Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   
Bài mới nhất

Phần IV: Thí thực - cảnh tỉnh - khuyến tu

10/05/201318:40(Xem: 4327)
Phần IV: Thí thực - cảnh tỉnh - khuyến tu

Tuyển tập các bài sám văn - Tập V: 55 Bài sám văn kết tập

Phần IV: Thí thực - cảnh tỉnh - khuyến tu

Thích Đồng Bổn sưu tập

Nguồn: Thích Đồng Bổn sưu tập

262. VĂN HỒI HƯỚNG CÚNG THÍ
(Thí thực cô hồn 14)


Bích Liên Pháp Sư
Nguồn chơn trong văn vắt,
Tánh tội vẫn là không,
Biển khổ rộng thênh thang,
Sóng quanh theo đuổi mãi.
Bởi nghiệp cảm chúng sanh kia mang phải,
Khiến trầm luân kiếp nọ chịu đọa đày,
Ðịa ngục đà thọ khổ đắng cay,
Ngạ quỉ lại chuyển sanh đói khát.
Ðã chẳng có ngày giải thoát,
Ắt là không ngõ siêu thăng,
Ví chẳng nhờ từ nguyện đức kim thân,
Ðể mở đặng đảo huyền dây ác thú.
Chơn thuyên ấy niệm đôi câu thần chú,
Thí thực ra trên tiệc cam lồ,
Bảo cự kia thắp một ngọn đèn,
Soi khắp cả trong đường minh giới.
Nào những mấy dòng mê cả thảy,
Khiến đều về Cực lạc phương Tây.
Bảo đạo tràng nay,
Khắp thỉnh vào diên thí thực.
Ðem công đức ấy,
Trở về trong núi Thiết Vi,
Diện Nhiên đại sĩ một tay,
Thống lãnh cả ba mươi sáu bộ.
Chúng ngạ quỉ hằng hà sa số,
Biết bao nhiêu vô lượng vô biên,
Cúi xin từ kiếp bỏ liền,
Cho đến ngày lai tái thế.
Tiêu nghiệp chướng chẳng còn chút để,
Rửa tội khiên phút đã sạch rồi,
Vạc nóng dầu sôi,
Biến thành ao Liên trì bát đức.
Lò hừng lửa cháy,
Hóa nên tòa Hương cái thất trân.
Kìa mũi gươm trần.
Kiếm thọ hóa ra Ngọc thọ.
Nọ con dao sắc,
Ðao sơn đổi lại Bảo sơn.
Khắp nơi bày chật đất thiết sàng,
Hiện pháp tọa Bồ đề ra nơi đó.
Khắp chỗ dựng đầy nước đồng sôi,
Rưới cam lộ Ðề hồ vào nơi đấy.
Gặp những người trai chủ bấy nay,
Ðó đói khát, hết đòi hết hỏi.
Nhóm kiếp oan gia thuở trước,
Cùng nhau thôi dứt vấn vương.
Dạ hưng từ, ngục chủ yêu thương,
Lòng từ thiện, minh quan ủng hộ.
Thân phụ mẫu đa sanh kim với cổ,
Hồn nay thì nhập thánh lại siêu phàm.
Nợ nhơn thân lụy thế, trả hết rồi,
Rày thừa ân giải thoát, miễn trần duyên.
Cõi thiên thượng, ngũ si chẳng hiện,
Miền nhân gian, tứ tướng chẳng có,
Ðã biết tu, là bỏ cả tham sân si,
Thì địa ngục, sẽ hết điều khổ não.
Hồn ngạ quỉ, nhộn nhàng trong sáu đạo,
Hứng gió thanh, khỏi chốn lửa hồng.
Giống hàm sanh, sực nức mười loài,
Lên bờ giác, lánh nơi đường tội.
Khắp xin cả hữu tình một nỗi:
Quốc độ này quốc độ nọ,
Và tất cả vô lượng quốc,
Thảy cùng nhau đồng chứng chơn thường.
Lại nguyện cùng hàm thức giống nòi:
Thế giới đó thế giới đây,
Và các vô lượng thế giới,
Tất cả đều nên Phật đạo.
Tứ ân khắp báo,
Tam hữu đều nhờ.
Người trong pháp giới bao giờ,
Ai ai cũng đồng viên chủng trí.
- Bài do Hòa Thượng Bích Liên – Bình Ðịnh, diễn nôm khoảng năm 1940.
- Trích soạn từ “Nghi chẩn tế cô hồn nghĩa” của Hòa Thượng Thành Lệ, chùa Tiên Linh, Bến Tre tàng bản.

263. SÁM TÁN KHÔ LÂU
(Thí thực cô hồn 15)


Bích Liên Pháp Sư
Hôm qua đồng vắng ngoạn du
Thấy liền Ðại đức khô lâu một vùng
Bốn bên ghê gốc bịt bùng
Mồ hoang cỏ mọc, mây trùng xanh xanh
Dàu dàu âm khí lạnh tanh
Lá sen thổi ngọn, gió quanh đưa sầu
Khô lâu ơi hỡi! Khô lâu
Quê người ở mé giang đầu thiu thiu
Nằm phơi ngọn gió, chìu hiu
Cỏ giăng nệm đất, trăng khêu đèn trời
Phèo phèo khí lạnh đòi nơi
Anh em lai vãng, có người nào đâu
Khô lâu ơi hỡi! Khô lâu
Ấy người quân tử ở đâu bên đường
Nhà ai vang vọng đêm trường
Mưa tuôn gió thổi, tuyết sương khác nào
Ðau thay gan ruột như bào
Chan chan hạt lụy, như trào dòng châu
Khô lâu ơi hỡi! Khô lâu
Ðôi khuôn con mắt, thấy đâu chốn này
Xiết thay, người thế ra chi
Kiếp phù sanh gởi tháng ngày bao lăm
Ác vàng thỏ bạc xa xăm
Bóng quang âm thoắt, trăm năm mấy hồi
Dần dà chi nữa người ơi
Sớm lìa biển khổ, cho rời kiếp ma
Hôm nay thiện tín trai gia
Nghi diên mở hội, gọi là “minh dương”
Lò vàng vừa bén mùi hương
Ðạo tràng mời khắp mười phương cô hồn
Bao nhiêu tội chướng để dồn
Bây giờ tiêu hết chi còn nữa đâu
Ân triêm phước lợi thắm mầu
Mau mau dời bước lên chầu Tây phương.
- - - - - - - - - - -
- Bài do Hòa Thượng Bích Liên – Bình Ðịnh, diễn nôm khoảng năm 1940.
- Chép lại từ bản thảo “Nghi cúng cô hồn” của Hòa Thượng Thành Lệ, Bến Tre – Bản tặng Hòa Thượng Hiển Tu, chùa Xá Lợi, TP HCM, 1998.

264. TRẠO VĂN DIỄN ÂM
(Thí thực cô hồn 16)


Bích Liên Pháp Sư
Hôm nay cúng thí trai đàn,
Dây nhân duyên gặp A Nan cơ lành.
Quan Âm cứu khổ đã đành,
Hiện làm Tiêu Diện quỉ hình lạ thay.
Niệm câu Mô Phật từ bi,
Tuyên lời bí mật đức dày công cao.
Ðộ người thập loại nao nao,
Mùi cam lồ ấy hưởng vào một phen.
Trước đây triều đại còn truyền,
Lên ngôi đế chúa sẵn quyền tôn vinh.
Hầu vương huân thích vang danh,
Cây vàng lá ngọc tập tành tiếng sang.
Trung cung, Tể chấp, đại quan,
Kìa trang thể nữ, nọ hàng tần phi.
Ðiềm hoa tươi đã vứt đi,
Mùi cam lồ hưởng tiệc này phải chăng.
Hàng quốc sĩ, bậc triều thần,
Dọc ngang trong cõi hồng trần giúp xong.
Chăn dân bủa hóa giữa giòng,
Nào hay chưa toại tấm lòng trung lương.
Ðau lòng một chiếu thôi thương,
Phải khi trích án sa trường biên bang.
Hồn còn trìu mến giang san,
Tiệc cam lồ hỡi, vội vàng đôi chân.
Người võ sĩ, kẻ nhung thần,
Một tay thống lãnh ba quân nhộn nhàng.
Băng xông trăm trận mũi vàng,
Trống rầm rộ đất, chiêng vang rân trời.
Ðánh Nam dẹp Bắc tơi bời,
Chiến trường phút sẩy chân người vào trong.
Tấm lòng vì nước mà vong,
Tiệc cam lồ chứng hội đồng đêm thanh.
Những người học cổ cùng kinh,
Chức văn chương khéo như hình gấm thêu.
Bóng quang, hột tuyết dòm theo,
Chí trong cửa sổ nghiệt nghèo xiết bao!
Ta đà mạng vận làm sao,
Bảng vàng chẳng thấy lúc nào đề danh.
Hương hồn uất uất chi linh,
Mùi cam lồ đã sẵn dành tiệc xuân.
Những người cắt ái từ thân,
Cửa không sớm đã chân lần vào trong.
Tầm thầy hỏi đạo Thiền tông,
Chút vì muốn thoát khỏi vòng tử sanh.
Trải bao lạnh nắng xoay quanh,
Sự vô thường đã đến mình nào hay!
Hồi quang soi chút bóng dày,
Mùi cam lồ hưởng đêm nay bỉ bàng.
Những người võ phục huỳnh quan,
Sớm đã quyết chí theo đàng tu chơn.
Luyện hoàn thuốc, nấu lò đơn,
Dưỡng trong cái tánh, cho hoàn khí nguyên.
Lao thần khổ hạnh đòi phen,
Chỉ mong lên đặng ngôi tiên mới đành.
Thôi đừng tiếc chút dị hình,
Tiệc cam lồ đã sẵn dành vị thanh.
Những người con thảo cháu lành,
Với người nghĩa dũng trung thành xưa kia.
Những người liệt nữ trinh thê,
Cái thân coi chết như về đâu đâu.
Với người trọng tiết vong xu,
Khí tinh anh để ngàn thu còn truyền.
Hồn còn chói lọi linh thiêng,
Ðến đây hưởng thọ một diên cam lồ.
Những người đạo nữ Ni đồ,
Chốn huỳnh môn ấy năm mùa gởi thân.
Phụng loan bỏ khống duyên phần,
Nhơn gian chẳng nhiễm sự trần chút chi.
Còn chưa liễu đặng vô vi,
Nước trôi sóng lãng ra gì tử sanh!
Hồn người thăm thẳm thanh thanh,
Vị cam lồ đã phỉ tình cho chăng?
Những người địa lý thiên văn,
Nghề hay y dược chứa thầm âm dương.
Bói qui, dịch sủ qui vàng,
Kẻ tinh coi gió, người tường bủa sao.
Mách người hung kiết biết bao,
Vô thường để khỏi mang vào hoạn thân.
Thôi rày xả ngụy qui chân,
Cam lồ bảo mãn mười phần tiệc hương.
Những người tọa mãi hành thương,
Cả bao nhiêu món ngoài đường kinh doanh.
Lắm hay nghề nghiệp mưu sanh,
Toan phường tài lợi trong vành bán buôn.
Quê xưa hương tỉnh bỏ luôn,
Chết chôn đất khách, theo phương cảnh người.
Một niềm lữ mộng vơi vơi,
Mùi cam lồ đã khắp rời u minh.
Những người phạm pháp tạo hình,
Ngục tù buộc mãi lấy mình vào nơi.
Hại người toan lấy của người,
Oan gia trái chủ trả đời nào xong!
Người tật ác, kẻ tai hung,
Hoặc là đói khát lạnh lùng vong thân.
Suối vàng kíp kíp đôi chân,
Mùi cam lồ ấy, thọ phần thanh lương.
Những người ngựa đạp, xe thương,
Vách đè thân nát như tương rã rời!
Kẻ suông roi quỉ, sấm trời.
Kẻ cam tự vận, người thời huyền lương.
Hoặc là thủy hỏa tai ương,
Kẻ suông độc rắn, người vương miệng hùm.
Hồn người bất hạnh trầm trầm,
Một cam lồ rưới dầm dầm xiết bao.
Những người âm huyết dương mao,
Chỗ sanh trưởng vốn ẩn vào man di.
Thi công mà trả nợ đày,
Kẻ làm lẽ mọn, người thì tớ tôi.
Hoặc người ngọng, lịu, điếc, đui,
Tật nguyền chẳng có nơi chui đụt nào.
Hồn người oan khổ biết bao,
Mùi cam lồ hưởng dạt dào tiệc hoa.
Những người ngỗ nghịch mẹ cha,
Oán rủa trời đất, mắng la đốt bằm.
Những người chê Phật khinh Tăng,
Ðốt hủy kinh tượng hung hăng nhiều bề.
Lắm điều tà kiến trầm mê,
Chịu trong khổ báo ê chề chẳng thôi.
Hồn người thật ác, thương ôi,
Mùi cam lồ hưởng cho rồi tiệc hoa.
Cửa nhà đại thí mở ra,
Hãy xin tiến bạt cho ma cô hồn.
Tiên vong hòa tổ hòa tôn,
Oan gia trăm họ cũng dồn về đây.
Ðường ba, nạn tám thiếu chi,
Bao nhiêu bình đẳng, đêm này siêu thiên.
Cậy chưng Phật Pháp quang miên,
Mùi cam lồ hưởng một diên ê hề.
A Di Ðà Phật Bồ Ðề,
Xưa kia sẵn có lời thề vô biên,
Ðường mê trông thấy nhãn tiền,
Ðắm phiêu biển khổ liền liền thảm thay!
Ngậm ngùi vội duỗi hai tay,
Thuyền từ chống thẳng vớt ngay mọi người.
Nguyện cho khắp chỗ ai ơi,
Chúng sanh đều đến nhập nơi Liên trì.
- - - - - - - - - -
- Ðây là bài diễn nôm của Hòa Thượng Bích Liên – Bình Ðịnh soạn, khoảng năm 1940.
- Bài này dùng để tán trạo, một loại tán có nhạc hòa cùng sử dụng trong lễ chẩn tế cô hồn, thay cho 12 câu thỉnh trong Du Già Trung Khoa.
- Tạng bản Nôm của Ðại Ðức Thích Lệ Trang, chùa Viên Giác – Tân Bình, TP HCM.
- Diễn Quốc ngữ của Hòa Thượng Thành Lệ, chùa Tiên Linh, Bến Tre – Bản tặng Hòa Thượng Hiển Tu, chùa Xá Lợi, Sài Gòn, 1998.
- Có hiệu đính sửa chữa lại một số câu chữ cho phù hợp, và để nâng cao tính giá trị của văn phong.

265. VĂN THỈNH THẬP LOẠI CÔ HỒN
(Thí thực cô hồn 17)


Bích Liên Pháp Sư
Dấu người thập loại biết là đâu?
Hồn phách mơ màng trải mấy thu,
Cồn biển nghinh ngang bầu thế giới,
Những mồ vô chủ thấy mà đau!
Tịch mịch dạ canh thâm,
Hoa Ðàm bá phạm âm,
Cô hồn văn triệu thỉnh,
Bộ bộ tốc lai lâm.
- Nhứt tâm triệu thỉnh:
Ác vàng tên ruỗi,
Thỏ bạc thoi dong,
Ôm lòng đau, cốt nhục nỗi xa trông,
Sửng mắt nhắm, anh hùng còn đâu đó!
Lò bảo đảnh, màu hương nhen mới tỏ,
Giọng thiền lưu, rày ngõ với vong linh,
Nghe lời triệu thỉnh đành rành,
Hồn chơi trong cõi U minh xin về.
- Nhứt tâm triệu thỉnh:
Màu non lờ lạc,
Dòng nước thầm thì,
Xuân đi rồi, hoa hỡi còn đây,
Người mới đó, chim rày đã lặn.
Vài lượt thắp, hương trầm bay tứ tán,
Ðôi phen mời, linh sản ở đâu đây,
Vong linh ơi hỡi có hay,
Nghe lời triệu thỉnh, kíp day cõi trần.
- Nhứt tâm triệu thỉnh:
Biển trần lênh láng,
Sóng nghiệp lao xao,
Người mê man trong giấc chiêm bao,
May tỉnh đặng, phân hào trong huyền diệu.
Sống chẳng niệm Di Ðà Phật hiệu,
Uổng một vòng chơi nẻo nhân gian,
Ðầy ba phen, hương thắp bảo đàn,
Ba lần triệu thỉnh, suối vàng hồn linh.
Xin vâng Tam Bảo pháp lành,
Nương lời bí mật, đêm thanh trở về.
Về đây hưởng thọ hương huê,
Cam lồ pháp thực, ê chề thiếu chi.
- Trước thỉnh kẻ, hoàng vương đế bá,
Triều đại xưa, trải quá biết bao!
Ðền đài chín lớp ở cao,
Non sông muôn dặm chiếm vào một tay.
Thuyền chiến phút đổi thay vượng khí,
Xe loan còn rầm rĩ vắng thinh,
Ðỗ quyên kêu trót tàn canh,
Mây buồn đượm mãi trên cành đào hoa.
Trước sau vương bá những là,
Hồn hương xin chứng tiệc hoa sẵn sàng.
- Lại thỉnh kẻ đăng đàn bái tướng,
Dựng ngọn cờ bảo thưởng hầu quan,
Ngàn cân, lực cử đảnh vàng,
Thân trường thành vững trăm ngàn dặm khơi.
Trướng hùm lạnh, luống đời Hạng Mã,
Khói lang tàn, nào gã Phàn Long,
Ngựa xe chiến tướng vắng không,
Hoa lùa cỏ nội mấy vùng buồn thiu!
Anh hùng tướng soái bao nhiêu,
Pháp diên hãy chứng ít nhiều phải chăng?
- Lại thỉnh kẻ: Ngũ lăng tài tuấn,
Phẩm hiền lương, bách phận danh thần.
Ba năm thanh tiết làm quan,
Lòng son một tấm, trung quân rõ ràng.
Nhà châu huyện, xa làng phụ mẫu,
Xóm nước trời, theo dấu thần tiên,
Chinh chinh biển loạn sóng ngàn,
Mờ mờ hồn bướm ly miền dương quang.
Văn thần xiết kể muôn ngàn,
Chốn này xin chứng Pháp đàn kính dâng.
- Lại thỉnh kẻ: Tao ông mặc khách,
Lối cửa hoàng, nhà bạch vào ra,
Rừng văn nhẹ bước, Thám hoa,
Ngàn cung bút chiến, chơi trò các vi.
Tan bữa đốm, tiếc dày công học,
Mòn dĩa nghiên, uổng nhọc chí bền,
Lụa hồng bảy thước đề tên,
Ðất vàng một cụm, lấp nền văn chương.
Văn nhân biết mấy đâu lường,
Hồn hoang xin chứng tiệc hương mấy phần.
- Lại thỉnh kẻ: Xuất trần phi tích,
Thượng sĩ kìa với khách Cao Tăng,
Trai tinh ngũ giới, đạo hằng,
Gái Tỳ khưu, lại đủ ngằn nét tu.
Làn hoa trúc, vài câu mật đế,
Nhà hổ-nô, vắng kệ khổ không,
Tam canh song tẩm lạnh lùng,
Nhà thiền leo lét đèn chong canh dài.
Trung lưu này những bi ai,
Chơn hồn xin hãy chứng lai pháp đàn.
- Lại thỉnh kẻ: Huỳnh quan dã khách,
Dòng vũ y phong cách nhà tiên,
Tu chơn trong động đào nguyên,
Trước châu lãng uyển, khí rèn tánh tu.
Trời nêu tiếng, tam lưu chưa toại,
Ðất chôn hồn, tứ đại Diêm Vương,
Lò đơn lẫm quán lạnh sương,
Tiêu đàn gió thảm, thổi tàn hạnh hoa.
Bao nhiêu đạo sĩ những là,
Mùi hương phó cảm, thấu nhà hư vô.
- Lại thỉnh kẻ: Giang hồ cơ lữ,
Ðường bắc nam trải thử hành thương,
Lợi quyền muôn dặm, toan đương,
Ngàn vàng trữ lại trong hàng hóa buôn.
Thân sương gió, thịt chôn bụng cá,
Bước đá mây, xương rã đường dê,
Phách theo mây cuốn sè sè,
Hồn theo ngọn nước xuôi về biển Ðông.
Thương nhân, sau trước một dòng,
Bữa nay xin chứng vào trong tiệc đàn.
- Lại thỉnh kẻ: Lướt xông chiến trận,
Sức phương cường, mình bận áo binh,
Cờ điều phất bóng tương tranh,
Trong chòm mũi bạc, đan mình chống đương.
Ruột gan nát, thao trường kim cổ,
Da thịt rơi, đầy chỗ can qua,
Cát vàng văng vẳng tiếng ma,
Mờ mờ sương trắng ai mà thấu cho.
Xưa nay mấy kẻ tốt đồ,
Ðêm này xin hưởng cam lồ tiệc trai.
- Lại thỉnh kẻ: Nghén thai mười tháng,
Lót chiếu rơm ngồi mãn ba ngày,
Trước mừng loan phụng hiệp bầy,
Sau thì trông giấc hùng bi cho tường.
Vầng cung phụng, phút tường hung cát.
Tuồng ngỏa chương, rơi nát mẹ con,
Nhành hoa nở, trận mưa tuông,
Ðường khi trăng tỏ, gặp cuồng mây xâm.
Những người sản nạn qui âm,
Nghe lời triệu thỉnh, lai lâm pháp đàn.
- Lại thỉnh kẻ: Bốn phương mọi rợ,
Với những người ú ớ điếc đui,
Chết mình, tôi tớ lui thui,
Liều thân hầu hạ, bởi người ghen tương.
Khinh Tam Bảo, tội dường cát bãi,
Nghịch song thân, ác dẫy cõi người,
Ðêm trường thăm thẳm bóng mơi,
Cửa mù thiu thỉu như trời thu đông.
Những người bội nghịch hoang hung,
Pháp diên xin chứng vào trong cho đầy.
- Lại thỉnh kẻ: Cung khuê thuở trước,
Gái má đào, sắc nước kém đâu,
Bức tranh chỉ phấn, đua nhau,
Áo quần long xạ, ganh màu thiên hương.
Hồn vân vũ, tan vườn kim cốc,
Ruột trăng hoa, héo trạm mã khôi,
Phong lưu ngày trước đâu rồi,
Xương khô lạnh lẽo trong chồi cỏ cây.
Những trang xinh tốt xưa nay,
Lửa hương xin chứng tiệc chay bỉ bàng.
- Lại thỉnh kẻ: Cơ hàn khất cái,
Cùng tù nhơn mang phải trọng hình,
Gặp tai nước lửa hại mình,
Hoặc truông hùm sói, tan tành thịt xương.
Khí oán, mãi đầy dường thuốc độc,
Hồn kinh, vì sấm lốc mờ xiêu,
Mưa chiều khói lạnh nước reo,
Lá thu gió thổi dập dìu như bay.
Những người hoạnh tử xưa nay,
Cam lồ rày đã sẵn bày tiệc hương.
- Lại thỉnh kẻ: Sáu đường pháp giới,
Những cô hồn mười loại đâu đây,
Diện-Nhiên sở thống một tay,
Nòi kia dịch-lệ, giống này trần-sa.
Nương cây cỏ, bóng ma mường tượng,
Ly-mỵ, hòa vọng-lượng uy danh,
Hồn cô, phách trệ linh đinh,
Tiên vong, với kẻ thân tình gần xa.
Bao nhiêu tiệu thỉnh những là,
Ai ai xin cũng chứng qua tiệc này.
Nãy giờ mời thỉnh tỏ bày,
Hồn linh xin hãy về đây chứng đàn.
Cùng qui y Phật, Pháp, Tăng,
Sửa mình niệm Phật, siêu thăng liên đài.
A Di Ðà Phật Như Lai,
Từ bi tiếp độ hoa khai thoát trần.
- - - - - - - - - - - -
- Trích trong “Khóa chẩn tế cô hồn nghĩa.” – Hòa Thượng Bích Liên soạn diễn Nôm, khoảng năm 1940. Chùa Viên Giác Tân Bình tàng bản.

266. VĂN KHUYẾN TU THIỆN NGHIỆP
(Văn khyến tu 14)


Chơn Thường Thiền Sư
Ðôi dòng bút ký thiên thu,
Dụng tâm khuyên giáo sĩ phu ít lời.
Quy y Tam bảo đời đời,
Tự tâm tỏ ngộ nay thời gắng tu.
Thọ trì trai giới công phu,
Tinh thông học tập vân du Ta bà.
Nhìn xem khắp cõi hằng sa,
Hư không thế giới lòng ta nguyện hoài.
Nguyện lên chín phẩm Liên đài,
Niết bàn tịch tịnh thiệt rày cao thâm.
Pháp môn Tịnh độ tịnh tâm,
Quy y theo Phật nhiều năm mới thành.
Giữ lòng chẳng dám vọng sanh,
Quy y theo Pháp xem rành luật, kinh.
Giữ lòng chớ có dễ khinh,
Quy y Tăng, học tự mình sửa tâm.
Giữ lòng chừa sát đạo dâm,
Ðêm ngày xem xét chơn tâm làu làu.
Chiếu soi thiện ác lẽ nào,
Kiếp xưa Võ Ðế ngài vào rừng xanh.
Nón đội Phật đá phước lành,
Sao còn giết khỉ, để dành miếng ăn.
Khiến nên chết đói Ðài thành,
Tiền nhân hậu quả đành rành nào sai.
Lập chùa, bố thí, trì trai,
Tạo lành hưởng phước khuyên ai gắng làm.
Nghiệp dữ mắc họa chớ ham,
Sát sanh hại vật lại cam làm gì.
Khuyến người xem xét nghĩ suy,
Võ Ðế, Hy Thị còn gì than ôi!
Hầu Kiển, Võ Ðế trả rồi,
Thấy gương nhân quả nghĩ thôi lạnh lùng.
Ai ai nghe thấy cũng run,
Tránh xa sát nghiệp ung dung tu hành.
Kíp nhau bỏ dữ làm lành,
Ngày sau mới đặng vãng sanh Thiên đường.
Nói qua “nghiệp đạo” thêm thương,
Tại vì đói lạnh, tuyết sương chẳng nài.
Rình mò lặn lội chông gai,
Rủi thời bị bắt ai ai cũng cười.
Nhân xưa ăn ở biếng lười,
Quả nay đói lạnh, của người tóm thâu.
Làm cho kẻ khóc người rầu,
Trộm cướp bắt đặng đâu đâu cũng mừng.
Ðem ra pháp luật phạt trừng,
Khuyên bỏ “nghiệp đạo” mau vâng theo lời.
Làm người thân ở trong trời,
Ăn ngay ở thẳng vậy thời người thương.
Ðừng làm theo thói bất lương,
Ngày sau mắc đọa nhiều đường khổ thân.
Nghĩ cho cuộc thế xoay vần,
Giàu sang xưa cũng kiệm cần mới nên.
Sửa lòng tập tánh cho bền,
Bán mua tiết kiệm mới nên sang giàu.
Xét xem cải đổi mau mau,
Tránh xa “nghiệp đạo” dồi trau phước điền.
Nghĩ cho “dâm nghiệp” không hiền,
Tham tài đắm sắc bỏ liền chẳng tu.
Vương hầu cho đến sĩ phu,
Say mê vì sắc thiên thu chê cười!
Xưa nay xét lại nhiều người,
Sa di Tư Hổ, thế cười lạ thay!
Long Ðĩnh tửu sắc nằm ngay,
Kiệt, Trụ tiếng để ai ai giựt mình.
Kìa như Lữ Bố bất minh,
Tham dâm chi quá dứt tình cha con.
Cuộc đời nghĩ lại héo hon,
Tránh xa “dâm nghiệp” chồng con an hòa.
Bốn điều “vọng ngữ” kể ra,
Nói dối, nói láo rất là tội thay!
Nói thêm, nói bớt, nói sai,
Ðòn xóc, hai lưỡi ai ai cũng rầy.
Nói lời hung dữ, nói trây,
Rủa chưởi, mắng nhiếc, van vầy gớm ghê.
Vọng ngữ tội ác đời chê,
Nói cho thất đức chẳng hề có sai.
Nói lời chắc thiệt, khuyên ai,
Ngay thẳng, hòa hiệp ngày nay sum vầy.
Phát nguyện về cõi phương Tây,
Hiền lành, nhơn đức thuở này mới nên.
Ðọc tụng kinh, sám cho bền,
Hiểu thông nghĩa lý, cứu trên cửu huyền.
Chưa thông, học hỏi thầy hiền,
Dứt trừ tửu, nhục, thấy liền chơn tâm.
Như Lai vô thượng thâm thâm,
Theo thầy học tập nhiều năm mới thành.
Nếu còn tửu, nhục sự sanh,
Tham sân si ái, cạnh tranh luân hồi.
Say rượu các việc đều thôi,
Lành dữ, tội phước, than ôi kể gì!
Ngày đêm say rượu li bì,
Công ơn cha mẹ còn gì nữa đâu.
Vợ con thấy vậy thêm sầu,
Nhân xưa say rượu, lọt cầu sông mê.
Quả này, đọa ngục Nê Lê,
Thúi hôi khổ sở bộn bề gớm ghê!
Tham dâm tửu sắc đời chê,
Sân hận tội ác đọa về Tu La.
Si mê trôi dạt ái hà,
Kêu người tỉnh lại về nhà quang minh.
Lánh xa tửu nhục sắc thinh,
Quy y Tam Bảo kệ kinh tu hành.
- - - - - - - - - - - -
- Trích soạn theo bài “Khuyến tu Thập Thiện” của Thiền Sư Thích Chơn Thường – Chùa Trường Quang Mỹ Tho – Ðăng trong “Học Phật Vấn Ðáp” – Châu Ðốc năm Tân Mão, 1951.
- Ðồng Bổn soạn lại, có lược bớt trọn phần sự tích “Hy Thị thọ thân mãng xà” và hiệu đính một số câu văn cho phù hợp lưu hành.

267. SẮC KHÔNG TỈNH THẾ
(Văn khuyến tu 15)


Ðàm Tuệ
Kiếp nhân sinh hỏi dài hay ngắn,
Thân phù du sống đặng bao lâu?
Kể chi khanh tướng công hầu,
Cũng như hạt cát giữa bầu bao la.
Hỡi nhân thế! Sao đà chưa tỉnh?
Ðem sức người toan tính mà sao,
Chi bằng giữ đạo thanh cao,
Ðèn trăng, quạt gió, màn sao, phên giường.
Bước vân du rộng đường thiên lý,
Ngó trần hoàn bé tí con con,
Xương đồng chân cứng đá mềm,
Ấy kho vô tận há còn ai tranh.
Vượt ra ngoài sắc thanh hình tướng,
Riêng lắng lòng duyên tưởng “thể chân”,
Cũng không nghĩ ngợi phân vân,
Không xanh không đỏ không gần không xa.
Không tất cả nước da nòi giống,
Không vuông tròn hẹp rộng trước sau,
Không tâm tìm kiếm mong cầu,
Không sanh già chết ốm đau như người.
Không tất cả muôn loài vạn vật,
Không trong ngoài, chân thật, đảo điên,
Ðạo huyền, huyền lại càng huyền,
Có không, không có, vô biên, vô lường.
Có tất cả mười phương nòi giống,
Có vuông tròn, hẹp rộng, trước sau,
Có tâm tìm kiếm mong cầu,
Có sanh, già, chết, ốm đau như người.
Có tất cả muôn loài vạn vật,
Có trong ngoài chân thật đảo điên,
Nói càng lầm lỗi, tạc xuyên,
“Hằng sa thế giới ở liền mảy lông.”
Còn ham cảnh lầu hồng, cõi tục,
Chốn Quảng Hàn say khúc Thường Nghê,
Dao Trì hôm sớm đi về,
Ðào tiên, rượu cúc quen lề tỉnh say!
Thời hãy gắng đêm ngày định tỉnh,
Mười điều lành lo tính cần chuyên,
Là Trời, là Phật, là Tiên,
Là “Chân Như Tính” ấy miền tiêu dao.
- - - - - - - - - - - -
- Bài do cố Sư Bà Ðàm Tuệ – Chùa Hòa Bình soạn, có tên là “Bước Quan Hoài.” Người soạn xin sửa lại tựa để hợp với Sám Văn. Bài được soạn năm Quý Mão, 1964. In trong Thi tập kỷ niệm tuần chung thất, Tp, HCM, 1997.

268. THẬP NHỊ THI TỤNG DIỄN ÂM
(Văn khuyến tu 16)


Xưa Quốc Triều ở phường Phú Sĩ,
Mười hai giờ thành ý tụng kinh,
Chữ Nho xem cũng khó rành,
Diễn Nôm ra để cho minh những lời.
Giờ Dần ấy, khi trời vừa sáng,
Dạ thường thì lúc sớm nên chăm,
Tụng giờ mười lượt thanh âm,
Hay siêu sanh tử thoát trầm luân sâu.
Phép hiếm có nhiệm mầu khôn nói,
Lấy lòng tin làm lối vãng sanh,
Tai nghe bụng chẳng nghi tình,
Ấy người thọ ký là mình lọ ai?
Ðến giờ Mão mặt trời mới mọc,
Xương chóng khô, người tục chóng già.
Thực nên ta nghĩ bạn ta,
Biết bao trước mắt cỏ hoa trên mồ.
Phải ngoảnh lại mà tu cho chóng,
Tấc quang âm báu trọng bao la,
Lúc nhàn chẳng niệm Di Ðà,
Ðến khi thác xuống xót-xa não nùng.
Giờ Thìn đã bóng hồng cao lói,
Người thiện cư chọn hỏi nơi hiền,
Chẳng cần phúc báo Nhân Thiên,
Chết đi cũng khó khỏi miền trầm luân.
Lên Ðao Lợi dự phần luân chuyển,
Lúc tạm thời câu chuyện chửa hay,
Khuyên người niệm Phật phương Tây,
Làm người tự tại đêm ngày tiêu dao.
Giờ Tỵ mặt trời cao gần giữa,
Các nơi đều nấu bữa cơm trưa,
Cơm ăn no bụng muối dưa,
Muốn qua sanh tử bây giờ phải tu.
Trẻ nhớ mẹ, mẹ âu nhớ trẻ,
Ấy công phu đáo để tự mình,
Xả tấm thân thấy Phật sinh,
Xa mười muôn dặm gần hình gang tay.
Bóng chiều Nam đã xoay giờ Ngọ,
Phật trên không mắt ngó chẳng hay,
Ít người đi ở đường ngay,
Sô đường dậm chịu đắng cay bao chừng.
Chẳng đạm thiền, chẳng hưng khởi đạo,
Phải chủ trương niệm tấu Di Ðà,
Tuy thân ở cõi Ta bà,
Tinh thần đã ở trên tòa hoa sen.
Giờ Mùi đã hơi thiên bóng ngấn,
Cảnh một nhà sáu giắn ghê thay!
Diêm phù ai gặp cảnh này,
Ðã sinh lại chẳng chia bày đục trong.
Mau ngoảnh lại rửa lòng trần lụy,
Mệnh vô thường bất úy là đây,
Ðem treo chữ Tử ngang mày,
Mới tường tư vị phương Tây lạ lùng.
Ðến giờ Thân vừng hồng gần tối,
Than thân người như lối xe lăn,
Kiếp này nếu chẳng độ thân,
Thân này muốn độ, chờ luân kiếp nào?
Chớ qua quýt tiêu hao lần lữa,
Kìa bao loài vảy chứa sừng đeo,
Phật thương chẳng cứu được nào,
Biết bao kiếp số mắc vào trầm luân.
Tới giờ Dậu về phần trời tối,
Bóng dư quang khuất núi chẳng lâu,
Nực cười lũ dại đua nhau,
Tử sinh, sự lớn người hầu biết chưa?
Ham tiền của say sưa chè rượu,
Lừa phàm phu dong dẻo trọn ngày,
Chẳng rồi niệm đức Như Lai,
Ðến ngày đến tháng bó tay chịu đành.
Ðến giờ Tuất, sơ canh buổi tối,
Một ngọn đèn lòi lọi nhà đêm,
Rút giày, giường đã nằm êm,
Hồn đương đêm tối, lại thêm mơ màng.
Than thân mình, dễ nhường sai lối,
Niệm Phật đi mới khỏi luân hồi,
Tội kia tiêu hết một thời,
Phật soi ngàn bóng, mặt trời trên không.
Tới giờ Hợi, nhân công đã định,
Bỏ giàu sang, chẳng sính công danh,
U ơ trên gối đêm thanh,
Lòng si còn vẫn lo mình ngàn năm!
Cứ lần lữa nên tâm trễ nải,
Tắt thở thời luống mãi ăn năn,
Phụ tình Phật tổ cứu dân,
Khôn đem nước bể, ví ân đức Ngài.
Ðến giờ Tí đêm thời vừa nửa,
Bụng thanh ô, chan chứa chia đôi,
Cõi trần nếu chẳng khổ rồi,
Tử sinh ai đã khứng ngui bụng thường.
Ðã chán phải biết đường chung thủy,
Ðất hoàn kim khôn ví cảnh vui,
Nhãn tiền phước báu vì ai?
Chỉ là dục chúng quy hồi Tây phương.
Tới giờ Sửu gà đương gáy giục,
Muốn vãng sinh ai thúc tay mình,
Trong phiền não cố tu hành,
Phải luôn niệm Phật miệng dành như tâm.
Ai khen vụng chê thầm cũng mặc,
Cứ tùy duyên chẳng nhác lòng mình,
Hoa sen tuy chửa nẩy sinh,
Bản căn đã hết ngó sanh trong bùn.
Ấy là phép thiền môn trì tụng,
Cốt sao cho trong bụng kính thành,
Những lời Phật dạy phân minh,
Phải tường nghĩa lý xét mình để tu.
Ai mà cố công phu như vậy,
Báo sau này hẳn thấy chẳng sai,
Nam mô Tam Bảo Như Lai.
- - - - - - - - - - - -
- Trích Tâm Pháp Kinh Thiết Yếu, trong tạp chí Từ Quang. Số 86, ra tháng 3/1959, chùa Xá Lợi, Sài Gòn, 1969

269. SÁM TINH TẤN
(Sách tấn tu tập 14)


Như Thanh
Bậc Bồ Tát trên đường tinh tấn,
Biết rằng tùy duyên pháp triển hạnh lành.
Biết trau tâm sửa tánh tinh chuyên,
Biết lập hạnh cao kiên bất thối.
Chí tinh tấn lòng đơn chẳng đổi,
Nương hạnh lành tùy lối tiến lên,
Thương muôn sanh lầm lỗi nhiều bề,
Phát đại nguyện chẳng hề chê chán.
Lòng từ bi đứng lên mạnh dạn,
Nương đức lành, hoạn nạn đành cam,
Quyết lập nên công hạnh luận đàm,
Vì đời đạo, lòng kham gánh chịu.
Giữa bể khổ gian nan lịu địu,
Cũng quyết tâm chuyền níu vớt đưa,
Bờ giác kia đâu dám lần lừa,
Chí dõng mãnh lưa thưa đâu thể!
Nguyện đức Phật từ bi cứu tế,
Ðộ chúng sanh khỏi bể trầm luân,
Khiến lòng con bớt nỗi bâng khuâng,
Khiến muôn loại gian truân nhẹ nhõm.
Biển sầu khổ đâu còn lõm bõm,
Cảnh lầm mê luộm thuộm nhẹ yên,
Bờ giác kia vượt thẳng đến liền,
Cảnh tự tại vô biên hỷ lạc.
Nước bát đức, lợi tha bát ngát,
Cảnh Tây phương ngào ngạt hương sen,
Nguyện Phật ân thắp đuốc rọi đèn,
Giúp muôn loại trắng đen hiện rõ.
Nương đại nguyện, lòng con sáng tỏ,
Rước chúng sanh nào bỏ một ai,
Quyết cùng nhau đến trước Liên đài,
Hầu đức Phật hôm mai an lạc.
Hoa tinh tấn hương bay thơm ngát,
Ðạo từ bi ấm mát muôn sanh,
Phật thương con, đường lối chỉ rành,
Con kính Phật, lòng thành tinh tấn.
Nương ân Phật từ bi chỉ dẫn,
Con kính tin, lận đận đâu còn!
Ngày lẫn đêm trau luyện lòng son,
Lập đại nguyện cho tròn chí cả.
Cõi tục lụy con mong thí xả,
Nguyện lòng con chí cả giai bền,
Noi gương lành vững bước tiến lên,
Ðộ muôn loại vững bền bất thoái.
Nương đức Phật, lòng con chẳng đổi,
Ðường thẳng đi một lối tới nơi,
Dìu dẫn nhau chẳng chút rạc rời,
Cảnh vô thượng một nơi thẳng tiến.
- - - - - - - - - - - -
- Bài do Ni Trưởng Như Thanh chùa Huệ Lâm soạn. Ðăng trong “Phật pháp giáo lý” tập V, Thành Hội Phật Giáo Tp. HCM, XB, 1997.
- Nguyên tác là một thi phẩm, tựa là “Ðức Tinh Tấn”. Biên giả nhận thấy phù hợp thể loại sám văn cảnh tỉnh sách tấn, nên biên tập lại tựa để trở thành một bài sám văn.

270. SÁM TỪ BI
(Sách tấn tu tập 15)


Huỳnh Liên
Người khôn có đủ đức tài,
Hằng tìm lợi ích tương lai cho mình.
Dọn lòng an tịnh thanh bình,
Tiến vào Cực lạc vô sinh Niết bàn.
Giữ lòng chánh trực đoan trang,
Nhu hòa lương thiện chẳng màng phô trương.
Thanh bần an phận thủ thường,
Không cam thế sự vấn vương cõi lòng.
Lục căn chế ngự nghiêm phòng,
Không cho liều lĩnh luyến mong dục trần.
Không làm nhơ bẩn tinh thần,
Tránh lời chê trách Thánh nhân phê bình.
Mong cầu tất cả chúng sanh,
Dồi dào hạnh phúc, hòa bình sinh nhai.
Cầu cho ba giới, bốn loài,
Chúng sanh yếu mạnh, vắn, dài, bình, trung.
Béo, gầy, nhỏ, lớn khôn cùng,
Hữu hình vô tướng muôn trùng gần xa.
Chưa sanh hoặc đã sanh ra,
Thảy đều thọ hưởng hà sa phước lành.
Nguyện không lừa gạt dối manh,
Khinh người, miệt chúng hư danh trang hiền.
Dầu cho thân thuộc xóm giềng,
Người dưng kẻ lạ các miền xa xăm.
Trong cơn phẫn nộ giận thầm,
Cũng không lo nghĩ mưu thâm hại người.
Như lòng từ mẫu thanh tươi,
Trăm cay nghìn đắng vui cười vì con.
Dẫu cho một mất một còn,
Bảo tồn con trẻ vuông tròn ăn chơi.
Tình thương ghi tạc đời đời,
Từ bi rộng lớn bầu trời thênh thang.
Học đòi từ mẫu gương vàng,
Mở lòng thương xót bủa tràn gần xa.
Chúng sinh trong cõi Ta bà,
Thoát vòng khổ não vượt qua luân hồi.
Hằng ngày rải khắp nơi nơi,
Bốn phương tám hướng gầm trời bao la.
Tấm lòng bác ái vị tha,
Gội nhuần tư tưởng đậm đà tình thương.
Lòng từ trong sạch như gương,
Không pha ác cảm không vương tư thù.
Chí tâm trì niệm công phu,
Khi đi khi đứng chuyên tu tham thiền.
Nằm ngồi mặc niệm thường xuyên,
Sưu tầm đạo quả gieo duyên Niết bàn.
Ðó là phương pháp thế gian,
Ðó là hạnh kiểm đưa đàng vô sanh.
Thánh nhân ca tụng tán thành,
Xuôi dòng thánh vức lữ hành nhập lưu.
Vượt lên đến mức thắng ưu,
Khai thông tuệ nhãn tầm sưu đỉnh đầu.
A Hàm đạo tuệ gươm mầu,
Tuyệt đường tà kiến xả câu dục tình.
Bất lai cảnh giới hữu hình,
Phạm Thiên tạm ngự nghiêm minh Niết bàn.
- - - - - - - - - - - -
- Trích “Kinh Xưng Tụng Tam Bảo” – Ni Trưởng Huỳnh Liên – Thành Hội Phật giáo TP HCM ấn hành, 1987.

271. ÐƯỜNG GIẢI THOÁT
(Sám hồi tâm 9)


Chí Kiên
Ðường giải thoát thênh thang cao đẹp,
Ngát hương thiền tỏa khói lam chiều,
Khách nhàn vui cảnh tịch liêu,
Lòng thanh thoát rũ sạch điều thế duyên.
Ðường giải thoát tầm nghiên đạo lý,
Phá ưu phiền, ganh tỵ, hận thù,
Thế gian danh lợi ngục tù,
Rõ đời giả tạm, kẻ mù xưa nay.
Ðường giải thoát xây đài thiện cảm,
Không hơn thua va chạm giựt giành,
Vị tha bỏ thói cạnh tranh,
Ðời nhiều đau khổ sao đành riêng vui!
Ðường giải thoát không lùi giông tố,
Lái thuyền từ tế độ trầm mê,
Thương người nghiệp chướng nặng nề,
Ra tay cứu vớt đưa về vô sinh.
Ðường giải thoát tâm hồn chân chính,
Không dối lừa bướng bỉnh gạt lường,
Lợi tha hạnh nguyện tình thương,
Thi ân bình đẳng noi gương Thánh Hiền.
Ðường giải thoát bao la như biển,
Tấm lòng trần vĩnh viễn xuất ly,
Học đòi trí tuệ từ bi,
Lời vàng pháp Phật khắc ghi bên lòng.
Ðường giải thoát xa vòng lẩn quẩn,
Bụi trần ai chẳng bận mảy hào,
Bát phong chẳng động chẳng xao,
Chơn như tánh hải làu làu trăng soi.
Ðường giải thoát đâu cần mời gọi,
Ðến với đi từ nội tâm ta,
Sơn hà bạn với cỏ hoa,
Trúc xanh tùng biếc ta đà tháng năm.
Ðường giải thoát đâu tầm giải thoát,
Ðâu mất, còn, thêm, bớt vốn không,
Chúng sanh, tâm, Phật vốn đồng,
Xưa nay ẩn hiện sắc không chơn thường.
Ðường giải thoát con đường tu học,
Vẫn kệ kinh, vẫn nhọc công phu,
Bởi còn ta, vẫn còn ngu,
Trải thân hành đạo xuân thu dần dà.
Ðường giải thoát riêng ta dấn bước,
Mong bao người kẻ trước người sau,
Hãy cùng giác ngộ mau mau,
Chân trời giải thoát ngôi cao Phật đài.
- - - - - - - - - - - -
- Phỏng soạn lại thành sám văn từ bài thơ 8 chữ cùng tên của Ni Trưởng Chí Kiên, Như Chí. Ðăng trong “Ðặc San Hoằng Pháp” số 6. Chùa Ấn Quang ấn hành, 1974.
- Chiêu Ðề soạn thành thể song thất lục bát, chùa Xá Lợi Tp. HCM, 1998.

272. HẠ THỪA BÁT NHÃ
NGỘ ÐẠO QUỐC ÂM
(Văn khuyến tu 17)


Toàn Nhật Thiền Sư
Sinh gặp dòng Bát Nhã,
Thì noi quả Bồ đề.
Học từ bi chẳng dạ sát sinh,
Noi cổ thánh không lòng hại vật.
Xưa tam giáo tâm truyền dĩ thất,
Nay trung dung – nhứt quán hãy còn.
Trước Ðường, Nghiêu chẳng dụng đến con,
Sau hậu học nài chi câu vô hậu. (1)
Ấy là đời Cổ Tẩu, (2)
Mới sinh đặng một con,
Sau Bắc Ngụy Tào Man, (3)
Sinh ra con bất tiếu.
Mấy ai cho đặng hiếu,
Mà trả thảo mẹ cha.
Chi cho bằng niệm chữ Di Ðà,
Sau cũng đặng siêu sanh Tịnh Ðộ.
Sao chẳng nhớ chữ “tam niên nhủ bộ”,
Ðành quên câu“thập nguyệt hoài thai”.
Lập xung thiên nong nả chí trai,
Chịu tân khổ đền ơn cúc dục.
Ðã có câu “học túc”, (4)
Sao chẳng biết phá ngu.
Hễ là học đặng chữ tu,
Thì mới cứu cửu huyền thất tổ.
Ðạt chí cả đền ngày nhủ bộ,
Làm nên thì trả đặng ơn dày,
Vui Phật môn giữ dạ trì trai,
Thì cũng đặng thoát nơi khổ hải.
Thiên sanh vật, thiên chi sở ái, (5)
Trách đời sao nói “vật dưỡng nhân”,
Nếu vậy thì mãnh hổ ở Lam Sơn,
Thì trời cũng sanh nhơn mà dưỡng vật.
Nói câu sách nửa còn nửa mất,
Chẳng nhớ câu “nhân vật dữ đồng”,
Thánh nhân xưa lập đức hành công, (6)
Tùng thọ nghiệp tam thiên đồ đệ.
Phút tuyệt lương tự Vệ phản Lỗ,
Chính vương hóa mà tác Xuân Thu,
Ðạo vị minh tính mạng công phu, (7)
Giữa đường lại gặp thầy Hạng Thác.(8)
Ðời Thượng cổ nhiều người thông đạt,
Còn mang câu “hữu sở bất tri”,(9)
Xưa nhiều người xuống bút thành thi,
Còn phải học vô vi chi đạo.
Lộ bất hành bất đáo,
Sự bất trác bất tri, (10)
Nay Phật gia khai đạo “vô vi”,
Người bao nỡ tiến nan thối dị.(11)
Tham nữ sắc chẳng nhớ gương Ðắc Kỷ,
Bởi vì nàng bại Trụ hưng Châu,
Sách vẽ dễ nhằm câu,
Nhân tham tài tắc tử.
Ðời Tam quốc có chàng họ Lữ,
Cũng vì câu “dĩ ngã vi thù”, (12)
Phụ tử nãi tương tra, (13)
Bị Ðiêu Thuyền sinh kế hại.
Nhớ tích xưa nhắc lại,
Kim cổ diệc hà nhân?(14)
Sao không học kẻ đăng sơn,
Như ông Hàn Tương Tử,(15)
Ấy là người viễn lự,
Sau mới đặng yên thân.
Ðừng học thói vua Tần,(16)
Mà mang câu thất đức.
Sao cho nhất đức,(17)
Tiên trị nhất tâm,
Phép cổ thánh thị thâm thâm,
Lẽ tiên thiên chân diệu diệu.
Mới biết cơ trời là chí yếu,
Sao chẳng thấy đời Nghiêu,
Phút ban mai cày cuốc cùng nhau,
Buổi chiều lại vắng hiu nội dã.
Sao chẳng nhớ câu chân giả,
Mà học thói Tây phong?
Thi thượng báo tứ ân,
Nãi hạ trừ đồ khổ.
Sao chẳng nghe đồ dỗ,
Sao chẳng biết tỉnh mê,
Thấy thiên thời bất chánh mà ghê,
Xem nhân sự vô tâm mà ngán!
Người văn chương hay đoán,
Sao chẳng luận “khảm ly”,
Vậy mới thật “trí tri”,
Mới gọi rằng “cách vật”.
- - - - - - - - - - -
- Bài này của thiền sư Toàn Nhật, được hiệu in Hiển Nam Ðường cho khắc in vào tháng 9 năm 1919 (Khải Ðịnh thứ tư) do ông Ðặng Quang Diệu đứng ra thực hiện.
- Trích từ “Bát Nhã Ngộ Ðạo Quốc Âm Vãn.” In lại trong “Sử Phật Giáo Ðàng Trong” – Nguyễn Hiền Ðức – NXB Thành Phố Hồ Chí Minh XB, 1994.
1) Vua Nghiêu không truyền ngôi cho con mà cho người hiền tài là Thuấn. Câu “bất hiếu hữu tam”, vô hậu vi đại của Mạnh Tử.
2) Cổ Tẩu là người không hiền mà lại sanh được con hiền là vua Thuấn.
4) Học đủ.
5) Trời sanh vật là cho yêu thương của trời.
6) Là ý nói Khổng Tử có 3000 học trò, sau bỏ Lỗ qua Vệ 10 tháng, vua Vệ không dùng, định đến Trần mới đến đất Khuôn bị tưởng lầm là Dương Hổ nên vây đánh và cắt lương thực 90 ngày. Sau cùng Khổng Tử về Lỗ lúc 68 tuổi, giúp vua sửa sang chính trị và viết sách “Xuân Thu”.
7) Ðạo chưa sáng vì thiên mạng và công phu chưa đủ.
8) Hạng Thác mới 7 tuổi mà làm thầy Khổng Tử. (Lời Cam La)
9) Có chỗ không biết.
10) Ðường không đi thì không đến; việc không làm không biết.
11) Tiến khó thoái dễ.
12) Tôi, anh là thù.
13) Cha con giết nhau.
14) Xưa nay ta là người nào?
15) Là cháu của Hàn Dũ, lìa bỏ công danh theo học đạo tiên với Lữ Ðồng Tân và trở thành một trong tám vị tiên (Bát Tiên).
16) Tức Tần Thủy Hoàng.
17) Một ân đức, một tấm lòng.

273. TRUNG THỪA BÁT NHÃ
NGỘ ÐẠO QUỐC ÂM
(Văn khuyến tu 18)


Toàn Nhật Thiền Sư
Xưa nay sách học đã nhàm,
Trung dung, đại học, học làm nghêu ngao.
Ai mà thông đặng mới cao,
Duy tính duy nhứt cũng đều minh tâm.
Cho thông “nhứt quán” là thần,
Ăn chay niệm Phật lánh trần mà chơi!
Cho hay chay mặn cũng người,
Ðố ai có biết ai ngoài càn khôn?
Biết thì chí quí chí tôn,
Không thì như kẻ lạc hồn biết chi?
Nghĩ ra sự quí lạ kỳ,
Ai mà tỉnh ngộ tức thì mới nên.
Kinh luận đã sẵn một bên,
Giở ra thì thấy nẻo lên Niết bàn.(1) Phật xưa lời dạy rõ ràng,(2)
Thiên ư một điểm ngàn vàng khó mua.
Sự đời chớ khá hơn thua,
Không không có có đắn đo cũng phiền.
Chi bằng vui thú Phật Tiên,
Ðãy cơm bầu nước đôi miền tiêu dao.
Thạch Sùng của biết bao nhiêu,
Cũng chưa hưởng đặng cái giàu ngàn năm.
Thuở xưa Hàn Tín mưu thâm,
Chưa nên mười mặt cơ cầm được đâu?(3)
Tước quyền hưởng được bao lâu,
Ví như áo gấm mặc hầu mấy năm.
Như trăng tỏ đặng bữa rằm,
Khi tròn khi khuyết ai cầm cho đang.
Cuộc đời ai cũng lăng xăng,
Bởi chưa tỏ đặng, vì chưng sắc tài.
Thế gian nhiều kẻ anh tài,
Văn chương đã sẵn, dùi mài thì nên.
Trí tài hai chữ ở trên,
Làm sao cho khỏi xuống đền Diêm quan?
Chi bằng xả khước cái thân,
Ví như dép rách vang danh trên đời.
Trường trai thì đặng thảnh thơi,
Thiên hoàng quải bảng khỏi nơi âm trì.(4)
Muốn cho biết nẻo ẩn vi,(5)
Phải toan tìm kiếm Minh sư mà đầu.
Tương rau cũng chẳng bao lâu,
Cửa thiền đã sẵn ta hầu bước vô.
Bước vô thì thấy cơ đồ,
Tiêu dao khoái lạc sự mô cho bằng.
Cửu huyền thất tổ siêu thăng,
Ðộ tôn bạt tộc, đồng đăng thuở này.
Máy thiên đã sẵn ở đây,
Quí nào cho lại quí này vô song.
Sự tu đã quyết một lòng,
Ðừng tham vào chốn bụi hồng làm chi!
Rõ ràng kinh điển nhất thời,
Tu hành thì biết có khi liễu kỳ.
Dám khuyên già trẻ chớ nghi,
Mình làm mình biết tức thì mới hay.
Nối trao đã đến bên tay,
Ai mà nắm đặng ví tày thần tiên.
Chọn người trí tuệ mới truyền,
Mốc mây vén sạch thanh thiên chói lòa.
Chông gai phải tránh cho xa,
Quyết tìm đại đạo mới là chí trai.
Làm lành há dễ một ai,
Muốn cho trăm họ Phật đài đều lên.
- Bài này của Thiền sư Toàn Nhật, hiệu in Hiển Nam Ðường cho khắc in vào tháng 9 năm 1919 (Khải Ðịnh thứ tư) do ông Ðặng Quang Diệu đứng ra thực hiện.
1) Nguyên bản là: ... nẻo lên thiên đàng.
2) Nguyên bản là: Phật Trời lời dạy ...
3) Từ ý câu thơ “Thạch Sùng bất hưởng thiên niên phú, Hàn Tín không thành thập diện mưu.”
4) Vua Trời treo bảng để khỏi rơi vào âm phủ.
5) Ẩn mình, thu nhỏ, khó thấy.

274. THƯỢNG THỪA BÁT NHÃ
NGỘ ÐẠO QUỐC ÂM
(Văn khuyến tu 19)


Toàn Nhật Thiền Sư
Từ mở mang trời đất đến nay,
Cũng lắm cuộc tang thương canh cải,
Nguyên ba nguyên tuần hoàn dẫn lại,
Hội mười hai cho đủ mới bằng.(1)
Cõi hồng trần còn hãy lăng xăng,
Người lành phải chịu điều cay đắng,
Chữ “Tam” đạt thì công khá gắng,(2)
Muốn lên bờ phải thoát bốn mê.
Học Phật gia, niệm chữ từ bi,
Tu tiên đạo, giữ câu cảm ứng,
Trung thứ nơi Nho làm bằng chứng,
Phật, Thánh, Tiên ba giáo một lòng.
Dọn chông gai đường cả mới thông,
Chịu tân khổ gọi là thượng trí,
Người quân tử phải gìn Tam Quý,(3)
Ðấng anh hùng đừng bỏ cửu tư.(4)
Ðạo tiên thiên lập đỉnh an lô, (5)
Hẳn cũng có trong hư mà thật,
Tánh tùng bá phải in một tiết,
Ai lay dời thì đọa khổ luân.
Dặn với ai quy giới phải tuân,(6)
Một phen khổ muôn đời thong thả,
Nợ tiền khiên bữa này phải trả,
Nợ trả rồi vật ngoại thảnh thơi.
Mặc dù trong trời đất vui chơi,
Năm hồ rộng thần tiên thú lạ,(7)
Muốn nên mình phải bền chí cả,
Công cho dày thì quả mới cao.
Dốc lòng nhớ chín chữ cù lao,(8)
Hành đại đạo dương danh hậu thế,
Ấy vậy mới tứ ân bất phế,(9)
Hễ đạo người giữ lấy nghĩa nhân.
Làm sao cho biết thủy biết sơn,
Như Hàm Cốc cùng ông Tương Tử,(10)
Trong danh lợi thì mình phải xử,
Cuộc phù hoa nhắm mắt cũng cheo leo.
Tần Thủy Hoàng tiếng hãy còn nêu,
Thâu lục quốc, phần thư, khanh sĩ,
Núi Thú Dương, Di–Tề danh để,
Thà một lòng tiết nghĩa mà thôi.
Làm chi cho Tần Ngụy cao ngôi,
Thanh sử tạc muôn đời cho tệ,
Ðâu Yên Sơn ngũ chi đan quế,(11)
Bởi vì chàng cải quá tự tân.
Người ở đời lấy đức mà tu nhân,
Ðừng học thói vua Tần,
Mà mang câu bất nghĩa,
Trắc ẩn chi tâm tuần thiên lý,(12)
Nỡ lòng nào giết vật cho đành.
Người thì úy tử,Vật cũng tham sanh,
Gẫm người vật máu xương không khác,
Thấy sống chẳng thà thấy thác,
Lời thánh xưa sách để rạch ròi,
Xin hiền lương xét lại mà coi,
Sao là phải sao là chẳng phải?
Sách có câu “quá nhi năng cải”,(13)
Tử Lộ xưa nghe lỗi thì mừng,
Vũ Vương làm thiên hạ chi quân,
Còn phải văn thiện ngôn tắc bái.(14)
Nói ra thì tai nghe cũng trái,
Bởi vì nhân sự cách thiên cơ,
Việc thị phi tai phải làm ngơ,
Học Nhan Tử dâng cơm hầu nước.
Ðạo muốn gần tỏ tường sau trước,
Cách chỉ mành nào có xa đâu?
Cõi Nam đà mở rộng cửa lầu,
Ðèn trí tuệ hào quang chói lọi.
Thuyền Bát nhã nghênh ngang bốn cõi,
Nước Ma ha rửa sạch ba lòng,
Rượu Quỳnh Hà mời khách Tây Ðông,
Ngựa không bóng rước người Nam Bắc.
Mới sau lưng xảy bày trước mặt,
Nửa miếng mồi nấu khắp non sông,(15)
Muốn cho thấy đặng “chủ nhân ông”,
Non vô ảnh âu tìm mới hãn.(16)
Trong hang thần đừng cho gián đoạn,
Ðộc Mộc kiều có ả Quỳnh Nương,
Hỏi nơi phàm mua rượu Quỳnh tương,
Ðặng một chén uống thì bất lão.
Việc tu hành phải say mùi đạo,
Nếu ơ hờ quả vị khó trông,
Tiếng đàn thì nghe lóng cho thông,
Chân như thể giai không ngũ uẩn.
Thập tam ma khuyên đừng lập lựng,
Gươm huệ mài trừ nó mới yên,
Giảng cho thông tứ cú Kim Cang,
Thì mới thấy “bản lai diện mục”.
Tuy sắc thân hãy còn ở tục,
Lòng cho riêng mới gọi là thần,
Ai còn mang thói tham sân,
E khó khỏi luân hồi lục đạo.
Họa phước vô môn nhân tự tạo,
Muốn hy hiền phải liễu phàm tâm,(17)
Ðạo Như Lai vô thượng thậm thâm,
Biển cho lặng minh châu mới hiện.
Ngọc cửu khúc gắng công giồi luyện,(18)
Tìm thư hùng hái thuốc non Nam,
Thập nhị thời huyền hộ phải tham,(19)
Thiên giao thái pháp luân thường chuyển.(20)
Rồng trên non, hùm kia xuống biển,(21)
Ðầy ba xe chứa nhẫn vàng ròng, (22)
Làm sao rằng thôi phục thiên phong,(23)
Buông sáu hiệp thu vào lại kín.(24)
Thuốc tam phẩm công phu luyện chín,(25)
Muốn đan thành văn võ phải toan,
Dốc một lòng lên núi Linh Sơn,
Ðóng sáu cửa cho bền then khóa.(26)
Cửu cửu ma thí lòng vàng đá, (27)
Ấy mới rằng biết giả biết chơn,
Thầy Huyền Trang thiệp thủy đăng sơn,(28)
Trải tám mốt Lôi Âm mới đến.
Lòng Bồ đề không dời không đổi,
Tình yêu ma còn gió dục phòng,
Bởi vì trong quy giới chưa xong,
Oan duyên nặng, năm đầy khó dứt.(29)
Ðạo muốn cao phải bồi chí đức,
Ðạo đức toàn quỷ phục thần khâm,
Trời đâu mà có phụ đạo tâm,
Nghiệm kim cổ người lành mắc nạn.
Việc tu hành phải soi cho sáng,
Nếu vô minh ắt chẳng đốc hành,(30)
Tu pháp Phật có chí thì thành,(31)
Người bao nỡ thì cần chung đãi.
Nương pháp thuyền mà qua khổ hải,
Sóng muôn trùng còn đoái làm chi,
Bền một lòng niệm chữ A Di,
Sau cũng đặng thảnh thơi muôn kiếp.
Máy quang âm lướt thôi hôn nhiếp,
Người trăm năm chẳng khác chiêm bao,
Cõi bờ này sóng bủa lao xao,
Các danh lợi gẫm như bọt nước.
Ðọc kinh sách chẳng như người đời trước,
Ông Thạch Sùng giàu có muôn xe,
Qua đời này tiếng hãy còn nghe,
Chưa thấy mặt trường sanh thọ hưởng
Hàn Tín là người mưu thần chi tướng
Cũng chưa nên mười mặt cho đáng.
Người ở đời lấy đó mà răn,
Kim như thị, cổ hà như thị,
Xử thế phải biết liêm biết sỉ,
Tu thân thì vô lự, vô tư.
Yên một lòng mao ốc thảo lư, (32)
Ðừng học thói triêu Tần mộ Sở,(33)
Ðường hoàng đạo trời đà rộng mở,
Khách Tây du sớm hãy quay đầu.
Kiếp diên khương sáu vạn dư thu,(34)
Vâng thiên mạng khắp truyền y bát,
Sông ái hà khuyên người kíp thoát,
Khỏi lưới trần Cực lạc cũng xinh..
Chốn Diêm phù nhiều nỗi nhục vinh,
Không lại có, sang hèn dời đổi,
Thú thanh tao, màu thiền quen dõi,
Ðất Bồ đề sớm tối xênh xang.
Chữ danh lợi sao bằng chữ nhàn,
Cửa Bát Nhã vào ra thong thả,
Trống đại hùng đà thu ý mã,
Chuông Linh Sơn hãy tỏa tâm viên.
Ngọc ma ni há dễ khinh truyền,
Kinh bạch tự dám đâu vọng tiết,(35)
Ðịch không lỗ, có duyên mới biết,(36)
Ðàn không dây, vô phước khó nghe.
Rượu đề hồ trữ đãy đầy ve,
Say một tiệc phất tri nhân sự,(37)
Ngâm “chỉ huyền” say cùng đức Lữ,(38)
Ðọc “tỉnh mê” say với ông La.(39)
Vô thùy tháp buồn xem tạo hóa,(40)
Ngó Nam lĩnh vui màu tùng bá,
Nhìn Bắc hà cá lội vẩn vơ,
Chốn đơn phòng bày tỏ huyền cơ,
Mặc dầu kẻ ngộ cùng không ngộ.
Có duyên, trở ba kỳ phổ độ,(41)
Muôn đời còn tử phủ nên danh,(42)
Ba ngàn công quả đặng viên thành,
Ðan thơ chiếu hiển vinh Thiên tước.(43)
Chín phẩm sen vàng soi thấy Phật,
Cửu huyền thất Tổ đặng tiêu diêu.

Thiền Sư Toàn Nhựt
1754-1832


- Bài này được hiệu in Hiển Nam Ðường cho khắc in vào tháng 9 năm 1919 (Khải Ðịnh thứ tư), do ông Ðặng Quang Diệu đứng ra thực hiện.
1) Ba thời kỳ. 12 hội là nói đến 12 chi (Hội Tý sinh ra Trời; Hội Sửu sinh ra Ðất; Hội Dần sinh ra Người...).
2) Nhân, Trí, Dũng đạt.
3) Sợ trời, sợ đại nhân, sợ thánh nhân.
4) Là 9 suy nghĩ: Nghĩ nhìn rõ, nghe nghĩ thông, sắc mặt nhu hòa, dáng vẻ cung kính, lời nói trung tín, phụng sự tôn kính, nghi ngờ phải đả thông, oan ức phải tự xem xét, luôn nghĩ đến việc nghĩa
5) Ðược khẳng định.
6) Tam Quy, Ngũ Giới.
7) Năm hồ: Phiên Dương, Thạch Thảo, Ðoan Dương, Thái Hồ và Ðộng Ðình.
8) Sanh, nuôi, bồng bế, bú mớm, chăm sóc, lo lắng, trông mong, nhớ thương, dạy dỗ.
9) Không bỏ.
10) Chỉ Lão Tử sau khi từ quan nhà Châu cỡi trâu đi qua cửa Hàm Cốc, Hàn Tương Tử tu tiên.
11) 5 cành quế của Ðâu Yên Sơn (lớn tuổi nhưng không con, đi chùa Diên Thọ lượm được 30 lượng vàng, 100 lượng bạc. Sáng hôm sau đem đến chùa trả lại cho người bị mất. Sau sanh được năm người con danh tiếng).
12) Lòng trắc ẩn là thuận theo lẽ trời.
13) Có lỗi thì sửa lỗi.
14) Vua Vũ Vương nhà Hạ khi nghe điều lành liền lạy.
15) Ý nói là trầm hương.
16) Ứng Khâu trả lời câu hỏi của Ðường Ðại Tôn về “cái thấy của quốc sư Huệ Trung”: Nam Sông Tương, Bắc Sông Ðàm, trong có vàng ròng đầy một nước. Dưới sông vô ảnh hội cùng thuyền, trên điện lưu ly không hay biết?
17) Hy vọng thành Thánh Hiền.
18) Ngọc quý ở tỉnh Hà Nam.
19) 12 giờ ngày đêm – Tam huyền của phái Thiền Lâm Tế.
20) Bánh xe pháp luân thường chuyển đâu thì nơi đó trời đất thái hòa.
21) Pháp môn hành thiền: Thanh Long – Bạch Hổ.
22) Thanh văn, Duyên giác, Bồ tát (xe dê, xe hươu, xe trâu).
23) Quẻ dịch Lôi Phục – Thiên Long.
24) Sáu hiệp: Gồm Ðông, Tây, Nam, Bắc và Trên, Dưới.
25) Tam phẩm là thượng, trung, hạ.
26) Bế sáu căn (phép tu thiền).
27) 81 thứ ma cột chặt con người do 10 Kiết Sử tạo ra.
28) Vượt sông leo núi.
29) Năm phiền não: Tham, Sân, Si, Mạn, Nghi.
30) Dạy làm, bảo làm.
31) Nguyên bản là: Ðạo Phật Tiên có chí...
32) Lều cỏ – nhà tranh.
33) Sáng ở đất Tần, chiều về nước Sở.
34) Kiếp diên khương: kiếp sống dài lâu và sung sướng.
35) Kinh bạch tự là tâm truyền của Thiền – vọng tiết là tiết lộ sai.
36) Ống địch, cùng dạng như ống tiêu thổi đứng, không có lỗ.
37) Phất tri nhân sự: không biết việc đời người nữa.
38) 19 bài thơ “chi huyền” của Lữ Ðồng Tân.
39) Ông La Hồng có bài thơ “Tỉnh mê” rất hay, đúng với sự đời.
40) Vô thùy pháp: được hiểu theo nghĩa là một hòn đá tròn, không có tầng cấp. Câu này ra đời nhân Quốc sư Tuệ Trung sắp tịch, Ðường Ðại Tôn hỏi phải xây tháp cho Ngài như thế nào? Tuệ Trung mới bảo: Tháp không tầng cấp.
41) Hội Long Hoa của Di Lặc Phật.
42) Tử Phủ là Phủ Tía (Phủ Ðỏ), là cung điện của Lão Giáo.
43) Ðan thơ là sách trời (sách đỏ), Thiên tước là tước lộc của trời ban.


275. KINH TINH YẾU
BÁT NHÃ BA LA MẬT ÐA (V)


Bồ Tát Quán Tự Tại,
Khi quán chiếu thâm sâu,
Bát Nhã Ba La Mật,
Tức diệu pháp trí độ.
Ngài soi thấy năm uẩn,
Ðều không có tự tánh,
Thực chứng điều ấy xong,
Ngài vượt thoát tất cả,
Mọi khổ đau ách nạn.
- Nghe đây Xá Lợi Tử:
Sắc chẳng khác gì không,
Không chẳng khác gì sắc,
Sắc chính thực là không,
Không chính thực là sắc.
Còn lại bốn uẩn kia,
Cũng đều như vậy cả.
- Xá Lợi Tử nghe đây:
Thể mọi pháp đều không,
Không sanh cũng không diệt,
Không nhơ cũng không sạch,
Không thêm cũng không bớt.
Cho nên trong tánh không,
Không có sắc, thọ, tưởng,
Cũng không có hành, thức.
Không có nhãn, nhỉ, tỷ,
Thiệt, thân, ý – sáu căn.
Không có sắc, thanh, hương,
Vị, xúc, pháp – sáu trần,
Không có mười tám giới,
Từ nhãn đến ý thức,
Không hề có vô minh.
Không có hết vô minh,
Cho đến không lão, tử,
Không khổ, tập, diệt, đạo,
Không trí cũng không đắc.
Vì không có sở đắc,
Nên khi vị Bồ Tát,
Nương diệu pháp Trí Ðộ,
Bát Nhã Ba La Mật,
Thì tâm không chướng ngại.
Nên không có sợ hãi,
Xa lìa mọi mộng tưởng,
Xa lìa mọi điên đảo,
Ðại Niết Bàn tuyệt đối.
- Chư Phật trong ba đời,
Y diệu pháp Trí Ðộ,
Bát Nhã Ba La Mật,
Nên đắc vô thượng giác.
Vậy nên phải biết rằng,
Bát Nhã Ba La Mật,
Là linh chú đại thần,
Là linh chú đại minh,
Là linh chú vô thượng,
Là linh chú tuyệt đỉnh,
Là chân lý bất vọng,
Có năng lực tiêu trừ,
Tất cả mọi khổ nạn.
Cho nên tôi muốn thuyết,
Câu thần chú Trí Ðộ,
Bát Nhã Ba La Mật.
- Nói xong đức Bồ Tát,
Liền đọc thần chú rằng:
Yết đế, yết đế
Ba la yết đế
Ba la tăng yết đế
Bồ đề tát bà ha (3 lần).
- Trích trong “Nghi thức tụng niệm đại toàn” của đạo tràng Mai Thôn xuất bản – Bản in Pháp quốc, 1997.
- Có sửa đổi vài từ cho phù hợp với việc phổ biến tụng niệm phổ thông ở Việt Nam (Người soạn).

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn