảo rằng: "Ông lão hát cái gì mà buồn thế?". Dĩ nhiên là ông ta không thể trả lời được, mà nếu có, tôi cũng không hiểu là ông đã nói gì. Vì ngôn ngữ bất đồng mà. Đâu đó có vài người biết nói tiếng Anh, lại thông dịch cho tôi rằng: Ông lão đang đàn bài Dharman saranam gachami. Hình như chỉ có điệu nầy nhiều nhất. Thỉnh thoảng thì ông cũng có đàn Buddham saranam gachami và Sangham saranam gachami nữa. à thì ra thế! Khi tôi hiểu ra sự việc rồi, lại thông cảm cho ông lão nhiều hơn. Thay vì đi xin ăn như nhiều người Ấn Độ khác, ông lão nầy cũng là một hình thức đi xin; nhưng chẳng mất lòng ai. Vì ông không đòi tiền. Ai cho cũng được. Ai không cho, cũng không sao. Tôi cúi sát mình xuống, bỏ vào trên vạt áo trải dài trước mặt của ông 10 Rubies Ấn Độ để thưởng công trạng của ông. Có người còn bỏ vào đấy 50 Rubies. Số tiền nầy không nhỏ, so với cuộc sống của dân quê Ấn Độ và nhất là đối với những người sống cuộc đời lang thang hành khất với chiếc đàn muôn thuở như ông. Thật là một điều hãn hữu và cũng là một phép Phật nhiệm mầu.

Ba câu trên bằng nguyên ngữ tiếng Pali, có nghĩa là Phật, Pháp, Tăng là 3 ngôi báu, con xin nương tựa về. Chỉ có đơn giản như thế thôi; nhưng sao mà tiếng đàn của ông lão dìu dặt như thế. Đây không phải là tiếng đàn của Trương Chi, Mỵ Nương, mà là tiếng đàn đi vào cõi tĩnh. Ông lão chọn điệu đàn ấy nơi chốn nầy thật hữu lý. Vì nơi đây, chính Đức Bổn Sư của chúng ta đã vào Đại Bát Niết Bàn. Khung cảnh nơi rừng Sa La, nơi Câu Thi Na Thành nầy buồn lắm. Ai đến đây rồi cũng ngậm ngùi. Không ai bảo ai; nhưng rồi mọi người đều khóc, đều ngậm ngùi nhớ tiếc cho một bậc đạo sư, suốt đời đã vì sanh chúng và ở cuối đời mình đã chọn nơi đây làm nơi an nghỉ ngàn thu.

Tại chùa Niết Bàn có tôn thờ một tôn tượng của Đức Bổn Sư nằm trong tư thế nhập diệt, dài độ 10 thước. Trông gương mặt của Ngài tỏa rạng một tấm lòng từ bi, mặc dầu có hơi buồn đó; nhưng tương truy���n rằng, tượng Phật nầy do một vị Tăng sĩ Ấn Độ tạc vào thế kỷ thứ 2 và thế kỷ thứ 11, 17 bị Hồi Giáo xâm chiếm Ấn Độ nên chùa xưa đã đổ nát, chỉ còn bức tượng nầy chôn vùi dưới nhiều tấc đất và đến thế kỷ thứ 19 các nhà khảo cổ học Tây Phương mới phát hiện ra và họ đã lắp từng mảnh vụn của bức tượng nguyên thủy lại và từ đó chúng ta mới có được một nơi chốn, một pháp thân trang nghiêm, thanh tịnh để người Phật Tử xa gần đảnh lễ cũng như tôn thờ.

Rừng Sa La ngày xưa bây giờ không còn nữa; nhưng hình ảnh 2 cây Sa La hình dáng cao gầy vẫn còn đứng đó để đợi chờ hình bóng của Tôn Sư, biết đâu, ở một kiếp vị lai nào đó, Ngài sẽ trở lại nơi đây để thị tịch Niết Bàn một lần nữa. Ước gì kiếp đó lại có chúng ta, có thể làm một cái gì đó hay một con gì đó, để dâng hiến tâm thức của mình vào sự giác ngộ giải thoát của Đức Như Lai. Chung quanh tôn tượng toát ra một cái gì cao cả linh thiêng ấy, có lẽ những người hành khất dưới các Tăng y tu sĩ, người thật có, kẻ giả dạng mặc áo Tăng bào cũng không phải là không, chẳng biết họ có cảm nhận được gì, khi có hàng trăm hàng ngàn con tim, ý hướng, dầu ở xa trong muôn vạn dặm trên quả địa cầu nầy; nhưng cũng đã hướng về đây để đảnh lễ, cúng dường, dâng hiến lời kinh tiếng kệ nhiệm mầu lên đấng Tôn Sư. Họ ở gần Phật đó; nhưng không biết họ có hiểu gì không? họ sát bên chân Phật đó; nhưng không biết giáo lý giác ngộ ấy có làm cho họ tỏ ngộ không. Thật là:

"Đuốc sáng không soi giúp kẻ mờ

Nước sông khó rửa sạch lòng nhơ

Túi tham không đáy bao giờ đủ

Tỉnh Ngộ tu hành thoát kiếp mơ"

Chúng ta, những người Phật Tử Việt Nam hay bất cứ Phật Tử nào trên thế giới, như trong kinh Đại Bát Niết Bàn đã kể lại rằng: "Sau khi Như Lai diệt độ; nếu có người nào đó, đi đến nơi 4 chỗ động tâm nầy để đảnh lễ và chiêm bái, cũng giống như những người đã có thiện duyên gần Phật và gặp Phật, như thời Ngài còn tại thế". Điều ấy đã hiển nhiên, nếu ai có lòng tin, thì đức tin sẽ thành tựu những công đức trang nghiêm như thế. Còn đối với những kẻ không có đức tin, quả thiệt tội nghiệp vô cùng.

Màu y vàng chói của Đức Phật chỉ tỏa rạng có 2 lần. Một là lúc Như Lai thành đạo dưới cội Bồ Đề. Hai là lúc Như Lai vào cõi vô dư Niết Bàn. Ở đây pháp y ấy vẫn nhiệm mầu và tỏa rạng khắp nơi nơi. Giờ đây sau 2.500 năm lịch sử, nếu có ai về nơi chốn nầy, cũng đều cảm nhận như Đức Như Lai vẫn còn đó, có lẽ mới hôm qua đây, Ngài vẫn còn khen tặng dân làng Mạt Lị nầy là một dân tộc có tu học và có nhiều phước đức. Bây giờ thì không gian ấy đã xa, thời gian ấy không còn nữa; nhưng sao bên tai ta vẫn văng vẳng đâu đây tiếng đàn, tiếng sáo của Chư Thiên đến chúc tụng Ngài đi vào cõi giới an nhiên tịch mịch ấy.

Giờ đây Chư Thiên không thấy, chỉ còn gặp lại ông lão hành khất nơi sân chùa Linh Sơn với cây đàn muôn thuở và bóng dáng của ông Thuần Đà, người dâng bát cháo nấm cuối cùng cũng như ông Tu Bạt Đà La đâu rồi, không ai còn thấy. Chỉ có một điều cảnh cũ là đây; nhưng bậc Tôn Sư không còn nữa. Do vậy mà, ai đến đây cũng buồn lắm, nhất là khi nhớ nghĩ đến Đức Bổn Sư.

Một buổi sáng ấy, phái đoàn chúng tôi 45 người, đã đi tiếp về nơi Trà Tỳ, nơi làm lễ hỏa thiêu pháp thân của Đức Phật. Tại đây, cảnh tượng càng não nùng hơn. Chúng tôi lắng đọng tâm tư của mình và như hồi tưởng lại câu chuyện Ngài Ma Ha Ca Diếp chưa kịp về hầu Phật, trước khi thân Ngài được hỏa thiêu. Ngài Ca Diếp và 500 vị đệ tử về chỉ trễ có một tuần lễ sau khi đi bộ từ xứ Ma Kiệt Đà. Còn chúng tôi, đã trễ hơn 2.500 năm lịch sử rồi, mà chúng tôi cũng lại về đây để khóc than cho một kiếp người đã quá nhiều tục lụy.

Dầu cho lửa và củi đã chuẩn bị sẵn sàng; nhưng với sức người, không thể thiêu thân Ngài, chỉ có lửa tam muội, chính Ngài đã tự hỏa thiêu và ngọn lửa ấy đã bừng cao đến tam thiên đại thiên thế giới và ngọc Xá Lợi đã lưu lại nơi nầy. Tám ông vua cũng đã đến đây để mang Xá Lợi của Đức Bổn Sư về phụng thờ trong 84.000 ngôi tháp quý. Tháp hỏa thiêu Ngài cao chót vót, như không ai có thể lên nơi ấy được, để chứng minh cho cái gì cao cả, mà ở cuối đời Ngài đã vươn lên, cao hơn, tồn tại mãi, để hơn mấy ngàn năm sau có những đàn hậu học như chúng tôi lại về đây để tìm lại một quá khứ nhiệm mầu.

Rời Câu Thi Na thành để đi đến vườn Lâm Tỳ Ni, nơi Đức Phật Đản Sanh, chúng tôi đã quên hình bóng của ông lão; nhưng tiếng đàn vẫn còn dìu dặt, réo rắt tận cõi thâm tâm, do vậy mà ai ai cũng muốn làm một cái gì đó để kỷ niệm một năm dương lịch 98 sắp qua và đón mừng đầu năm 99 sắp đến. Đêm đó tôi lại có nhân duyên đi tắm Ofuro tại khách sạn Nirwana, như để tẩy trần theo phong thái của Nhật Bản để mừng một năm mới. Thật là một điều hy hữu; lần đầu tiên tôi đến Nhật năm 1972 khi thấy Ofuro đã khó chịu; nhưng trải qua hơn một phần tư thế kỷ, lưu lạc khắp bốn phương trời; nay lại trở về đây, để tìm lại một khung cảnh quen thân nào đó đã đi vào đời mình như là một nếp sống xa xưa đã gợi lại ở chính mình.

Suốt 2 giờ ngồi nơi đại sảnh của khách sạn, chúng tôi đã nói cảm tưởng của chuyến đi của từng người và kể lại cho nhau nghe những vui buồn trên đoạn đường thiên lý ấy. Bao nhiêu câu chuyện vui, bao nhiêu câu chuyện tiếu đã làm cho chúng tôi quên hết vạn dặm của bụi đường xa. Chúng tôi đã ngồi chung nhau bên ly trà, ly cà-phê vừa ca hát, vừa ngâm thơ, vừa vọng cổ; nhưng tiếc rằng không có tiếng đàn, tiếng sáo. Lúc ấy, theo tôi nghĩ, ước gì có ông lão nơi đây, biết đâu ông ta sẽ hòa điệu với chúng tôi những bản nhạc thật hay để đón mừng Xuân mới. Đêm càng khuya, giọng của những ca sĩ bất đắc dĩ càng cao vút; nhưng đôi lúc phải dừng lại giữa câu, vì bị cảm sương, cảm nắng, nên tiếng ai cũng không còn đủ sức để lôi kéo mọi người về sức truyền cảm của mình. Mặc dầu vậy, đêm ấy vẫn là đêm ghi nhớ trong tâm khảm của mọi người.

Sau khi chiêm bái Lâm Tỳ Ni, phái đoàn chúng tôi lại lên đường để thăm Kathmandu, thủ đô của Népal. Nơi nầy tôi đã bao lần đi; nhưng chưa bao giờ đến và đây là lần đầu tiên, tôi đến một xứ cao nhất nhì trên quả địa cầu nầy. Đường đi ngoằn ngoèo, khúc khuỷu, quanh co suốt cả 300 cây số. Chỉ chừng ấy dặm đường nhưng chúng tôi đã dùng đến 9 tiếng đồng hồ bằng xe Bus. Dọc đường đi cảnh đẹp lạ thường. Có sông, có núi, phong cảnh hữu tình; nhưng đặc biệt là núi tại đây ít có đá, chỉ toàn bằng đất; nên cây cỏ rất xanh tươi, hoa mầu cũng có thể trồng trọt nơi các triền núi cao như thế.

Người hướng dẫn viên cho chúng tôi biết rằng: Đối với dân tộc Népal; những gì gọi là núi, phải từ 4.000 thước trở lên; nếu độ cao dưới đó, gọi là đồi. Đứng trên đỉnh Langtan gần thủ đô Kathmandu, chúng tôi không nhìn thấy đỉnh ngọn Everest cao 8.484 thước thì phải; nhưng chúng tôi cảm nhận được nơi đây là vùng thiêng liêng của thế giới, là chủ tể của địa cầu. Do vậy các bậc thánh nhân đã xuất hiện nơi bắt nguồn từ Hy Mã Lạp Sơn nầy. Tuyết, đối với tôi không lạ gì. Vì Âu, Mỹ, Nga ở đâu mà chẳng có, chỉ khác một điều là ở một nơi về mùa Đông như tại đây có nhiệt độ 18 độ C, mà nhìn qua bên đối diện lại thấy tuyết, phải biết rằng những núi kia cao lắm; ít nhất cũng từ 7.000 thước trở lên. Từ trên đỉnh cao của ải địa cầu nầy, tôi thấy ngực mình như nở lớn hơn ra để hít thở những không khí thiên nhiên tươi mát, mà ở thị thành hằng ngày tôi không có được. Ngọn núi nào cũng hùng vĩ và đẹp đẽ lạ thường. Có lẽ chỉ có cái đẹp thiên nhiên mới làm cho con người ta dễ cảm, còn cái đẹp của nhân tạo, tôi cảm thấy sao nó gượng ép lạ lùng.

Ở Ấn Độ và Népal đi đâu người ta cũng cảm thấy dơ nhớp. Chỉ có nụ cười của họ là tươi thắm, dễ dãi, khoan dung mà thôi. Theo tôi nghĩ, người Ấn Độ, Népal và ngay cả một số nước ở Phi Châu không nhất thiết phải ở dơ. Vì lẽ cũng chính những nơi ấy có những khách sạn 4 sao, 5 sao cách bày trí đâu có khác gì Âu Châu và Mỹ Châu đâu? Tại sao họ phải sống như thế? Thật tôi không hiểu nổi. Mỗi lần đi Ấn Độ về lại Đức, là mỗi lần bịnh cảm hoặc ho. Vì không khí bị ô nhiễm. Tuy nhiên ở đâu nó cũng có những cái hay và cái dở của nó. Ở thế giới Ta Bà tương đối và đầy đối đãi nầy; chúng ta phải chấp nhận thôi. Đâu có cái gì tuyệt đối, ngoại trừ chân lý, mà chúng ta phải đi tìm.

Trên đường đi, khách hành hương chúng tôi bị gạ gẫm bán những loại hàng hóa như tượng Phật, lá Bồ Đề, chuỗi hạt v.v... có rất nhiều người mua và cũng có rất nhiều người lầm, ngay cả tôi; vì họ nói giá trên trời dưới đất. Cũng 100 hình Phật ấy, có nơi bán 800 Rubies, có nơi bán 500, có nơi lại bán 300, 250 và thậm chí đến khi khách lên xe chuẩn bị đi rồi, chỉ còn 200 Rubies. Thật là không hiểu nổi cách làm ăn, buôn bán nầy. Do vậy, nếu ai có đi Ấn Độ và Népal. Nếu họ nói giá 100 thì hãy trả từ 10 trở lên là vừa. Đến 50 thì dừng, đừng trả thêm nữa. Nếu trả thêm sẽ bị hố to. Do vậy mà khi mua, một số quý Phật Tử hay hỏi tôi là:

- Bạch Thầy, đồ nầy thật hay giả vậy?

Tôi đáp lại rằng:

- Thật ra trên đời nầy có cái gì thật đâu, mà lo đi tìm cái thật. Chân lý là điều thật, mà không lo đi tìm, để lo đi tìm sự thật hay giả của đồ vật để làm gì?

Mọi người nhoẻn miệng cười, như tỏ vẻ đồng ý; nhưng thực sự ra rất khó hiểu và khó thực hiện.

Chiều ngày 3 tháng 1 năm 1999, thì phái đoàn chúng tôi về lại Delhi bằng hàng không của Kathmandu. Máy bay bay chỉ một tiếng rưỡi đồng hồ là đến. Nếu dùng đường xe Bus hoặc xe lửa, chắc không dưới 25 tiếng đồng hồ. Đó là chưa kể việc trễ nải, hay đôi khi cũng có nhiều vấn đề trên tuyến lộ giao thông lại hiện ra. Ví dụ như xe bị nghẽn lối, bị tai nạn. Nạn bò đi dọc đường; nạn người chen lấn v.v... Thôi thì khỏi nói. Xứ Ấn Độ cái gì cũng có. Đó là sự thật. Cái gì mà ban đầu thấy thật khó xử, cuối cùng rồi cũng thông suốt; nhưng khi xem đồng hồ lại, thì thấy thời gian trôi qua cũng mấy tiếng đồng hồ rồi. Riêng tôi không có nhân duyên với Ấn Độ nên không lập thệ nguyện tại đây để xây chùa hay làm những công việc gì to lớn khác. Chỉ mong rằng lâu lâu có cơ hội đi hành hương một chuyến về xứ Phật là đủ rồi.

Vào lúc 18 giờ chiều ngày 3 tháng 1 năm 1999 quý Thầy Cô du học tại Ấn Độ do chùa Viên Giác hỗ trợ học bổng,đã tụ họp tại khách sạn Intercontinental để gặp tôi và phái đoàn. Đây là 20 Thầy Cô trong số 120 vị hiện học tại Đại Học New Delhi phân khoa Phật học, triết học, ngôn ngữ, mà tôi và chùa Viên Giác tại Hannover đã âm thầm chi viện học bổng cho nhiều vị đã 5 năm nay. Năm nay có một vị Tiến Sĩ ra trường là một Sư Cô sắp lãnh bằng. Còn lại 19 vị khác đang học Cao Học hay Mph và Ph.D. Ngồi tâm tình nói chuyện với quý Thầy, quý Cô, mới thấy quê hương mình là đẹp hơn cả và cũng chính hình ảnh đẹp đó mà tôi đã mang vào lòng mình suốt gần 30 năm xa xứ cho đến ngày hôm nay. Ở đây, nơi chốn nầy cái gì cũng có; nhưng cái tình người và hình ảnh quê hương sao nó vẫn còn xa vời vợi trong tâm khảm của kẻ xa quê hương nhưng vẫn đợi chờ như tôi trong hiện tại.

Sau khi đàm đạo, một số quý Thầy, quý Cô đề nghị nên hát một vài bài để cho không khí vui tươi. Quả thật như thế, qua giọng ca truyền cảm của Thầy Hạnh Đức hay của Cô Hương Nhũ đã đưa tôi và quý Thầy Cô hiện diện nơi đại sảnh của khách sạn sang trọng nầy có một cái gì đó càng gần gũi thân tình hơn. Tôi cũng ra đi từ một Tu sĩ quê mùa của quê hương xứ Quảng, sanh ra và lớn lên nơi đó, chịu biết bao sự bất hạnh của quê hương. Khi đi du học được ở Nhật, cũng là lúc mình phải tự mình lăn xả vào đời, không chèo, không chống, không nơi nương tựa, chỉ còn có niềm tin vào Tam Bảo là vững chãi nhất để còn tồn tại cho đến ngày nay. Do vậy mà tôi đã thông cảm cho những Thầy Cô đi du học rất thiếu thốn tại xứ nầy; nên đã cấp 20 bọc bổng như thế. Khi cấp, tôi chẳng phân biệt Bắc, Trung, Nam, Đại Thừa hay Tiểu Thừa, Du Tăng Khất Sĩ hay một Thầy Cô nào khác nơi quê hương xứ Quảng của mình. Nơi tôi chỉ còn có Đạo, còn chủ nghĩa nào rồi cũng phải ra đi, tàn tạ theo thuyết nhân duyên của nhà Phật. Đâu có cái gì tồn tại lâu dài ngoại trừ chân lý. Do vậy mà nhiều khi tôi cũng hay nói: Người làm Tôn Giáo không cần biết thể chế chính trị nào cũng được; nhưng ngược lại người làm chính trị mà đạo đức Tôn Giáo không có thì không nên làm. Vì sao vậy? Vì lẽ dầu ở dưới bất cứ chế độ nào, người có Tôn Giáo ph���i bảo vệ đức tin của mình, dầu cho chủ nghĩa ấy là Tư Bản, Cộng Sản, Quốc Gia, Quân Chủ v.v... Còn những người làm chính trị mà không có đạo đức của một Tôn Giáo, quả thật chính trị gia đó đã lỗi thời.

Tối hôm ngày 3 tháng 1 năm 1999, tôi đã chiêu đãi phái đoàn hành hương cùng với 20 Thầy Cô du học Tăng tại New Delhi tại khách sạn Intercontinental nầy. Qua bao nhiêu câu chuyện tâm tình giữa người đồng hương với nhau, chúng tôi lại cúng dường cho quý Thầy và đồng thời Cô Hương Nhũ, Thầy Hạnh Đức đã hát bài "Kính Mến Thầy", "Nếu Xuân Nầy Con Không Về" đã làm cho mọi người mường tượng lại Hương Lan và Tuấn Vũ đâu đây trên một sân khấu nhà nghề tại Sài Gòn, Hà Nội hay California. Để đáp lại lời ca tiếng hát không đàn của quý Thầy, Cô, hai Phật Tử Thị Phước Phạm Nam Sơn và Thị Hạnh Đỗ Thị Ngọc Hiền từ Mỹ Quốc sang hành hương chung, đã ca "Chuyện Tình Lan và Điệp" cũng rất ảo não, sầu bi. Những câu vọng cổ cao vút đã đi vào tận lòng người, nhất là những người đang xa xứ. Đồng thời, tôi cũng đã ngâm 2 bài thơ: "Cố Đô Giờ Đã Ra Sao?" của Thượng Tọa Tịnh Đức hiện ở Texas và một đoạn "Kim Vân Kiều" để dẫn dắt mọi người trở lại chốn quê xưa. Bây giờ đây hơn 60 con người Việt Nam, Nhật và Đức đã hướng về những giọng hát trong một phòng ăn lịch sự, cũng lại không có những tiếng đàn, tiếng sáo. Tôi lại ước gì ở vào lúc nầy có ông lão tại Câu Thi Na Thành, dùng cây đàn muôn thuở của kiếp nhân sinh ấy mà phổ lên nhiều điệu nhạc muôn màu. Tôi lại liên tưởng đến trong một câu chuyện của Lâm-Sanh Xuân-Nương, hoặc Thoại-Khanh Châu-Tuấn nào đó, ở vào một thời buổi xa xưa của Việt Nam và Trung Quốc, có thơ rằng:

"Đờn kêu tích tịch tình tang

Ai đem công chúa trên hang mà về

Đờn kêu tích tịch tình xề

Ai đem mình về, mình chẳng biết ơn"

Trong phái đoàn có 43 người mà có tới 8 quốc tịch, mặc dầu cũng là người Việt Nam. Trong đó có Đại Đức Thích Tâm Huệ và 11 vị Phật Tử khác đến từ Thụy Điển; 2 vị đến từ Pháp; Cô Trí Hảo đến từ Bỉ; 6 vị đến từ Hòa Lan; 2 vị đến từ Hoa Kỳ; 1 vị đến từ Việt Nam; 1 người Nhật Bản và số người còn lại 19 người ở Đức dưới sự hướng dẫn của tôi. Nếu thêm Thầy Hạnh Nguyện hướng dẫn đoàn tại Ấn Độ có quốc tịch Đan Mạch nữa là 9 quốc gia vậy. Thầy Hạnh Tấn cũng đã nỗ lực cho đoàn cùng với Thầy Hạnh Nguyện nên chuyến đi quá tốt đẹp và có lẽ đây là chuyến đi đẹp nhất lâu nay trong mọi chuyến hành hương của tôi. Vì chính mình càng đi, càng học được tánh nhẫn nhục nhiều hơn. Suốt cả đoạn đường không có gì trở ngại xảy ra. Nếu có cũng chỉ nhỏ thôi, rồi cuối cùng cũng được giải quyết; chỉ có một vài người bị bịnh cảm, ho, ngay cả đi cầu liên tục, mặc dầu đã chích ngừa trước khi đi; nhưng con vi trùng của Ấn Độ nó chẳng chừa ai, mà vi trùng Ấn Độ, chỉ có thuốc Ấn Độ mới trị nổi; còn những thuốc khác từ Âu Mỹ mang sang rất ít công hiệu.

Bây giờ ngồi trên máy bay AI 153 từ New Delhi về Frankfurt trễ 6 tiếng khi khởi hành vì sương mù, cả chuyến đi lẫn chuyến về, tôi lại ghi về chuyến đi một lần nữa rất tổng quát để làm món quà Xuân tặng đến quý Đạo Hữu và quý Phật Tử xa gần nhân dịp Xuân về Tết đến. Điều nầy cũng để tưởng nhớ đến một ông lão xa xôi, không quen biết nơi đất Phật đã mang cây đàn và tiếng hát lời ca, dội thẳng vào tâm tư tôi, để rồi mãi mãi vẫn vang vọng đâu đây các câu điệp ngữ:

Buddham Saranam Gachami

Dharmam Saranam Gachami

Sangham Saranam Gachami

Đường đi nào rồi cũng có ngày phải kết thúc. Chuyến đi nào rồi cũng sẽ có cái đích cuối cùng của nó. Do vậy cứ mỗi lần đi đâu về, tôi hay viết lại một vài cảm tưởng để gởi đến quý độc giả xa gần, như dọn lên đây một mâm cỗ thanh lịch trang trọng để mời quý vị cầm đũa nhập tiệc với chúng tôi để gắp những món ăn tinh thần mà trong bài nầy nếu có được.

Viết xong vào lúc 21 giờ 30 ngày 4 tháng 1 năm 1999, giờ Ấn Độ trên chuyến bay AI 153 từ Delhi hướng về Frankfurt

( Số 109 (Tháng 2.1999)

Tu gieo duyên

Nhiều người chưa hiểu rành rẽ chữ tu là gì; nên sợ phải vào chùa cắt tóc, giũ sạch nợ trần ai, mặc áo nâu sồng v.v... nên đã khua tay múa chân, rồi bảo: "Đời còn tươi trẻ, vội gì phải tu như thế, để già rồi, khi rảnh nợ trần gian mới thế phác, quy y v.v..."

Tuy nhiên ngày nay trên khắp thế giới, nhan nhản nơi đâu cũng nghe về tu hoặc học. Có kẻ tu Thiền, có người tu theo Mật. Có kẻ tu Tịnh Độ; người tu theo lối giữ giới hoặc trì kinh v.v... như thế, chẳng luận là ở chùa mới tu được, mà ở nhà, hay ở bất cứ nơi đâu trong cuộc sống của mình cũng đều có thể tu được cả. Nhưng tu gieo duyên là gì? Xin thử tìm hiểu vấn đề nầy.

Đầu tiên phải hiểu chữ tu cho rõ như sau: Tu có nghĩa là sửa đổi lại. Xấu đổi thành tốt; tà vạy đổi thành ngay thẳng, chân chính. Lâu nay chúng ta sống một cuộc sống không định hướng, hoặc bị những phiền não của thế gian làm khuấy động nội tâm; nên tu có nghĩa là, chúng ta làm sao có thể làm chủ chính mình, để cuộc sống của mình thăng hoa hơn và có ý nghĩa hơn. Cuộc đời của mỗi chúng sanh giống như là một ly nước vẩn đục. Ở đây có thể ví cho một màu đen sẫm. Do vậy mà chúng ta cứ mãi mãi sống trong vòng của vô minh, sanh tử luân hồi. Trong các phép tu như: tán thán, phát nguyện, hồi hướng, lễ bái, sám hối, trì tụng - hoặc giả ngồi thiền, niệm Phật, tụng kinh, trì chú v.v... sẽ tạo cho ta một cái đức. Cái ��ức ấy tuy vô hình; nhưng sẽ có khả năng chuyển hóa những kh�� đau; những nghiệp lực trong cuộc sống bình thường của chúng ta, như là những giọt nước trong, có khả năng dung hóa từ từ ly nước nghiệp đã bị màu đen làm vẩn đục, để rồi ngày qua ngày, tháng qua tháng, năm qua năm, ly nước ấy sẽ đổi từ màu đen sang màu hồng, màu vàng, qua màu nhợt, để rồi một ngày nào đó, nghiệp chúng ta sạch, ly nước kia sẽ trở thành trong suốt. Lúc ấy bản thể như nhiên của ta và của vũ trụ là một, không có hai. Không đến, không đi, không còn, không mất, không được, không thua. Ấy là chân như diệu hữu vậy. Nhưng bao giờ thì ly nước nghiệp ấy trong? Câu trả lời ấy tùy theo sự dụng công tu học của mỗi người. Ai siêng năng tinh tấn thì chỉ trong một đời. Ai biếng nhác, đổ thừa vì lý do nầy hay lý do nọ thì có thể cần đến nhiều đời nhiều kiếp.

Chúng ta mỗi sớm mai hay mỗi tối lên chùa lễ Phật, chúng ta bộc bạch thưa thỉnh lên Đức Thế Tôn những câu tán thán như:

"Thế Tôn sắc thân như kim sơn

Diệc như thiên nhựt chiếu thế gian

Năng bạt nhứt thiết chư khổ não

Ngã kim đảnh lễ đại pháp vương"

Nghĩa là:

"Sắc thân Như Lai như núi vàng

Như ngàn mặt trời chiếu thế gian

Hay trừ tất cả các khổ não

Con nay đảnh lễ bậc pháp vương"

Đây là những lời tán thán công đức của chư Phật, để ta thấy rằng ta nhỏ bé, ta phước mỏng mà nghiệp dày, để nêu cao công đức của chư Phật; ngày lại tháng qua, ta sẽ được sức gia trì từ chư Phật và chư vị Bồ Tát.

Hoặc giả chúng ta cần phải phát tâm bồ đề để hóa độ chúng sanh. Tâm Bồ Đề ấy do mình tự phát, không thể do người khác sai bảo mà mình có được. Ví như tự phát nguyện ăn chay trường để cứu khổ cho biết bao nhiêu vạn sinh linh, đang khổ đau vì cái ăn cái uống của mình. Không những thế mà còn phát Bồ Đề Tâm đưa tất cả chúng sanh vào các cảnh giác ngộ giải thoát và điều cuối cùng là phải thoát ly sanh tử luân hồi, thì tâm mới an vui tự tại.

Như thế rồi, mới đem công đức ấy hồi hướng đến tất cả pháp giới chúng sanh. Nguyện cho tất cả chúng sanh đều thành được vô thượng chánh chân, chứ không phải chỉ hồi hướng phần phước đức lợi lạc ấy cho chỉ riêng mình. Như thế mới là thân hành Bồ Tát đạo, tâm hành Bồ Tát hạnh.

Mỗi ngày phải siêng tu lễ bái danh hiệu Phật để trưởng dưỡng tâm từ bi, lợi tha và bình đẳng của chư Phật. Mỗi một lạy Phật, tiêu trừ đi một tội lỗi của nhiều đời nhiều kiếp hoặc vô tình hoặc cố ý, hoặc che giấu, hoặc phơi bày, chúng ta đều nhứt nhứt lễ bái nguyện cầu cho phước sanh, nghiệp giảm thì chúng ta mới có khả năng đi cứu độ những chúng sanh khác.

Tội của ta từ trong vô lượng kiếp, chất chồng như núi Tu Di, chỉ có ta - chính ta dùng tự lực sám hối và chính nhờ sự phát tâm dũng mãnh nầy mà cảm ứng đến chư Phật, chư Bồ Tát trong mười phương pháp giới mới soi sáng tâm ta. Nhờ trợ duyên về tha lực nầy mà ta thấy được chính mình và từ đó, ta mới có thể hòa nhập vào thế giới hoa tạng của chư Phật.

Kinh Phật có vô lượng nghĩa và pháp Phật có vô lượng công đức. Vì vậy trì kinh, niệm chú hay in kinh sách ấn tống v.v... thì phước đức vô lượng. Vì mỗi lời kinh là mỗi lời châu báu, là mỗi giọt nước cam lồ có thể làm cho tâm ta trong sáng lạ thường. Do vậy mà chúng ta nên siêng năng tụng kinh, trì chú để nội tâm của chúng ta càng ngày càng được phong phú và từ đó ly nước nghiệp của chúng ta ngày càng trong suốt.

Nếu ai trong chúng ta siêng năng hành trì 6 pháp môn nầy hằng ngày, hằng giờ thì chắc chắn sẽ có kết quả. Nhưng mấy ai thấy được cái lợi ích của sức mạnh vô hình nầy? Thông thường, ai trong chúng ta cũng mong làm cái gì đó phải có kết quả liền thì mới tin rằng, điều ấy có hiệu lực; nhưng cái giá của giải thoát và của sanh tử luân hồi, không phải mua và trả bằng tiền, mà trả cả một hay nhiều kiếp trong sự siêng năng tinh tấn tu hành, thì mới mong xa rời được những cám dỗ của thế gian nầy.

Trên đây là định nghĩa đơn giản về chữ "Tu". Còn gieo duyên là gieo cái gì đây? Ở đây động từ "gieo" mang hàm một ý nghĩa, một động tác đã, đương và sẽ bắt đầu một sự kiện. Chứng tỏ rằng chúng ta đang hạ thủ công phu. Không phải chỉ nói suông, mà đã bắt đầu vào cuộc rồi đó. Người tu hành giống như người nông phu gieo lúa vào ruộng, để sanh ra cây mạ, rồi mạ con sẽ trở thành cây lúa và lúa sẽ đơm bông, kết hạt. Sau 3 tháng chúng ta sẽ gặt lúa về nhà. Như vậy, nếu có gieo thì chắc chắn sẽ có gặt. Nhân là hạt lúa thì quả sẽ ra nhiều hạt lúa khác nữa. Cứ thế 1 sẽ thành 2, thành 5 và thành 10. Nhân từ bi cũng vậy. Nếu chỉ gieo một tâm từ bi vào ruộng phước điền của Như Lai, thì chắc chắn rằng quả giải thoát sẽ sinh ra muôn lối cho mình và cho chúng sanh đủ hoặc dư dùng. Tuy nhiên nhiều khi gieo hạt giống lép thì cây lên sẽ èo ọp. Do vậy phải chọn giống mà gieo, giống ở đây là giống từ bi, lợi tha, trí tuệ và vô ngã v.v... Nếu chúng ta gieo những giống nầy thì chắc chắn chúng ta sẽ có những quả tương xứng với cái nhân kia. Còn chúng ta chỉ khư khư gieo những giống của phiền não khổ đau, của luân hồi sanh tử, của ái dục, của si mê, của hận thù thì chắc chắn quả kia không bao giờ ngọt được. Chỉ có toàn là những vị đắng của cuộc đời mà thôi.

Trên chiếc y của Phật, các vị Bồ Tát hoặc của chư Tăng Ni đều có những mảnh ruộng dài ngắn khác nhau. Đây gọi là: phước điền y. Nếu ai đó, dầu cho là Phật Tử tại gia hay xuất gia gieo những hạt giống giác ngộ, hạt giống phước đức vào những mẫu ruộng nầy thì sẽ phát sanh ra những quả lành, quả giải thoát. Vì nơi chính tự thân của các Ngài là nơi để cho chúng sanh nương nhờ và từ cái bến bờ của tâm nguyện ấy, có thể đưa chúng sanh đến được những nơi chốn an vui hơn. Gieo như thế cũng gọi là gieo duyên. Duyên đây là nhân duyên với Phật Pháp, hoặc là nhân duyên với Tam Bảo. Gieo duyên cho các đời kế tiếp v.v...

Ở các nước Phật Giáo Nam Tông như Lào, Thái, Cao Miên v.v... từ dân cho đến quan, đến Vua, là người nam, trong suốt cuộc đời họ, phải đi tu một lần; ít nhất là một tuần, đến một tháng hay nhiều năm, tùy theo lời nguyện của mỗi người. Hoặc giả đôi khi cũng có người tu suốt cuộc đời của mình tại những chốn thiền môn yên tịnh, hay ở những nơi thâm sơn cùng cốc, để tìm về con đường giải thoát mà chính người đó đã chọn. Ở các nước nầy người Phật Tử quan niệm rằng: Nếu là thanh niên, đàn ông, con trai mà không vào chùa để tu như vậy thì không có đạo đức, sau nầy thành lập gia đình sẽ không bảo đảm đời sống nội tâm; nên khó bề mà đi lấy vợ. Đó là quan niệm đơn thuần đã thành nề nếp ở những xứ nầy. Tuy nhiên cũng có nhiều người quan niệm rằng tu một tuần hay 10 ngày, nửa tháng hoặc hơn nữa là để báo hiếu cho mẹ cha, khi mẹ cha đã mãn phần. Tục lệ nầy cũng hay. Vì không phải sống riêng cho chính mình, mà vì ơn sanh thành dưỡng dục của mẹ cha, mà người con trai ấy đã hy sinh mái tóc xanh, thuộc một phần thân thể của mình để đền ơn đáp nghĩa. Đây cũng là một nghĩa cử đẹp của những tập tục Phật Giáo theo các xứ Nam Tông nầy. Tập tục nầy cho đến bây giờ các dân tộc nầy vẫn giữ. Đây là một truyền thống đẹp.

Riêng về Việt Nam chúng ta thì bị ảnh hưởng của Đạo Khổng nhiều; nên trong tất cả mọi sự báo hiếu, bị Nho gia chế ngự nhiều hơn là Phật Đạo. Phải thành thật mà nói như thế; vì Khổng Giáo đã ăn sâu vào nề nếp phong tục của người Việt Nam từ mấy ngàn năm nay. Đôi khi lại nhuốm mùi mê tín đị đoan trong khi lo báo hiếu. Phật Đạo cũng đã có mặt tại Việt Nam mấy ngàn năm nay; nhưng triết lý của Phật Giáo thì quá cao siêu mầu nhiệm khiến cho những người dân bình thường khi theo Phật Giáo khó thâm nhập và khó hành trì những tinh thần vô ngã, không và vô tướng nầy. Đạo Phật phổ cập; nhưng phải chia ra nhiều loại và nhiều từng lớp dân chúng khác nhau. Tuy Đạo Phật lâu đời là vậy; nhưng người hiểu Đạo Phật một cách đứng đắn và thực hành theo mọi pháp môn không phải là nhiều. Khởi đi từ tinh thần và lý do nầy; nên năm nay Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất Âu Châu sẽ có hai chương trình tu gieo duyên ngắn hạn cho Phật Tử tại gia, gồm hai điều như sau:

Từ ngày 1 đến ngày 14 tháng 7 năm 1999, tại Chùa Viên Giác, chư Tăng Ni Âu Châu sẽ làm lễ Kiết giới An cư trong 2 tuần lễ. Trong 2 tuần lễ nầy nếu các Phật Tử tại gia nào muốn phát tâm tu gieo duyên với Tam Bảo hoặc để báo hiếu với mẹ cha, đều có thể thực hiện được. Hình thức là làm lễ xuống tóc (điều nầy tự nguyện, không bắt buộc), thọ hạnh của người xuất gia sống thanh tịnh suốt 2 tuần lễ nầy tại chùa. Nếu một số quý vị chỉ muốn tu học, nhân việc chư Tăng Ni vân tập về đây an cư trong thời gian nầy với hình thức hộ trì Tam Bảo, ủng hộ Phật Pháp được xiển dương. Điều nầy cũng xin tán thán, xin tự tiện về chùa, không cần thông báo trước.

Điều thứ 2 mà Giáo Hội Âu Châu, đặc biệt là Thượng Tọa Tổng Vụ Trưởng Tổng Vụ Tăng Sự đã chuẩn y cho các vị đã thọ Bồ Tát giới tại gia theo tinh thần cũ là đã ăn chay trường, giữ hạnh thanh tịnh, đang giữ 10 giới trọng, 48 giới nhẹ; hoặc giả giữ 6 giới trọng, 28 giới nhẹ theo tinh thần của Kinh Ưu Bà Tắc giới và do Ngài Thái Hư Đại Sư chủ xướng vào đầu thế kỷ thứ 20 nầy tại Trung Hoa, thì cả 2 trường hợp trên đều được đắp y màu nâu, 2 miếng chắp lại, gọi là man y. Y nầy chỉ đắp được khi có khóa giáo lý tại Âu Châu và khóa An Cư Kiết Hạ của chư Tăng tại Âu Châu trong vòng 4 tuần lễ tất cả vào khoảng tháng 7 dương lịch mỗi năm mà thôi. Sau đó các vị Bồ Tát giới tại gia mang y nâu nầy về thờ tại tư gia của mình, chứ không được phép đắp y nầy đi cúng bái hoặc bố tát. Vì lẽ không có sự đảm bảo khi xử dụng pháp y của Phật, khi không có sự đồng ý của chư Tăng và Tăng Sự; do vậy mong rằng quý Đạo Hữu và quý Phật Tử xa gần sẽ hoan hỷ đón nhận niềm vui nầy, đồng thời cũng hoan hỷ cộng tác cho những đề nghị của Giáo Hội Âu Châu đã đề ra. Vì đây là lần đầu tiên của Âu Châu thực hiện.

Thật sự ra việc tu gieo duyên các nước Nam Tông Phật Giáo đã có tự bao đời nay. Việc đắp y nâu của Bồ Tát giới tại gia ở Trung Quốc cũng đã thực hành từ lâu; nhưng ở tại Việt Nam, trong cũng như ngoài nước đều chưa trở thành thói quen hay luật lệ. Do vậy Giáo Hội tại Âu Châu tạo phương tiện cho quý Phật Tử tại gia tu học, nhằm gieo duyên với Tam Bảo. Đây là một sự tổng hợp những cái hay của Nam Tông và Bắc Tông để Phật Giáo Việt Nam chúng ta có một lối đi khác, nhằm giúp đỡ và tạo cơ duyên cho những vị muốn xuất gia cả cuộc đời nhưng chưa thực hiện được. Chỉ có cách nầy mới giúp cho các Phật Tử như thế được mãn nguyện tòng tâm mà thôi. Ngoài ra việc đắp y thọ giới, ở đây mới chỉ nằm về vấn đề giới tướng mà thôi. Người tu Phật chú trọng ở phần giới tánh nhiều hơn, chứ không phải ở phần giới tướng. Do vậy, dầu người đã thọ Bồ Tát giới rồi, có y áo do chư Tăng trao truyền đi nữa, điều ấy cũng chỉ có nghĩa là khuyến tấn chính quý vị và những người đi sau càng nên nỗ lực nhiều hơn để tiến tu đạo nghiệp và những phương tiện nầy chỉ là những hành trang để thực hành con đường Bồ Tát đạo mà thôi.

Ngày xưa vua Lương Võ Đế của Trung Hoa chỉ gieo một nhân nhỏ là lấy nón của mình đang đội đem che cho một tượng Phật bị dãi dầu với sương gió, mà kiếp lai sinh đã được làm Vua. Hoặc giả trong Kinh Pháp Hoa cũng đã có diễn giải rằng: Có những đứa bé lấy đất sét nắn thành một tượng Phật với tâm cung kính mà sau nầy cũng sẽ là một vị Phật ở đời vị lai. Hoặc đọc Tiền Thân của Đức Phật trong vô lượng kiếp trước, lúc nào Ngài cũng thực hiện hạnh bố thí, xả ly để cầu đạo vô thượng chánh giác; nên sinh ra trong đời nào Ngài cũng thành tựu nhiều quả vị khác nhau. Ngược lại cái nhân của việc ngược đãi cha mình là Vua Tần Bà Sa La thì sau nầy A Xà Thế cũng đã bị hành nghiệp dẫn dắt vào con đường mê lộ. Hoặc như Đề Bà Đạt Đa hay Da Xá; tất cả đều vì danh lợi, sắc tướng chứ không phải vì việc giải thoát sanh tử nên đã làm cho giáo đoàn phân ly và kết cuộc Giáo Hội của Đề Bà Đạt Đa hay của Da Xá chỉ tồn tại trong một thời gian ngắn để rồi mãi mãi mai một với thời gian. Nếu có còn chăng, chỉ là những hình ảnh của ma giả Phật mà thôi. Ngày nay những Giáo Hội như thế nầy không phải là không còn tồn tại; nhưng chỉ dưới những hình thức khác.

Do vậy Giáo Hội Âu Châu đã tuyển lựa ra một pháp môn hợp lý nhất cho các Phật Tử tại gia tu gieo duyên, không sớm thì muộn, chắc chắn nhân xuất gia và quả giải thoát sẽ đến với quý Phật Tử không xa, hoặc trong đời nầy, hoặc ở những kiếp sống gần đây thôi. Xuất gia là một hạnh viễn ly, xa rời các sự trói buộc, để bước vào hàng thánh trí. Không phải xuất gia để tìm một đời sống lợi dưỡng cho cá nhân mình. Vì nơi thiền môn tuy rộng rãi, nhưng không kham nổi để chứa chấp những tâm hồn còn đầy tục lụy như thế. Dĩ nhiên chúng ta còn là hàng chúng sanh, vẫn còn bao nhiêu cái thường tình của nhân thế; nhưng không vì thế mà chúng ta xa rời Phật tánh của mình. Chúng ta chưa phải là Phật, là Bồ Tát; mà chúng ta chỉ là những người học và hành theo hạnh của Phật cũng như của chư vị Bồ Tát mà thôi.

Đại Thừa giáo được gọi là phương tiện hoặc giải thoát môn. Ai đi vào cửa ngõ nầy, chính là đi vào ngôi nhà phương tiện vậy. Mà phương tiện để làm gì? Ấy cũng không ngoài mong con người vào con đường liễu ngộ chân tâm Phật tánh của mình, ngoài ra không có một mục đích nào khác.

Hôm nay tôi viết bài nầy với cả một tấm lòng và mong rằng vườn hoa giác ngộ tại Âu Châu nói riêng, tại ngoại quốc nói chung càng ngày càng trổ ra, nở lên những bông hoa tươi thắm như thế để điểm tô cho cuộc đời nầy vốn đã nhiều khổ đau, tục lụy, được thăng hoa hơn, được ý nghĩa hơn nữa. Có như thế mới thực hiện được lời di huấn của Đức Thế Tôn, mà mấy ngàn năm sau vẫn còn vang vọng nơi chốn trời Tây nầy.

Một lần nữa, mong rằng mùa An Cư Kiết Hạ năm nay sẽ có nhiều tâm hồn mới, biết hướng về và nói lên tinh thần quyết tâm cầu đạo của quý vị Phật Tử tại gia, để rồi một mai đây nơi Liên Trì Hải Hội sẽ gặp gỡ nhau dưới ánh từ quang của Đức Phật A Di Đà.

Mong lắm thay.

( Viết xong vào một sáng mùa Xuân

tại thư phòng chùa Viên Giác - tháng 5 năm 1999

( Số 111 (Tháng 6.1999)

Vọng cố hương

Thế kỷ thứ 20 gần 100 năm sắp trôi qua. Từ đây đến cuối năm 1999 chỉ còn lại mấy chục ngày nữa thôi. Thiên hạ bàn tán đủ điều, nào động đất, thiên tai, tận thế... Riêng tôi, một nỗi lòng bùi ngùi cứ dõi trông về cố quốc, như chờ đón một tin gì đó; nhưng vẫn mãi còn xa. Vì đã gần 30 năm xa quê rồi còn gì nữa!

Khi người ta còn ở trong quê hương, sống với tình người, núi sông, cây cỏ. Người ta thường không để ý đến những điều ấy. Vì lẽ chúng ta xem chúng như một lẽ tự nhiên của cuộc đời; nhưng khi xa quê rồi, mới thấy nó thấm thía làm sao! Cảm giác nầy lấy gì để diễn tả được? dầu viết lên thành lời, hay ca ngợi quê hương dưới bất cứ một hình thức nào đó, cũng chỉ bằng thừa. Vì quê hương đã có trọn vẹn nơi mỗi người, và chính mỗi người tự cảm nhận tình cảm quê hương như thế nào và bằng nhiều nỗi khắc khoải khác nhau, không ai giống ai cả.

Ngày xưa Hạ Tri Chương đã xa quê từ lúc còn tấm bé và lúc về lại quê hương mình thì tóc mai đã bạc. Tuy giọng nói là của người quê. Lũ trẻ con gặp lại người xưa rất lạnh lùng và chúng cười hỏi khách rằng từ đâu tới? Tôi và quý vị có lẽ cũng giống tâm sự nầy chăng? Mười năm có là bao! rồi hai mươi năm, ba mươi năm, bốn mươi năm, hay còn nhiều hơn thế nữa, để rồi một ngày nào đó, mình sẽ trở lại thăm quê, cũng giống như tâm sự của Hạ Tri Chương chăng?

Tôi chép lại bài thơ nầy bằng chữ Hán như sau:

105nhungdoanvan

Hồi hương ngẫu thi

Thiếu tiểu ly gia lão đại hồi

Hương âm vô cải mấm mao thôi

Nhi đồng tương kiến bất tương thức

Tiếu vấn khách tòng hà xứ lai.

(Hạ Tri Chương)

Trên đây là bài thơ nguyên văn bằng chữ Hán và đã phiên âm ra phần Hán Việt. Nữ sĩ Ái Cầm, tức phu nhân của nhà thơ Thái Tú Hạp, chủ nhiệm tuần báo Saigon Times ở Mỹ, đã chuyển ngữ bài nầy thành 2 đoạn thơ ý vị như sau:

Cảm xúc về làng

I. Trẻ lãng du già về cố xứ

Giọng không thay pha tuyết mái đầu

Đám trẻ nhỏ thờ ơ không biết

Cười hỏi ta khách đến từ đâu?

II. Trẻ đi già trở về nhà

Giọng quê vẫn giữ tóc đà pha sương

Thiếu nhi gặp gỡ lạnh lùng

Cười lơ đễnh hỏi, khách phương nào về?

Riêng tôi không có tài làm thơ; nhưng khi nghe và đọc đến bài thơ nầy, tự nhiên cảm xúc giống với tâm trạng của mình; nên đã dịch lại như sau:

Về thăm làng cũ

Lúc nhỏ xa quê già trở lại

Tiếng xưa không đổi tóc mai thay

Trẻ con trông thấy không hề biết

Cười hỏi khách rằng đến nơi nao?

Ai ra đi mà không mong ngày trở lại? vì quê hương chính là giọt mật, là gạo cơm, là tình người, là sông núi, lúc nào chúng ta cũng hướng về, để rồi một mai kia sẽ có ngày trở lại. Chúng ta sẽ trở lại thăm quê hương nay mai, cũng có thể ở cuối cuộc đời; nhưng cũng có thể còn lâu hơn nữa. Giống như con cháu của vua Lý Thái Tổ đã xa quê gần 900 năm, bây giờ từ Đại Hàn đã về lại quê xưa thăm mồ mả ông bà tổ tiên. Dẫu rằng đã bao thế hệ thay ngôi, đổi chủ, con cháu của dòng họ nầy đã bị biến đổi với thời gian; nhưng có một điều không đổi. Đó là tình quê. Khi còn nhỏ, chúng ta ra đi cũng chỉ để ra đi mà thôi. Có người vì lý do nầy hay vì lý do khác; nhưng dẫu cho lý do nào đi chăng nữa, ở nơi sâu kín của tâm hồn họ, là một tình quê chất ngất muôn màu. Họ tự điểm tô tình quê nầy bằng nhiều hình thức khác nhau như: bảo vệ tiếng nói, bảo vệ phong tục tập quán của mình khi xa quê. Tuy xa quê như vậy; nhưng giọng quê vẫn không thay đổi. Dầu cho năm tháng có đổi thay. Dầu cho trên đầu đã hai thứ tóc, tóc mai đã đổi màu, thân thể đã già nua. Khi gặp lại người xưa tại làng cũ, chỉ còn thấy trẻ con ngơ ngác nhìn mình. Vì không biết rằng ông già nầy từ đâu đến; nên đã cười hỏi bảo nhau như thế!

Nếu quả thật là vậy thì người xa quê cũng lắm nỗi ngậm ngùi. Vì lúc nào trong tâm khảm của chúng ta cũng có quê hương; nhưng quê hương đó lại chối từ ta, chối từ những đứa con xa xứ chăng? hay tại không gian và thời gian cách trở nên mọi vật đã đổi thay? và từ đó nơi ta chỉ còn một tâm sự là trông vời cố quốc và mòn mỏi ngóng trông một ngày về?

Tôi chắc rằng quý vị cũng như tôi, có người xa quê lâu hơn tôi; nhưng cũng có người còn ít hơn tôi. Cũng có lắm người chết chìm nơi biển cả. Cũng có kẻ làm mồi cho thú dữ nơi rừng sâu. Hoặc giả, cũng có người gởi nắm tro tàn nơi đất tạm dung và hồn thiêng thì vất vưởng đâu đó để tìm một hướng trở về. Có người ra đi cũng tạo nên được nhiều công trạng; nhưng cũng có lắm người ra đi vì chạy trốn quê hương. Có người chối bỏ tình quê, chối phăng đi quá khứ, muốn hội nhập vào nơi chốn nầy để trở thành một người Mỹ, một người Anh, một người Pháp, một người Đức chánh hiệu ở những thế hệ sau nầy. Điều ấy hẳn có lý do riêng của từng cá nhân; nhưng tựu chung, con người, chúng ta còn tình cảm, còn cội rễ, nguồn gốc và còn xứng đáng là con người, khi con người đó còn biết cội nguồn của dân tộc.

Dưới đây là một số câu chuyện có thật, diễn tả tâm trạng của những người xa quê, mà thời gian cách đây không quá 30 năm. Câu chuyện đầu đo báo Nhân Bản tại Paris kể lại. Câu chuyện thứ hai do truyền hình Đức loan tin và câu chuyện thứ ba do chính tai tôi nghe và mắt tôi thấy.

Câu chuyện thứ nhất được kể lại như sau:

"Có một thanh niên Việt Nam sinh ra và lớn lên tại Pháp. Ở gia đình thì cha mẹ muốn cho con mình giỏi tiếng Pháp; nên nói chuyện với nhau không dùng tiếng Việt, mà dạy dỗ con mình như một người Pháp. Cậu bé Việt nầy lớn lên trong lòng của thủ đô Paris mang quốc tịch Pháp. Lúc nào cậu ta cũng hiểu rằng mình là một người Pháp chánh cống. Vì nói tiếng Pháp như Tây và phong tục, tập quán, học hành, cậu ta đều theo Tây một trăm phần trăm. Một hôm nọ vào một ngày cuối tuần, cậu ta say sưa với bạn bè Pháp và trên đường đi bộ về nhà, cậu ta trúng gió ngã lăn ra đường lúc nào không hay biết; đến khi tỉnh dậy thì cậu ta nghe thoang thoảng bên tai của những người qua lại nói bằng tiếng Pháp rằng: "Tại sao người Tàu nầy lại nằm đây?". "Hắn là người Tàu hay Việt Nam vậy?". "Tụi ngoại quốc vào đây chiếm hết công ăn việc làm của chúng ta, kệ, bỏ mặc xác cho nó chết v.v... và v.v...". Khi cậu ta nghe được những lời mạ lỵ của những người địa phương bằng những câu Pháp ngữ không gì khó hiểu mấy, cậu ta tự đứng dậy và ngẫm nghĩ mãi về những điều vừa qua mà cậu ta đã nghe được.

Lâu nay cậu ta cứ đinh ninh rằng mình là người Pháp chính hiệu. Vì mình nói tiếng Pháp như Tây; nhưng không ngờ mình vẫn còn là dân da vàng, mũi tẹt, còn mái đầu đen v.v... và cộng đồng nầy vẫn không chấp nhận mình. Kể từ đó cậu ta hay suy nghĩ về thân phận của mình và lúc nào cậu ta cũng tự vấn lương tâm, thế là bây giờ mình phải làm gì đây? phải chứng minh như thế nào mình là người Việt. Đầu tiên cậu ta tìm đến các Chùa và các Hội Đoàn tại Paris nơi có dạy tiếng Việt và thế là cậu sinh viên ấy, người da vàng tóc đen ấy sinh tại Pháp đã đem hết khả năng của mình trau giồi Việt ngữ, học văn hóa Việt, ăn cơm Việt, thực hành tập quán Việt trên xứ Tây. Chẳng mấy chốc cậu ta trở thành một người Việt Nam thuần túy có văn hóa Tây phương".

Câu chuyện thứ hai như thế nầy:

"Có một chú bé Đại Hàn không cha mẹ. Lúc nhỏ chú ở trong Cô Nhi Viện tại Hán Thành. Ở Đức có một gia đình không có con, muốn nhận chú làm con nuôi. Sau đó chú được đưa về Đức lúc vừa 2 tuổi. Dĩ nhiên là sau đó tiếng Đại Hàn của trẻ thơ đã được quên đi mau chóng và nhường chỗ cho việc phát triển khả năng Đức ngữ. Đến khi chú bé nầy lớn lên trong xã hội Đức, về sự giáo dục, chú là người được học hỏi và ảnh hưởng bởi mọi vấn đề ở đây. Ở trong gia đình Đức, chú bé nầy rất được thương yêu, chiều chuộng. Đến khi lớn lên đi học thành tài, ra trường với bằng cấp của Đại Học, chú đi làm việc. Tại hãng xưởng chú bị đối đãi như là một người ngoại quốc. Vì người Đức nhìn vào, thấy chú là người Á Châu, mặc dầu chú nói tiếng Đức sành sỏi như người Đức. Sau những tháng ngày làm việc mệt nhọc nơi hãng, chú luôn luôn ưu tư về thân phận của mình và cuối cùng thì chú quyết định là phải về lại Đại Hàn để tìm lại phong tục, tập quán nơi đó. Thế là chú đã ra đi.

Khi về lại Đại Hàn chú thấy cái gì cũng khác lạ với mình, không giống như những gì ở Đức chú đã học được, nhất là ngôn ngữ. Chú bây giờ là một thanh niên với vóc dáng là một người Đại Hàn; nhưng thực tế thì chú bị xa lạ đối với quê hương của chú. Chú cũng rất buồn và đài truyền hình Đức hôm đó kết luận rằng: "Vấn đề đa văn hóa phải được đặt ra tại xứ Đức"; nhưng về số phận và tâm tư của chú thanh niên Đại Hàn nầy sau đó biến đổi như thế nào thì tôi không được biết".

Riêng câu chuyện thứ ba nầy liên quan đối với cố hương Việt Nam, mà câu chuyện nầy chính bản thân tôi đã chứng kiến, gặp gỡ và nhân vật ấy hiện sống tại Đức nầy. Câu chuyện như sau:

"Nguyên là trước năm 1975 tại miền Nam Việt Nam có nhiều Cô Nhi Viện. Nơi đó nuôi nhiều trẻ em mồ côi của chiến tranh, các em bị mất cha lẫn mẹ, hoặc con cái vô thừa nhận v.v... Vào thời điểm năm 1973, có một gia đình người Thổ Nhĩ Kỳ qua Việt Nam thăm chơi và xin một chú bé về nuôi. Chú bé nầy sinh năm 1971. Năm nay đã được 29 tuổi rồi. Chú nầy sau đó được đưa về Thổ Nhĩ Kỳ. Chú lớn lên trong một gia đình giàu có và theo Hồi Giáo. Chú nói tiếng Thổ và tiếng Anh cũng như tiếng Đức, riêng tiếng Việt thì không còn nhớ một tiếng nào cả. Sau khi tốt nghiệp tú tài tại Thổ, chú được gia đình cho sang Đức du học. Khi sang Đức học thì chú tự tìm đến Niệm Phật Đường Tâm Giác tại München để làm quen với những người Việt Nam tại đây. Mới đầu ai cũng tưởng chú là người Thổ thật. Vì màu da, nét mặt và tóc tai giống hệt như Thổ, chỉ còn một chút tánh tình là giống người Việt Nam thôi. Khi gặp mọi người chú dùng tiếng Anh và tiếng Đức trao đổi; nhưng chú cảm thấy cái gì đó không ổn nên mới tìm học tiếng Việt Nam. Sau một thời gian học tiếng Việt, chú đã dùng chữ khá rành.

Một hôm gặp tôi chú bảo là con sẽ đi về Việt Nam để tìm lại cha mẹ sinh ra của mình tại đó. Tôi rất cảm động và thầm nghĩ trong bụng rằng đúng là: "lá rụng về cội". Sau hơn 3 tháng ở Việt Nam qua chú gởi cho tôi 3 cuộn băng Video thâu tất cả mọi sinh hoạt của Việt Nam từ Hà Nội cho đến Sàigòn và các phong cảnh miền Tây. Từ nồi bánh chưng nấu vào đêm 30 Tết. Lễ đón giao thừa, lễ cáo gia tiên. Các tập tục cưới hỏi, ma chay, nuôi cá, nuôi gà, nuôi heo, cho đến cây ổi, cây nhãn, cây xoài v.v... chú đều quay rất tỉ mỉ. Riêng tôi khi xem phim nầy lại còn nhớ quê hương nhiều hơn nữa. Nhớ tận cùng cho đến trong tâm thức sâu thẳm của mình.

Vì tôi cũng sinh ra tại nơi đây; nhưng gần 30 năm rồi tôi đâu có cơ hội để quay về như chú vậy đâu. Nơi nào trên thế giới tôi cũng đã đi và đến; nhưng những cảnh cũ, người xưa như thế tôi đã chưa một lần tiếp xúc. Hơn 50 tuổi, mà thời gian ở ngoại quốc gần 30 năm, thì chắc chắn rằng cái gốc ở Việt Nam ngắn hơn là cái thân đang được trưởng thành tại ngoại quốc rồi. May mà tôi còn có những liên hệ sau nầy với quê hương; nếu không thì thời gian cũng sẽ bị mai một đi mất rồi.

Sau khi xem phim xong tôi trả lại cho chú và chú khoe với tôi bằng tiếng Việt rằng: Bạch Thầy, sau này con sẽ lấy vợ Việt Nam và con theo Phật Giáo chứ con không theo Hồi Giáo nữa. Khi nghe chú nói như vậy, tôi vừa mừng vừa lo và bảo với chú rằng: Như vậy cha mẹ của chú tại Thổ Nhĩ Kỳ sẽ buồn chú lắm đó. Chú đắn đo một hồi và trả lời với tôi rằng: "Nhưng con là người Việt Nam kia mà".

Tôi làm thinh không nói gì nữa cả và tự nhiên trong tâm tư mình lại xúc động mạnh. Đúng là: cáo chết 3 năm quay đầu về núi. Con vật còn tìm lại núi rừng của chúng mà quay về để nương tựa với hồn thiêng, thì ở đây con người như thế là phải. Dĩ nhiên đây chỉ là một số trường hợp cá biệt mà thôi, chứ còn không biết bao nhiêu trường hợp dị biệt nữa. Nghĩa là: xin nhận nơi nầy làm quê hương, chứ không nhìn nhận mình là con Hồng cháu Lạc. Nhưng tôi mong rằng những người như thế khi đọc về 3 câu chuyện bên trên tôi vừa kể sẽ tự nhận thức về vị trí của mình để làm gương; nếu không, thời gian sẽ chôn vùi mình vào dĩ vãng, với bả lợi danh và mùi vinh hoa phú quý của những xã hội nặng về tiền tài mà nhẹ về nhân nghĩa vậy.

Tại sao người Việt Nam chúng ta lại có những khổ nạn ấy? Chúng ta không có lỗi gì hết; nhưng có lẽ vì chính kiến bất đồng. Vì tự hào tôn giáo, vì văn hóa sai biệt v.v... chúng ta đã bị vẽ mặt để đá nhau từ thời lập quốc cho đến bây giờ. Đã có không biết bao nhiêu chuyến ra đi. Cũng đã có không biết bao nhiêu thành công tại Đại Hàn, Đài Loan và Âu Mỹ ngày nay; nhưng cũng đã có không biết bao nhiêu chuyến ra đi không có ngày trở lại.

Người Trung Quốc yêu quê hương Trung Quốc như Hạ Tri Chương đã diễn tả tâm trạng của mình khi trở về thăm lại quê hương làng cũ qua bài thơ trên. Người Nhật, người Đại Hàn, người Mông Cổ, người Việt Nam v.v... chắc chắn ai ai cũng giống như thế. Vì ai cũng có một nỗi niềm riêng, mà nỗi niềm ấy đã chôn chặt nơi cố hương, nơi mà đã chôn nhau cắt rún của họ; nơi mà tiếng khóc chào đời họ đã thốt lên trong khoảng không gian vô tận ấy.

Người Đức cũng có câu tục ngữ là: "trái táo không rơi khỏi gốc táo" cũng nhằm để chỉ cho ý nghĩa: lá rụng về cội nầy. Không biết những người Âu Châu khi sang Mỹ Châu và Úc Châu định cư trong những thế kỷ trước và những năm tháng gần đây có cùng tâm sự ấy không, chứ chắc chắn một điều là họ không bao giờ quên đi cội nguồn của họ. Bằng chứng là tôi đã đến Úc để xem những làng làm rượu nho của người Đức, mà cha ông họ bao đời đã đến đây lập nghiệp; nhưng mẫu mã của rượu nho và ngôn ngữ của họ dùng vẫn là tiếng Đức. Tôi cũng đã có ghé thăm những giáo đường và trường học của người Đức tại Úc, họ cũng đã rập y khuôn mẫu như tại nước Đức ngày nay.

Tại Canada và Hoa Kỳ cũng thế. Đến đâu người Âu Châu cũng thành lập những trường học, nhà thờ và đặt tên các địa danh giống hệt như tại Âu Châu. Một hôm tôi lấy máy bay từ Washington DC để trở về Hannover - Đức, cách đây 10 năm về trước. Người làm vé lên tàu bảo với tôi là chuyến bay đi Hannover đã hết chỗ. Tôi tròn xoe đôi mắt và hỏi lại người cân kiểm hành lý là có thật như thế không? vì lẽ trước khi từ Đức đến đây tôi đã xác nhận ngày về rồi. Tại sao lại có chuyện nầy? Người nhân viên phụ trách sau khi xem Computer một lần nữa, đã xin lỗi tôi rằng: Xin ông thứ lỗi cho, vì cứ tưởng là đi Hannover tại nước Mỹ, chứ không ngờ là Hannover tại Đức. Tôi nhoẻn miệng cười an tâm; nhưng đồng thời tôi cũng đã biết thêm được một điều lạ là tại Mỹ cũng có thành phố Hannover. Sau nầy tôi phát hiện thêm là tại Mỹ cũng có những thành phố Düsseldorf và Mannheim nữa. Điều ấy hẳn có lý. Vì người Âu Châu trước đây đến chinh phục Mỹ Châu, Úc Châu và Á Châu, họ ở vào thế mạnh là dân đi chiếm đất để làm thuộc địa. Còn thân phận bèo giạt mây trôi như người tỵ nạn Việt Nam chúng ta thì sao? Cũng có thành phố Sàigòn nhỏ tại thành phố Westminster thuộc Tiểu Bang California để nhớ về một Hòn Ngọc Viễn Đông ở một thời điểm xa xôi nào đó; nhất là thời điểm của năm 1975, mà mọi người Việt Nam đã bỏ nước ra đi, chỉ vì không đồng chính kiến của người Cộng Sản.

Một hôm tôi đi lang thang trên đường phố của Hồng Kông để tìm những trái cây Việt Nam như mãng cầu, chuối tiêu, măng cụt v.v... bỗng nhìn lên tên đường thì thấy bản đề là Saigon Street. Đường nầy cũng là đường mà tôi đang ở khách sạn Majectic tại đây. Khi đến đây, tôi chỉ biết tên khách sạn thôi; vì có người đưa đón. Không ngờ tên Sàigòn lại dội ngược vào tâm tôi, như một kỷ niệm gì thật đẹp, mình đã mất mát lâu nay và bây giờ đã tìm lại được, mà thời điểm ấy là vào ngày 20 tháng 10 năm 1999 mới đây, khi phái đoàn hành hương từ Trung Hoa lục địa trở về, để ngày 21.10 trở về lại Đức Quốc, chứ không lâu gì mấy.

Hồng Kông đã được Anh trả lại sau hơn 100 năm chiếm làm thuộc địa vào cuối năm 1997 và nay mai Macao cũng sẽ được Bồ Đào Nha trả lại cho Trung Quốc vậy. Trên phương diện hành chánh, bây giờ Hồng Kông đã trả về lại cho Trung Quốc; nhưng sau 2 năm tôi trở lại đây, người Hồng Kông vẫn nói mình là người Hồng Kông chứ họ không nói họ là người Trung Quốc và người Đài Loan cũng vậy. Điều quan trọng với tôi là con đường mang tên Sàigòn vẫn không đổi, chứ không phải là việc đổi chủ thay ngôi. Vậy nhân đây thử hỏi những người lãnh đạo Cộng Sản Việt Nam, vì lý do gì mà thay đổi tên thành phố Sàigòn thành một cái tên xa lạ với người dân Việt Nam như thế?

Những ai học lịch sử đã biết điều nầy. Thành phố Karl-Marx tại Đức đã được mang lại tên cũ ngày xưa của nó là Chemnitz. Thành phố Lénin Grad tại Nga đã đổi lại thành thành phố St. Peterburg như những thời cộng sản chưa nắm quyền tại Nga cách đây 80 năm về trước và hy vọng thành phố Sàigòn cũng sẽ được trả lại như xưa, để con cháu của người Việt Nam từ ngoại quốc trở về lại thăm cố hương không còn bỡ ngỡ như trong hiện tại nữa.

Tôi đã đi Trung Quốc 2 lần, mỗi lần 21 ngày. Tổng cộng là 42 ngày ở Trung Quốc. Một xứ Trung Quốc rộng lớn như thế phải đi và ở con số ngày phải gấp 5, 6 lần như thế mới gọi là đầy đủ; nhưng chắc chắn một điều không có thành phố nào mang tên Mao Trạch Đông hay Karl-Marx hoặc Lénin cả; chỉ thấy mang tên Nam Kinh, Bắc Kinh, Thượng Hải, Trùng Khánh, Thiên Tân, Quảng Châu v.v... rất quen thuộc với những người xa xứ, dầu chế độ đã đổi thay và một điều đặc biệt khác nữa cũng cần nên lưu ý, khi Bác sĩ Tôn Dật Tiên, người cha của chủ nghĩa Tam Dân (Dân Sinh, Dân Tộc, Dân Quyền) đã đứng lên lật đổ triều đại nhà Thanh vào ngày 10 tháng 10 năm 1911. Từ đó cho đến năm 1949 Quốc Dân Đảng và Cộng Sản Trung Hoa thư tài với nhau. Tưởng Giới Thạch thua phải chạy qua Đài Loan lập nên Trung Hoa Dân Quốc. Trong khi đó Mao Trạch Đông thành lập nước Cộng Sản Trung Hoa vào ngày 1 tháng 10 năm 1949. Điều đáng nói ở đây là sau khi Bác sĩ Tôn Dật Tiên chết vào năm 1925, các đồng chí Quốc Dân Đảng của ông đã xây lăng mộ của ông tại Nam Kinh to lớn gần như lăng vua và trên trần lăng mộ có lá cờ của Quốc Dân Đảng mà ngày nay nước Đài Loan đang dùng, cho đến hôm nay vẫn còn đó. Nếu ai có lần đến Nam Kinh hãy nhìn lên nóc lăng tẩm của Bác sĩ Tôn Dật Tiên để thấy được điều nầy. Mặc dầu chính kiến giữa Quốc - Cộng lại khác nhau; nhưng cái nhìn của người Cộng Sản Trung Quốc chắc khác cái nhìn của người Cộng Sản Việt Nam chăng? - Việt Nam chúng ta cũng tranh đấu cho một độc lập của Dân Tộc; nhưng tinh thần của Yên Bái, tinh thần của Nguyễn Thái Học có được Cộng Sản Việt Nam tôn trọng như Cộng Sản Trung Quốc đang treo hình của Bác sĩ Tôn Dật Tiên tại quảng trường Thiên An Môn đối diện với Mao Trạch Đông vào ngày 1.10.1999 kỷ niệm 50 năm ngày thành lập nước Cộng Sản Trung Hoa ?

Tôi cũng rất đau lòng và xúc động khi viếng mộ của liệt sĩ Phạm Hồng Thái, người anh hùng Quốc Dân Đảng Việt Nam đã hy sinh vào ngày 19.6.1924 tại Trung Quốc và mộ của liệt sĩ Phạm Hồng Thái hiện đang được chôn cất, thờ tự tử tế chung với 72 anh hùng liệt sĩ của Hoàng Hoa Cương tại thành phố Quảng Châu, thủ phủ của tỉnh Quảng Đông ngày nay. Nhìn về quê hương mà đau lòng không ít. Có bao nhiêu người đã hy sinh cho nền độc lập của dân tộc; nhưng người Cộng Sản đã cướp công, còn đào mồ cuốc mả của những đồng chí của mình thuở ấy nữa. Như vậy cũng là Cộng Sản, mà cũng có Cộng Sản còn một chút lương tâm. Còn những tập đoàn Cộng Sản khác thì đã mất hết lương tâm rồi.

Từ phi trường Thượng Hải đi Thành Đô, tôi đã chụp được một tấm hình quả Thanh long Việt Nam đang bày bán tại đó. Tôi thì vui mừng; nhưng nhiều người khác chắc thấy nó bình thường. Vì đây là hình ảnh, là kỷ niệm để nhắc về quê hương của tôi mà. Tôi sẽ viết về Trung Quốc một quyển thứ hai nhan đề là "Vọng Cố Nhân Lầu" để ghi lại chuyến hành hương từ ngày 2 đến ngày 21 tháng 10 n��m 1999 và sách nầy có thể sang năm 2000 mới xuất bản được. Kính mong quý vị sẽ đón xem.

Bây giờ tuổi đã về chiều rồi; nên niềm thao thức với Quê Hương, với Đạo Pháp càng ngày càng trào dâng lên trong tâm thức; cho nên khi đọc đến bài thơ của Hạ Tri Chương tôi đã cảm xúc về cố hương trong vô vàn. Vì một mai đây khi trở về lại cố quốc, tôi đâu có khác gì tâm sự của Hạ Tri Chương và chắc rằng còn có nhiều vị đồng tình với tôi như thế nữa. Nhưng tôi đoan chắc một điều dầu quê hương, dầu thời gian và không gian có cách trở; nhưng tâm trạng của tôi vẫn là tâm trạng của một người Việt Nam xa quê không bán rẻ lương tâm của mình khi còn phải sống nơi đất khách quê người như ngày hôm nay.

Thế kỷ thứ 21 là thế kỷ của tin học, của khoa học kỹ thuật, của phát triển kỹ nghệ. Cái gì cũng phải cho mau chóng thành tựu; nhưng chắc chắn một điều tâm thức của con người cũng chỉ quay theo nhịp đập của con tim và sự nhận thức của các cơ quan nội giới, chứ không bị nô lệ hóa bởi những vật mà con người đã làm ra nó.

Kỷ niệm năm 2000 tôi chỉ có mấy lời thô thiển ghi lại tâm tư của mình khi vọng về cố quốc và mong rằng những cảm xúc nầy vẫn còn mãi trong tôi, trong quý vị cho đến tận bao giờ, chứ không phải chỉ có thời gian của năm 2000 mà thôi.

Viết tại thư phòng chùa Viên Giác

ngày 4 tháng 11 năm 1999

( Số 114 (Tháng 12.1999)

Sự giáo dục Tăng Ni và Phật Tử

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật

Ngưỡng bạch Hòa Thượng Phó Viện Trưởng

Viện Hóa Đạo GHPGVNTN

Kính bạch chư Tôn Đức

Kính thưa toàn thể quý Đạo Hữu và quý Phật Tử

Trong kỳ Đại Hội Khoáng Đại kỳ II lần nầy chúng con (tôi) được phép trình bày với quý Ngài và quý vị một đề tài có liên quan đến sự tu học và phương hướng tổ chức để hướng đến một kết quả cụ thể cho cả 2 giới Tăng Sĩ và Cư Sĩ. Đó là : "Sự Giáo Dục Tăng Ni, Phật Tử".

Thông thường bất cứ ai trong chúng ta cũng không thể tự hào rằng, không nhờ sự đào tạo, hướng dẫn, giáo dục mà thành người được; nhất là một người Tăng Sĩ để lèo lái tổ chức của Giáo Hội, hoặc một cư sĩ thuần thành để hỗ trợ cho Giáo Hội trên mọi phương diện về đường lối phát triển mang tính cách nhân bản của Đạo Phật.

Giáo có nghĩa là dạy, chỉ bày; dục có nghĩa là hướng đến, mong muốn để trở thành. Vậy giáo dục có nghĩa là hướng dẫn mọi người hướng đến một mục đích đã định sẵn có cơ bản văn hóa.

Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất chúng ta tại quốc nội cũng như hải ngoại xưa kia và ngày nay đã đóng góp vấn đề nầy cho quê hương và Giáo Hội qua nhiều hình thức khác nhau như : đào tạo Tăng tài qua các Phật Học Viện, Trường Trung Học Bồ Đề, Đại Học Phật Giáo v.v... Đối với người cư sĩ Phật Tử, Giáo Hội cũng đã quan tâm hướng dẫn qua các khóa tu học ngắn hạn như Bát Quan Trai Giới và những buổi hội thảo ngắn hoặc dài hạn v.v... Nhưng ngày nay chúng ta đang sinh sống tại ngoại quốc. Do đó, chúng con (tôi) xin đề nghị Giáo Hội có một chương trình Giáo Dục và đào tạo cho Tăng Ni cũng như Phật Tử theo kinh nghiệm của bản thân của chúng con (tôi) gần 30 năm qua sống tại Hải Ngoại nầy.

A.- Đối với Tăng Ni :

Như tất cả chúng ta đều biết, Tăng Ni là những bậc thế gian trụ trì Tam Bảo. Ngoài việc thể hiện giới đức trang nghiêm, tu hành nghiêm mật; người Tăng Sĩ cũng cần phải có một trình độ học vấn về Đời cũng như về Đạo khả dĩ, ít nhất là cấp bậc đại học thì mới mong hướng dẫn được quần chúng một cách có hiệu quả.

Ở ngoại quốc ngày nay nếu chúng ta thực hành theo lối Giáo Dục Ngũ Minh của Phật Giáo mà chư Phật, chư Tổ trong quá khứ đã thực hành, thiết tưởng cũng đã đầy đủ. Tuy nhiên chúng ta vì hoàn cảnh địa lý hoặc kinh tế khó khăn, chúng ta chưa có cơ hội để thực hiện trọn vẹn ý nghĩa nầy.

Ngược lại chúng ta có một môi trường rất rộng và thoáng để chấp nhận một lối giáo dục của Tây Phương theo tinh thần Tây học và lấy Đạo Học Đông Phương để ứng dụng vào lối sống hằng ngày, thì chắc rằng chúng ta sẽ gặt hái được nhiều thành quả tốt đẹp hơn.

Ở hầu hết các nước Âu, Mỹ, Á ... nơi mà chúng con (tôi) đã có cơ hội đi qua, tại các Đại Học lớn đều có phân khoa Tôn Giáo học và Phật học; nếu một vị Tăng hay Ni sau khi được thế phác xuất gia, có trình độ tú tài, có thể ghi danh hoặc thi vào những phân khoa nầy không khó khăn mấy; nhất là phải được sự động viên của vị Thầy Bổn Sư, hướng những Tăng Ni trẻ nầy đến mục tiêu ấy.

Theo chúng con (tôi) nghĩ rằng : Đạo Phật không chỉ nằm thuần túy trong phạm trù của khoa học Tôn Giáo, mà người Tăng Sĩ có thể vươn vai cao rộng hơn nữa ở các phân khoa như triết học, giáo dục, ngôn ngữ v.v... thì chúng ta vẫn có một vị trí xứng đáng và nhất định để khi tốt nghiệp có thể đi làm việc sau nầy.

Thế hệ đi trước tại ngoại quốc nầy là một thế hệ hy sinh, dấn thân để làm một chiếc cầu nối giữa quá khứ và tương lai; nên chúng ta đã mất rất nhiều thì giờ cho việc xây dựng cơ sở chùa chiền, ổn định đời sống tu học cho Phật Tử. Do vậy mà bản thân các vị trụ trì về phần ngôn ngữ cũng như thế học rất khó để mà thành tựu các học trình. Ngoại trừ những vị Tăng Ni chỉ thuần có vấn đề học tập.

Nhưng đến thế hệ thứ 2 và thứ 3 thì không thể tiếp tục kế thừa như thế hệ thứ nhất ở ngoại quốc đã đi qua. Vì lẽ thời gian luôn luôn thay đổi thì sự tiến hóa của con người không thể dừng lại một chỗ được. Do vậy xin đề nghị rằng quý Thầy, quý Cô Bổn Sư của những Tăng Ni kế thừa đó phải khuyến khích cho đệ tử của mình vào trường Đại Học để được huấn luyện.

Dĩ nhiên khi độ đệ tử thì chẳng mấy ai chỉ mong đệ tử mình chỉ giúp những công việc lặt vặt của chùa, mà chắc chắn rằng vị Bổn Sư nào cũng mong rằng đệ tử của mình sẽ trở thành lương đống của Phật Giáo, cho nên không thể khư khư giữ đệ tử của mình ở lại chùa, mà phải hy sinh những cái gì đáng hy sinh, nhất là thời gian cho đệ tử của mình đi học.

Về phương tiện học cũng như nhu cầu của một sinh viên Tăng hay Ni cũng đa dạng; nhưng không đến nỗi một vị Bổn Sư không thể chu toàn tại trường Đại Học được. Đó là vấn đề học phí, nơi ăn chốn ở v.v... Còn vấn đề tinh thần cũng không kém phần quan trọng hơn. Vì lẽ vị Thầy Bổn Sư bao giờ cũng là nơi nương tựa cho Tăng Ni mới bước vào ngưỡng cửa của Thiền Môn. Đây là một trợ duyên không thể nào thiếu được.

Có nhiều Thầy Cô phải ở nội trú tại Đại Học mới học được; nhưng cũng có nhiều vị, trường ở gần chùa lại tiện lợi hơn. Khi về lại chùa có cơ hội trau giồi thêm nội điển; nhưng chúng con (tôi) cũng biết được tâm lý của nhiều nghiên cứu sinh ít muốn điều nầy. Vì ở chùa có quá nhiều công việc để làm. Nếu không làm thì lương tâm cắn rứt, mà dành nhiều thì giờ cho chùa thì việc học lại ngưng trệ.

Vì vậy chúng con (tôi) xin đề nghị rằng : Các Tăng Ni Sinh trẻ có thể đi học ở trường 4-6 tiếng. Về chùa tu học cho mình 2 đến 4 tiếng, thế là vừa. Vì lẽ dễ hiểu là tuổi để đi học luôn luôn có giới hạn, còn công việc làm thì không có giới hạn bởi thời gian. Ví dụ người Tăng Sĩ trẻ có thể đi học cho đến 40 tuổi. Sau tuổi đó ra phục vụ cho Giáo Hội chừng 20 năm. Lúc lớn tuổi lo nhập thất để tịnh tu, dịch kinh, dịch sách vẫn là điều lý tưởng vô cùng.

Ngoài ra cũng có một số quý Tăng Ni trẻ không thích chương trình thế học thì cũng nên tìm một nơi nào đó có chương trình giáo dục đào tạo tương đối khả dĩ để nương theo như một chương trình Phật Học Viện, quả là điều cũng đáng tán thán biết bao. Những điều không nên quên là ngoại ngữ. Hai ngôn ngữ không kém phần quan trọng đối với người tu sĩ trong hiện tại khi chúng ta ở ngoại quốc nầy là Anh Văn và Hoa Ngữ. Đây là 2 ngôn ngữ thực dụng trong cuộc sống tu học của một học tăng vậy.

Xin nhấn mạnh một điều là không nên quan niệm chùa chiền, tu viện là nơi chỉ để di dưỡng tinh thần, hoặc cầu an thụ động, mà ngôi chùa đó, tự viện đó ngoài đời sống tín ngưỡng ra, phải có một lối sống văn hóa cao, vì chúng ta đang sống trên các nước có nền văn minh nhất nhì trên thế giới nầy.

Những vị lớn tuổi cũng có thể xuất gia tu học và dĩ nhiên vị Thầy Bổn Sư cũng là nơi nương tựa vững chắc nhất. Thầy Bổn Sư sẽ giúp đỡ những gì cần thiết nhất cho một hành giả tu theo pháp môn mình đã lựa chọn. Xin trình bày thật với Thầy của mình, không có gì ngần ngại cả.

Sự học không giúp mình giải thoát được; nhưng muốn mở cánh cửa giải thoát, không thể thiếu sự học được. Do đó con đường tương lai của Giáo Hội, dầu chúng ta đang sống ở Đông, Tây, Nam, Bắc của quả địa cầu nầy, chúng ta không thể quên trách nhiệm làm Thầy nầy đối với đệ tử xuất gia của mình được.

Mỗi một thế hệ sẽ khác hơn. Khoa học càng ngày càng tiến bộ và đổi mới, thì sự học tập của những thế hệ Tăng Sĩ trẻ trong tương lai cũng không thể dừng bước tại đây. Do vậy chúng tôi xin đề nghị có những vị Bổn Sư cũng không nên mặc cảm khi đệ tử của mình có sở học hơn mình. Vì điều đó thật ra là phước đức lớn của tông môn mình, chứ đâu có gì mà ngần ngại phiền trách.

B.- Sự Giáo Dục đối với Cư Sĩ :

Chúng tôi vẫn thường hay quan niệm rằng: hai giới xuất gia và tại gia cũng giống như hai cái cánh của một con chim Đại Bàng. Đại Bàng sẽ cất cánh khi nào có đủ điều kiện. Đó là 2 cánh đầy đủ. Nếu Đại Bàng gãy cánh, dầu cho cánh phía trái hay cánh phía phải cũng đau lòng vô cùng, sẽ làm ảnh hưởng đến bà mẹ Việt Nam, đến Tổ Quốc Việt Nam và đến chư Tổ Sư đã dày công truyền đạt từ nhiều đời rồi.

Có nhiều tự viện giữa Tăng Sĩ và Cư Sĩ có rất nhiều vấn đề. Vị Tăng Sĩ thì trách cứ những vị Cư Sĩ không thuần thành. Trong khi đó các vị Cư Sĩ thì đi rỉ tai nhau là Thầy mình thế nầy, thế nọ, mà chẳng ai trong chúng ta không tự trách mình rằng : chính mình thiếu tu và thiếu phước.

Ở nhiều buổi giảng công cộng chúng tôi cũng đã trình bày quan điểm nầy như sau : Ngày nay chúng ta ở Hải Ngoại nầy cái gì chúng ta cũng thừa cả. Ví dụ như dư áo, dư quần, dư giày, dư dép. Thừa tiền, lắm bạc v.v... nhưng chắc chắn một điều chúng ta vẫn còn thiếu tu nên mới sinh ra nông nỗi ấy. Do từ niềm khắc khoải nầy, cho nên chúng con (tôi) xin đề nghị một số phương hướng giáo dục cho các Phật Tử Cư Sĩ như sau:

Mỗi năm tại mỗi châu lục, Giáo Hội chúng ta nên tổ chức nhiều khóa tu khác nhau. Ví dụ như tu gieo duyên, tu học Phật Pháp, tu bát quan trai v.v... mỗi lần như thế từ 2 ngày đến 10 ngày hoặc nửa tháng và mỗi năm được như vậy nhiều lần thì quý hóa biết là bao. Nhiều người trong chúng ta ai cũng bảo rằng tôi không có thì giờ, tôi không có điều kiện v.v... nhưng sự chết thì nó không hẹn giờ với chúng ta đâu. Tử thần đến thì phải đi, đâu có cơ hội để mà than thở nữa.

Cũng xin đừng tự nghĩ rằng chỉ có một mình mình mới đảm nhận được công việc đó, còn kẻ khác thì không. Điều ấy do tính ỷ lại và người lãnh đạo kia chứng tỏ rằng không có sự tin tưởng đối với thuộc hạ của mình. Có một ông Giám đốc của một hãng lớn kia, bao nhiêu việc ông cũng phải ôm đồm hết và ông ta luôn luôn tuyên bố rằng : không ai có thể thay thế cho ông được; nên ông không có thì giờ để đi tu học hay tham dự những chương trình của Giáo Hội đề ra; nhưng có ngờ đâu ngày hôm sau, ông ta bị tai nạn chết. Thế là 2 ngày sau hãng kia đã có một ông Giám đốc mới rồi. Từ đó suy ra, không phải không có ta là vũ trụ nầy phải dừng lại đâu. Vì lẽ ta chỉ là một hạt cát rất nhỏ trong vũ trụ nầy.

Người Cư Sĩ, Phật Tử tại gia cũng cần tu học và giữ giới như người xuất gia và học hạnh của người xuất gia thì mới hiểu được giới thể, giới tánh, giới tướng là gì, ví như Ưu Bà Tắc Giới Kinh, Bồ Tát Thiện Giới v.v... đã dạy, nhằm trang nghiệm Phật tánh nơi Tăng Sĩ và Cư Sĩ. Có như thế sự hiểu biết nhau, thông cảm nhau mới sâu sắc hơn. Khi người Cư Sĩ có tu học, có thực hành giới luật thì mới thông cảm sự giữ giới có giá trị như thế nào.

Giáo Hội cũng nên mời những vị Giáo Thọ có sức tu và sức học cao thâm rộng rãi đến để hướng dẫn cho những khóa tu nầy. Và bao giờ cũng vậy, đức chúng vẫn như hải. Khi có chư Tăng vân tập đông đủ nơi những đạo tràng thanh tịnh thì chư Phật Tử nương tựa vào đó để thành tựu những công đức của mình và đặc biệt là sự kính trọng, thông cảm, hiểu biết với chư Tăng càng ngày càng gần gũi hơn và sẽ không bao giờ có cảnh Thầy tố trò, trò tố Thầy như giai đoạn trong hiện tại đã xảy ra khắp nơi trên các châu qua báo chí và truyền thanh cũng như truyền khẩu. Chỉ vì chúng ta thiếu để ý đến vấn đề giáo dục cho những người Phật Tử ngay từ lúc ban đầu.

Xã hội nầy ngày xưa hay ngày nay cũng vậy, nó không bắt đầu khởi đi từ một tổ chức to lớn, từ một cộng đồng có quy củ trước, mà tất cả đều khởi đi từ con số không trước, rồi đến một, hai, ba. Vì thế, mỗi đơn vị cá nhân trong gia đình rất quan trọng; nếu cá nhân có tu học, tín sâu, hiểu rộng nơi 3 ngôi báu thì chắc chắn rằng gia đình ấy sẽ hạnh phúc và từ đó sẽ lan ra thêm trong gia đình, thôn ấp, làng xã và cuối cùng là xã hội. Lúc bấy giờ sẽ không cần tìm kiếm sự an lạc và hạnh phúc ở đâu xa cả mà ở chính nơi đây và ở tự mỗi con người.

Ở nước ta chưa có vấn đề tu gieo duyên, nghĩa là tu ngắn hạn cho người tại gia như ở các nước Nam Tông trên thế giới, để người tại gia có cơ hội gần gũi tiếp xúc với đời sống tu hành. Ngày nay có một vài nước trên các châu đã thực hiện được điều nầy và kết quả cho thấy không xấu đi chút nào, mà ngược lại là đằng khác. Vì trong số tu gieo duyên ấy, sẽ có nhiều người phát tâm xuất gia cũng như hộ đạo một cách nhiệt thành.

Quan niệm ngày xưa và ngay cả bây giờ đối với người Việt Nam ở trong cũng như ngoài nước là : rất cung kính đối với những bậc xuất gia chân tu thực học; nhưng nếu rủi ro người xuất gia ấy có một chút tỳ vết gì đó, hay không tu được nữa, vì nghiệp duyên phải ra đời, thì người Phật Tử có một cái nhìn không thiện cảm mấy. Đây là một điều sai trái vô cùng. Vì lẽ, nếu bảo là nghiệp thì mỗi người phải tự chuyển nghiệp của mình, chứ chẳng ai giải nghiệp cho mình ngoại trừ mình cả và việc xuất gia tu đạo là điều tự nguyện, chứ chẳng phải bị bắt buộc. Do đó giữa đường không tiếp tục được nữa cũng giống như chúng ta không mang nặng được một gánh nặng trên vai, thì chúng ta có quyền để gánh ấy lại ngơi nghỉ trong kiếp sống luân hồi nầy, chẳng có lỗi gì cả. Nếu tiếp theo trong cuộc sống nầy hay ở một kiếp lai sinh nào đó, con đường giải thoát ấy muốn tiến tu, thì cá nhân kia phát nguyện đi tiếp nữa để cho trọn nẻo luân hồi. Theo chúng con (tôi) không có tội lỗi gì cả. Thế mà đã có biết bao nhiêu tăng sĩ sau khi ra đời rồi, đâu còn dám đến chùa nữa; cũng chỉ vì sự giáo dục tư tưởng nầy cho chính người tu cũng như cho Phật Tử tại gia còn rất giới hạn và mơ hồ.

Giáo Hội chúng ta cũng nên khuyến khích cho nhiều Phật Tử thọ tại gia Bồ Tát Giới. Vì có thọ giới và giữ giới thì mới cảm nhận được giới pháp rất cao cả và ai trong chúng ta cũng phải có bổn phận thực hành giới luật, chứ không phải giới luật chỉ để dành riêng cho người Tăng Sĩ.


Đức Phật ngày xưa đã chẳng phải dạy chúng ta là gì? Ngài bảo rằng : Đệ Tử của ta gồm 2 hạng - Người xuất gia có bổn phận hoằng pháp lợi sanh và kẻ tại gia có bổn phận hộ trì Tam Bảo. Nếu chúng ta thực hiện theo con đường giáo dục nầy, chắc chắn chúng ta sẽ không có vấn đề. Vì ngày nay có nhiều vị xuất gia không làm nhiệm vụ của mình mà đi làm một nhiệm vụ khác, ngoài nhiệm vụ hoằng pháp. Còn người tại gia thì ngược lại, vì bao giờ cũng đông hơn người xuất gia. Do đó có nhiều nơi, người tại gia đảm nhận luôn nhiệm vụ của người xuất gia, như thuyết giảng, hướng dẫn lễ nghi v.v... Đây là một sự giáo dục nghịch hướng. Kính mong chư Tăng đoái hoài lại việc nầy. Dĩ nhiên người Cư Sĩ cũng có quyền học hỏi mọi phạm vi mà giới luật cho phép; trong khi đó chư Tăng Ni lại hững hờ với nhiệm vụ của mình, quả là một điều đáng nói biết bao.

Nhìn lại lịch sử Phật Giáo Trung Quốc, Phật Giáo Nhật Bản, Triều Tiên, cũng như các nước Đông Nam Á châu khác, Việt Nam chúng ta phải tự thẹn thùng. Vì lẽ trong quá khứ chúng ta không thiếu những bậc chân tu hiền đức; nhưng trong hiện tại chúng ta hầu như bị thất truyền. Ngày nay ít có bậc chân tu như Tây Tạng, Bhutan. Do vậy mà bao nhiêu chướng duyên đã xảy ra dồn dập đó đây và kết quả là Phật Giáo chúng ta bị nạn. Chung cho cả Giáo Hội, chứ chẳng phải riêng cho một cá nhân nào.

Con người mà không có giáo dục là một con người thiếu văn hóa. Một tổ chức mà đường hướng giáo dục không rõ ràng thì chắc chắn rằng tổ chức ấy sẽ không bao giờ phát triển lớn mạnh được. Do đó, một Giáo Hội như GHPGVNTN của chúng ta gồm nhiều tổ chức khác nhau ngồi lại và nhiều thành phần nhân sự khác nhau để hợp thành, do vậy phải cần có một đường lối rõ ràng hơn, để mọi người lấy đó làm khuôn mẫu trong việc tu học cũng như hộ trì Phật Pháp.

Nhìn khắp năm châu, nhân tài Việt Nam chúng ta không thiếu. Đâu đâu cũng có nhiều người, nhất là những người Phật Tử tại gia đang nắm giữ nhiều chức vụ then chốt trong nhiều tổ chức. Họ có nhiều cơ hội để thăng hoa trong đời sống cá nhân; nhưng Phật Giáo chưa nhờ cậy hết được những người Phật Tử Cư Sĩ trí thức nầy. Lẽ nầy do đâu, xin kính nhờ những nhà xã hội học và phân tâm học phân tích dùm. Có phải vì chúng ta có nhiều người tài giỏi quá; nên chúng ta không thể đứng chung dưới một vòm trời chăng? hay mỗi tự ngã của mỗi cá thể quá cao, chúng ta không thể nào nắm bắt được? Kính xin quý Ngài và chư vị lưu tâm về vấn đề nầy.

Một nền giáo dục nhân bản của Phật Giáo cho bây giờ và mai hậu phải kiện toàn những thiếu sót bên trên và dĩ nhiên là còn nhiều điều phải làm hơn nữa đối với những nhà giáo dục, những nhà tôn giáo luôn có tâm đối với tiền đồ của Phật Giáo và dân tộc. Mong rằng chúng ta không nên dậm chân tại chỗ. Chúng ta phải luôn luôn ý niệm rằng : Thời gian luôn thay đổi thì mọi nhân duyên, mọi pháp cũng phải chuyển động thay đổi theo. Chúng ta không được phép an nghỉ một nơi, khi hoàn cảnh chung quanh ta đều có nhiều chuyển động.

Trên đây là những ý nghĩ thật nhỏ nhoi, chúng con (tôi) xin đóng góp một chút ít ý kiến thô thiển của mình cho con đường phát triển của Giáo Hội và vì thế nếu có nơi nào không ổn, kính mong quý Ngài và quý vị niệm tình hỷ thứ cho.

C.- Kết luận

Một con ngựa chạy dầu giỏi bao nhiêu đi chăng nữa; nhưng nếu không có người cầm cương hay, thì ngựa kia cũng khó mà đạt được mục đích. Một đầu máy xe lửa thật là tốt mà mang theo những toa xe cũ kỹ, hoặc ngược lại, thì chắc rằng đi chưa đến đích đã có nhiều cơ phận của xe lửa bị rã rời. Vì thế muốn được hoàn hảo, cả hai đều phải cộng tác hỗ tương cho nhau thì mới thành tựu được. Ở đây cũng thế, người Tăng Sĩ luôn luôn cố gắng học hỏi, trau giồi đức hạnh của mình, trong khi đó người Cư Sĩ luôn luôn khiêm cung, biết kính tin ngôi Tam Bảo thì cả hai đều được an lạc và hạnh phúc. Giáo Hội sẽ được trang nghiêm và nói như Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ 14 đã nói là : sự an lạc người ta không thể đi mua ở ngoài chợ được.

Chúng con (tôi) xin cầu nguyện cho Đại Hội được thành công viên mãn và mong rằng những đóng góp ý kiến thô thiển của chúng con (tôi) về nền giáo dục của Tăng Ni và Phật Tử ngày nay tại Hải Ngoại chỉ là một thiển ý của cá nhân. Nếu có gì còn thiếu sót kính xin chư vị tôn túc và quý Phật Tử hữu tâm chỉ bày cho.

Nam Mô Hoan Hỷ Tạng Bồ Tát Ma Ha Tát

Kính nguyện

( Số 119 (Tháng 10.2000)

Họ đã đi rồi ...

Hôm nay là chiều ngày 2 tháng 11 năm 2000, tôi đang đặt viết xuống giấy, để viết tựa đề nầy và gởi đến quý vị độc giả báo Viên Giác, nhân mùa Xuân Tân Tỵ sắp đến. Không biết quý vị sẽ chờ đợi hay phẩm bình gì về đề tài nầy không? nhưng tôi thì có nhiều chuyện phải viết để quý vị đọc.

Đức Phật đã dạy rằng: "Phàm các pháp có hình tướng đều không thật và luôn luôn biến đổi". Phải nghiệm cho kỹ lại bản thân mình và sự vật chung quanh thì đều như thế cả; nhưng mấy ai giữ lại được thời gian. Vì thời gian qua rồi, sẽ không bao giờ trở lại nữa. Hãy cố gắng mà xử dụng thời gian cho hợp lý trong cuộc sống hằng ngày của mỗi người.

Cách đây 5 tháng, từ ngày 1 tháng 6 năm 2000 tại Hannover đã tưng bừng lễ khai mạc triển lãm Hội Chợ thế giới gồm 155 quốc gia tham dự và một số tổ chức độc lập. Có người mừng rỡ, có kẻ lo âu; có người trở nên giàu có và đồng thời cũng có lắm kẻ bị thâm lạm ngân quỹ. Nhưng tất cả cho đến hôm nay cũng đã qua đi, vì tất cả hầu như: họ đã đi rồi.

Họ đã đến, đã mang lại niềm vui cho thành phố. Họ là ai ? là những người tuy khác màu da, ngôn ngữ, tập quán v.v... nhưng tất cả đã ở trong một khung trời chung của Hội Chợ. Họ đến để mang nền văn hóa của mỗi dân tộc đem giới thiệu với những người đi thưởng lãm. Theo Ủy Ban Tổ Chức EXPO dự định là sẽ có khoảng 35 đến 40 triệu người đến Hannover để thăm triển lãm; nhưng cuối cùng thì chỉ có 18 triệu rưỡi đã đến và đã đi mà thôi. Như thế, dự định ấy chỉ chiếm được 50% của công việc.

Người ta thay đổi đủ kiểu, nào chia ra 3 loại vé trong ngày khác nhau - từ 9 giờ sáng trở đi, hoặc 3 giờ chiều và 6 giờ tối. Mỗi lần như vậy số tiền vào cửa khác nhau là 69 DM, 49 DM và 15 DM. Trước đó thì phải trả tiền bãi đậu xe từ 10 - 20 DM một ngày cho một chiếc xe nhỏ; nhưng sau đó được quyết định là bỏ tiền bãi đậu xe; nhưng người đi vẫn ít. Có lẽ vì quảng cáo không rầm rộ chăng ? hay tại vì Mỹ không có mặt ?

Chùa Viên Giác được cái duyên may là ở gần khu triển lãm; nên cũng đã tổ chức trong thời gian 5 tháng nầy, gồm 40 khóa hội thảo của nhiều tông phái Phật Giáo khác nhau. Nhiều buổi chiếu phim cũng như hòa tấu và văn nghệ. Cao điểm là những ngày 24 đến 26 tháng 10 năm 2000 đã có nhiều Giáo sư Đại Học, các nhà Khoa học về Tôn Giáo đã đến chùa và cùng chung Hội Thảo với đề tài: "Phật Giáo và Khoa Học trong sự thực tập". Giáo sư Schmidthausen đang dạy tại Đại Học Hamburg là một giáo sư nổi tiếng về Phật học cũng đã có mặt và Giáo sư Antes, Phân khoa trưởng Phân khoa Tôn Giáo tại Đại Học Hannover đã cùng 22 Giáo sư và các nhà Khoa học khác, luận bàn về Phật học. Nhưng bây giờ tất cả cũng đã qua đi. Vì họ đã đi rồi.

Đến ngày 27, 28 và 29 tháng 10 năm 2000 cũng là thời điểm để các tổ chức, các Tông phái của Phật Giáo tại Đức gần 200 người đã về chùa Viên Giác dự hội nghị với tiêu đề là: Thời Gian, Tâm Thức và Cuộc Sống. Có những vị diễn giả nổi tiếng như Thượng Tọa Ringu Tulku đến từ Sikkim. Ngài Nishijma đến từ Nhật Bản. Thượng Tọa Olande Ananda đến từ Hòa Lan. Tất cả đều cùng một nhịp điệu là đưa Phật Giáo vào cuộc sống hằng ngày của kiếp nhân sinh nầy. Đã nhiều khi tôi tưởng rằng mình đang ở một cõi xa xăm nào đó, đang ngồi nghe các vị luận sư thuyết giảng về Bồ Tát đạo và Trung Quán Luận. Tất cả đều "bất khả tư nghì"; nhưng nay thì không còn nữa. Vì tất cả họ đã đi rồi.

Đêm văn nghệ đêm 28 tháng 10 năm 2000 do Gia Đình Phật Tử Tâm Minh phụ diễn với 2 màn vũ và một màn múa lân đã làm cho người Đức hoàn toàn ngạc nhiên và thán phục để sau đó mọi người đều dành hết tâm tư của mình để lắng nghe những tiếng đàn tỳ bà, đờn tranh, đờn cò, đờn nhị của 3 người Áo đến trình diễn văn hóa Phật Giáo, dẫn truyền như đường văn minh tơ lụa đi từ Ấn Độ sang Trung Quốc, Nhật Bản rồi đến Việt Nam với khúc nhạc Lưu Th���y thật tuyệt vời để rồi bước sang Âu Châu khế hợp với nền văn minh Trung Cổ tại đây cũng như nếp sống văn minh trong hiện tại. Tiếng đàn, tiếng sáo đôi khi cao vút, xoáy thẳng vào tâm linh của mọi người, khiến ai cũng trầm tư tỉnh thức. Vừa đời vừa đạo, vừa Thiền vừa Tịnh. Nửa như chư thiên, nửa như hạ giới, làm cho người nghe có một cảm giác thanh thoát nhẹ nhàng. Nhưng giờ đây tiếng đàn đâu còn nữa và tất cả cũng đã qua đi. Vì họ đã đi rồi.

Tối hôm đó ngày 29 tháng 10 năm 2000 tại Hội Trường chùa Viên Giác chúng tôi đã tổ chức một bữa tiệc để tiễn 2 người và mừng một người đến. Bữa tiệc không gì thịnh soạn; những ai đến dự cũng mang cả một tấm lòng. Có độ 100 người cả Đức lẫn Việt. Ở nơi tôi có một cái gì khó diễn tả. Vì lẽ đôi khi tôi cũng bị động trước những sự việc như thế nầy.

Hạnh Hảo nguyên là một người Sinh viên Đức học tiếng Việt và tiếng Hoa tại Hamburg, trước đây 7 năm có ghé thăm chùa Viên Giác và đã tiếp chuyện với tôi cũng như quý Cô quý Chú tại chùa. Sau đó chú về chùa ở một thời gian, kinh kệ căn bản học xong thì thế phác xuất gia, trong khi cha mẹ cũng không hài lòng mấy; nhưng chí đã quyết; nên cuối cùng chú cũng đã đầu tròn áo vuông với pháp danh Thiện Bình. Rồi sau đó thọ Sa Di và tháng 3 năm 2000 nầy đã sang Úc thọ Đại Giới sau khi đã tốt nghiệp Cao Học ngôn ngữ học tại Đại Học Hamburg. Thời gian từ tháng 5 đến tháng 10 năm 2000, Hạnh Hảo phải lo cho 40 buổi hội thảo, ngồi thiền và tiếp không biết bao nhiêu khách như thế; cũng như mỗi ngày đều phải có mặt tại chùa Bhutan trong khu EXPO để hướng dẫn cho những người đi tham quan về thiền và giới thiệu về chùa Viên Giác. Tôi thấy điều ấy quá cực đối với một người Tây Phương như Hạnh Hảo nên đã đồng ý để Hạnh Hảo sau khi xong EXPO đi sang Nepal và Ấn Độ để ẩn tu, nhập thất một thời gian. Có thể là 1 năm hay nhiều năm liên tiếp như thế. Bây giờ chùa Viên Giác tại Hannover đã thiếu vắng hình dáng cao cao, nói tiếng Việt lơ lớ; nhưng có một tâm đạo rất nhiệt thành và đã quyết chí đi tu. Bây giờ thì Hạnh Hảo đang bay bổng trên không trung để ngày mai 3 tháng 11 thì đáp cánh xuống rặng Hy Mã Lạp Sơn đầy huyền bí ấy. Như thế - Hạnh Hảo cũng đã đi rồi.

Đến phiên Hạnh Giới, tức chú Đức Thụ ngày xưa, một cựu Huynh Trưởng Gia Đình Phật Tử Tâm Minh cấp Tập, sau khi xong Cao Học thì vào chùa xuất gia và sau khi thọ Sa Di thì được Đại Học Santa Cruze ở California, Mỹ Quốc, nhận qua nghiên cứu một năm, qua sự giới thiệu của ông Giáo sư Antes tại Đại Học Hannover, để thâu thập tài liệu tại Mỹ và về Đại Học Hannover trình luận án Tiến Sĩ tại đây vào cuối năm 2001 và đầu năm 2002. Sư chú nầy cũng đã là một thông dịch viên hữu thệ tại Tòa án Hannover và các ngôn ngữ Anh, Pháp, Đức, Việt đều giỏi như nhau. Những sách của tôi viết về sau nầy, đa phần chú đã dịch ra tiếng Đức. Nhưng hôm nay chú cũng đã đi rồi.

Một chú mới đến chuẩn bị xuất gia vào ngày 12 tháng 12 năm 2000, đến từ München pháp danh là Phúc Hải, tôi đã đặt lại theo dòng kệ là Thiện và giữ nguyên chữ Hải của Bổn Sư cũ đã cho; nên bây giờ gọi là Thiện Hải.

Trong buổi tiệc hôm đó tôi đã phát biểu rằng: "Mỗi người trong chúng ta đều tự chọn cho mình mỗi con đường để đi. Có người thì chọn công danh sự nghiệp, học hành thi cử để tiến thân. Có người thì chọn con đường thương mại để làm giàu. Có người chọn cho mình những cuộc tình lâm ly bi đát; nhưng những thầy và những chú nầy đã chọn cho mình một con đường phụng sự cho tha nhân vì người quên mình, chứ không phải vì mình quên người. Sau 23 năm ở lại Đức nầy tôi đã độ cho 30 người xuất gia và hàng ngàn Phật Tử tại gia. Trong 30 người đó đã mất đi 3 người, 4 người ra đời, vì không còn kham nổi với những cuộc sống tu hành nữa. Còn lại tất cả là 23 vị. Ở tại Đức gần 20 vị và số còn lại thì ở Việt Nam, Đài Loan, Pháp, Mỹ v.v... Như thế sau 23 năm theo tôi học đạo tỷ lệ còn lại 70%. Nhưng suốt cả cuộc hành trình của cuộc đời còn lại từ 10% đến 30% là quý. Khi đi xuất gia không ai bắt buộc mình. Do vậy nên khi không còn thích hợp với đời sống tu hành nữa, thì tự mình cũng chẳng nên làm khổ mình làm gì, khi phải ở lại với thiền môn để sớm kinh chiều kệ?

Tôi đã vạch ra cho quý Thầy, quý Chú và quý Cô một hướng đi, một cái nhìn tổng quát như sau: Sau khi học xong Đại Học có 2 khuynh hướng để chấp nhận - Thầy nào, Chú nào, Cô nào muốn đi học tiếp để làm luận án Tiến Sĩ, sau nầy ra trường làm Giáo sư Đại Học, học giả hoặc dịch thuật, chú giải những kinh điển cũng rất được hoan nghinh. Hoặc giả sau khi xong Đại Học rồi không muốn tiếp xúc với đời, thì hãy đi sâu vào Thiền Định và nhập thất nhiều năm tháng như thế để chiêm nghiệm về con đường tu học của mình. Quả điều nầy cũng rất quý. Vì lẽ đây là lực lượng dự trữ rất cần thiết mà lâu nay Phật Giáo Việt Nam chúng ta ít lưu tâm đến, chứ Phật Giáo Tây Tạng họ đã tổ chức có quy củ từ mấy trăm năm nay rồi.

Đến khuynh hướng thứ ba là khuynh hướng Đại Chúng. Nghĩa là sau khi thọ Tỳ Kheo, Tỳ Kheo Ni giới, tốt nghiệp những giáo lý căn bản thì nên đi vào đời để độ sanh. Khuynh hướng nầy cũng hay mà cũng dở, cũng dễ mà cũng khó. Vì nếu Thầy hay Cô, hay Chú không độ được đời thì đời sẽ độ lại quý vị mà thôi . . . ".

Tôi nói miên man như thế và sau đó thì Hạnh Hảo cũng như Hạnh Giới nói lại vài lời để cảm ơn tôi và mọi người và cũng hứa rằng sau một thời gian nhập thất thì sẽ trở lại chùa Viên Giác. Tuy nhiên bây giờ thì họ đã đi rồi.

Ngày 30 tháng 10 năm 2000 tôi nằm trọn một ngày trên giường để đọc sách và chiêm nghiệm về cuộc đời cũng như những đổi thay của thời gian. Tối hôm đó tôi không hướng dẫn "Đại Trí Độ Luận" như thường lệ cho Đại Chúng mà tôi để mọi người tự do. Kẻ đi EXPO, người ở chùa tụng kinh, đọc sách hoặc thăm viếng Phật Tử. Vì tôi nghĩ chỉ còn vài ngày nữa là hết EXPO nên phải tạo cơ hội như vậy. Vả lại cũng có một số quý Thầy, Chú và Cô phải đi hành hương ở Ấn Độ; nên dành thì giờ ���y để thu xếp hành lý; do vậy mà nhiều vị đã vui khi có thời gian rảnh bất ngờ ấy.

Vào lúc 12 giờ 30 ngày 31 tháng 10 năm 2000, Hạnh Hảo từ EXPO về đón tôi với cái giấy mời thuộc khách danh dự của chùa Bhutan sang Preussag-Arena trong khu EXPO để tham dự lễ bế mạc. Tôi vội vã ra đi như những tia nắng cuối cùng của mùa hạ còn sót lại. Hôm đó trời bão; nên có lúc sáng, lúc tối, lúc mưa, lúc tạnh. Cuối cùng rồi Thầy trò cũng lên được xe Bus và chạy vòng vòng đến nơi thì Bà Chủ Tịch EXPO đã khai mạc rồi. Nhìn hội trường hôm đó với hơn 10.000 khách tham dự, thật cảm động vô cùng. Những tràng pháo tay liên hồi của những vị lên phát biểu cảm tưởng: Thank you Hannover, Danke schön Niedersachsen, Vielen Dank Deutschland... Rồi những tràng pháo tay như bất tận.

Sau đó thì cờ EXPO xếp nhỏ lại và đã trao cho ông Thị Trưởng Aichi tại Nhật Bản và sẽ tổ chức EXPO tại đó vào năm 2005. Sau đó ông Thị Trưởng nói lời đáp từ bằng tiếng Anh rất khó nghe; nhưng mọi người cũng đã tán thưởng bằng nhiều tràng pháo tay vô tận, để rồi ông Schmalstieg, Thị Trưởng thành phố Hannover, cũng cảm ơn mọi người bằng tiếng Đức và câu cuối cùng ông ta nói câu tiếng Nhựt; nhưng cũng chẳng ai hiểu gì cả, giống như ông Thị Trưởng Aichi nói tiếng Anh; nhưng mọi người đều hoan hô và cảm động.

Tiếp theo là ông Thủ Hiến Tiểu Bang Niedersachsen và ông Chủ Tịch Quốc Hội Đức phát biểu cảm tưởng. Ông nào cũng an ủi Bà Chủ Tịch EXPO là không nên buồn với sự lỗ lã khoảng 1 tỷ 8 Đức Mã sau khi tổ chức EXPO, mà phải nghĩ rằng đó là tài sản còn lại của Tiểu Bang như đường sá, sân bay, cầu cống, bãi đậu xe, nhà cửa v.v... Nếu số lượng người tham gia gấp đôi thì EXPO đã có lời. Nhưng như người xưa đã nói: "Xưa nay thiên định lẽ thường" là vậy. Khi lòng người muốn nhưng cõi khác không muốn thì cũng đành. Khi thiên chưa đúng thời, địa chưa lợi và lòng người chưa hòa, thì việc hoàn hảo khó có được. Tuy nhiên sau tổ chức EXPO nầy, thành phố Hannover trở nên có tính cách thế giới hơn, hoàn hảo hơn và ít mang sắc thái kỳ thị như một số thành phố lớn khác của nước Đức.

Bà Chủ Tịch chắc là phải nghỉ hè dài hạn và nghe đâu bà ta cũng sẽ nghỉ hưu, do tuổi tác của bà. Những tràng pháo tay liên hồi không dứt để tán thưởng một người đàn bà, tuy không xuất sắc lắm; nhưng cũng đã lèo lái việc tổ chức EXPO đi đến chỗ hoàn mãn như vậy. Thế rồi bà cũng phải ra đi thôi.

Tôi phải vội về chùa sau hơn một tiếng đồng hồ dự lễ bế mạc tại đó. Để buổi chiều vào lúc 18 giờ lại một lần nữa vào EXPO để thăm và từ giã quý Thầy cũng như quý Phật Tử người Bhutan và để xem các em trong Gia Đình Phật Tử Chánh Niệm Berlin múa lân, múa rồng vào lúc 20 giờ ngày 31 tháng 10 năm 2000 trước tòa nhà triển lãm của Đại Hàn. Nghe đâu trưa hôm đó phái đoàn Việt Nam, đại diện là Gia Đình Phật Tử Chánh Niệm thuộc chùa Linh Thứu Berlin đã đi diễn hành với các nước khác, có cờ Quốc Gia (cờ vàng ba sọc đỏ), cờ Phật Giáo 5 màu và cờ Đoàn của Gia Đình Phật Tử nữa. Khi đi có múa rồng. Múa lân rất xôm tụ. Trong khi phái đoàn của Cộng Sản Việt Nam cũng có ghi tên tham dự diễn hành trong khu EXPO thuộc hàng thứ 21; nhưng cuối cùng thì không thấy bóng dáng một lá cờ đỏ sao vàng nào cả và cũng chẳng có ai đại diện cho chính quyền Cộng Sản Việt Nam,mặc dầu họ có tổ chức triển lãm nơi tòa nhà số 26. Tại đây họ chưng bày 4 cảnh chính. Cảnh đầu là Văn Miếu ở Hà Nội. Nơi đây tượng trưng cho tinh thần tam giáo gồm Phật, Khổng, Lão dưới triều Lý (1010-1022); nhưng chẳng thấy một dấu hiệu gì nói về việc nầy cả. Vào Trung thăm Điện Thái Hòa, kinh đô của triều Nguyễn và vào Nam thăm Chợ Bến Thành cũng như lên Cao Nguyên thăm những căn nhà của người Thượng. Chỉ có thế thôi. Ngoài ra họ bán đồ ăn và quà kỷ niệm. Do vậy mà tờ EXPO Journal đã bình luận rằng: "Đến gian hàng Việt Nam cái gì cũng có hết, nhất là cái ăn, cái mặc; nhưng tìm Văn Hóa Việt Nam thì chẳng có một cái gì cả". Quả là nhục quốc thể. Những người lãnh đạo Cộng Sản Việt Nam không biết họ đang làm gì và họ hiểu gì về cuộc triển lãm nầy ?

Trong khi Lào và Cao Miên cũng nhận một triệu Đức Mã để trang hoàng cho gian hàng của họ, so ra với Việt Nam đẹp gấp bội phần. Họ còn mang theo những vị Sư và ngôi chùa để giới thiệu văn hóa Phật Giáo và văn hóa Á Châu. Còn đến gian hàng Việt Nam chỉ thấy ông Hồ to tướng và cờ đỏ sao vàng để biểu diễn cho thế giới xem, mà những thứ nầy chưa tồn tại quá 50 năm thì làm gì có lịch sử và văn hóa mà đem trưng bày. Quả là một điều đáng hổ thẹn biết bao !

Sau khi đi vào thăm tòa nhà của Đại Hàn tôi cùng với một số quý Đạo Hữu lội xuống phía dưới sân để cùng tham gia với các em Gia Đình Phật Tử trong buổi múa đèn và múa rồng cũng như múa lân tại đó. Hôm ấy trời vẫn còn bão tố, bầu trời vẫn vần vũ mây đen, gió thét từng cơn. Trong khi đó các em chỉ có chiếc áo mỏng che thân, nên tôi đã hỏi rằng: Các con có lạnh không ? thì các em trả lời rằng: "Thầy đứng đó xem thì tụi con ấm đi một chút". Quả là thực tế. Lâu nay rất nhiều người từ lớn chí nhỏ chờ đợi tôi rất nhiều bằng nhiều cách khác nhau, như an ủi, vỗ về, chia xẻ, th��ng cảm v.v... nhưng nhiều khi tôi lại quên đi điều đó và đòi hỏi ở thiện chí của mọi người rất nhiều. Vì vậy từ nay về sau tôi sẽ lưu tâm về vấn đề nầy hơn. Tôi đã học và tốt nghiệp về tâm lý học ở Đại Học; nhưng nhiều khi quên ứng dụng, quả là điều thiếu sót vô cùng.

Sau hơn một tiếng đồng hồ tham dự với các em trong Gia Đình Phật Tử Chánh Niệm, tôi trở lại nơi Exposee; nơi đây là một hồ nước, mà mỗi tối có chiếu phim với một màn hình lớn nhất thế giới cũng như bắn pháo bông. Tất cả đều do computer điều khiển. Quả thật thế giới ngày nay đã tiến bộ quá nhiều, trong khi đó có nhiều nơi trên quả địa cầu nầy vẫn còn đói cơm thiếu mặc. Tất cả cũng đều do nhân duyên mà thành tựu và tất cả cũng do nhân duyên mà chia ly thôi. Đêm hôm ấy là đêm 31 tháng 10 năm 2000 đã có không biết bao nhiêu cuộc chia tay đầy nước mắt, mà báo Hannover ngày hôm sau đã tường thuật lại. Thế là họ đã đi rồi.

Mười tám triệu người hơn đã đến thành phố Hannover nầy gồm có hơn 8 triệu người đi xe lửa và xe điện. Ngoài ra là xe Bus, xe hơi và máy bay, để rồi sau hơn 5 tháng, cả hơn 18 triệu người ấy đã đi, để lại cho Hannover một khoảng trống vắng lạ lùng. Nhiều người dân Hannover đã khóc và đã nói lên cảm tưởng của họ sau khi EXPO đã kết thúc. Nơi đây đã trở lại đời thường sinh hoạt của nó.

Sáng hôm sau ngày 2 tháng 11 năm 2000, tôi một mình lặng lẽ đi dạo chung quanh khu phía Tây của EXPO, nhìn thấy một cảnh thê lương chưa từng thấy. Vì mới hôm qua, hôm kia đó có không biết bao nhiêu người, bao nhiêu chuyến xe Bus đã đến, đi và đậu tại đây. Còn bây giờ thì đường dây treo không chạy nữa, mọi cửa ra vào đều lạnh lùng bỏ trống, khách sạn Holiday Inn cạnh chùa cũng đìu hiu tang tóc; giống hệt như một đám tang vừa xong, mọi người đều lủi thủi ra về. Mỗi người mang theo một tâm sự, vui lẫn buồn đều có. Vì tất cả cũng chỉ là con người mà thôi. Vì còn là con người; nên vẫn còn những cái tầm thường của nhân thế. Tôi bước đi thật chậm để chiêm nghiệm về cuộc đời, về lẽ sống, về sự thành, trụ, hoại, diệt của thế gian, của vũ trụ nầy. Nhất là sau khi quý Chú đã đi rồi, chùa Viên Giác lại trống vắng thêm một ít và bây giờ cũng không còn nhiều ngày hội thảo hay diễn thuyết như trong 5 tháng EXPO vừa qua. Do vậy mà không gian chùa lại càng yên tĩnh hơn.

Rồi đây những khu nhà triển lãm tại phía Tây của EXPO thuộc khu vực Á Châu, Úc Châu, Nam Mỹ phải dỡ đi, hạn chót là vào cuối tháng 2 năm 2001, nơi nầy chỉ còn là bãi đậu xe thuần túy cho các buổi hội chợ khác trong tương lai mà thôi. Nhìn những ngôi chùa tráng lệ của Bhutan, Népal và những kiến trúc chắn chắc như của Đại Hàn, Ấn Độ v.v... rồi cũng phải dỡ ra từng mảnh nhỏ, để trả lại vị trí thiên nhiên cao rộng cho đất trời. Quả là vật đổi sao dời thật. Tôi đã học về Tánh Không, tôi đã giảng nhiều lần về Vô Thường; nhưng lần nầy tại sao tôi tự nhiên thấy trống vắng lạ thường. Vì tất cả: họ đã đi rồi. Họ là ai? là những người không quen biết hoặc đã quen tự bao nẻo luân hồi; nhưng đã làm cho tâm mình có một cái gì đó xao xuyến lạ lùng.

Tôi viết bài nầy để gởi đến quý độc giả xa gần nhân mùa Xuân của đất trời đã đến. Không biết rằng có mang đến cho quý vị một niềm vui nào chăng? nhưng trong tôi là một sự trống vắng lạ thường. Điều nầy đã xác minh được lời Phật dạy một cách đích thực, là mọi hiện tượng đều thay đổi, không có gì luôn luôn tồn tại cả, kể cả vấn đề vui buồn hay hạnh phúc lẫn khổ đau là vậy.

Tôi nhìn tấm Card vào cửa EXPO, đại diện cho quốc gia Bhutan, gần 5 tháng, ra vào lúc nào cũng được nơi EXPO để liên tưởng đến vấn đề thành, trụ, hoại, diệt của thế gian nầy. Rồi đây, cuối tháng 4 năm 2001 tôi sẽ có dịp để đến thăm quốc gia nầy trong một tuần lễ. Lúc ấy sẽ nhắc lại với mọi người một kỷ niệm đã qua. Tất cả chỉ còn sót lại nơi tâm thức những gì gần như mơ hồ, rồi tan dần vào trong khoảng không gian vô tận ấy.

Không biết năm 2005 tôi có cơ hội đi Nhật để thăm thành phố Aichi không ? nơi tổ chức EXPO, thì chưa rõ; nhưng dẫu sao đi nữa hai quốc gia nầy đã dưỡng nuôi tôi hơn nửa đời người, để làm việc, để phụng sự và để tìm về bản lai diện mục của chính mình. Do vậy tôi cũng phải thành thật mà nói lên câu nầy: Cảm ơn Hannover, cảm ơn nước Đức và cảm ơn Nhật Bản đã vì tôi mà cưu mang cái tấm thân giả tạm nầy để đón đưa khách trần ai qua lại và bây giờ, tất cả họ đã đi rồi!!!

( Số 120 (Tháng 12.2000)

Ba pho tượng tại chùa Viên giác Hannover

Kể từ khi chùa Viên Giác mới được thành lập (1981) cho đến nay (2001) quý Phật Tử khắp nơi khi về chùa đã có dịp chiêm bái, đảnh lễ những tôn tượng như Đức Di Đà, Đức Địa Tạng và Đức Quán Thế Âm Bồ Tát; nhưng chưa rõ những lai lịch. Do vậy hôm nay chúng tôi xin viết về những pho tượng nầy và những nhân duyên mà Phật Tử chúng ta đã có được.

Trước năm 1986 hầu như các chùa Việt Nam tại ngoại quốc đều thỉnh các tượng Phật từ Đài Loan hoặc Thái Lan về thờ. Vì lúc ấy giữa các nước tại Âu Châu, Úc Châu và Mỹ Châu chưa có sự bang giao với Việt Nam. Những pho tượng mà các chùa đã thỉnh, trong đó có chùa Viên Giác, như pho tượng Đức Bổn Sư Thích Ca, Quan Âm, Thế Chí, Quan Âm lộ thiên đều đến từ Đài Loan, tướng hảo cũng rất trang nghiêm; nhưng khi nhìn kỹ các nét chạm trổ cũng như toàn diện, có cái gì đó còn xa lạ với nét chạm trổ cổ truyền với Việt Nam. Do đó những năm sau nầy, khi có cơ hội, Chùa Viện tại ngoại quốc của người Việt Nam hầu hết đều thỉnh tượng từ Việt Nam. Mặc dầu mỹ thuật của việc tạc tượng tại Việt Nam đẹp đấy; nhưng kỹ thuật thì chưa bằng Trung Hoa hay Nhật Bản. Vì lẽ những tượng mà Việt Nam chúng ta làm, hầu hết đều làm bằng xi-măng, ruột không rỗng. Do đó rất nặng và dễ vỡ. Trong khi đó tượng của Đài Loan ruột tượng rỗng, rất nhẹ và vật liệu tốt nên có thể để ngoài trời nhiều năm tháng cũng không sao.

Pho tượng Đức A Di Đà mà chư Tăng Ni và Phật Tử khi về Chùa Viên Giác được diện kiến và đảnh lễ đang an trí trước Thiêu Hương Điện của chùa xuất phát từ miền Nam Việt Nam; nơi đúc tượng là Chùa Giác Hải tại Sàigòn. Tượng cao 3m30; nặng hơn 2.000 kg, bằng xi-măng, sơn màu.

Đầu năm 1989 thì tượng đã về chùa và lúc ấy chùa Viên Giác mới xây chưa xong; nên tạm để nơi chùa cũ. Đến khi xây xong di chuyển từ chùa cũ sang chùa mới, mặc dầu đoạn đường chỉ 300 mét; nhưng phải mất đến 6 tiếng đồng hồ bằng xe cần trục. Không phải vì tượng nặng; nhưng vì vị thế đưa từ ngoài vào để nằm thì dễ; nhưng để đứng quả thật là thiên nan vạn nan. Nếu sơ ý sẽ bị vỡ. Lúc ấy nhà thầu của Mehmel đã lo cho chùa vấn đề nầy. Cuối cùng thì pho tượng cũng đã được dựng lên. Tướng hảo rất quang minh, ít có tướng nào sánh kịp.

Tượng thỉnh lúc bấy giờ tại Việt Nam chỉ có 100 US$; nhưng tiền chuyên chở từ Việt Nam qua Singapore và từ Singapore qua Đức cũng như thuế má tốn độ 2.500 Đức Mã nữa. Vì tượng rất nặng. Chúng tôi nhớ, khi tượng đến chùa, có cả cảnh sát, quan thuế và ngay cả những con chó săn cũng được mang tới. Có lẽ họ nghĩ rằng trong tượng có đưa ma túy từ Việt Nam sang; nhưng điều đó đã không xảy ra. Dĩ nhiên người ta chỉ làm bổn phận và nghề nghiệp của họ; nhưng trông có vẻ hơi khôi hài. Những kẻ để ý lại không để ý. Trong khi những người ngay thẳng thì hay bị nghi ngờ. Cũng giống như thế ấy; có nhiều người Đức đi đâu cũng ít bị hỏi giấy, hễ thấy đầu tóc đen là họ hỏi giấy liền. Chưa hẳn người Đức, người Mỹ không phạm pháp, mà cũng chưa chắc những người tóc đen đều là những phần tử đáng nghi ngờ.

Đức A Di Đà là vị giáo chủ ở cõi Tây Phương Cực Lạc và khi thờ Ngài hoặc độc tôn hoặc đi kèm hai bên là hai vị Bồ Tát Quan Âm, Thế Chí, Những nơi thờ Tam Thế Phật (Di Đà, Thích Ca, Di Lặc) đa phần ở tư thế ngồi. Còn pho tượng tại chùa Viên Giác chúng ta ở tư thế đứng. Một tay Ngài đưa lên và bắt ấn cam lồ. Có nghĩa là nâng hàng Tứ Thánh (Tu Đà Hoàn, Tư Đà Hàm, A Nan Hàm và A La Hán) và một tay duỗi xuống có nghĩa là cứu lục phàm (Trời, Người, A Tu La, Địa ngục, Ngạ quỷ, Súc sanh).

Về phần lịch sử của Ngài cũng như công đức và những hạnh nguyện của Ngài trong kinh Bi Hoa, 3 kinh Tịnh Độ và trong 48 lời nguyện đều đã giải rõ. Do đó chúng tôi không đi sâu vào phần nầy nhiều. Vì lẽ một bài báo không thể diễn tả hết tất cả nội dung được. Tôn tượng A Di Đà nầy chúng tôi gọi là tôn tượng, tượng trưng cho văn hóa Phật Giáo miền Nam. Vì có xuất xứ từ Miền Nam nước Việt.

Tôn tượng thứ hai là tôn tượng Đức Địa Tạng Vương Bồ Tát. Tượng nầy xuất xứ từ Miền Trung đất Việt; nơi núi Non Nước thuộc Đà Nẵng. Tượng được tạc vào năm 1998 đến cuối năm 1999 mới xong và tượng đã đến chùa Viên Giác vào mùa hè năm 2000.

Ban đầu chúng tôi dự định tôn trí tôn tượng của Ngài Địa Tạng tại khu Nghĩa Địa của chùa; nhưng vì tượng quá nặng (3.500 kg) vả lại đất tại nghĩa địa rất xốp, không thể để tượng nặng như thế được. Tượng cao 3m50, tạc bằng đá cẩm thạch Non Nước, màu trắng. Nguyên một tảng đá lớn, không chắp vá. Chỉ có phần trên của cây Tích Trượng thuộc một phần đá khác được lắp vào. Giá tượng đặt tại Việt Nam là 40 triệu đồng và sau khi chuyên chở, thuế má từ Việt Nam sang Đức 20 triệu đồng nữa. Cộng chung thành 60 triệu đồng Việt Nam. Có nghĩa là 10.000 Đức Mã. Khi kêu gọi cúng dường tượng Quan Âm và Di Đà thì rất nhiều người hưởng ứng; nhưng tượng Địa Tạng thì rất ít, so với 2 tôn tượng kia. Một phần có lẽ cái nguyện của Ngài Địa Tạng đa phần là ở nơi địa ngục để cứu khổ chúng sanh. Do vậy mà ít người muốn vào đây; nên ít có duyên với Ngài Địa Tạng chăng ?

Hình Ngài ở đây tạc đứng, bên tay phải có cầm Tích Trượng dùng để dộng và cửa địa ngục sẽ mở ra. Tay trái cầm một hạt minh châu, dùng để chiếu sáng cho những chúng sanh đang sanh về thế giới tối tăm kia. Ngài có lời nguyện rằng: Khi nào trong địa ngục không còn một chúng sanh nào nữa, thì Ngài mới chứng được quả Bồ Đề. Đây là một đại nguyện.

Kinh Địa Tạng, Đức Thích Ca Như Lai nói tại cung trời Đao Lợi cho mẫu hậu Ma Gia và chư thánh chúng nghe, có diễn tả rất rõ ràng trong 3 quyển thượng, trung và hạ mà Phật Tử chúng ta thường hay tụng kinh nầy, khi có người trong thân thuộc lâm chung. Bộ Kinh Địa Tạng nầy ít được trì tụng hơn là bộ Kinh Pháp Hoa như Phật Tử Việt Nam chúng ta hay hành trì.

Ngài Địa Tạng không có một lịch sử như Đức Thích Ca Như Lai. Sở dĩ chúng ta biết được Ngài là qua kinh Địa Tạng và sự giới thiệu của Đức Bổn Sư. Khi Phật Giáo được truyền sang Trung Quốc, nhất là đời thịnh Đường khoảng thế kỷ thứ 7, thì hình ảnh của Ngài đã được tạc thành tượng và hình chúng ta đang thờ trong hiện tại là hình của Ngài Kim Kiều Giác, nguyên người Đại Hàn, là một Thái Tử qua Trung Quốc vào thế kỷ thứ 7, đến núi Cửu Hoa tu hành, quyết tìm cho ra chân thân của Ngài Địa Tạng; nhưng cuối cùng chính Ngài là hiện thân của Địa Tạng và Ngài đã thọ đến 99 tuổi. Do vậy mà hình của Ngài thường thường là hình tướng của người xuất gia, đầu tròn, áo vuông, không có tóc. Thế mà tôn tượng tại chùa Viên Giác lại có tóc, không biết vì lý do gì ? Có lẽ người thợ tạc lỡ tay, hay không hiểu hết lai lịch của pho tượng ? Điều nầy cũng dễ hiểu thôi. Ví dụ như người viết văn thì rất thận trọng, trong khi đó người sắp chữ thì chưa rành; nên chữ đúng trở thành chữ sai; nếu không duyệt lại trước khi đem đi in, thì sẽ ra nông nỗi ấy.

Trên đầu Ngài có đội mũ Tỳ Lư; trên mũ ấy có hình dáng của 5 vị Phật. Gọi là Ngũ Phương Ngũ Phật. Tại trung ương có Tỳ Lô Giá Na Phật và Đông, Tây, Nam, Bắc mỗi hướng có một vị Phật khác. Ngài đắp y bá nạp; nghĩa là y 25 điều gồm 100 miếng đâu lại mà th��nh. Đây là một tuyệt tác phẩm được khắc trên đá cẩm thạch; nên chúng tôi gọi tượng nầy tượng trưng cho văn hóa Phật Giáo Miền Trung.

Khi tượng tới chùa, gọi điện thoại về Việt Nam hỏi tượng nặng bao nhiêu ký, thì được cho biết rằng chừng hơn 2.000 kg. Do vậy chúng tôi mượn một xe nâng hàng có trọng lượng 3.000 kg để đưa tượng xuống; nhưng khi xe đưa vào tượng để nâng lên thì xe chuyển bánh. Điều ấy có nghĩa là tượng nặng hơn 3.000 kg rồi. Chúng tôi chạy đi mượn một xe nâng hàng khác có trọng lượng đến 5.000 kg. Xe thì có, mà xe nầy không được chạy ngoài đường. Muốn có xe nầy phải thuê một xe khác chở xe nầy tới mới được. Đúng là khó xử. Sau đó chúng tôi phải đi thuê một xe cẩu có cần trục. Muốn thế phải biết rằng xe hàng chở tượng kia có dỡ nóc ra được không? Vì cần trục phải móc từ trên cao xuống để nâng tượng lên, chứ không câu ngay được. Cũng may là xe hàng nầy dỡ cả mui trần xe ra được; cho nên cuối cùng thì xe cần trục chạy đến, nâng tượng Địa Tạng lên cao và đặt xuống ở vị trí bây giờ trong vòng 2 tiếng đồng hồ thì xong. Cả 2 tôn tượng bên trên rất nặng; nhưng kể từ khi di chuyển cho đến khi an trí, tượng được an toàn và không sứt mẻ một nơi nào cả.

Đến tôn tượng thứ ba mới là một tôn tượng kỳ công. Đó là tượng Quán Thế Âm một ngàn cánh tay và một ngàn con mắt. Tượng nầy có xuất xứ từ Miền Bắc, thuộc Hà Nội. Đầu tiên quý Thầy, Cô về Việt Nam để xem tượng. Sau đó thợ mua gỗ mít và ngâm dưới nước một năm. Sau một năm vớt gỗ lên mới bắt đầu chạm. Tượng nầy chạm xong trong vòng một năm. Sau 6 tháng để khô, thợ mới thếp vàng. Thời gian thếp vàng và chuyên chở đến Đức qua ngả Hồng Kông là 6 tháng nữa. Vị chi là 3 năm tôn tượng nầy mới đến được nước Đức. Tượng được đặt vào năm 1998 và vào mùa An Cư Kiết Hạ năm 2001 mới đến được chùa Viên Giác. Nghĩa là sau Phật Đản và trước khóa Tu Gieo Duyên kỳ nầy. Đây là một tác phẩm có một không hai của Phật Giáo Việt Nam tại ngoại quốc ngày hôm nay và chúng tôi gọi đây là tôn tượng, tượng trưng cho văn hóa Phật Giáo Miền Bắc. Vì lẽ tượng nầy có xuất xứ từ Hà Nội.

Từ dưới bệ lên đến tòa sen cao độ 1m20, gồm 6 phần: 4 phần phía dưới thuộc bệ để nâng tượng. Phần thứ 5 có 2 chân và đầu rồng đỡ tượng. Phần thứ 6 là đài sen, đường kính độ 1m20. Thân tượng cao chừng 2m30 và từ đầu tượng lên đến đỉnh cao độ 1 mét nữa. Tổng cộng độ cao của tượng là 4m50. Tượng nặng tổng cộng là 500 kg. Giá tượng là 40 triệu đồng Việt Nam. Tiền thếp vàng 24 là 60 triệu, cộng thêm tiền chuyên chở, thuế má 20 triệu nữa. Tổng cộng là 120 triệu đồng. Có nghĩa là 20.000 Đức Mã. Nếu tượng nầy làm tại Đức chắc không dưới 100.000 Đức Mã mà không có được nét đặc thù của văn hóa Phật Giáo Việt Nam như vậy, đặc biệt là văn hóa Phật Giáo miền Bắc.

Tại sao Đức Quan Thế Âm có đến một ngàn tay và một ngàn mắt ? Sở dĩ như vậy vì Ngài có tất cả là 500 thân và 500 danh hiệu. Mỗi thân có 2 tay và 2 mắt. Do vậy tượng Ngài có một ngàn tay và trên mỗi tay có chạm một con mắt. Đầy đủ trọn vẹn là một ngàn. Nhưng tại sao chỉ có 11 cái đầu và gọi là Thập nhứt diện Quan Thế Âm ? Ở đây có mười phương vô biên thế giới tượng trưng cho mười cái đầu của Ngài. Đó là thượng phương, hạ phương, Đông, Tây, Nam, Bắc, Đông Nam, Tây Nam, Đông Bắc, Tây Bắc. Tổng cộng là mười phương, nơi nào cũng có Phật và chúng sanh cả. Còn cái đầu trên cùng là cái đầu hướng vào nội tâm của mỗi chúng sanh, mỗi con người, mỗi một vị Phật và mỗi một vị Bồ Tát. Do vậy mà Ngài có hình tướng là 11 cái đầu và có ngàn tay ngàn mắt. Đây cũng chỉ là con số tượng trưng mà thôi. Vì lẽ để cứu độ chúng sanh, Bồ Tát phải có vô biên phương tiện. Ngay nơi thân hình của Ngài có 42 tay lớn. Mỗi bên như vậy là 21 tay. Hai tay bắt ấn trước ngực thuộc ấn Chuẩn Đề. Hai tay nầy không nâng một pháp khí nào cả. Còn lại 40 tay kia có cầm 40 pháp khí cũng có nghĩa dùng 40 loại nầy để độ cho 25 loài chúng sanh trong dục giới, sắc giới và vô sắc giới; nên Ngài có 1.000 tay, 1.000 mắt là ý nầy. Bốn mươi pháp khí ấy tượng trưng như sau:

Thứ 1 gọi là Hóa Phật Thủ Bất Ly Quan Âm (trên tay có vị Hóa Phật là biểu thị Hóa Phật không rời Quan Âm). Trên tay trái của Ngài có nâng một vị Phật, chính đó là vị Phật Hóa, cho nên gọi là Hóa Phật Thủ. (Ghi chú: 40 biểu hiện nầy được trích từ: Thiên Thủ Thiên Nhãn Quán Thế Âm Bồ Tát Đại Bi Tâm Đà La Ni và Đại Thừa Nghĩa Chương, quyển thứ 19, do Thầy Thích Toàn Châu biên soạn và đã đăng tải trên báo Khánh Anh, Pháp Quốc, Bản Tin tháng 10 năm 2000 và Bản Tin số 1 năm 2001).

Thứ 2 là Quyển Tố Thủ Trì Tố Quân Âm. Nghĩa là Tay Quyển Tố, là Quan Âm nắm sợi dây cuộn lại 3 vòng.

Thứ 3 là Vô Úy Thí Thủ Trừ Bố Quan Âm. Nghĩa là Tay Thí Vô Úy, là Quan Âm trừ sợ sệt. Trên tay nầy đúng ra thì không có một pháp khí nào cả. Vì tài thí, pháp thí và vô úy thí đ�� thí xong.

Thứ 4 là Bạch Phất Thủ Phất Nạn Quan Âm. Nghĩa là tay nắm cây phất trần, là Quan Âm phủi quét tai nạn.

Thứ 5 là Bàng Bài Thủ Hiện Nộ Quan Âm. Nghĩa là tay nắm cái Bàng Bài, là Quan Âm hiện tướng uy nộ. Đây là một binh khí để chống đỡ, để loại trừ địch thủ.

Thứ 6 là Việt Phủ Thủ Trấn Nạn Quan Âm. Nghĩa là tay nắm búa lớn, là Quan Âm đỡ che tai nạn.

Thứ 7 là Kích Báo Thủ Phá Tặc Quan Âm. Nghĩa là tay nắm cây giáo cán dài, là Quan Âm đánh tan giặc cướp. Cây giáo nầy rất dài và với cây giáo nầy tướng của Ngài Quan Âm trở nên oai vệ, như một dũng tướng.

Thứ 8 là Dương Liễu Th��� Dược Vương Quan Âm. Nghĩa là tay nắm cành dương liễu, là Dược Vương Quan Âm.

Thứ 9 là Tam Cổ Thủ Kim Cang Quan Âm. Nghĩa là tay nắm cái chày chỉa ba, là Kim Cang Quan Âm. Cái chày chỉa ba nơi tay Bồ Tát cũng là cái cờ hiệu tượng trưng cho Phật Pháp Tăng Tam Bảo.

Thứ 10 là Độc Cổ Thủ Trì Xứ Quan Âm. Nghĩa là tay nắm chày độc cổ, là Quan Âm nắm chày. Chày đây là chày Kim Cang có khả năng đoạn trừ phiền não, hàng ph���c ác ma.

Thứ 11 là Bảo Kiếm Thủ Bảo Kiếm Quan Âm. Nghĩa là tay nắm kiếm báu, là Quan Âm dùng kiếm báu. Kiếm nầy dùng để hàng phục bốn ma. Nên kiếm nầy còn gọi là hàng ma kiếm.

Thứ 12 là Cung Điện Thủ Đại Thế Quan Âm. Nghĩa là tay đỡ cung điện, là Đại Thế Quan Âm. Tức là từ tay của Ngài hóa ra cung điện của Phật.

Thứ 13 là Kim Luân Thủ Bất Chuyển Quan Âm. Nghĩa là tay nắm chiếc vòng vàng, là Quan Âm Bất Chuyển. Bất chuyển nghĩa là Ngài không vì 3 hạng người sau đây mà thuyết pháp:

- Hạng người chấp trước nơi ngã mạn.

- Hạng người chấp trước nơi ngũ dục.

- Hạng người chấp trước nơi tà kiến.

Thứ 14 là Bảo Bát Thủ Bảo Bát Quan Âm. Nghĩa là tay bưng bình báu, là Bảo Bát Quan Âm. Bình bát nầy để trên hai tay chồng lên nhau lúc Ngài ngồi thiền.

Thứ 15 là Nhật Ma Ni Thủ Nhật Tinh Quan Âm. Nghĩa là tay đỡ mặt trời Ma Ni, mặt trời bằng ngọc lóe sáng là Nhật Tinh Quan Âm.

Thứ 16 là Nguyệt Ma Ni Thủ Nguyệt Tinh Quan Âm. Nghĩa là tay đỡ mặt trăng Ma Ni, là Nguyệt Tinh Quan Âm. Tay đỡ nguyệt Ma Ni có khả năng khiến cho người nóng được mát mẻ.

Thứ 17 là Như Ý Châu Thủ Dữ Nguyện Quan Âm. Nghĩa là tay Như Ý Châu, là Quan Âm ban cho người ước nguyện. Nghĩa là bàn tay bên phải ngửa ra và duỗi cả năm ngón tay hướng xuống sít nhau.

Thứ 18 là Bảo Cung Thủ Bảo Cung Quan Âm. Nghĩa là tay nắm cung bái, là Bảo Cung Quan Âm.

Thứ 19 là Bảo Kinh Thù Bát Nhã Quan Âm. Nghĩa là tay nắm kinh báu, là Bát Nhã Quan Âm.

Thứ 20 là Bạch Liên Thủ Phân Trà Lợi Quan Âm. Nghĩa là tay nắm hoa sen trắng, là phân trà lợi Quan Âm.

Thứ 21 là Thanh Liên Thủ Kiến Phật Quan Âm. Nghĩa là tay nắm hoa sen xanh, là Kiến Phật Quan Âm. Nếu muốn sanh về 10 phương Tịnh Độ của chư Phật thì phải lấy Kiến Phật Quan Âm nầy làm bổn tôn mà tu pháp Thanh Liên.

Thứ 22 là Bảo Đạc Thủ Pháp Âm Quan Âm. Nghĩa là tay nắm chuông lắc, là Quan Âm dụng pháp âm.

Thứ 23 là Tử Liên Thủ Kiến Liên Quan Âm. Nghĩa là tay nắm hoa sen tím, là Quan Âm thấy hoa sen.

Thứ 24 là Bồ Đào Thủ Hộ Địa Quan Âm. Nghĩa là tay nắm Bồ Đào, là Quan Âm bảo hộ đất đai.

Thứ 25 là Liên Hoa Hiệp Chưởng Thủ Hiện Kinh Quan Âm. Nghĩa là chắp tay kiểu hoa sen, là Quan Âm hiện sự cung kính.

Thứ 26 là Bảo Cảnh Thủ Cảnh Trí Quan Âm. Nghĩa là tay nắm gương báu, là Quan Âm dụng gương trí, tức là dụng Đại Viên Cảnh Trí.

Thứ 27 là Bảo Ấn Thủ Trì Ấn Quan Âm. Nghĩa là tay bắt bảo ấn, là Quan Âm sử dụng Trì Ấn.

Thứ 28 là Ngọc Hoàn Thủ Trì Hoàn Quan Âm. Nghĩa là tay nắm vòng ngọc, là Quan Âm nắm vòng.

Thứ 29 là Hồ Bình Thủ Trì Bình Quan Âm. Nghĩa là tay nắm hồ bình, là Quan Âm Trì Bình. Muốn quyến thuộc được hòa thuận thì tu phép Hồ Bình.

Thứ 30 là Quân Trì Thủ Thiền Định Quan Âm. Nghĩa là tay nắm bình nước, là Quan Âm Thiền Định.

Thứ 31 là Hồng Liên Thủ Liên Hoa Quan Âm. Nghĩa là tay nắm sen hồng, là Liên Hoa Quan Âm.

Thứ 32 là Tích Trư��ng Thủ Từ Trượng Quan Âm. Nghĩa là tay nắm Tích Trượng, là Từ Trượng Quan Âm. Tích Trượng là một trong 18 thứ tùy thân của Tăng Già, dùng để đi đây đó.

Thứ 33 là Thiết Câu Thủ Câu Triệu Quan Âm. Nghĩa là tay nắm móc câu bằng sắt, là Câu Triệu Quan Âm.

Thứ 34 là Đảnh Thượng Hóa Phật Thủ Quán Đảnh Quan Âm. Nghĩa là tay của vị Hóa Phật ở trên đỉnh, là Quán Đảnh Quan Âm.

Thứ 35 là Sổ Châu Thủ Niệm Châu Quan Âm. Nghĩa là tay lần chuỗi, là Niệm Châu Quan Âm.

Thứ 36 là Bảo Loa Thủ Trì Loa Quan Âm. Nghĩa là tay nắm vỏ ốc báu, là Trì Loa Quan Âm.

Thứ 37 là Bảo Tiễn Thủ Tốc Trị Quan Âm. Nghĩa là tay nắm mũi tên báu, là Quan Âm bắt nhanh mũi tên.

Thứ 38 là Bảo Khiếp Thủ Kiến Ấn Quan Âm. Nghĩa là tay nắm tráp báu, là Kiến Ấn Quan Âm, Từ tráp nầy có một vị Bồ Tát hóa hiện ra; nên gọi là tráp báu.

Thứ 39 là Độc Lâu Thủ Phược Quỷ Quan Âm. Nghĩa là tay nắm sọ đầu người chết, là Quan Âm bắt trói quỷ.

Thứ 40 là Ngũ Sắc Vân Thủ Tiên Vân Quan Âm. Nghĩa là tay nắm mây ngũ sắc, là Tiên Vân Quan Âm. Nếu người nào muốn thành tựu pháp tiên thì phải tu pháp Ngũ Sắc Vân.

Trên đây là ý nghĩa của 40 pháp khí mà Đức Quan Thế Âm đang thủ hộ. Ý nghĩa của từng món pháp khí và từng kiểu bắt ấn rất sâu sắc. Muốn biết đầy đủ hơn, nên xem lại 2 số báo Bản Tin Khánh Anh như vừa nêu trên.

Tại Chùa Viên Giác bây giờ có huân tu Đại Bi Quan Âm do Thầy Hạnh Tấn hướng dẫn. Mỗi năm như thế có 3 hay 4 lần pháp hội. Mỗi pháp hội kéo dài từ chiều thứ sáu đến chiều chủ nhật, gồm có tụng chú Đại Bi của Đức Quan Thế Âm, kinh hành niệm Phật và pháp thoại. Quý Phật Tử ở xa có thể gọi điện thoại về chùa để tham gia những ngày huân tu Đại Bi như thế. Công đức thật không nhỏ.

Khi chưa có đạo tràng chúng ta kiến lập đạo tràng. Khi đã có đạo tràng rồi chúng ta nên chuyên tu, thì công đức hành trì mới viên mãn; nếu không, chỉ là lý thuyết chứ chưa thực hành.

Trong Sám Quy Mạng có câu:

"Kiến pháp tràng ư xứ xứ

Phá nghi võng ư trùng trùng"

Cũng là trong ý nghĩa nầy vậy. Vì lẽ lưới nghi của chúng sanh mỗi ngày mỗi nhiều, chồng chất lên nhau; nên người thực hành hạnh Bồ Tát, muốn lợi sanh phải tạo dựng nhiều đạo tràng như thế để cho mọi người tu hành. Từ đ��y sẽ có cơ hội chuyển hóa thân tâm là vậy.

Đạo Tràng như Đạo Tràng Pháp Hoa chuyên trì tụng Pháp Hoa. Đạo Tràng Dược Sư chuyên trì tụng Dược Sư. Đạo Tràng Tịnh Độ chuyên Niệm Phật Cầu Vãng Sanh. Đạo Tràng Đại Bi chuyên huân tu Đại Bi trì chú v.v... Mỗi một Đạo Tràng như thế. Mỗi một việc huân tu như thế giúp người Phật Tử có cơ hội nhiếp tâm giữ giới và thực hành giáo pháp của Đức Như Lai.

Ở Đức nầy qua 20 năm học giáo lý căn bản rồi, Phật Tử chúng ta nên huân tu những pháp môn mà mỗi người cảm thấy là thích hợp, để từ đó đi vào nề nếp thực tập những nghi lễ chuyên đề nầy, nhằm thăng tiến nội tâm tu trì của mỗi người. Nếu người xuất gia lẫn tại gia không dụng công tu học thì không có phương cách nào để chữa trị những phiền não của chúng ta tận gốc rễ được. Do vậy mà mọi người nên hạ thủ công phu. Hoặc ở nhà, hoặc ở chùa. Nơi nào trang nghiêm thanh tịnh chúng ta đều có thể hành trì cả

Lẽ ra chùa Viên Giác phải có một biệt điện để thờ Quan Thế Âm ngàn tay ngàn mắt thì trang nghiêm hơn; nhưng tạm thời an trí Ngài nơi chánh điện của chùa phía bên trái để cho Phật Tử chiêm bái và nguyện cầu. Cũng nhờ chánh điện chùa Viên Giác rộng rãi; nên với không gian ấy, tôn tượng cao 4m50 đưa vào cảm như không có gì to lớn lắm. Trong khi đó nếu pho tượng nầy để tại chùa cổ ở Việt Nam thì trông rất bề thế và cao lớn.

Khi chở qua Đức, người ta phải chia ra làm 4 thùng lớn để gởi đi. Nhờ vậy mới đến Đức một cách an toàn, không bị sứt mẻ một nơi nào; nhưng đồng thời khi lắp tượng vào cũng là việc thiên nan vạn nan. Vì không biết là tay nào lắp vào đâu và pháp khí nào để vào tay nào. Mặc dầu trên những cánh tay có ghi số; nhưng khi thếp vàng thì vàng phủ lên trên một bên; nên khi lắp quả thực tốn công vô cùng. Lắp cho xong 1.000 cái tay nầy phải tốn thời gian là 14 tiếng đồng hồ. Nghĩa là từ sáng sớm cho đến 10 giờ đêm mới xong. Cũng may là Hạnh An khéo tay cùng với một số anh em có ý nên sau khi dựng tôn tượng lên trông rất trang nghiêm và bề thế.

Phật Tử Thiện Nghĩa tại Hannover cúng dường tiền chuyên chở từ Việt Nam qua và cộng chung cả thuế má là 3.000 Đức Mã.

Trước đó một năm tôi đã cho người về Việt Nam chụp hình tượng nầy. Cũng nhờ vậy mà khi lắp các tay của Ngài vào đỡ tốn thời gian hơn một chút. Cái vòng tròn phía sau gồm nhiều tấm ván ghép lại và có 2 cây trụ cao lớn bắt sát vào chân tượng để nâng cả khối hình tay của Ngài lên và trên đầu cùng có hình chim Đại Bàng. Chim Đại Bàng là chúa tể của các loài chim và cũng đã được Đức Phật độ cho khi Ngài còn tại thế. Cho nên thỉnh thoảng đâu đó chim Đại Bàng vẫn được chạm trổ ở các chùa chiền.

Khi đảnh lễ, chiêm ngưỡng 3 pho tượng vừa kể trên, mỗi người trong chúng ta sẽ có một nhận xét riêng; nhưng dầu bất cứ dưới cái nhìn nào đi nữa thì chúng ta cũng thấy rõ rằng nét chạm trổ của miền Bắc khác miền Trung. Nét đục đẽo của miền Trung khác của miền Nam và nét đắp tượng của miền Nam khác với Trung Quốc hay Nhật Bản.

Dĩ nhiên tất cả những tôn tượng của chúng ta hiện có ở Việt Nam hay ngoại quốc cũng ít có tôn tượng nào đẹp hoặc kỳ công như những tôn tượng của Trung Hoa và Nhật Bản hay Đại Hàn; nhưng ít ra nét văn hóa đặc thù của chúng ta phải có, dầu nhỏ bao nhiêu đi chăng nữa. Đi từ ý nghĩ nầy mà tôi trong thời gian qua đã vận động Phật Tử tại Đức cũng như khắp nơi trong việc xây chùa, đúc tượng, tô chuông, in ấn kinh sách, nuôi dưỡng học Tăng nhằm vun bồi đạo học. Tổ chức những khóa tu cho Phật Tử tại gia hành trì, cũng chỉ nhắm vào việc báo Phật ân đức mà thôi.

Ngày mai đây tất cả chúng ta khi chết đi cũng chỉ làm phân bón cho cây cỏ và mấy chục năm sau hay mấy trăm năm sau nữa chẳng còn ai biết đến ta là ai nữa; nhưng những pho tượng nầy ít ra cũng đư���c cả ngàn năm tồn tại với đời. Mái chùa nầy cũng sưởi ấm lòng người được cả mấy trăm năm. Kinh điển nầy sẽ trợ duyên cho người học Phật hằng bao thế hệ. Tăng tài của Giáo Hội sẽ càng nhiều hơn để giữ gìn và phát huy Đạo Pháp. Những đạo tràng tu học như thế sẽ làm bạn sen với nhau ở thế giới nầy hay ở mười phương vô biên thế giới khác nữa.

Tiếng xấu tốt, khen chê, thị phi, nhân nghĩa rồi cũng trôi vào trong quên lãng. Do vậy mà chúng ta nên bắt đầu một cái gì đó cho có ý nghĩa trong cuộc đời. Nếu không nói là muộn lắm rồi đấy. Vì mọi người đã lên thuyền Bát Nhã rồi, còn ta cứ phiêu lưu bồng bềnh nơi kiếp nhân sinh đầy tội lỗi nầy.

Mỗi người nên tự nhìn vào mình một chút, đừng nên chỉ thấy lỗi người. Vì làm người ai mà không lỗi; những cái lỗi của người khác nó không có ích gì cho ta cả. Hãy xem cái hay cái đẹp của người khác để tâm ta được thanh thoát nhẹ nhàng. Đó là tu vậy. Nếu mỗi người trong chúng ta ai cũng nghĩ như thế và thực hành được như thế thì quả thật chư Phật và chư Bồ Tát hoan hỷ nhìn trông chúng ta trong khoảng không gian vô tận ấy. Ngược lại, chắc là Bồ Tát Địa Tạng cũng phải băn khoăn là không biết bao giờ trong địa ngục mới không còn chúng sanh nữa và Bồ Tát Quán Thế Âm dầu có ngàn tay ngàn mắt đi chăng nữa cũng không thể cứu hết nỗi khổ của nhân sinh. Trong khi đó Đức A Di Đà Phật đang duỗi tay chờ đợi chúng ta nơi cõi Tây Phương Cực Lạc vậy

Quý vị đã sẵn sàng chưa? hãy tinh tấn lên và bước chân vào thuyền Bát Nhã vậy.

Viết xong vào một ngày đẹp trời của khóa Tu Gieo Duyên

tại chùa Viên Giác năm 2001

( Số 124 (Tháng 8.2001)

Viết về

Trung Tâm Tu Học Viên Giác tại Bồ Đề Đạo Tràng - Ấn Độ

Danh từ Viên Giác có nghĩa là giác ngộ một cách tròn đầy; hiểu biết một cách thông suốt. Ngày xưa khi Phật còn tại thế Ngài cũng đã giảng một bộ kinh có tên là Viên Giác. Thế rồi từ đó đến nay danh từ nầy đã dùng đến không biết bao nhiêu lần, nhằm để viết tên kinh hay đặt hiệu cho chùa; đôi khi còn chọn làm pháp hiệu của một vài vị danh Tăng nữa. Dĩ nhiên là danh xưng ấy chẳng dành cho riêng một ai cả. Nhưng với tôi, chữ VIÊN GIÁC nầy đã khởi đi từ thập niên 60 khi mà một Chú Tiểu bắt đầu tập sự tại một ngôi chùa ở Hội An đã có tên là Viên Giác.

Đến năm 1977, sau hơn 5 năm du học tại Nhựt, tôi đến Đức, ban đầu chẳng dự định thành lập chùa chiền, chỉ muốn tiếp tục con đường học vấn mà thôi; nhưng cơ duyên đã đến nên ngày 2 tháng 4 năm 1978 một ngôi Niệm Phật Đường tại Hannover - Đức Quốc ra đời, tôi đã đặt tên là VIÊN GIÁC để nhớ đến ân Sư, nhớ đến ngôi chùa nơi tôi đã xuất gia và học đạo kể từ năm 1964 đến nay.

Từ năm 1977 đến nay tại xứ Đức nầy tôi đã cho xuất gia 33 vị và đã ra đời hết 5 người; còn lại 28 vị. Trong 28 vị đó có 3 vị đã mãn phần. Hiện tại Tăng Ni còn 25 người, đa phần là Tăng và đặc biệt số Tăng sĩ nầy đều đồng chơn nhập đạo. Trong số nầy có Thầy Hạnh Nguyện và Thầy Hạnh Tấn là những người đệ tử có nhân duyên xuất gia với tôi từ năm 1987. Kể cho đến nay (2001) cũng đã hơn 14 năm rồi. Trong 14 năm ấy quý Thầy đã ở với tôi dưới ngôi chùa Viên Giác nầy ít nhất cũng từ 1 cho đến 6 năm, rồi ra đi học đạo tại Ấn Độ.

Đến năm 1999 hai Thầy có ý thành lập một ngôi chùa tại Bồ Đề Đạo Tràng để cho Phật Tử tu học và có thưa với tôi rằng sẽ chọn tên VIÊN GIÁC để nhớ lại nơi xuất xứ của các Thầy ấy. Dĩ nhiên là tôi đã không phản đối điều nầy và suốt hơn 2 năm qua Trung Tâm Tu Học Viên Giác tại Bồ Đề Đạo Tràng đã được thực hiện.

Khởi đi từ tấm lòng của những người Tăng Sĩ trẻ được xuất gia tại ngoại quốc và được trau giồi ngoại ngữ cũng như giáo dục một cách có hệ thống và tổ chức cho nên tôi đã tin tưởng hoàn toàn vào hai Thầy ấy và chỉ đứng phía sau để hỗ trợ về tinh thần cũng như vật chất khi cần đến mà thôi; chứ không chi phối những chương trình và kế hoạch của hai Thầy ấy. Điều ấy để nói lên sự tự do chọn lựa và tôn trọng hảo ý dầu đó là ý kiến của những người bên dưới mình.

Rồi những đợt vận động liên tiếp đã xảy ra từ Á sang Âu, từ Âu sang Mỹ và từ Mỹ sang Úc đã được đồng hương Phật Tử hỗ trợ một cách nhiệt thành. Đây là sự an ủi lớn lao mà những người khi ra làm Phật sự cần phải có. Dĩ nhiên trong đó cũng chẳng thiếu những tiếng thị phi. Vì đây có lẽ là bản chất cố hữu của người Việt Nam là vậy. Tôi đã quan sát từng sự kiện từ khi đổ nền móng cho đến khi lên tầng một, tầng hai, tầng ba, tầng tư v.v... rồi Chùa Một Cột, rồi cổng tam quan... chỉ chừng ấy thứ thôi Thầy Hạnh Nguyện cũng đã có nhiều sợi tóc trắng và Thầy Hạnh Tấn tuy không trực tiếp điều hành tại Trung Tâm Tu Học tại Ấn Độ nhưng những lo âu và tuổi tác cũng đã làm cho bạc đầu. Cho hay câu: "Đoạn trường ai có qua cầu mới hay" trong truyện Kiều của cụ Nguyễn Du đã diễn tả nó đúng trong mọi hoàn cảnh của con người.


Cứ mỗi lần khó khăn như thế tôi đều động viên và phân tích, chỉ vẽ, hỗ trợ về mặt nầy hay mặt khác. Trong khi đó hai chân của quý Thầy ấy vẫn tiến đều đến tương lai và hai tấm lòng hy sinh cho đạo ấy càng ngày càng cao vời vợi như ánh sáng trăng rằm vào một đêm thu trời trong mây tạnh. Bằng chứng dĩ nhiên là quá đủ để chứng minh cho tấm lòng nầy là cả hai Thầy, mỗi Thầy đều hy sinh một phần thân thể của mình; đó là đốt 2 và 3 ngón tay để cúng dường Tam Bảo, đặc biệt là cầu nguyện cho Trung Tâm Tu Học Viên Giác tại Bồ Đề Đạo Tràng được thành tựu viên mãn. Ngoài ra Thầy Hạnh Tấn cũng đã cùng với Thầy Đồng Văn đi 3 bước lạy một lạy từ sông Hằng, nơi Đức Phật thường hay cư ngụ, đến nơi Bồ Đề Đạo Tràng suốt trong 40 ngày đêm, trong túi không có một đồng xu, chỉ trừ y và bát là những món tùy thân đã mang theo mình. Cả 3 vị đều ở tuổi dưới 40. Thầy Hạnh Nguyện tiếng Anh rất vững đang nằm ở trình độ Đại Học. Thầy Hạnh Tấn xong Cao Học tại Đức, Phó Tiến Sĩ tại Ấn Độ và bằng Tiến Sĩ không nhận. Dẫu cho luận án Tiến Sĩ đã viết xong; Thầy Đồng Văn là bạn đồng hành cũng đã xong Tiến Sĩ Triết Học Phật Giáo tại Đại Học New Delhi vào tháng 2 năm 2001 và cũng đã đốt một ngón tay để cúng dường chư Phật sau khi đi xong tam bộ nhất bái với Thầy Hạnh Tấn và hiện tại đang hướng dẫn Tăng Ni tại chùa Viên Giác Hannover. Những điều hiến dâng ấy tôi là Thầy của những vị nầy; nhưng tôi đã làm không được; chỉ có thầm khâm phục tinh thần tu học cao cả ấy mà thôi. Dĩ nhiên là giới luật cũng như cá nhân tôi không khuyến khích cho việc hy hiến thân thể ấy tiếp tục nữa. Vì còn sống là còn phải kham nhẫn, mà thân thể bị thiếu mất những ngón tay căn bản như thế thì cũng không nên.

Tục ngữ Việt Nam có câu: Con hơn cha là nhà có phước. Do vậy mà học trò, đệ tử ngày nay hơn Thầy thì cũng đáng mừng chứ có sao đâu? Tôi còn nhiều Thầy đệ tử khác đặc biệt hơn nữa; nhưng trong bài nầy tôi chỉ đề cập đến hai trong ba Thầy bên trên mà thôi. Riêng tôi chỉ nguyện mình là nước, để chuyên chở những trong đục của cuộc đời và mãi mong mình là mặt đất để hứng chịu những sạch nhơ của nhân thế và dẫu còn hay mất, thân nầy cũng tự coi như ít giá trị hơn cỏ cây để nâng đỡ, dắt dìu những ai cần đến sự hỗ trợ của mình mà thôi.

Dở lại những chồng thư cũ, ngày tháng đã phôi pha, tôi đọc lại những bài vở góp ý, chia xẻ và ngay cả những chống đối khi tôi chủ trương xây ngôi chùa Viên Giác nầy thấy cũng vui vui. Vì lẽ những nhận xét, những phỏng đoán, những dự trù của mỗi cá nhân nó khác nhau và ít có cái tiên đoán nào nó đúng hoàn toàn. Đúng là các pháp không bao giờ ở yên một chỗ như Đức Phật đã dạy. Cái nầy có thì cái kia mất đi, cái nầy sanh thì cái kia diệt. Chẳng có cái nào là chủ thể cả. Đồng thời các pháp ấy cũng không mất và các pháp ấy cũng chẳng còn. Đó chẳng qua là những hiện tượng biến đổi của thế gian, mà con người nương vào đó để thấy còn hay mất, đẹp hay xấu, giàu hay nghèo. Tất cả cũng chỉ là một khoảng không to tướng mà thôi.

Khi nhìn mọi pháp như thế; nên tâm tôi thật an bình khi lời khen đến cũng như lời chê qua lại trước ngưỡng cửa của cuộc đời mình. Cũng đừng vội vui khi một việc được thành tựu; cũng không nên buồn khi một việc gì đó chưa đến chỗ thành công. Hãy nhìn sự vật không cố định và đừng để cho vật chuyển động tâm thức của mình, mà chính mình mới là người đi chuyển động nghiệp lực của mình. Từ cái nhìn ấy và từ kinh nghiệm bản thân của tôi, tôi đã truyền đạt cho những người học trò, đệ tử cứ như thế mà đi. Chẳng có gì để phải tự hào cả và cũng không nên nản chí khi bị những tiếng thị phi.

Bây giờ thì Trung Tâm Tu Học Viên Giác tại Bồ Đề Đạo Tràng đã sừng sững rồi đó. Cao 5 tầng từ dưới kể lên. Có 27 phòng; mỗi phòng 2 giường ngủ. Như vậy 54 khách hành hương có thể ở lại thoải mái khi chiêm bái một trong những Thánh tích quan trọng nầy. Ngoài các phòng ngủ ra còn có chánh điện, phòng Tổ, Thư viện, nhà bếp, phòng công cộng v.v... tất cả diện tích xử dụng được tính là 2.700 mét vuông. Như vậy chỉ thua chùa Viên Giác tại Hannover - Đức Quốc có 300 mét vuông mà thôi.

Ngôi Chùa Một Cột thiết kế xây dựng hoàn toàn là Việt Nam để đánh dấu một triều đại nhà Lý huy hoàng với sự đóng góp của Phật Giáo và gần đến 1.000 năm sau, tinh thần Phật Giáo ấy đã được xây dựng tại nơi quê hương của Đức Phật để báo ân, mà chính nhờ giáo lý từ bi nhiệm mầu ấy, những người con Phật Việt Nam đã thừa hưởng qua mấy ngàn năm lịch sử rồi. Bây giờ chính là lúc đem cành lá, hoa thơm về lại vun xới gốc gác lâu năm đã khô cằn nơi Ấn Độ. Ý nghĩa nầy dầu dưới hình thức nào đó cũng đã có một phần đóng góp nhỏ nhoi cho sự phục hưng Phật Pháp tại xứ theo Ấn Độ giáo nầy.

Đồ trang trí bên trong hầu như được chế tạo tại Việt Nam. Riêng mái ngói thì được Thầy Hạnh Nguyện đặt mua từ Nhật Bản. Kiến Trúc Sư là người Việt ở Mỹ. Nhân công là người Ấn Độ; thợ nguội làm hoa văn là người Việt Nam... như vậy đó mà Trung Tâm Tu Học Viên Giác đã hình thành.

Ngày nay đứng nhìn tác phẩm nghệ thuật ấy chắc Thầy Hạnh Nguyện và Thầy Hạnh Tấn cũng sẽ tự mỉm cười với chính mình là làm sao mình có thể làm được như thế nhỉ ? Làm sao với một kinh phí lớn lao như thế mà mình đã đi ngót được một đoạn đường ? Điều ấy tôi đã phân tích như sau :

Thứ nhất là nhờ sự gia hộ của chư Phật, chư vị Bồ Tát. Vì đây là mảnh đất thiêng; nơi có nhiều sự linh ứng và từ sự linh ứng nầy mà có nhiều chư Tăng và Phật Tử khắp nơi trên thế giới hỗ trợ. Khi Phật Tử hỗ trợ cho công việc nầy họ đều nghĩ rằng xây dựng chùa Việt Nam tại đất Phật; chứ không có ai nghĩ rằng chùa của Thầy A hay Thầy B. Tôi biết tại Mỹ có nhiều Phật Tử rất thuần thành, từ Texas đến Cali hay Washington DC, New York; hay Âu Châu từ miền cực lạnh của Bắc Âu cho đến vùng nắng ấm của Ý hay nơi kinh đô hoa lệ Paris, mãi cho đến xứ Nam phương xa xôi bên kia quả địa cầu; nơi nào cũng có người đã hỗ trợ một cách nhiệt thành qua sự đóng góp bữa cơm gây quỹ hay cho mượn hội thiện không lời. Cũng có những vị cúng một số tiền không nhỏ. Cứ từng giọt nước nhỏ li ti như thế mà quý Thầy đã quyên góp được 700.000,00 US$ và 100.000,00 US$ tiền Hội Thiện. Nếu tính ra tiền Đức cũng gần 2 triệu Đức Mã rồi. Con số ấy không nhỏ. Nghe đâu từ đây đến khánh thành còn tốn kém độ 100 đến 200 ngàn đô-la nữa. Chắc chắn việc ấy sẽ xong thôi. Vì đây là một việc làm phước đức và có rất nhiều ý nghĩa; nên sẽ được sự hỗ trợ của mọi người con Phật khắp năm châu.

Điều thứ hai cũng rất là quan trọng. Đó là sự dụng công tu học bái sám hằng ngày của quý Thầy ấy. Tại Bồ Đề Đạo Tràng hay tại chùa Viên Giác Đức Quốc, quý Thầy ấy lúc nào cũng dụng công. Thời kinh Lăng Nghiêm mười mấy năm nay cả hai đều không bỏ và lúc nào cũng như lúc nào tánh hạnh cũng khiêm cung hòa nhã, từ ái; nên bên trên được chư Phật và các vị Bồ Tát gia trì. Phía dưới được mọi người mọi loài hỗ trợ. Quý vị cũng có thể đọc thêm quyển "Tự truyện Một Người Tu" của Thầy Hạnh Nguyện để biết thêm những chi tiết căn bản nầy. Hoặc giả đọc "Xứ Phật Tình Quê" để biết được tâm nguyện của quý Thầy ấy.

Quý vị độc giả đọc đến đây, cũng sẽ có người bảo: "Con hát mẹ khen hay" hoặc giả "Mèo khen mèo dài đuôi" thì tôi cũng phải chấp nhận; nhưng làm được như hai Thầy ấy, câu chuyện nó không dễ dàng; nếu không có nghị lực và ý chí. Rồi mai đây khi xây chùa xong có lẽ Thầy Hạnh Nguyện biết đâu sẽ viết lại một tác phẩm để trình bày lại tiến trình xây cất Trung Tâm Tu Học Viên Giác tại Bồ Đề Đạo Tràng để đời sau có cơ duyên đọc lại mà hiểu cho một giai đoạn đã trải qua.

Điều thứ ba cũng không kém phần quan trọng là nhờ có sự hiện hữu của ngôi chùa Viên Giác tại Đức; nhờ có tờ báo Viên Giác là cơ quan ngôn luận của Giáo Hội tại đây và cuối cùng không thể thiếu cội tùng già là nơi nương bóng mát khi nắng khi mưa cũng như khi trời đông giá buốt cho các Thầy ấy.

Trên đây là 3 điều kiện quan trọng quý Thầy ấy thành công; nhưng công việc đến đó chưa xong thì Thầy Hạnh Nguyện phải đi chữa bệnh tại Thái Lan và Thầy Hạnh Tấn từ Đức phải bay qua Ấn Độ để chăm sóc trong vài tháng khi Lễ Khánh Thành dự trù tổ chức vào ngày 6 đến ngày 8 tháng 3 năm 2002 sắp đến.

Thầy Hạnh Nguyện một hôm về lại Đức thưa với tôi và Đại Chúng rằng: "Chùa con lo xây đã gần xong; bây giờ con xin hiến cúng cho Giáo Hội và con xin phép được đi tu học tiếp". Khi nghe câu ấy ai nấy đều lo toan không biết công việc tại đây sẽ ra sao. Nhưng tôi thì rất hiểu điều nầy. Vì biết rằng quý Thầy ấy đã học được tánh buông xả. Có tất cả đó, rồi bỏ hết để trở về lại với cái không to tướng lúc ban đầu, đâu có sao. Miễn sao mình giữ được tâm mình, chứ giữ được chùa mà tâm mình đánh mất, đó mới là điều đáng trách. Tôi từ từ chỉ lối cho các Thầy ấy ra :

Dẫu sao thì Hạnh Nguyện cũng đã có công gầy dựng từ lúc ban đầu; nên tôi đề nghị phải giữ chân Giám Đốc Điều Hành Trung Tâm Tu Học Viên Giác, dầu cho ở đó hay không ở đó cũng không sao. Bên nầy sẽ lo cử một menager giỏi, biết đảm đang và biết nhiều ngôn ngữ để đi vào hoạt động. Ngoài ra chùa Viên Giác bên nầy cứ 6 tháng hay 1 năm cử quý Thầy qua đó để tụng kinh, niệm Phật, lễ bái. Người quản gia và người giúp việc thì thuê người địa phương. Như thế tạm giải quyết được một việc khó ở trong giai đoạn nhất thời nầy. Còn tài sản ấy trên nguyên tắc vẫn là của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất Hải Ngoại và nước Đức sẽ đứng ra chịu trách nhiệm pháp lý cho vấn đề nầy; chứ không là của một cá nhân nào cả.

Người tu phải như thế, đến và đi như trăng sao; lúc ẩn lúc hiện. Không nên bi lụy quyến luyến với thế trần để rồi chìm sâu vào lợi danh và tốt xấu, được mất, hơn thua.

Riêng Thầy Hạnh Tấn cũng có công việc với Trung Tâm Tu Học Viên Giác tại Ấn Độ; nhưng năm 2003 Thầy ấy sẽ được chính thức tấn phong Trụ Trì Chùa Viên Giác tại Đức; cho nên trong hiện tại và tương lai không đảm nhận một chức vụ gì quan trọng ở Ấn Độ cả. Thầy Hạnh Tấn chỉ ngoại hộ mà thôi. Riêng tôi thì trở về vị trí Cố Vấn sáng lập trù trì, rồi nay đây mai đó; không phải với bầu rượu túi thơ và theo sau năm bảy tiểu đồng để ngao du sơn thủy, mà để chiêm nghiệm cuộc đời qua những năm tháng nhập thất dài lâu để thấy được chân thật tánh của mình. Đó là hoài bão của tôi từ lâu vậy. Dĩ nhiên là tôi sẽ không ở thất lâu suốt đời, mà một năm 3 đến 5 tháng nhập thất; số thời gian còn lại vẫn tiếp xúc với Phật Tử tại Đức và các nơi khác; nên quý vị chớ vội ưu sầu. Vì cái gì có sanh ra thì phải có lúc trưởng thành, rồi đến già, bịnh và có lúc cũng phải ra đi; chứ làm sao ở mãi với đời cho choán chỗ, thì thế hệ ngày sau làm sao vươn lên nổi. Mình phải tự đứng qua một bên, để cho thế hệ khác kế thừa. Có như thế xã hội nầy mới tiến bộ và cũng chẳng có gì để nuối tiếc cả, khi mà tất cả thế gian nầy đâu có cái gì thực tướng để mà cố nắm bắt, tìm cầu.

Đầu tháng 3 năm 2002 sẽ có Lễ Khánh Thành Trung Tâm Tu Học Viên Giác và sẽ có nhiều phái đoàn đến từ Âu Châu, Mỹ Châu, Úc Châu cũng như Việt Nam. Theo chương trình quý Thầy ấy dự trù trong 3 ngày, gồm có: Lễ Khánh Thành, Cúng Dường Trai Tăng, Lễ đăng đàn thọ giới Tỳ Kheo, Tỳ Kheo Ni, Thức Xoa, Sa Di, Sa Di Ni và Bồ Tát Giới tại gia cũng như xuất gia. Giới đàn nầy lấy tên là MINH HẢI. Đây là Đạo hiệu của vị Tổ Sư khai sơn chùa Chúc Thánh tại Hội An cách đây gần 400 năm về trước. Ai có cơ duyên đi hành hương chiêm bái, dự lễ khánh thành mà còn phát tâm thọ giới được tại đất Phật nầy, quả là điều rất hy hữu và đáng khuyến khích vậy.

Bổn phận của tôi không biết đến đây đã xong chưa; nhưng dầu sao đi nữa khi nhìn về phía trước, ít ra cũng đã báo Phật ân đức được một phần nhỏ trong đời mình. Khi quay lui lại phía sau đã có quý Thầy trẻ dấn thân tiến bước, nối chí xuất trần làm người Thượng Sĩ như trong Cảnh Sách Tổ Quy Sơn đã dạy :

Phàm kẻ xuất gia

Chân trời cao rộng

Tâm thân khác tục

Hưng long giống Thánh

Nhiếp phục ma quân

Trên báo bốn ân

Dưới giúp muôn loài

Nếu không làm vậy

Mẫu mực không còn ....

Đại khái là như thế. Người xuất gia phải như vậy. Nếu không là vậy thì uổng cơm của đàn na tín thí lắm. Ở ngoài đời người ta bảo là: Cơm cha, áo mẹ, chữ Thầy. Còn trong chùa thì tứ ân nặng lắm. Là người tu ai ai cũng phải lo đáp đền những ân nghĩa nghìn trùng ấy.

Tôi viết bài nầy không ngoài ý nghĩa giới thiệu một vài nét đại cương về Trung Tâm Tu Học Viên Giác ở Bồ Đề Đạo Tràng; nhằm cảm ơn Chư Tôn Đức và quý Phật Tử khắp nơi đã vì thế hệ đệ tử của tôi, đã hỗ trợ bằng nhiều phương diện khác nhau từ vật chất đến tinh thần để có được thành quả như ngày hôm nay và khi thành quả ấy có được, quý Thầy ấy cũng đã hướng về Giáo Hội và hiến dâng cũng như mục đích là làm sao cho quần sanh được lợi lạc; đó mới là hoài bão chính, khi thực hiện câu: "Kiến pháp tràng ư xứ xứ, phá nghi võng ư trùng trùng" nhằm để cho hạt giống giác ngộ của Phật tánh càng ngày càng hiện hữu ở khắp muôn nơi, để cho mọi người và mọi loài được lợi lạc. Điều ấy cũng hợp với câu :

Nhứt bát thiên gia phạn

Cô thân vạn lý du

Kỳ vi sanh tử sự

Thuyết pháp độ xuân thu

Nghĩa là:

Một bát cơm ngàn nhà

Một thân muôn dặm xa

Chỉ vì sự sống chết

Giúp đỡ vạn người qua

Chỉ có thế thôi là quý Thầy ấy đã mãn nguyện lắm rồi và mong rằng những người đi sau, khi đến chốn nầy cũng thực hiện được như vậy thì cõi Ta Bà nầy còn có chỗ nương thân cho biết bao nhiêu tâm hồn muốn thoát tục !

Tôi định viết về những người đệ tử của mình trong một thiên hồi ký nào đó; nhằm để khuyến tấn những vị nầy cố gắng lên cũng như nêu lên những đức tính nổi bật để đời sau cũng có nhiều người cần đến để làm gương mà cư xử với đời. Ngoài ra tôi cũng muốn ghi lại những dòng chữ và những bài viết như thế để một mai tôi có ra đi, quý Thầy đệ tử còn biết được rằng: Sư phụ mình đã xem mình như thế nào và từ đó cũng là một phương châm để đời sau cho quý Thầy ấy dạy lại đệ tử của mình vậy.

Thời gian có đi qua, không gian có thay đổi; nhưng tấm lòng của con người; nghĩa từ ái của mẹ cha; ơn đức của Tam Bảo và đàn na thí chủ thì dầu cho ở cõi nào hay đời nào đi nữa, con người vốn có lòng từ, không thể một sớm một chiều mà dễ quên đi được.

Ngày nay vì vận nước chưa yên mà hơn 2 triệu người đã nổi trôi nơi hang cùng ngõ hẻm và cũng từ những nơi chốn xa xôi ấy mọi người đã ngồi dậy, rồi đứng thẳng lên để đi vào đời với 2 bàn tay nắm chắc cũng như với nghị lực của mình để kiến tạo được những cơ sở, nhà cửa, chùa chiền như thế và đây là kết quả của những sự cố gắng lúc ban đầu; nhưng rồi một mai đây thế sự vô thường, qua sự thành trụ hoại diệt của 4 tướng ấy; những di sản bên trên cũng sẽ biến đổi theo; nhưng chắc rằng tấm lòng cũng như sự hy sinh ấy bao giờ cũng là một tấm gương sáng ngời cho hậu thế, dầu cho ở cõi nầy hay ở một cõi xa xăm nào đó.

Mùa Xuân tuy chưa đến; nhưng trong tôi đã tràn ngập ánh sáng của Xuân sang. Vì lẽ cái ánh sáng ấy đã tự có bao đời rồi; nhưng mãi bị vô minh che lấp cho nên con người mới còn khổ lụy ở chốn trần ai nầy. Mong rằng với ánh sáng ấy, tôi cũng như mọi người và mọi loài được gội nhuần trong một mùa Xuân đượm tình nghĩa của quê hương và đạo pháp.

Tôi cũng mong rằng ngày Lễ Khánh Thành Trung Tâm Tu Học Viên Giác tại Bồ Đề Đạo Tràng - Ấn Độ, vào tháng 3 năm 2002 cũng sẽ thành tựu viên mãn và cầu nguyện chư Phật, chư Bồ Tát, chư Tổ Sư truyền thừa bao đời gia hộ cho ý chí của quý Thầy sáng lập ra Trung Tâm ấy luôn bền vững với thời gian để làm lợi lạc được cho nhiều người và nhiều thế hệ khác nhau.

Mong lắm thay !

Viết xong vào một chiều thu

tại thư phòng chùa Viên Giác - 2001

( Số 126 (Tháng 12.2001)

"Tự ngã" của mỗi con người

Mới đây Thượng Tọa Thích Tuệ Sỹ, một kẻ sĩ của Phật Giáo Việt Nam thời hiện tại, có một buổi nói chuyện thân mật với các Tăng trẻ tại chùa Từ Hiếu, trong đó cũng có nhiều Phật Tử đến nghe.

Bài nói chuyện nầy được đưa lên mạng lưới Internet của Trang Hoa Sen; nên ai cũng có thể vào đó để xem được. Riêng tôi sau khi đọc bài nói chuyện nầy, tôi đã nói với Đại Chúng chùa Viên Giác rằng: "Đúng Thầy Tuệ Sỹ là một kẻ sĩ thời đại của Phật Giáo Việt Nam". Vì sao vậy? Vì kẻ s�� - cả ngày xưa lẫn ngày nay đều là những người quân tử, lấy cây trúc làm điển hình, bực trượng phu của Tam giới; hơn thế nữa, là một vị Bồ Tát thị hiện ở giữa cõi đời nầy.

Thầy phân tích rất rõ ràng, lời nói êm dịu qua cách diễn đạt; nhưng cũng không thiếu những sâu sắc. Đôi khi dí dỏm; nhưng rất chua cay. Riêng tôi thì đã thấm sâu lời Thầy; nên hôm nay mới lấy một số ý chính để viết cho báo Viên Giác kỳ nầy với nhan đề như bên trên đã chọn lựa.

Ngày xưa cách đây 2000 năm, Ngài Long Thọ là một Đại Luận Sư về Trung Quán và trong hiện tại có Đức Đạt Lai Lạt Ma; ngoài ra cũng có một vài nhà hiền triết Âu Châu đã ảnh hưởng tinh thần của Phật Giáo; nên đã nói rằng: "Thay vì người ta phải tự bọc nhung hai chân của mình để đi trên quả địa cầu nầy để được êm dịu; nhưng đa phần ai cũng muốn rằng quả địa cầu nầy phải bọc nhung để đôi chân được êm hơn khi đi đứng chạy nhảy trên ấy". Quả là một điều nghịch lý mà chúng ta lâu nay vẫn hay nghĩ như vậy. Làm gì có một thế giới trong 3 cõi nầy mà không có khổ đau để Bồ Tát hành phương tiện? Bồ Tát hay Phật chỉ thành tựu đạo nghiệp khi thực chứng sự khổ đau của chúng sanh mà thôi.

Thầy Tuệ Sỹ đã kể về cái học ngày xưa của Thầy và cách đối xử, tiếp xúc với quý Ôn, quý Hòa Thượng lớn và từ đó Thầy nói về tương lai của Phật Giáo Việt Nam; nói về tuổi trẻ ở thời gian sắp tới. Tựu chung là Thầy thất vọng. Vì lẽ tuổi trẻ Việt Nam trong hiện tại không có định hướng cho hướng đi của mình, mà việc định hướng tương lai của mỗi người thì không ai có thể dạy trước được điều nầy cho mình cả. Mỗi người phải tự định hướng cho mình mà thôi. Quý Ôn, quý Thầy lớn có thể dạy cho mình nào Kinh, Luật, Luận, nào oai nghi cử chỉ đi đứng nằm ngồi; nhưng quý bậc Tôn Túc ấy không thể dạy cho ta tất cả những gì mà cuộc đời cần đến ta. Do vậy việc định hướng tương lai của mỗi người tự mỗi người phải thành tựu lấy.

Những mảnh bằng mà ta có được nào là Tiến Sĩ, Bác Sĩ, Kỹ Sư, Cao Học, Thạc Sĩ, Phó Tiến Sĩ v.v... tất cả đó chỉ là công lao của sự học tập; chứ nó không nhất thiết phải là định hướng của cuộc đời. Đôi khi nếu không có sự tu tập, ta căn cứ trên tự ngã của mình mà biến nó thành chỗ trường đua danh lợi thì nguy hiểm vô cùng. Dĩ nhiên sự học rất cần thiết. Do đó tôi thường hay nói: "Sự học nó không làm cho con người ta giải thoát được, mà muốn mở cánh cửa giải thoát ấy, người ta không thể thiếu sự tu và sự học được". Đã biết vậy, nhưng cái tri thức và sự hiểu biết kia nó chỉ giới hạn trong một số vấn đề mà thôi. Ví dụ người học về ngôn ngữ thì chỉ biết về phạm vi ngôn ngữ của mình học; chứ không thể biết hết tất cả các ngôn ngữ được. Ngư���i học về Triết học cũng chỉ có thể biết tổng quát về triết Đông, Tây kim cổ; chứ không thể biết hết mọi triết thuyết của các triết gia. Người học Y Khoa, Tôn Giáo, Giáo Dục, Phật Giáo v.v... cũng chỉ thế thôi. Vì cái học bao giờ cũng bị giới hạn bởi cái hiểu biết của mình. Đó là chưa nói đến những điều thành kiến, cố chấp do tự ngã của mình xây dựng nên. Do vậy khó có thể nói rằng nhận thức của mình là đúng hay sai. Vì lẽ đúng sai khó phân biệt trong cuộc sống tương đối nầy. Có thể cái nầy đúng trong lúc nầy mà sai ở nơi khác. "Tất cả các pháp đều không nhất định", Phật đã dạy từ ngàn xưa như thế. Nếu pháp nào mà đừng dùng cái "tự ngã" của mình để phán đoán, thì chắc chắn pháp ấy đứng đắn hơn, công tâm hơn và cao cả hơn. Còn pháp nào mà còn lấy cái ta để đo lường thì chắc chắn rằng pháp ấy tương đối của thế gian; chứ chẳng phải là pháp của xuất thế gian.

Thầy Tuệ Sỹ cũng có nói cho các học Tăng nghe rằng: "Ngày xưa Thầy và Thầy Trí Siêu Lê Mạnh Thát, thông minh như thế đó, học giỏi chẳng ai bằng như thế đó mà mỗi ngày quý Thầy ấy vẫn phải miệt mài trên chiếc ghế từ 10 đến 12 tiếng đồng hồ. Còn chúng ta ngày nay? - Chỉ học đâu đó lõm bõm đôi điều, thế là có cơ hội để đi khoa trương bằng chứng. Nghĩa là vào đàng tai ra đàng miệng như văn Cảnh Sách của Ngài Quy Sơn đã nói. Cái học ngày nay nó li chi lắm; nó nhiều ngành lắm; nhưng đa phần thì không lo chuyên môn, mà đi lo thị phi của những ngành khác. Không ai rành hơn người sống trong tôn giáo của mình mới có đủ tư cách và bản lãnh để nói về Tôn Giáo của mình. Trong khi đó có biết bao nhiêu người, kể cả người Tu và Phật Tử cũng như không Phật Tử làm như mình là kẻ hiểu biết lắm - cứ vấn đề nào cũng bàn đến, tán vào, nói vô tội vạ chẳng có một căn cứ và chứng từ nào cả.

Một ông Bác Sĩ chắc chắn không thể rành chuyện nông tang bằng một anh nông dân được. Trừ khi ông ấy trước khi trở thành Bác Sĩ đã là một ông nông dân thì có thể nghe được khi ông ta nói về chuyện nông tang. Trong khi đó có rất nhiều người nông dân không rành chuyện Bác Sĩ; nhưng vẫn cứ dùng tự ngã của mình để nói về chuyên y học như thường. Đúng là cuộc đời nầy không có định hư���ng và xã hội của chúng ta đang loạn lên rồi.

Nhìn vào báo chí, truyền hình, quảng cáo, ca nhạc, phim ảnh v.v... của thế kỷ thứ 21 nầy chúng ta thấy cháng váng. Đôi khi nghe nhức cả tai, mờ cả mắt mà chẳng biết nội dung của bài ca, lời hát đó họ muốn diễn đạt cái gì. Nếu có chỉ là điệu bộ; nhưng điệu bộ bây giờ sao mà nó khác ngày xưa quá. Do vậy đã có nhiều người và nhiều tổ chức muốn trở về nguồn là vậy. Nhưng còn tương lai thì sao đây? Bỏ lại sao đành với vấn đề văn hóa giáo dục và những vấn đề khác?

Mới đây Cơ quan Giáo dục Trung ương của nước Đức đã làm một bảng thống kê về sự học của dân mình. Chỉ số tiến bộ về mọi bộ môn nằm ở điểm ngoài 10 nước tiêu chuẩn. Như thế là thế nào? Nước Đức, Mỹ, Nhật vẫn là những cường quốc kia mà; nhưng tại sao dân của mình vẫn còn ngoại lệ như vậy? Cái gì đã làm cho những giá trị của học đường nó sa sút như thế? Đó là chưa kể những bài học một chiều trong các nước vẫn còn theo chế độ Cộng Sản. Ví dụ Karl Marx sinh trưởng tại Trier; nơi ấy bây giờ họ đã chối từ ông. Trong khi đó có không biết bao nhiêu người Cộng Sản đang treo hình ông để thờ và đánh bóng ông một cách quá lố; trong ấy có Cộng Sản Việt Nam. Thật là một điều lố lăng và sỉ nhục. Những kẻ còn có lương tâm không ai làm việc ấy cả.

Thượng Tọa Tuệ Sỹ có nhắc lại một câu chuyện trong buổi nói chuyện thân mật với chư Tăng chùa Từ Hiếu tại Huế như sau: "Năm 1980, 1981 Ban Tổ Chức của Nhà nước cố tình thuyết phục Cố Hòa Thượng Thích Trí Thủ ra làm việc, với nhiệm vụ gần như là Viện Trưởng Viện Hóa Đạo của trước đó; nhưng Hòa Thượng cố chối từ vì lẽ, trong Hiến Chương Giáo Hội mới có câu: Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam là thành viên của Mặt Trận Tổ Quốc. Mà Hòa Thượng biết chắc là Mặt Trận nầy là con cờ của Đảng Cộng Sản; nên Hòa Thượng không đồng ý. Ngài quan niệm rằng Giáo quyền phải nằm ngang hoặc nằm trên thế quyền, chứ không thể nằm dưới thế quyền. Điều nầy các xã hội Âu Mỹ ngày nay đang áp dụng và Hòa Thượng chỉ đồng ý ký vào biên bản khi câu ấy không có nghĩa phụ thuộc nữa. Thế nhưng những con cờ, những con thoi liên lạc giữa Giáo Hội và Nhà nước lúc bấy giờ rất sợ thế lực của Nhà nước nên đã đánh tráo. Cuối cùng rồi Ngài cũng đã ra làm việc; nhưng Ngài đã nói với quý Thượng Tọa Tuệ Sỹ và Trí Siêu rằng: "Tôi chịu nhục để quý Thầy làm việc". Đây là một câu nói lịch sử mà gần 20 năm sau, khi Hòa Thượng bị bức tử,vì không làm theo lệnh của Nhà nước; nên chúng ta phải trả lại vị trí của vị Đạo Sư ngày nào cho Phật Giáo Việt Nam chứ không nên hiểu lầm như bao lâu nay chúng ta đã có người lầm tưởng.

Câu nói ấy chứng tỏ Hòa Thượng đã quên đi cái tự ngã của mình và hòa mình vào đại ngã của Dân Tộc và Phật Giáo trong thời kỳ nhiễu nhương ấy. Thế nhưng vô minh và nghiệp chướng không chừa Hòa Thượng, để rồi Hòa Thượng cũng phải ra đi một cách tức tưởi, mặc dầu Hòa Thượng đã chẳng đau yếu gì. Những kẻ ấy cũng là những kẻ sĩ của Dân Tộc và của Phật Giáo Việt Nam của hôm qua, ngày hôm nay và cho bao đời trong mai hậu nữa. Rồi đây Hòa Thượng Huyền Quang, Hòa Thượng Quảng độ, Hòa Thượng Đức Nhuận, Thượng Tọa Tuệ Sỹ, Thượng Tọa Trí Siêu Lê Mạnh Thát, Ni Sư Trí Hải v.v... sẽ là những tấm gương vằng vặc rạng ngời trí tuệ siêu việt của Phật Giáo và quyết không là những người sống trong quê hương mà chẳng làm lợi lạc được cho quê hương.

Một Khuông Việt Thái Sư làm quân sư cho vua Đinh Tiên Hoàng; một Pháp Thuận Quốc Sư làm Cố vấn cho vua Lê Đại Hành; một Vạn Hạnh Thiền Sư làm Thầy cả vua và trăm họ cho Lý Thái Tổ v.v... và v.v... lịch sử cũng còn đó để chứng minh rằng dẫu cho 1.000 năm sau đi nữa lịch sử cũng phải minh danh các bậc Đại Sư nầy đã bỏ qua tự ngã và hòa mình vào cái đại ngã của dân tộc hay cái vô ngã của Thiền Tông cũng như của Đạo Phật, mà danh thơm ấy, sử xanh còn truyền lại cho đến ngày hôm nay.

Cách dây chừng 5 năm tôi đã viết một bài đăng trên Viên Giác với tiêu đề là "Bất Lễ Quân Vương, Bất Lễ Phụ Mẫu", có nhiều người đọc, nhưng đã hoài nghi và nghĩ rằng làm sao người tu sĩ có thể xử sự như thế được và ngày xưa vua chúa có tha tội cho những người xuất gia khi không lễ bái quân vương chăng?

Hôm nay tôi quay lại tiêu đề nầy một chút vì nó có liên quan đến tự ngã và vô ngã với tiêu đề bên trên. Nếu quý vị nào hiện có quyển "Kinh Phạm Võng Bồ Tát Giới Giảng Ký quyển 2" do Pháp Sư Diễn Bồi người Trung Hoa diễn giảng tại Singapore và Liên Chúng Bồ Tát giới tại Đức, Hòa Lan ấn hành năm 2001 thì xin giở ra trang 862 do Hòa Thượng Thích Trí Minh ở Việt Nam dịch, vào phần B. 2.2.40 - Giới không bình đẳng truyền giới thì sẽ đọc được ngay về nghi vấn bên trên. Đến trang 871 phần đầu được ghi lại như sau:

"Còn người xuất gia, ngay lúc xuất gia đã thực hành như vậy rồi (xem đoạn bên trên) nên khi thọ đại giới, không được thực hành như vậy nữa. Chỉ lấy Đạo làm trọng và phải vâng giữ theo pháp của người xuất gia. Cho nên không được lễ bái quân vương, cũng không được lễ bái cha mẹ. Vì người xuất gia đã xa lìa tình niệm quyến thuộc, nên đối với lục thân, không được bày tỏ lễ nghi kính trọng". Đó là phần của người xuất gia đối với những người tại gia. Còn người tại gia đối với người xuất gia thì sao?

Xin xem "Kinh Phạm Võng Bồ Tát Giới" dịch ra tiếng Việt của Hòa Thượng Thích Trí Tịnh, trang 25, phần 48 điều giới khinh (nhẹ).

1 - Giới không kính Thầy bạn.

Nếu Phật Tử, lúc sắp lãnh ngôi Quốc Vương, ngôi chuyển Luân Vương, hay sắp lãnh chức quan trước nên thọ giới Bồ Tát. Như thế tất cả quỷ thần cứu hộ thân vua và thân các quan. Chư Phật đều hoan hỷ.

Đã đắc giới rồi, Phật Tử nên có lòng hiếu thuận và cung kính. Nếu thấy có bậc Thượng Tọa, Hòa Thượng, A Xà Lê, những bực Đại Đức, đồng học, đồng kiết, đồng hạnh đến nhà, phải đứng dậy tiếp rước lạy chào, hỏi thăm. Mỗi sự đều đúng như pháp và cúng dường, hoặc tự bán thân cho đến quốc thành con cái, cùng bảy báu trăm vật để cung cấp các bậc ấy. Nếu Phật Tử lại sanh lòng kiêu mạn, sân hận, ngu si, không chịu tiếp rước lạy chào, cho đến không chịu y theo pháp mà cúng dường, Phật Tử nầy phạm "khinh cấu tội" ".

Phân tích đoạn đầu chúng ta thấy, ngay cả Vua chúa, Quan chức, Phật cũng đã khuyên trong kinh Bồ Tát giới là nên thọ giới Bồ Tát. Để làm gì? Để tu thân và lợi lạc cho cả quốc gia và xã hội.

Đoạn 2 có nghĩa là khi một người đã thọ Bồ Tát giới rồi, bất luận là Vua, Quan, Tể Tướng v.v... khi gặp người xuất gia đều nên tiếp rước lạy chào. Nếu không làm vậy tức phạm vào giới không kính Thầy bạn.

Ở đây có 2 điều được đặt ra - Người xuất gia được kính lễ cũng phải xả bỏ cái tự ngã của mình. Còn người tại gia, dầu là quan chức lớn đến đâu đi chăng nữa cũng nên xả bỏ cái cố chấp về bản ngã đó để đảnh lễ các bậc xuất gia, thì công đức ấy khó gì sánh kịp và chư Phật đều hoan hỷ. Như vậy cả hai đều có lợi lạc khi xả bỏ cái tự ngã của mình. Còn kẻ nào làm mà còn đứng trên bản ngã để hành động thì kẻ ấy dầu xuất gia hay tại gia cũng đều có lỗi cả.

Ngày xưa là thế. Ngày nay vật đổi sao dời, người tại gia cũng chẳng tu mà người xuất gia cũng có lắm điều xấu hổ. Vì gió lợi, danh, tiền tài, địa vị cũng đã có đôi phần làm hoen ố cửa Thiền. Phải thành thật nói lên điều ấy. Do vậy mà Thầy Tuệ Sỹ bảo rằng nếu không cho Thầy ở chùa thì Thầy ra gầm cầu Thầy ở. Đối với Thầy ấy ở đâu cũng vậy. Nơi nhà tù cũng là chỗ tu hành. Đã có lần Thầy viết:

"Phụng thử ngục tù phạn

Cúng dường tối thắng tôn

Thế gian trường huyết hận

Bỉnh bát lệ vô ngôn"

Ngồi trong chùa, ở dưới gầm cầu hay ở trong tù cũng chỉ thế thôi. Vì con người ấy đã lấy cái đau của chúng sanh làm cái đau của chính mình. Trong khi đó đa phần chúng sanh khác thường lấy cái khổ của kẻ khác để làm niềm vui của mình thì những hạng người nầy ở thời buổi nào cũng có; cho dù đó là tại gia hay xuất gia.

Bài nói chuyện của Thầy hôm đó công khai, đã có nhiều người nghe và có lẽ đã đánh thức được lương tâm của thời đại - nhất là lương tâm của những người Tăng sĩ trẻ ở trong nước ngày nay. Một thời đại của áo mão xênh xang, áo giải thoát không mặc mà lo khoác lên mình một chiếc áo cửa quan trần thế. Để làm gì? - khi mà hỏi về giáo lý cũng chỉ ngẩn ngơ ra chứ chưa thông chữ Hán, không rành chữ Phạn hoặc Pali thì làm sao còn những ngôn ngữ khác như Anh, Pháp, Đức, Nhật mà kham nổi nữa. Thầy đã đau buồn về thời đại; Thầy đã kể rõ tên từng người Tăng sĩ đã chịu khiếp nhược trước thế quyền, mà thế quyền đó không đáng cho ta cúi đầu vâng phục.

Ngay cả những thời kỳ tự chủ của nước nhà, Phật giáo vẫn đóng một vai trò cao cả. Đó là lãnh đạo quốc gia, cố vấn cho Vua. Còn ngày nay những người lãnh đạo Đảng Cộng Sản Việt Nam đều bất tài vô học, làm sao ta là người Tăng sĩ có thể bợ đỡ cho được. Điều ấy đã làm hoen ố lịch sử của Phật Giáo do những nhà sư trá hình cò mồi, nối giáo cho giặc để cho bản thân mình có chức tước, bổng lộc. Nếu là như vậy thì mục đích của người xuất gia đã hỏng rồi. Nhớ lại văn xưa Ngài Quy Sơn ��ại Viên Thiền Sư có ghi trong Cảnh Sách rằng:

"Phù xuất gia giả

Phát túc siêu phương

Tâm hình dị tục

Thiệu long thánh chủng

Chấn nhiếp ma quân

Thượng báo tứ ân

Bạt tế tam hữu

Nhược bất như thử

Lạm xí tăng luân..."

Phải như vậy mới là mục đích của người xuất gia. Nếu không là vậy uổng công ở chùa và uổng cơm của đàn na thí chủ.

Tôi đọc và ngẫm nghĩ bài văn trên trong nhiều ngày, cũng đã có đem ra thảo luận trong chúng lý chùa Viên Giác và hôm nay lại viết lên đây một vài trang để cho mọi người cùng đọc nhằm chia xẻ những kinh nghiệm của cuộc sống mà Thầy Tuệ Sỹ là một kẻ sĩ của thời đại; không những chỉ cho Phật Giáo mà cho mọi người và mọi loài.

Còn Thầy Trí Siêu là trí tuệ của Phật Giáo, sau khi đã dày công nghiên cứu trong bao năm tháng đã cho ra các tập sách giá trị với cổ kim thời đại như lịch sử Phật Giáo Việt Nam tập I và II - Minh Châu Hương Hải toàn tập, Chân Nguyên toàn tập, Trần Nhân Tông toàn tập, Nghiên cứu về Thiền Uyển tập anh, Văn Học Sử Phật Giáo v.v... đúng là những bộ óc siêu việt của Phật Giáo Việt Nam và của Dân Tộc Việt Nam trong thời hiện tại.

Trong khi đó ở hải ngoại ngày nay chúng ta đã gặt hái được gì? về Tăng Già lẫn Cư Sĩ? Sau hơn 25 năm có mặt tại xứ người mặc dầu chúng ta đã tạo dựng được nhiều ngôi chùa to Phật lớn đấy, nhưng nhìn chung phải nói là đau buồn. Vì lẽ trong chùa lớn ấy không có nhiều các tâm hồn lớn như Thầy Tuệ Sỹ hay Thầy Trí Siêu. Nhiều nơi đã thi nhau cất chùa, nhưng ít nơi nào để ý kỹ đến vấn đề giáo dục cho Tăng Ni. Nếu có cũng chỉ một vài ba nơi lẻ loi, chưa xứng đáng với vị trí của một Phật Giáo Việt Nam ở nơi các xã hội văn minh Âu Mỹ nầy.

Ngày nay người Anh, người Úc, người Mỹ, người Đức khao khát giáo lý của Đức Phật như đất hạn trông mưa. Thế nhưng quái ác thay bức tường thành ngôn ngữ và sự hội nhập của chư Tăng Ni còn quá giới hạn, chưa đi vào đời. Chỉ phải chạy theo đời để bắt cho kịp cái trào lưu tiến hóa nầy đã phải thở dốc rồi. Đó là nói những người có chí; còn đa phần những người gặp khó khăn thử thách thì chùn chân. Chỉ vì thiếu hướng dẫn và không trang bị cho mình một ý thức trách nhiệm. Chỉ muốn việc gì dễ thì tham gia, Thầy nào dễ thì theo; chứ ít ai tự kiểm điểm lại mình nên phải làm gì khi mà hoàn cảnh bên trong lẫn bên ngoài đều nhốn nháo lên cả như thế mà cửa chùa thì vẫn đóng im lìm. Những ai không thích hợp với thời cơ thì sẽ bị đào thải.

Thầy Tuệ Sỹ nói bài đó chắc cũng có lắm kẻ buồn và hôm nay ở hải ngoại tôi trùng tuyên lại việc nầy chắc cũng có nhiều Thầy, Cô và Phật Tử cho tôi là càn dỡ; nhưng nếu tôi không nói thì bên ngoài họ cũng đã nói nhiều rồi. Dĩ nhiên là không hoàn toàn đúng. Vì họ không nằm trong nội bộ; nhưng bệnh thì phải phòng, chứ không phải chờ cho bệnh nặng mới chạy chữa thì lúc ấy trễ lắm rồi.

Còn Phật Tử ở hải ngoại ngày nay ra sao? Đa phần là giỏi,có tiền bạc, bằng cấp, địa vị trong xã hội ở xứ người; nhưng giỏi tu học giáo lý của Đức Phật thì thấy còn rất khiêm nhường. Giáo lý của Đức Phật phải ứng dụng vào cuộc sống của gia đình trong sinh hoạt hằng ngày; chứ không phải giáo lý ấy đem cất và thờ cao trên trang hay ở những bàn Phật trang nghiêm đẹp đẽ khác.

Ngày nay ở hải ngoại nầy tự do ngôn luận đã đi đến chỗ quá lố, muốn nói ai thì nói, muốn chửi ai thì chửi; ngay cả Tổng Thống, Thủ Tướng, Vua Chúa, Dân Biểu. Chứ Tăng Ni thì họ kể gì. Chuyện không có tạo ra cho có. Chuyện thế nầy nói thế kia, vạch áo cho người xem lưng. Nhiều khi còn tự đặt chuyện thêm mắm giặm muối vào để tình tiết câu chuyện éo le gay cấn hơn. Có như thế mới có nhiều người đọc, sách bán mới chạy v.v... Không có chuyện nào hấp dẫn cho bằng chuyện ông Thầy, ông Cha lăn nhăn dan díu với đàn bà con gái; cũng chẳng có chuyện nào hấp dẫn bằng chuyện tiền bạc hay địa vị danh lợi dưới mắt của người đời. Cứ thế và cứ thế tạo nên ý nghiệp cũng như khẩu nghiệp và văn nghiệp. Những người Phật Tử và không Phật Tử viết như thế nhằm chủ đích gì?

- Dĩ nhiên là hạ uy tín cá nhân của quý Thầy, quý Cô đó.

Làm thế để làm gì?

- Để tự bảo vệ cái ngã của mình. Để chứng tỏ rằng trên đời nầy không có ai đúng hết. Tất cả đều sai, chỉ có cá nhân người ấy đúng thôi.

Điều ấy dễ hiểu thôi, đối với người chưa hiểu đạo hoặc cố tình không hiểu thì con bọ hung nó xấu xí như thế, nó nhỏ nhoi như thế; nhưng chắc cái ngã của nó không nhỏ đâu. Trong ngụ ngôn của Lafontaine đã viết về con ếch và con bò cũng giống như vậy. Con ếch thấy con bò bụng to nên cố gắng ráng sức phùng mang trợn mắt lên để có cái bụng to như con bò. Cuối cùng là bể bụng. Ở đây người tu không có đối tượng. Nếu có chỉ là tham sân si, để họ phải vượt qua và tự tu cho bản thân họ. Còn người Phật Tử lại lấy người tu để làm đòn bẩy để đạp lên và từ đó mới sinh ra những chuyện nghịch đời là:

"Ngựa đua dưới nước

Thuyền chèo trên non"

là vậy.

Tu sĩ thì không tròn bổn phận của mình. Cư sĩ đôi khi xâm phạm và muốn thay thế luôn nhiệm vụ của Tăng sĩ nữa. Điều ấy không những chỉ có Phật Tử Việt Nam thôi đâu, cả Hội Phật Giáo ở Đức nầy cũng thế. Đúng là thời kỳ pháp nhược ma cường - tăng không ra tăng tục không ra tục. Lỗi ấy tại ai? Câu trả lời thật đơn giản - Tại mỗi người không xả bỏ tự ngã của mình mà thôi. Nếu cả tăng lẫn tục làm bất cứ một điều gì đừng để cái ngã nó chi phối, quả thật việc ấy rất đúng ý Phật, ý Tổ và đúng với chân lý muôn đời. Còn làm bất cứ một vấn đề gì mà để cái ngã nó làm chủ thì xem như việc ấy hỏng. Nói dễ nhưng làm khó lắm đấy! Vậy muốn thực hành chúng ta phải làm sao đây?

Đầu tiên chúng ta thử xem về kết quả cũng như mục đích của một việc làm nhằm để làm gì? Nếu mục đích nhằm để tô vẽ, củng cố tự ngã của mình thì hãy dẹp ngay nó đi. Nếu mục đích làm cho mọi người vui, dẫu cho ta có chịu thiệt thòi đi nữa, thì việc ấy nên làm. Vì kết quả là cho tha nhân chứ không phải cho tự ngã. Nếu mục đích chỉ để làm trò hề cho thiên hạ thì không cần phải suy nghĩ nhiều. Vì ngoài sở thú đã có nhiều chú khỉ diễn trò khỉ rồi. Mọi người đang bu chung quanh để xem đông nghẹt đó.

Tôi viết bài nầy để vinh danh Thầy Tuệ Sỹ, Thầy Trí Siêu Lê Mạnh Thát; nhưng có lẽ quý Thầy ấy không cần. Tuy nhiên tôi ở vào thế hệ đàn em của quý Thầy ấy nên có bổn phận phải tán dương ngay khi những con người ấy còn sống, chứ không phải đợi đến khi chết rồi mới viết bài khen ngợi. Ngoài ra cũng để tự trách mình là không khéo xử sự ở nhiều vấn đề nên tự ngã đã xen lấn vào và khiến cho nhiều cái ngã khác ở bên cạnh cũng nương vào những sơ hở nầy mà khai thác. Điều ấy lỗi tại tôi, chứ không phải ở những người khác. Dầu sao đi nữa con đường còn lại của tôi phải đi là hướng đến vấn đề văn hóa giáo dục cho Phật Giáo; cho Tăng Ni cũng như Phật Tử; lúc nào cũng phải ý thức được trách nhiệm của mình để tu thân, học đạo, dẹp bỏ ngã mạn, thành kiến, để từ đó con đường giác ngộ của Đức Phật càng ngày lại càng rộng mở thênh thang trên lộ trình giải thoát sanh tử ấy.

Viết tại thư phòng Chùa Viên Giác

sau một thời sám hối cuối tháng 11 năm Tân Tỵ.

( Số 127 (Tháng 2.2002)

Viết về giáo dục tuổi trẻ Việt Nam ngày nay tại hải ngoại

Từ khi con người có mặt trên quả địa cầu nầy dưới một hình thức nào đó, ở bản thể tự nhiên, con người đã sinh sống trong cuộc đời này, ở hai dạng thức khác nhau. Đó là đời sống tinh thần và đời sống vật chất.

Dưới cái nhìn của một nhà triết học nó khác với nhà tôn giáo học. Nhà tôn giáo học phải có cái nhìn về cuộc đời khác hơn nhà chính trị học, phân tâm học v.v... Nhưng dẫu cho ở một thể loại nào đó, con người cũng không thể chỉ sống đơn thuần bằng sự lớn khôn của gạo cơm rau nước, mà còn phải có sự lớn mạnh của tinh thần nữa. Do vậy Phật Giáo định nghĩa là trong cái này nó có cái kia và trong cái kia có tồn tại cái này. Nghĩa là ngoài vật chất sẽ không có sự tồn tại của tinh thần và ngoài tinh thần, vật chất không thể tồn tại đơn điệu được. Trong phạm trù này vấn đề giáo dục giữ một giá trị rất quan trọng. Vậy giáo dục là gì?

Chữ Giáo ở đây có nghĩa là dạy dỗ, chỉ bày. Chữ Dục có nghĩa là mong muốn, để trở thành. Định nghĩa chung lại chữ giáo dục có nghĩa là: chỉ bày cho ai đó (một điều gì) và (mong người đó) trở thành (người hữu dụng) cho đời, cho đạo. Đó gọi là giáo dục.

Có mấy loại giáo dục như thế?

Thật sự ra phải trả lời rằng có vô số loại giáo dục. Ví dụ như giáo dục nhi đồng, giáo dục thiếu niên, giáo dục thanh niên, giáo dục người lớn, giáo dục tâm lý học, giáo dục học đường, giáo dục xã hội, giáo dục luân lý, giáo dục luận lý, giáo dục sinh lý, giáo dục thống kê, giáo dục hành chánh, giáo dục tài chánh v.v... và cứ thế mỗi một loại giáo dục sẽ có một chuyên đề khác nhau. Ở đây chỉ muốn đề cập đến một số vấn đề có liên quan đối với tuổi trẻ Việt Nam đang sống và lớn lên tại hải ngoại ngày nay.

1. Hoàn cảnh giáo dục

Nói đúng hơn và cho đủ nghĩa là môi trường giáo dục. Ở các xã hội Á Châu ta ngày xưa và ngay cả ngày hôm nay cũng vậy, người học trò chỉ cần học những cái gì từ ông Thầy dạy mình là đủ. Người học trò chỉ có bổn phận học thuộc lòng sau đó trả bài cho Thầy, thế là xong bổn phận. Trong khi đó tại ngoại quốc ngày nay, cái bối cảnh ở đây lại khác; người học trò không những chỉ học cái của ông Thầy chỉ bày mà còn phát triển thêm phần năng khiếu của mình nữa qua các trò chơi, computer hay thư từ giao dịch v.v... tầm hiểu biết của trẻ con ngày nay tiến rất xa so với một thế hệ đi trước; nghĩa là cách nhau chỉ hai mươi năm mà mọi hoàn cảnh đều được đổi thay.

Những nước nông nghiệp phát triển về giáo dục rất chậm. Vì lẽ thông tin không cập nhật hóa hằng ngày, trong đó có Việt Nam của chúng ta và các nước chậm tiến khác trên thế giới. Trong khi đó các xứ phát triển về kỹ nghệ, con người có khả năng dùng thì giờ nhanh hơn, nhiều hơn và bén nhạy hơn. Có lẽ do hoàn c���nh và môi trường chung quanh, mà sự giáo dục được phát triển thuận chiều như thế.

Đứa trẻ tại Á Châu nhìn cha mẹ và thầy giáo gần như một vị Thần. Do vậy, đứa trẻ chỉ sợ ông Thần kia hành hạ, chứ ít có sự liên hệ mật thiết giữa cha mẹ và thầy trò. Ngược lại, ở các xã hội Âu Mỹ ngày hôm nay, vị thầy giáo ở học đường hay cha mẹ tại nhà, đứa trẻ rất thân thiện và tự tin và dưới cái nhìn của nó là một người bạn chứ không phải là một vị Thần mà nó thường phải nơm nớp lo sợ khi vào lớp.

Ở đây người ta dạy cho chúng tự tin hơn, để khi lớn khôn lên khi chúng đứng trước bạn bè cử tọa, chúng sử dụng hết năng khiếu của mình và khả năng tự chủ của nó; vì được huấn luyện thực tập từ nhỏ nên rất dạn dĩ, tự nhiên. Còn con em Việt Nam chúng ta thì sao?

Nếu nói hoàn toàn trái ngược lại thì cũngkhông đúng hẳn. Vì cũng có nhiều người có lối biện tài vô ngại trước một số cử tọa đông đảo; nhưng số này rất tiếc lại không có nhiều. Trong khi đó đa phần đều bị động. Khi nào kêu đến tên mình thì phát biểu ý kiến; nhưng không phải tự đáy lòng, chỉ nói thoáng qua, nội dung không sâu sắc lắm. Thế mà có những câu chuyện bên lề, ngoài lớp học, chốn ngao du sơn thủy lại nổ dòn hơn bắp rang. Có phải hoàn cảnh và môi trường giáo dục của con em Việt Nam chúng ta ứng dụng vào thực tế không đúng lúc, đúng thời chăng?

Nói về Gia Đình Phật Tử Việt Nam là một tổ chức đã có mặt hơn 50 năm tại quốc nội và hơn 25 năm tại ngoại quốc. Tuy số đoàn sinh có đông đó; nhưng những nhà giáo dục của Gia Đình Phật Tử hay nói đúng hơn là những anh chị Huynh Trưởng vẫn còn rập khuôn giống như hoàn cảnh của Việt Nam trước đây 50 năm. Do vậy mà phải thành thật nói thẳng: Tuy có hiệu quả đó nhưng không nhiều. Đất nước Việt Nam chúng ta là một nước nông nghiệp; không phải là một đất nước kỹ nghệ và hoàn toàn dân chủ như Hoa Kỳ, kể từ khi lập quốc đến nay hơn 200 năm chưa có một vị Vua nào thống trị tại đó, mà chỉ toàn là Tổng Thống. Do vậy vấn đề giáo dục cho thanh thiếu niên của Gia Đình Phật Tử phải được cập nhật hóa lại qua sự đóng góp của các Huynh Trưởng đã qua các đại học sư phạm hoặc giáo dục. Nếu không, tiếng vọng ấy chỉ một chiều và khó có tiếng hòa âm để phát triển trong một không gian bao la vô tận và đầy hứa hẹn ấy.

2. Phương pháp giáo dục

Các người Mẹ Á Châu của chúng ta thể hiện sự thương con của mình bằng cách khi nào con khóc thì liền cho bú, hoặc dỗ ngọt; nhưng điều ấy không có lợi. Vì lẽ chỉ để làm thỏa mãn cái tự ngã của đứa bé mà thôi. Chẳng lợi ích gì cho nó cả. Nếu có, đó là lợi cho người lớn. Vì lẽ, để người lớn có nhiều thì giờ hơn để đi làm việc khác khi biết rằng đứa bé đã được ngủ yên. Như thế là một sự giáo dục không cân bằng. Ở Âu Mỹ nầy khi đứa bé khóc, hãy để cho nó khóc và tự nín. Điều này mới nhìn vào thấy sao bà Mẹ tàn nhẫn thế. Nhưng điều ấy rất hay cho thế tự chủ của đứa bé, cứ khóc cho đã, sau đó ắt phải nín thôi.

Người Á Châu chúng ta khi thấy con mình té; điều trước tiên là chạy lại đỡ liền; nhưng ở Âu Mỹ lại không; hãy để cho đứa trẻ tự đứng dậy để nó sẽ tự lập cho cuộc đời của chính nó về sau này.

Người Á Châu của chúng ta khi đi thi thường hay xem lén bài thi của người bên cạnh; nhưng ở Nhật và ở các xứ Âu Mỹ ngày nay hầu như không có. Vì sao vậy? Vì chép được kết quả của kẻ khác để thi đậu đó không phải là tự lực về sự phát triển năng khiếu của chính mình.

Người Mẹ Á Châu ít khi hỏi ý kiến chồng hay con cái trong nhà là thứ hai mẹ sẽ nấu món gì, thứ ba, thứ tư mẹ nấu món gì? Con có thích không? Mà Mẹ cứ nấu món Mẹ thích; còn con có ăn không là chuyện của con chứ không còn là chuyện của Mẹ nữa. Ở đây người ta khác hoàn toàn, vào mỗi cuối tuần cả gia đình có buổi họp mặt để bàn luận với nhau về những sinh hoạt của gia đình trong tuần tới và kiểm điểm những ưu khuyết trong tuần rồi. Thế mà đa phần gia đình Việt Nam ít có tổ chức được như vậy.

Ở Gia Đình Phật Tử cũng thế, có nhiều Huynh Trưởng không tốt nghiệp những khoa tâm lý học của tuổi trẻ và quần chúng mà ra cầm đoàn là hỏng. Vì chỉ làm theo những gì cổ xưa trong sách vở, chứ không có sáng kiến. Nếu ai đó có hỏi thì bảo rằng: Đây là nội quy của Gia Đình Phật Tử Việt Nam. Trả lời như vậy nó không sai, nhưng không hoàn toàn đúng. Vì lẽ nội quy do một tập thể soạn ra thì mấy mươi năm sau một tập thể khác cũng có quyền sửa đổi kia mà. Đâu phải là một định luật, như định luật vô thường mà phải sợ nhân quả của nó.

Như ta thấy Hiến Pháp của một nước còn có thể sửa đổi được, nếu phải thông qua Quốc Hội hoặc trưng cầu dây ý. Ngay cả giới luật của người tu, trước khi tịch Niết Bàn, Đức Thế Tôn còn căn dặn Ngài A Nam rằng: Những giới luật nào không cần thiết cũng cần nên loại bỏ. Đó là những điều căn bản. Tuy nhiên có nhiều Huynh Trưởng và nhiều Tăng Sĩ cứ khư khư giữ cái cũ như giữ vàng bạc, đá quý không chịu thay đổi phương pháp giáo dục để hợp với hoàn cảnh ở ngoại quốc ngày nay. Trong khi các anh chị Trưởng trung niên hoặc lão niên mới chỉ tốt nghiệp Trung học hoặc Đại học mà các em của ngành Thanh của Gia Đình Phật Tử Việt Nam ngày nay tại hải ngoại đang tốt nghiệp Tiến sĩ, Cao học v.v... vì vậy phương pháp giáo dục của Gia Đình Phật Tử cũng cần phải nghiên cứu lại. Có nhiều em than với tôi rằng: Bạch Thầy, sao con thấy vào Gia Đình Phật Tử giống như đi lính quá! Tôi trả lời rằng: Thì một tổ chức phải có kỷ cương chứ sao. Nhưng câu trả lời ấy có lẽ không giải đáp được thắc mắc của các em thanh thiếu niên nầy. Vì có lẽ nơi tự thâm tâm của các em tổ chức Gia Đình Phật Tử là một tổ chức phải tự do hơn, cởi mở hơn; không có nhữngngười không có kinh nghiệm về tâm lý mà đi hướng dẫn về tâm lý.

Tuy Gia Đình Phật Tử Việt Nam chúng ta có các cấp Tập, Tín, Tấn và Dũng để định vị cho kết quả của mình qua các khóa huấn luyện và các kỳ trại; nhưng phải thành thật mà nói các thế hệ thanh thiếu niên Việt Nam ở hải ngoại ngày nay đòi hỏi các anh chị Trưởng ấy phải trải qua sự huấn luyện của giáo dục để hội nhập với đời sống cũng như văn hóa tại xứ người, mới có thể hướng dẫn các thế hệ đi sau, làm cho họ tin tưởng và có vui thú để lui tới sinh hoạt với Gia Đình Phật Tử.

Cây Bồ Đề nếu mọc tại các xứ Á Châu nhiệt đới không cần tưới nước và trồng ở bất cứ nơi nào ngoài trời nó cũng có thể sống được. Nhưng ở Âu Mỹ và các xứ lạnh thì ngược lại. Phải trồng nó trong nhà có sưởi ấm; nếu không cây Bồ Đề ấy không có lá mà cũng chẳng có cành. Đây là phương pháp giáo dục của Gia Đình Phật Tử Việt Nam và ngay cả giáo dục cho Tăng Ni sinh, các thế hệ trẻ ngày nay tại hải ngoại mà các bậc Tôn Túc cũngnhư các anh chị Trưởng cần phải lưu tâm đến.

3. Giáo dục quần chúng

Khi bảo một người Nhật hát một bài dân ca, họ có thể hát từ đầu đến cuối một cách thông suốt dịu dàng hay ho và đúng theo nhịp điệu. Bảo mười người họ cùng hát như thế và một trăm người họ cũng ca bằng một nhịp điệu như thế. Trong khi đó người Việt Nam chúng ta thì khác hẳn. Trong quần chúng có rất ít người thuộc trọn vẹn một bài dân ca. Mỗi người hát mỗi vẻ và kẻ thuộc đoạn nầy lại quên đoạn kia và nhiều khi bỏ dở nửa chừng và để được an ủi xen vào đó là những tràng pháo tay tán thưởng không trọn vẹn.

Ngay cả những tổ chức Phật Giáo thuần thành tại hải ngoại ngày nay khi hát Quốc Ca còn tương đối được; nhưng khi hát đến Phật Giáo Ca thì thôi khỏi nói, nhiều khi thấy chẳng trang nghiêm nhịp điệu chút nào. Đây là hậu quả của giáo dục quần chúng không nghiêm chỉnh vậy. Đó là chưa nói những buổi tụng kinh tập thể của Gia Đình Phật Tử hoặc của các Đạo Hữu tại các chùa, ngay cả các chùa có các thầy trụ trì. Thầy hoặc Huynh Trưởng mới bắt chữ "Nam" là ở dưới đại chúng đã hòa theo chữ "Mô" rồi; nhưng Nam Mô gì tiếp theo, làm sao ông chủ lễ có thể cưỡng giọng lại được của đại chúng bên dưới lớn hơn; trong khi ông ta muốn tụng là Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật, chứ không phài là Nam Mô A Di Đà Phật.

Người Âu Mỹ khi đi vào nơi tôn nghiêm rất lịch sự, cử chỉ trang trọng thành kính. Người Việt mình cũng không thiếu những người như thế; nhưng chưa được quần chúng hóa. Ví dụ như khi đi đám tang, người mình chưa mặc được một loại đồng phục, khi vào nơi tôn nghiêm hoặc nơi thuyết pháp, hoặc khi sinh hoạt Đoàn vẫn cứ nói chuyện riêng, gây nên rất nhiều phiền hà cho những người bên cạnh, chính mình đã không được lợi ích gì, mà người khác cũng bị ảnh hưởng lây.

Khi vào nơi trang nghiêm đôi khi lại hút thuốc, cười giỡn, không lưu ý những lời kinh hoặc những lời giảng của các vị Thầy v.v... Đây là một lối giáo dục quần chúng có tính cách đại trà, khó khăn vô cùng. Một người không thể tạo nên một cảnh giới thanh tịnh được, mà mọi người phải tự tạo nên hoàn cảnh tốt thì hoàn cảnh mới đổi thay. Điều ấy do chính con người phải thay đổi hoàn cảnh; chứ hoàn cảnh tuyệt nhiên không thể thay đổi con người được.

4. Giáo dục tu học

Đây có thể là một đề tài mới do chính tôi đặt ra. Theo tôi nghĩ cũng có thể áp dụng cho cả Tăng Sĩ và Cư Sĩ, trong đó có Gia Đình Phật Tử.

Tôi cũng thường hay nói với Tăng chúng của chùa Viên Giác tại Đức rằng: Sự học không làm cho con người ta tự giải thoát được; nhưng nếu muốn mở cánh cửa giải thoát kia không thể thiếu sự tu và sự học được. Vậy phải biết rằng mục đích chính là sự giải thoát, mà muốn giải thoát thì phải có tu và có học. Có người chỉ có học mà không tu. Có kẻ lại có tu mà chẳng học. Do vậy nó không có sự bổ sung cho nhau. Nếu muốn cho một con tàu chạy nhanh, không những chỉ cần một đầu máy tốt, mà toa tàu cũng không phải là vấn đề không quan trọng. Làm sao để đảm bảo được chuyến tàu tốc hành về Tây phương Cực Lạc, người Huynh Trưởng phải tự trang nghiêm cho mình bằng lời nói và việc làm, chứ không phải chỉ lý thuyết không.

Ngày nay tại Âu Châu này, có nhiều đoàn sinh Gia Đình Phật Tử đã thọ Bồ Tát giới tại gia, ăn chay trường, có bằng cấp Kỹ sư, Bác sĩ, tham gia rất đều đặn trong các khóa tu học Phật Pháp Âu Châu cho đến nay đã 13 kỳ, mỗi kỳ tổ chức 10 ngày tại mỗi quốc gia vào mỗi năm khi hè đến và nhiều người đã tham dự các khóa tu gieo duyên 14 ngày tại Úc Châu, Âu Châu hay Mỹ Châu. Trong khi đó thì nhiều anh chị Trưởng về trình độ Phật Pháp còn rất giới hạn, chỉ còn nằm trong chương trình Phật Pháp của Gia Đình Phật Tử chứ chưa làm quen với các bộ kinh lớn như Hoa Nghiêm, Bát Nhã, Đại Niết Bàn v.v...

Gần đây trong nước Gia Đình Phật Tử Việt Nam đã cố gắng soạn ra một bộ sách về Phật Pháp tương đối cao hơn; nhưng cũng chỉ mới nằm ở ngưỡng cửa Đại Học chứ chưa vào sâu nơi Hậu Đại Học. Cũng mới chỉ là lý thuyết chứ chưa phải là thực hành.

Về mặt nổi của Gia Đình Phật Tử có nhiều ưu điểm là đồng phục, kỷ cương; nhưng về mặt sâu thẳm của nội tâm và sự tu học, Gia Đình Phật Tử cần phải hòa nhập vào với các khóa tu khác của các Chùa và các Giáo Hội khác tổ chức, chứ không phải chỉ khư khư giữ kỹ nội dung huấn luyện của 50 năm trước mà không có một sự uyển chuyển nào đối với sự tiến bộ của thế giới ngày nay.

Sự tu học cũng giống như một dòng nước chảy, không tiến ắt phải bị vật cản khác chi phối. Do vậy phải tự trang bị cho chính mình một sự tu học chín chắn hơn để phục vụ cho lý tưởng của một người Huynh Trưởng Phật Tử, đồng thời mình phải là một nhà mô phạm cho các em trong cả sự tu lẫn sự học.

Ngày nay người ngoại quốc tìm hiểu và theo Phật Giáo rất nhiều. Vì họ biết rằng chỉ có giáo lý của Đức Phật mới có thể gi��i phóng họ ra khỏi những giáo điều cứng nhắc và vô ý vị của các Tôn Giáo khác. Nói như nhà Bác học Albert Einstein đã từng nói: Một tôn giáo trong tương lai thích hợp và hướng dẫn cho khoa học, không Tôn Giáo nào khác hơn là Phật Giáo. Phật học cao cả như thế mà một người Huynh Trưởng không thông thạo giáo lý, một vị Tăng Sĩ chỉ thực hành giáo lý một chiều, thì không cách nào mà mang đạo vào đời được và nhất là mang chuông đi đánh xứ người, tiếng chuông ấy phải thanh, phải vang vọng vào lòng người, chứ không thể là đạo đời hai ngã khác nhau được. Muốn như vậy người Huynh Trưởng, người Tăng Sĩ lãnh đạo đó phải rành ngoại ngữ và phải tu học nghiêm chỉnh để trang nghiêm cho tự thân mình thì mới có thể trả lời thông suốt những câu hỏi mà người ngoại quốc đã đặt ra và hỏi mình.

Nhân việc Gia Đình Phật Tử Việt Nam tại Hoa Kỳ thuộc miền Quảng Đức muốn ra một lưu tập có liên quan đến vấn đề giáo dục tuổi trẻ Việt Nam và anh Quảng Pháp Trần Minh Triết có nhờ tôi viết bài nầy và tôi chỉ viết trong 4 phạm trù đã nêu trên.

Nếu có được lợi lạc nào thì xin trang trải cho tuổi trẻ Việt Nam hải ngoại ngày nay mà các anh chị Trưởng lãnh phần trách nhiệm chính. Nếu không, nó chỉ là một đóng góp khiêm nhường của một người Tăng Sĩ Việt Nam đã sống tại ngoại quốc hơn 30 năm nay, đã trải qua các Đại học danh tiếng tại Nhật và tại Đức về ngành giáo dục tâm lý học quần chúng mà nhiều khi sự giáo dục đó nó chỉ thích hợp cho người ngoại quốc, chứ không phải cho người Việt Nam thì đây chỉ là một đề tài tham khảo mà thôi.

Trong cương vị là Điều Hợp cũng như liên lạc viên của các Gia Đình Phật Tử Việt Nam ở hải ngoại vàquốc nội, ngày hôm nay tôi rất hãnh diện để nói lên những quan tâm của mình cho tuổi trẻ mà chính thời kỳ niên thiếu của tôi cách đây gần 40 năm về trước khi đi xuất gia, nếu không có sự hiện hữu của Gia Đình Phật Tử Việt Nam tại một làng quê xứ Quảng, thì ngày nay tôi đã không có cơ hội để gởi gắm những tư tưởng của mình cho các thế hệ đàn anh và các thế hệ chuyển tiếp về sau.

Mỗi một thế hệ chỉ có thể bắc được một nhịp cầu từ quá khứ đến hiện tại mà thôi. Tôi đoan chắc rằng thế hệ tương lai phải do nhịp cầu trong hiện tại bắc tiếp tục, chứ chiếc cầu quá khứ không thể bắc tiếp quá khứ sang tương lai được. Nếu cố bắc, cũng sẽ hụt hẫn. Vì mỗi một con người chỉ làm được một số công việc nhất định mà thôi.

Cầu nguyện cho tổ chức Gia Đình Phật Tử Việt Nam ngày nay ở trong cũng như ở ngoài nước luôn luôn dũng mãnh tinh tấn và tiến bước dưới ánh sáng nhiệm mầu của chư Phật.

Mong lắm thay!

Từ Đức Quốc xa xôi khi mùa Xuân đã đến

Munich, ngày 18.04.2002

( Số 129 (Tháng 6.2002)

Người thầy cũ

Trong tất cả chúng ta từ khi mới sinh ra đời cho đến lúc lớn khôn, lúc già, lúc chết và ngay cả đến lúc tái sinh, chẳng ai là không có nhiều vị Thầy để dạy cho ta bằng nhiều hình thức khác nhau, để cho ta vào đời cả. Tôi là một chúng sanh như bao nhiêu tỷ tỷ chúng sanh khác, chỉ trên quả địa cầu nầy thôi cũng không ra ngoài thông lệ ấy.

Tục ngữ Việt Nam có câu:

"Không Thầy đố mầy làm nên"

Do vậy mà bất cứ cái gì cũng cần phải có Thầy chỉ bảo cả. Trong trường hợp không có Thầy chỉ bảo mà làm được thì chỉ xảy ra ở một trong hai trường hợp mà thôi. Đó là làm sai, làm bậy. Hoặc giả quá thông minh, học một biết mười; nên không cần đến Thầy dạy mình, mình vẫn biết.

Ngày xưa Nho gia có câu:

"Nhất tự vi sư, bán tự vi sư"

Nghĩa là: "Một chữ cũng Thầy, nửa chữ cũng Thầy" để nói lên cái tình nghĩa của con người đối với ơn huấn dục mình ở dưới nhiều hình thức khác nhau. Do vậy mà công ơn của Thầy nhiều khi còn cao hơn cả ơn sinh thành dưỡng dục của mẹ cha ta nữa. Vì cha mẹ chỉ cho ta tấm thân nầy. Còn Thầy cho ta cả cái tinh thần và uốn nắn ta thành người hữu dụng trong xã hội.

Người Thầy mà gần gũi ta đầu tiên trong cuộc đời. Đó là cha mẹ của mình. Mẹ đã tập cho ta ăn, dạy cho ta nói, ru cho ta ngủ. Hát cho ta nghe và nhiều khi còn dạy cho ta đánh vần mấy chữ đầu đời nữa. Sau khi biết đi thì cho ta đi học ở mẫu giáo. Nơi ấy có những Thầy Cô dạy cho ta đánh vần từng mẫu tự a, b, c... Rồi thì năm tháng dần qua tự mình ráp vần được để đọc, để viết và để hiểu được mấy câu ca dao như:

"Công cha như núi Thái Sơn

Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra

Một lòng thờ mẹ kính cha

Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con".

Rồi đến Tiểu Học ta trưởng thành thêm một chút nữa. Bấy giờ ta gặp những vị Thầy, Cô rất nghiêm khắc, đồng thời cũng không thiếu những Thầy dễ dãi. Có Thầy, Cô còn chăm sóc sức khỏe cho ta và lo hỏi han ta tại sao ta học bị kém v.v...

Bước thêm một bước nữa ta vào Trung Học. Với 7 năm trường ấy có người thi đậu, có kẻ thi rớt. Có người phải bỏ học để đi học nghề, nhằm sớm có tiền để phụ giúp gia đình, vì gia đình đang nằm trong hoàn cảnh khó nghèo. Cũng có người nhờ Thầy hay bạn tốt mà đường công danh lại rộng mở để đi sang bậc Đại Học. Ở đó học 4 năm, chúng ta cũng phải cần những vị Thầy hay Cô có sở học rộng hơn, hiểu biết nhiều hơn so với thời Trung Học và Tiểu Học. Rồi sau đó nếu còn nhân duyên đối với học đường thì đi tiếp thêm 2 năm ở bậc Cao Học và 3 năm nữa ở bậc Tiến Sĩ. Lúc nầy thì cần những vị Thầy gần gũi hơn nữa để giúp ta hoàn thành những luận án quan trọng của ngành mình theo học.

Nghĩa là từ đầu đời cho đến giữa đời hoặc cuối đời, chỉ riêng con đường học vấn thôi, ta đã cần không biết bao nhiêu vị Thầy rồi. Nào Thầy dạy Việt Văn, Cô dạy Toán Lý Hóa, Vạn Vật, Sử Địa, Thể Thao, Nữ công gia chánh v.v... cho đến những vị Thầy dạy ngôn ngữ Anh, Pháp, Đức, Triết học v.v... Tiếp đó ta đi vào lãnh vực chuyên môn của ngành nghề Giáo dục, Y khoa, Tâm lý xã hội, Ngôn ngữ v.v... tất cả đều phải cần người dìu dắt ta đi vào đời.

Đó là học chữ. Còn học nghề thì ta có Thầy dạy làm cái bánh, dạy cho ta chưng bình hoa cho đẹp, dạy cho ta sơn sửa nhà cửa, dạy cho ta làm đẹp một chiếc xe hơi; xây một bức tường cho thẳng, đóng một cái bàn thật đẹp, làm một cái khung hình thật xinh. Nếu nói đủ nghề nghiệp trong nhân gian nầy phải kể đến số trăm. Do vậy mà trong đời ta chắc cũng có hơn một trăm vị Thầy. Trong hơn một trăm vị Thầy đó có người ta thương, có người ta ghét, có người ta oán, hoặc giả cũng có vị Thầy ta chẳng dám nhìn mặt vì nhiều lý do khác nhau.

Riêng tôi còn có thêm một số quý Thầy khác ở trong Đạo nữa. Nào là Thầy Bổn Sư, Thầy Y Chỉ Sư, Thầy Giáo Thọ v.v... Ở mỗi một giai đoạn trong cuộc đời tu hành, tôi đều có một vị Thầy như thế. Sống trong thiền môn từ hồi 15 tuổi đến giờ; nay đầu đã bạc, sau gần 40 năm tương chao, kinh kệ, tôi đã nhận được biết bao nhiêu lời giáo huấn của nhiều vị Thầy khác nhau và ơn giáo dưỡng ấy sống thì không được phép quên, mà chết thì phải mang theo để được ơn đền nghĩa trả. Đó là cái đạo làm người và làm học trò vậy. Ở đời hay ở Đạo cũng thế, nếu chúng ta sống mà thiếu cái đạo nầy, thật là xấu hổ với cỏ cây hoặc loài điểu thú. Vì loài vật đôi khi còn báo ân cha mẹ, Thầy bạn, huống nữa là người.

Từ khi ra làm việc đạo đến bây giờ tôi cũng đã làm Thầy truyền giới, Thầy Bổn Sư cho không biết bao nhiêu đệ tử tại gia và xuất gia. Tôi đã học ở họ rất nhiều và đồng thời họ cũng đã tham cứu học hỏi ở nơi tôi không ít. Do vậy mà tôi vẫn thường hay nói rằng: bất cứ ai cũng là Thầy của mình cả. Nếu vị ấy dạy cho mình những điều mình chưa biết. Đồng thời mình cũng là Thầy của mọi người; nếu người khác có cái gì đó cần mình giúp đỡ, dạy dỗ. Khi nhìn vấn đề và sự việc như thế thì ta sẽ thấy nhẹ nhàng khi làm học trò hay ngay cả khi ta đóng vai là vị Thầy dạy học, Thầy lãnh đạo tinh thần v.v... Vì lẽ trong chúng sanh có sự hiện hữu của ta và trong ta không thể nào thiếu sự hiện hữu của chúng sanh cả. Vì một là tất cả, mà tất cả cũng là một. Trong nầy có cái kia và trong cái kia có tồn tại cái nầy.

Tôi được may mắn làm người có đầy đủ lục căn như thế nầy là một hạnh phúc rất lớn. Trong khi đó còn có biết bao nhiêu người bất hạnh khác; kẻ bị thiếu cái tay, người bị cụt cái chân v.v... thì quả là điều bất hạnh vô cùng, mà tất cả cũng đều do nghiệp duyên tạo tác và ngày hôm nay do kết quả huân tập mà thành thôi.

Hôm nay tôi viết một câu chuyện kể về một vị Thầy người Nhật có tên là Takeda Hideo. Ông ta là một Thầy giáo dạy tiếng Nhật cho tôi ở 2 năm cuối Đại Học từ năm 1976-1977. Nếu kể thêm thời gian thì từ ấy đến nay cũng đã trên 25 năm rồi. Trong hơn 25 năm ấy biết bao nhiêu là vật đổi sao dời; nhưng vị Thầy ấy vẫn còn nhớ đến tôi và mới đây vào thượng tuần tháng 9 năm 2002, cả hai vợ chồng của Thầy đã đến chùa Viên Giác Hannover, ngồi nơi chánh điện trong tư thế của người Nhật, đã làm cho tôi có một ý niệm thật tốt đẹp về những vị Thầy đã trải qua trong cuộc đời sinh viên của mình.

Những giờ Nhật ngữ học thêm với Thầy Takeda tại Đại Học Teikyo ở Tokyo trong những năm ấy đã hiện về rõ ràng trong trí óc của tôi khi Thầy ấy nhắc lại rằng: Thuở ấy tôi đang dịch sách Truyện Cổ Việt Nam của Nguyễn Đổng Chi từ tiếng Việt sang tiếng Nhật và Thầy ấy là người sửa bài cho tôi; đến khi người giới thiệu bài dịch của tôi cho Thầy Kikuchi thì Thầy ấy phán cho một câu mà cho đến bây giờ tôi vừa sung sướng cũng vừa hổ thẹn: "Thiên tài của ngôn ngữ học đấy". Không biết câu ấy hiện giờ có còn đúng không nữa. Vì thời gian trôi qua, tiếng Nhựt của tôi bây giờ chắc không còn như dạo ấy nữa.

Thầy Takeda bảo rằng: Thầy Kikuchi khi chết không mời Thầy Nhựt nào tụng kinh siêu độ cho cả, mà đã dùng băng tụng kinh của tôi bằng tiếng Nhật và tiếng Việt, bài kinh Bát Nhã trước đây 25 năm ở nhà Thầy Takeda mà tôi đã tụng để làm lễ di quan, trong khi bao nhiêu giáo sư Đại Học dự đám không biết tại sao có cái duyên kỳ ngộ như thế?

Đại Học Teikyo ở Tokyo là một Đại Học nổi tiếng về phân khoa y khoa và thể dục. Trong khi đó tôi học giáo dục của niên khóa đầu tiên 72-77. Do vậy mà thuở ấy phân khoa nầy chưa có gì đặc biệt lắm. Chứ bây giờ, nếu ai đó lên mạng Internet để xem thì Đại Học nầy phát triển rất rộng rãi trên thế giới.

Tôi đã đến Nhật và đã ở lại Nhật chỉ hơn 5 năm thôi; nhưng trong hơn 5 năm ấy tôi đã học được ở người Nhựt rất nhiều và ngày nay khi nhìn những thành quả tôi có được ở Đức thì Thầy Takeda cũng rất ngạc nhiên. Vì không biết rằng phép mầu nào đã đưa đẩy tôi như vậy. Tôi có trả lời Thầy ấy rằng: Kết quả của ngày hôm nay là do tôi thâu thập được từ nền giáo dục của người Nhựt và người Đức đó. Thầy ấy nhoẻn miệng cười.

Một hôm nhân việc đi dự lễ Vu Lan tại chùa Thiện Hòa tại Mönchengladbach vào ngày 7 tháng 9 năm 2002, trong khi ngồi dùng trà với chư Tăng, Thầy ấy nói với Thầy Đồng Văn bằng tiếng Anh rằng: "Thầy Như Điển ngày xưa, gần 30 năm về trước, là học trò Nhật ngữ của tôi, còn bây giờ Thầy ấy là Thầy dạy đạo cho tôi đấy!". Tôi nghe rất bàng hoàng. Vì không ngờ đang là một Giáo Thọ Sư nổi tiếng tại Đại Học Vũ Tạng (Musano Joshi Daigakku) mà Thầy có thể thốt lên được lời đó thì đúng là làm cho tôi hổ thẹn và tôi cũng ngầm vui rằng: may mà lúc ấy mình là một trong những sinh viên giỏi của trường. Nếu là người học dở thì chắc rằng mình phải che mặt lại khi gặp Thầy ấy quá.

Thầy và Cô đã cùng chúng tôi đi đến phố Düsseldorf để cho Thầy ấy thấy rằng nơi đây có một mảnh quê hương nho nhỏ của xứ mặt trời và Cô đã hỉ hả khi mua được một số đồ kỷ niệm, mà ở Nhật phải trả giá gấp đôi chưa chắc gì đã có được. Bà vợ của Thầy Takeda bảo rằng: "Nếu sau nầy tôi đến Đức để dạy trà đạo đâu cần phải mang theo đồ lỉnh nghỉnh từ Tokyo sang, mà tại nơi đây, ở Düsseldorf nầy đủ hết cả". Tôi trả lời bằng một nụ cười đồng ý.

Rồi một hôm chúng tôi ngồi bên tách cà-phê nóng ở vỉa hè phố cổ thuộc thành phố Celle, đã nói chuyện về những năm tháng đã trôi qua cũng như những tháng ngày sắp tới. Chúng tôi đã hớp trọn không gian và thời gian; lúc bấy giờ tình nghĩa Thầy trò chỉ còn là những tư tưởng giống nhau của bằng hữu nhiều hơn là những dị biệt. Ngồi bên tách cà-phê, vợ của Thầy Takeda đã chìa cho tôi mấy tấm hình chụp tại nhà Thầy vào năm 1987 khi tôi có dịp quay lại Nhựt và có ghé lại nhà Thầy thăm. Thế mà tôi đã quên và lúc ấy tôi có học chế trà theo kiểu Nhật và tại Đức sau nầy có đôi ba lần tôi đã tổ chức trà đạo như thế cho những vị tham dự tu Bát Quan Trai thực hành.

Rồi một hôm chúng tôi đi vào một mảnh vườn xinh xắn mang tên Vô Thức Cốc và Vô Học Cốc để giới thiệu cho Thầy Cô về nghệ thuật làm vườn của người Đức cũng như của người Việt.

Tôi vốn sinh ra từ nhà quê; nên rất thích ruộng vườn và cây cỏ. Cho nên lúc nào cũng muốn nơi ẩn cư của mình cũng phải có cỏ cây, sông núi, ao hồ thì mới vui với thiên nhiên mà sống trong những ngày còn lại của cuộc đời. Nên chùa Viên Giác đã tạo được những thuận duyên như thế.

Trong ngôi vườn nầy có một căn nhà nho nhỏ 2 gian mà ai đến đây cũng thích ngồi thiền, dạy trà đạo, tĩnh tu... trong ấy có cả Thầy Takeda và Cô. Tôi đặt tên cho Cốc nầy là Vô Học. Hạnh Giới là người đang lo thủ Cốc tại đây. Đang trình Luận án Tiến Sĩ về Ngôn Ngữ Học và Tôn Giáo Học tại Đại Học Hannover mà cho là Vô Học thì cũng hơi khó nghe với người chưa hiểu đạo. Còn kẻ đã lướt qua Tam Tạng Thánh Giáo của Như Lai thì Vô Học có nghĩa là Vô Sanh, là A La Hán, là những vị đã chứng quả giải thoát rồi, không còn học nữa và không còn sanh tử luân hồi, lại qua trong lục đạo nữa.

Thượng Tọa Tiến Sĩ Seelawansa, Giáo sư Đại Học Wien - Áo Quốc, khi sang đây cũng rất thích và hè năm tới Thầy ấy sẽ hướng dẫn một khóa Thiền Vipassana cho một số người Đức, cũng muốn tổ chức tại Vô Học Cốc nầy. Chung quanh vườn có hồ nho nhỏ, có cây ăn trái, có nhiều loại hoa đẹp hiếm quý của Đức. Từ từ sẽ có những cánh hoa Á Châu sẽ được trồng xen lẫn vào đây, để vườn hoa văn hóa của xứ Đức nầy có thêm nhiều màu sắc lộng lẫy hơn.

Sau khi nhận vườn đã có mấy lần Picnic cho cả chùa và các anh em công quả. Ai cũng khen là vườn đẹp, nhà lớn, khung cảnh nên thơ. Có trời, có trăng, có mây, có gió lộng. Bởi thế mà vợ chồng Thầy Takeda từ Nhật Bản xa xôi đến đây; nơi mà tấc đất tấc vàng, thấy khung cảnh thiên nhiên nầy rất thích và đề nghị để chỗ nầy dạy trà đạo theo kiểu Nhật khi Thầy Cô ấy về hưu. Dĩ nhiên là tôi đã đồng ý và thời gian ấy chắc cũng chẳng còn xa.

Các anh em công quả phá đi một số cây dại và thay thế vào đó bằng những luống cải bẹ xanh mùa đông. Trong vườn nầy chắc độ giữa tháng 11 năm nay mới thu hoạch lần đầu; chứ bên vườn của Thầy Hạnh Tấn, có cái Cốc tên là Vô Thức ấy thì rau đã xanh lắm rồi và đợt gặt hái đầu tiên vào tháng 10 vừa qua được mọi người tán thưởng. Rau cải thiên nhiên, trồng không bón phân hóa học, chỉ toàn là cây lá mục của mùa cũ đem bón phân cho cây cỏ năm nầy; nên khi dùng những đặc sản nầy chúng ta lại gần gũi với thiên nhiên nhiều hơn mà không sợ những phản ứng phụ của chất hóa học gây ra.

Thầy Takeda ngồi trầm ngâm nơi vườn ngoài của Vô Học Cốc, còn Cô thì huyên thuyên mọi điều đề nghị cho một phong trang có tính cách dân dã ấy và dĩ nhiên là tôi đã dạ dạ thưa thưa rất đúng với lễ nghi và phong cách c��a người Nhật để Thầy Cô ấy yên lòng. Đoạn Thầy hỏi về sự phát triển của Phật Giáo tại Đức và có lúc Thầy sánh tôi với Giám Chân Hòa Thượng, người có công mang Phật Giáo từ Trung Quốc sang Nhật Bản vào thế kỷ thứ 6. Còn tôi mang Phật Giáo từ Việt Nam và Nhật Bản vào đất nước nầy cũng là kẻ tiên phong. Dĩ nhiên là tôi rất xấu hổ với lời ca tụng nầy. Vì lẽ tôi không là gì cả. Chỉ là một hạt cát nhỏ trong sa mạc mà thôi.

Vì sao vậy? Vì việc khen chê ở cuộc đời nầy là sự thường tình. Ta phải bình tĩnh trước lời chê và nhún nhường trước lời khen và tốt nhất hãy xem sự khen chê ấy không là gì cả. Vì tất cả đều là pháp hữu vi, có đến phải có đi, có còn phải có mất. Người nào đó, khi còn sống cũng như khi chết, họ khen ta không bút mực nào tả hết; nhưng nếu rủi ro có một việc gì đó không như ý họ, thế là thần tượng, minh sư, kẻ đạo cao đức cả kia trở thành địa ngục A Tỳ, nơi giam giữ những tội nhân của thần tượng kia bị sụp đổ. Ta tu học Phật không phải như thế. Ta phải đứng vững trên đầu sóng ngọn gió, không vì lời khen mà vui, cũng chẳng phải vì chê mà buồn. Phải chấp nhận những tương đối trong cuộc đời nầy. Tôi luôn quan niệm rằng cuộc sống của mỗi người trong chúng ta có lúc bình yên, có lúc gợn sóng. Khi con thuyền lên đến tột đỉnh của ngọn sóng cũng có nghĩa là gió bão càng to hơn, càng lớn hơn và càng gào thét nhiều hơn. Lúc ấy ta phải làm gì? Nếu ta không vững tay chèo, sẽ dễ bị chao đảo con thuyền, sẽ có nguy cơ ngập nước và chìm sâu vào đại dương, cũng chỉ để cho nhân thế cười chê là ta không có bản lãnh. Do vậy phải hiểu rằng sau cơn gió to, sóng lớn ấy, bầu trời và mặt nước sẽ quang đãng, bình yên trở lại, để ta tiếp tục lái chiếc thuyền nan tiếp tục cuộc hành trình trong sanh tử của ta.

Tôi đã chấp nhận mình là đất để hứng chịu những sạch nhơ của nhân thế và chấp nhận mình là nước để chuyên chở những trong sạch của cuộc đời thì cần gì phải biện luận. Đây là hạnh của Ngài Địa Tạng và Ngài Quan Âm mà tôi đang thực hiện. Ngày xưa khi Phật còn tại thế có một câu chuyện được kể lại như thế nầy:

"Có một vị Tỳ Kheo không tinh chuyên giới luật; nhưng lúc nào cũng ganh tị với Ngài Xá Lợi Phất. Do đó vị Tỳ Kheo ấy đặt điều nói xấu Ngài Xá Lợi Phất với chúng Tăng. Một ngày nọ đến tai Đức Phật và Đức Phật cũng đã quán chiếu sự kiện nầy rõ ràng, sau đó kêu Ngài Xá Lợi Phất và vị Tỳ Kheo nầy vào để nghe lời giải thích.

Ngài Xá Lợi Phất thưa rằng: Lâu nay con thực hiện hạnh của đất, cho nên bất cứ ai bỏ một vật gì xấu lên đó con cũng chẳng buồn, mà dầu có liệng một cành hoa đẹp lên mình đất thì đất cũng chẳng vui. Do đó sự vu cáo của vị Tỳ Kheo kia đối với con không có ý nghĩa gì cả.

Đức Phật chỉ rõ sự sai trái của vị Tỳ Kheo nọ và vị ấy sám hối trước Ngài Xá Lợi Phất cũng như Đức Phật".

Đây là câu chuyện có thật khi Đức Phật còn tại thế và ngày nay ta đem câu chuyện ấy áp dụng vào tự thân của mỗi người khi thực hành Bồ Tát Đạo vẫn còn có giá trị như thường.

Trong Đại Trí Độ Luận, Đức Phật có dụng một câu chyện rất hay. Chuyện kể rằng: Hai vị Tỳ Kheo đang bàn nhau về hình thức và nội dụng của sự tu và sự chứng. Có vị thì bảo rằng sự chứng đạo có giá trị như vàng thật và có vị thì bảo rằng sự trong sáng thanh tịnh cũng giống như ánh sáng của chân lý. Đức Phật hỏi:

Nếu vàng ấy được chứa trong một cái túi dơ, thì các ngươi lấy vàng hay lấy túi? hoặc giả bỏ túi lấy vàng ?

Nếu trong đêm tối có một người hủi cầm đuốc soi đường. Vậy các ngươi chê người hủi không cần đến đuốc? hay nhận đuốc mà không cần người hủi?

Cuối cùng rồi Ngài đã dạy: Tất cả những gì ở thế gian nầy đều thuộc về đối đãi, đều có tính cách phương tiện. Hãy chấp nhận phương tiện để đi đến cứu cánh Niết Bàn. Nếu không có cái túi dơ ấy thì không có gì thay thế để đựng vàng được và nếu không có người cùi hủi ấy thì ai giúp mang ánh sáng đến cho ta? Do vậy mà tất cả đều cần thiết để thành tựu đạo nghiệp khi chọn con đường Bồ Tát Hạnh là thế.

Tôi cũng đã trải qua nhiều sự thử thách của cuộc sống. Cho nên những lời dạy như thế, những bài học như thế quả là giá trị vô song trên hành trình tu học của mình. Ai trong chúng ta khi sinh ra cũng đều tục lụy cả và trong cái tục lụy ấy nếu ta biết hướng thiện thì chúng ta sẽ làm chủ của sanh tử luân hồi. Còn chúng ta buông lung thì chúng ta mãi đắm chìm nơi bùn sâu nước đọng ấy.

Chẳng ai trong chúng ta khi sinh ra là Thánh nhân cả, mà phải đi từ con người, đặc biệt là con người biết tu học để trở thành Thánh, thành Tiên, thành Phật. Do vậy phải dụng công thật nhiều thì mới mong hạt minh châu nơi cõi lòng, tự tánh nơi tâm thức mới trở thành vàng thật và ánh quang minh rực rỡ của đêm đen được.

Thầy Takeda và Cô ở lại chùa Viên Giác Hannover 2 ngày. Sau đó Thầy lại về Nhật mang theo một số tài liệu bằng tiếng Đức có giới thiệu về sự phát triển Phật Giáo tại đây do tôi cung cấp, để sau khi về Nhật, Thầy giới thiệu với các sinh viên Đại Học của Thầy ấy và chắc rằng Thầy ấy kể lại cho họ nghe như sau:

"Tôi đến Hannover vào một chiều thu của năm 2002 để thăm người sinh viên Tăng sĩ Thích Như Điển, đã học tiếng Nhật với tôi cách đây hơn 25 năm về trước tại Đại Học Teikyo ở Kyoto; nhưng điều đặc biệt là Thầy Cô đến đó đã không liên lạc trước bằng điện thoại. Có thể gây cho người Tăng sĩ Việt Nam nầy một sự ngạc nhiên và biết đâu người ấy lại nhớ tôi. Vợ chồng tôi đã vào ngồi nơi chánh điện chùa Viên Giác theo kiểu Nhật, dĩ nhiên là Thầy ấy biết là người Nhật; nhưng đã chẳng biết là Nhật nào. Mà quả đúng như vậy, sau khi có người báo tin cho biết, Thầy ấy đã lên chánh điện gặp tôi và vợ; nhưng đã chẳng nhận ra. Chỉ mới 16 năm thôi mà. Vì năm 1987 Thầy ấy có gặp tôi khi trở lại thăm Tokyo lần ấy. Có lẽ tôi đã già? Hay Thầy ấy đã có quá nhiều chuyện để phải lo, đâu có cần lưu tâm làm gì đến một ông giáo già dạy Nhật ngữ? Có phải thế không các bạn?

Nhưng không đâu - Sau một phút giới thiệu là Thầy ấy đã nhớ ra rồi. Tiếng Nhật vẫn còn sõi lắm. Thật đúng với câu: Thiên tài của ngôn ngữ học mà Thầy Kikuchi đã khen Thầy Như Điển khi nào. Chúng tôi đã đàm đạo suốt 2 ngày liền và cũng đã nói cho Thầy ấy nghe về dự tính của chúng tôi sau khi hưu trí ở Đại Học.

Thời gian trôi qua nhanh quá phải không các bạn. Mới đó mà tôi đã quá già và chàng thanh niên Tăng sĩ Việt Nam ngày ấy, bây giờ tóc cũng đã hoa râm và đang trụ trì một tự viện rất lớn tại Hannover - Đức Quốc, mang tên là Viên Giác Tự. Còn đây là những tác phẩm bằng tiếng Việt đã được dịch ra tiếng Đức của Thầy ấy. Các bạn hãy xem đi! Và có lẽ cũng chẳng hiểu gì. Vì tiếng Đức đâu phải là một ngôn ngữ đơn giản như các bạn biết đó.

Tôi không ngờ tình Thầy trò lại có thể bền lâu như thế. Nhiều lúc nó còn bền lâu hơn cả tình nghĩa vợ chồng. Có phải thế không các bạn? Nếu không tin, thời gian càng lâu sẽ chứng minh được câu nói của tôi là đúng.

Dĩ nhiên là Thầy ấy chẳng cần khen. Vì Thầy ấy tu theo Phật Giáo và biết rõ sự vô thường, sự giả tạm của thế gian; nhưng không khen sao được, khi người đó, chính là học trò của mình hơn 25 năm về trước. Nhưng bây giờ các bạn có biết không? Có lần tôi bảo: Thầy Như Điển là Thầy của tôi rồi đó! Các bạn chắc chẳng tin đâu. Làm gì có chuyện đó. Nhưng đó là sự thật. Vì Thầy ấy ngày nay, không phải là người sinh viên của Đại Học Teikyo vào năm 76-77 của năm thứ 3 và năm thứ 4 ngành giáo dục nữa, mà Thầy ấy là người của quần chúng, của mọi chúng sanh và tôi cũng là một chúng sanh trong ấy...".

Đó là một dự đoán của tác giả, cũng có thể Thầy Takeda nói khác đi, hay hơn thế nữa, tốt hơn thế nữa; nhưng đồng thời cũng có thể xấu hơn thế nữa. Ví dụ như suốt mấy ngày chỉ cho ăn bánh mì Đức, cơm Việt Nam mà chẳng có Misosuru (súp đậu nành) của Nhựt v.v... và v.v... nghĩa là còn nhiều chuyện để kể cho sinh viên của Thầy Takeda nghe trong suốt mấy giờ đầu của khóa mùa đông năm học 2002 nầy.

Hôm nay ngày 17 tháng 10 năm 2002 nhằm ngày 12 tháng 9 năm Nhâm Ngọ, tôi đã cúng lễ kỵ đầu của Sư Phụ tôi, người đã có công cho tôi xuất gia học đạo, thế phác quy y. Người cũng đã là một ánh sáng cho tuổi thơ của tôi khi mới chập chững vào đời. Hôm nay Đại Chúng làm lễ tưởng niệm Người và đã đọc một phần tiểu sử của Thầy tôi trong những năm cuối cuộc đời. Tôi thấy Thầy mình vĩ đại quá, cao cả quá mà trong quá trình làm chú tiểu của tôi từ năm 1964 đến năm 1968 ở hai chùa Phước Lâm và Viên Giác tại Hội An tôi đã chẳng nhận ra được. Nếu có nhận ra thuở bấy giờ cũng chỉ là những điều nhỏ nhoi, cục bộ; chỉ biết bảo vệ cho cái tự ngã của mình để phán đoán một vấn đề; chứ không phải như ngày hôm nay. Không biết có phải rằng bất cứ ai trong chúng ta cũng phải đợi cho người thân chết rồi ta mới nhận ra được điều đó chăng. Hay có người đang sống vẫn hưởng được những hạnh phúc an lạc trong khi sống và thực hành giáo lý của Đức Như Lai? Nghĩa là: chơn thật bất hư.

Gió thu đang lay mạnh những cành cây bên hông chùa làm tôi chợt tỉnh cho cơn vô thường của nhân thế và tôi cũng biết rằng một ngày nào đó mình phải ra đi. Khi ra đi chúng ta sẽ mang theo được gì và gởi lại nơi nhân thế nầy những gì; thiết nghĩ ngay bây giờ hãy chuẩn bị cho gói vào hành trang của mình và tha nhân ở kiếp nầy cũng như mai hậu có một cuộc sống tâm linh đầy ý nghĩa, không hận thù, chia rẽ mà lúc nào cũng như lúc nào tình thương trí tuệ vẫn là những chất liệu dưỡng sinh trong cuộc sống của mình.

Hướng về vị Thầy cũ và nhiều vị Thầy cũ; trong đó có vị Thầy dạy học mà cũng có vị Thầy dạy đạo, tôi thành tâm cảm niệm những thâm ân của bất cứ ai đã giúp mình có được một cuộc sống cao đẹp, có giá trị miên viễn trong tình thương yêu của Đức Phật và nhất là tư cách, phẩm giá của một con người và con người đó dẫu dưới bất cứ hình thức nào cũng mang một giá trị tâm linh cao thượng của nó.

Viên Giác tự một chiều thu của năm 2002

( Số 132 (Tháng 12.2002)

---o0o---


Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn