Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   
Bài mới nhất

Phần III: Tịnh độ - báo hiếu - cầu an - cầu siêu

10/05/201318:33(Xem: 4044)
Phần III: Tịnh độ - báo hiếu - cầu an - cầu siêu

Tuyển tập các bài sám văn - Tập V: 55 Bài sám văn kết tập

Phần III: Tịnh độ - báo hiếu - cầu an - cầu siêu

Thích Đồng Bổn sưu tập

Nguồn: Thích Đồng Bổn sưu tập

246. SÁM NHỨT TÂM NGHĨA (IV)


Bích Liên Pháp Sư
Một lòng quyết trở về Lạc quốc,
Ðem mình nương đức Phật Di Ðà,
Xin bưng đèn tịnh soi qua,
Nhớ lời từ thệ dắt ta với cùng.
Tôi nay chánh giữ một lòng,
Xưng danh hiệu Phật mà trông một bề.
Thiết tha vì đạo Bồ đề,
Nên chi niệm Phật cầu về Tây phương.
Phật xưa lời thệ rõ ràng,
Rằng như có kẻ thế gian đó mà!
Muốn sanh về cõi nước ta,
Hết lòng tin thiệt hay là ưa vui.
Và trong thập niệm hẳn hòi,
Bằng không sanh đặng ta lui bực hèn.
Bởi vì niệm Phật nhân duyên,
Ðặng vào biển Phật thề nguyền ngày xưa.
Nương nhờ Phật lực sớm trưa,
Ðã tiêu tội chướng lại thừa thiện căn.
Ðến khi gần xả báo thân,
Mình đã dự biết tới chừng nào đi.
Thân không bệnh khổ chút chi,
Lòng không tham tiếc sự gì thế gian.
Ý không điên đảo trớ trang,
Như vào thiền định an nhàn thảnh thơi.
Phật cùng Bồ Tát các ngài,
Tay bưng một tọa kim đài rước ta.
Chừng trong một thí đâu xa,
Sanh về Cực lạc nở tòa bông sen.
Nở rồi thấy Phật dạy khuyên,
Phật thừa Phật huệ nghe liền mở ra.
Chúng sanh mấy lớp độ qua,
Bồ đề mấy nguyện cũng là đầy luôn.
--------------
— Trích từ “Phật hóa gia đình”, nguyên tác diễn ca của Hòa Thượng Bích Liên soạn, Hòa Thượng Khánh Anh sao lại. Nhà in Sao Mai ấn hành, Sài Gòn, 1951. Thư viện Phật học Xá Lợi tàng bản.

247. SÁM NHỨT TÂM NGHĨA (V)


Khánh Anh Pháp Sư
Thành tâm lạy Phật Di Ðà,
Ở bên Cực lạc chứng qua cõi này.
Hào quang xin chiếu đến đây,
Ðức Từ nhìn nhận con nay niệm ngài.
Xưng danh của đức Như Lai,
Cốt vị đạo Phật để mai mốt về.
Phật xưa vẫn có lời thề,
Chúng sanh nào muốn sanh về nước ta.
Chăm lòng tin nguyện thiết tha,
Ít thì mười niệm nếu mà chẳng sanh.
Thì ta chẳng lấy Phật danh,
Bởi duyên cớ đó nên đành niệm đây.
Như Lai biển nguyện rộng thay,
Bè từ Phật độ con nay đặng vào.
Tội mòn như “nước đá” thau,(1)
Căn lành lớn tựa núi cao rừng già.
Mai sau trăm tuổi sắp đà,
Ðến cho biết trước năm ba ngày giờ.
Thân không đau khổ ngất ngơ,
Lòng không tham tiếc ngây khờ đảo điên.
Lâm chung như lúc vào thiền,
Phật cùng Thánh chúng, kim liên đài vàng.
Ðem qua để rước con sang,
Chỉ trong một niệm cõi vàng vãng sanh.
Trên hoa thấy Phật nghe kinh,
Phật thừa Phật huệ đều rành suốt thông.
Chúng sanh mấy, độ cũng xong,
Bồ đề mãn nguyện mỗi lòng đều phu. (2)
Nguyện về Tịnh độ Tây cù, (3)
Sen phô chín phẩm hoa bù đôi thân. (4)
Nở hoa thấy Phật chứng chân,
Bạn hiền Bồ Tát quả thân Bồ Ðề.
--------------
— Trích từ “Phật hóa gia đình” do Hòa Thượng Khánh Anh biên soạn, Nhà in Sao Mai ấn hành, Sài Gòn, 1951. Thư viện Phật học Xá Lợi tàng bản.

248. SÁM THẬP PHƯƠNG NGHĨA (IV)


Bích Liên Pháp Sư
Mười phương cả Phật ba đời,
Di Ðà thứ nhứt tột vời quang minh.
Phân làm chín phẩm độ sanh,
Oai thần đức thánh minh minh khôn cùng.
Tôi nay rộng phát một lòng,
Qui y sám hối ba vòng nghiệp khiên.
Hễ phàm có mấy phước duyên,
Hết lòng hồi hướng mà chuyên làm lành.
Nguyện người niệm Phật với mình,
Lúc nào cảm ứng quang minh cho tường.
Lâm chung nguyện cảnh Tây phương,
Hiện ra trước mặt rõ ràng chẳng sai.
Kiến văn tinh tiến cả hai,
Ðồng về cõi Phật trong đài Liên hoa.
Thấy Phật sanh tử liễu qua,
Như Phật độ hết những là chúng sanh.
--------------
— Nguyên tác của Hòa Thượng Bích Liên, do Hòa Thượng Khánh Anh sao lục trong “Phật hóa gia đình”, Sao Mai ấn hành 1951. Thư viện Phật học Xá Lợi tàng bản.
Bài chỉ thấy chép có như thế, không biết có mất đoạn cuối chăng? Nếu theo chánh văn thì còn bốn câu nữa của Tứ hoằng thệ nguyện.

249. SÁM THẬP PHƯƠNG NGHĨA (V)


Khánh Anh Pháp Sư
Cả ba đời cùng mười phương Phật,
A Di Ðà bậc nhất vì duyên,
Uy thần phước đức vô biên,
Dựng đài cửu phẩm độ miền cầu sanh.
Con chí thành nghiêng mình sám hối,
Ý khẩu thân hết tội ngu hèn,
Có bao phước quả thiện căn,
Hướng về Tịnh độ hay rằng tịnh bang.
Nguyện đồng đàn những trang niệm Phật.
Cảm ứng theo hiện thật chứng cho,
Thân sắp mãn, cõi Phật phò,
Thấy nghe tiến tới, nức nô sanh về.
Trông Bồ đề thoát bề sanh tử,
Như Phật đà độ thảy vong, tồn,
Lắm phiền não, nhiều pháp môn,
Bao phiền cũng đoạn mấy tôn cũng trì.
Với điều ni loài chi cũng độ,
Và đều thành Phật hộ “Tứ hoằng”,
Cõi không tội nguyện không ngằn,
Tình với không tình đều thành giống trí.
-------------
— Trích trong “Phật hóa gia đình” của Hòa Thượng Khánh Anh soạn, Nhà in Sao Mai ấn hành, Sài Gòn, 1951. Thư viện Xá Lợi tàng bản.
— Người soạn có sửa lại câu cuối cho hợp số chữ song thất lục bát.

250. SÁM PHÁT NGUYỆN NIỆM PHẬT
(Sám tán Di Ðà 7)


Một lòng niệm Phật Di Ðà,
Cầu sanh Cực lạc liên tòa Tây phương.
Hôm nay quì trước điện đường,
Chúng con phát nguyện cúng dường Thích Ca.
Xin ngài thương xót Ta bà,
Chỉ đường sanh tử thoát ra luân hồi.
Chúng sanh chìm đắm khổ ôi!
Trầm luân nhiều kiếp nổi trôi cõi trần.
Ðức ngài giác ngộ hiền nhân,
Tìm phương giải thoát xả thân tu hành.
Ðến ngày đạo quả viên thành,
Ngài bèn tự thuyết hồng danh kinh này.
Dạy người hồi hướng phương Tây,
Cầu về Cực lạc nơi đây an lành.
Mỗi người phát nguyện vãng sanh,
Cầu lo niệm Phật xưng danh Di Ðà.
Chuyên tâm phát nguyện thiết tha,
Trí hạnh viên mãn đặng qua lạc thành.
Tin chắc niệm Phật vãng sanh,
Ai tu cũng đặng đừng sanh nghi ngờ.
Nguyện không xao lãng chần chờ,
Lập hạnh tinh tấn ngày giờ tiến tu.
Tứ thời niệm Phật công phu,
Cầu về Cực lạc ngàn thu độ đời.
Nguyện cho khắp cả mọi nơi,
Ðồng lo niệm Phật chiều mơi chuyên cần.
Hiện tiền đền đáp bốn ân,
Phước huệ đầy đủ mãn phần vãng sanh.
Cần lo niệm Phật chí thành,
Ngày đêm sáu chữ hồng danh Di Ðà
Khắp trong thế giới Ta bà,
Nhớ lời di chúc Thích Ca dạy truyền.
Bao phen cặn kẽ bảo khuyên,
Chúng sanh niệm Phật kết duyên Di Ðà.
Nguyện qua khỏi chốn ái hà,
Cầu sanh chín phẩm Liên hoa sen vàng.
Di Ðà Phật phóng hào quang,
Rước người niệm Phật Lạc bang mau về.
Niệm Phật viên mãn Bồ đề,
Bổn sư dạy bảo cầu về cõi thanh.
Niệm Phật chắc đặng vãng sanh,
Nhiếp tâm niệm rõ hồng danh Di Ðà.
Tháng ngày lần lữa trôi qua,
Tư lương góp đủ chắc là thành công.
Tín hạnh nguyện gắng vun trồng,
Công viên quả mãn thảy đồng về Tây.
Lâm chung cảnh Phật hiện bày,
Di Ðà, Thánh chúng đông vầy rước lên.
Quan Âm, Thế Chí nêu tên,
Tràng phan bảo cái cung nghênh nhạc trời.
Có mùi hương lạ trong đời,
Bay quanh lúc ấy khiến người phát tâm.
Cùng nhau niệm Phật đồng âm,
Tới phiên Thánh cảnh lai lâm tiếp mình.
Thập phương bá tánh hãy tin,
Gắng công niệm Phật tánh linh tỏ bày.
Di Ðà Phật hiện sen khai,
Pháp môn cứu cánh không hai ở đời.
Vậy xin nhắn nhủ mọi người,
Vãng sanh quyết đặng không dời không sai.
Hãy cùng niệm hiệu Như Lai,
Tây phương Cực lạc liên đài kết hoa.
Nam mô đức Phật Di Ðà.
--------------
— Trích và soạn lại từ bài sám cùng tên trong “Pháp môn niệm Phật.” Chùa Niệm Phật ấn hành, Bình Dương, 1970
— Soạn bổ sung 21 câu – Xá Lợi, 1997

251. ÐƯỜNG VỀ CỰC LẠC
(Sám tán Di Ðà 8)


Chí Kiên
Một hôm đức Phật mỉm cười,
Xá Lợi trưởng lão vui tươi cúi đầu.
Bạch Phật duyên cớ do đâu,
Miệng vàng hé nụ bấy lâu chưa từng.
Phật rằng: Bể khổ trầm luân,
Hận thù, ân ái, muôn phần hiểm nguy.
Muốn tìm lối thoát kịp thì,
A Di Ðà Phật chuyên trì niệm danh.
Tây phương Cực lạc sẵn dành,
Vàng ròng lót đất, tường thành ngọc châu.
Nguy nga cung điện gác lầu,
Lưới giăng bảy lớp, cây đâu bảy hàng.
Ðiểm tô bảy lớp lan can,
San hô hổ phách rỡ ràng thềm ao.
Nước trong mát mẻ ngọt ngào,
Ðủ tám công đức uống vào vui tươi.
Sống lâu kiếp kiếp đời đời,
Không già không chết thảnh thơi vô cùng.
Hoa sen mọc khắp ao trung,
Xanh vàng đỏ trắng hòa dung sáng ngời.
Cây khua điệu nhạc tuyệt vời,
Chim kêu lảnh lót diễn lời pháp âm.
Ở đây chẳng có thú cầm,
Chim linh do Phật âm thầm hóa ra.
Hỡi ai muốn thoát Ta bà,
Hãy mau niệm Phật Di Ðà hôm mai.
Một ngày cho đến bảy ngày,
Niệm theo hơi thở một hai rõ rành.
Ngăn ngừa tạp niệm lấn ranh,
Ðừng cho phiền não lộng hành cướp ngôi.
Nhứt tâm bất loạn được rồi,
Pháp vương ngự trị bầy tôi phục tùng.
Thân sơ ân oán hòa dung,
Không hơn không kém không cùng không riêng.
Lâm chung Tịnh độ hiện tiền,
A Di Ðà Phật diệu huyền phóng quang.
Rợp trời bảo cái tràng phan,
Quan Âm, Thế Chí đài vàng tay bưng.
Nhạc trời hòa tấu tưng bừng,
Rước hồn hành giả băng chừng phương Tây.
Trần lao rũ sạch từ đây,
Sen vàng thác chất đủ đầy thắng duyên.
Hoa nở thấy Phật hiện tiền,
Vô sanh pháp nhẫn chứng liền quả cao.
Hào quang rực rỡ làu làu,
Sống lâu mãi mãi tiêu dao thọ trường.
Từ bi thể hiện tình thương,
Ta bà trở lại hiển dương đạo mầu.
Ðộ người vượt khỏi vực sâu,
Lên đường giải thoát hận sầu còn đâu.
Muôn duyên một niệm gồm thâu,
Vô sư trí hiện làu làu tinh anh.
Sen vàng chín phẩm nêu danh,
Bất thoái Bồ Tát tịnh thanh đắc thành.
Giác tha tự giác thực hành,
Giác hạnh viên mãn vô sanh đời đời.
--------------
— Bài do Ni Trưởng Thích Nữ Chí Kiên–Như Chí trước tác, đăng trong Ðặc San Hoằng Pháp số 3. Chùa Ấn Quang ấn hành, Sài Gòn, 1973

252. SÁM BỒ ÐỀ HỒI HƯỚNG CỰC LẠC
(Sám tán Di Ðà 9)


A Di Ðà Phật Bồ Ðề,
Xưa kia sẵn có lời thề độ sanh.
Vậy đem nguyện lực thi hành,
Mở ra một cảnh quang minh thần kỳ.
Gọi rằng Cực lạc phương Tây,
Có thành bảy lớp có cây bảy hàng.
Thênh thang gác ngọc lầu vàng,
Có thềm bá bảo có đăng thất trần.
Lưu ly có đất sáng ngần,
Ma Ni có nước trong tần chảy quanh.
Nhạc trời có vọng thanh thanh,
Hoa trời có vẻ xanh xanh rưới hoài.
Có chim nói pháp hôm mai,
Có ao bát đức có đài cửu liên.
Trang nghiêm vô lượng vô biên,
Kể sao cho xiết cái mười an vui.
Cảnh kia đẹp mắt đã rồi,
Ở trong lại có các ngôi Thánh Hiền.
Quán Âm Thế Chí hiện tiền,
Cũng lòng mẫn thế cũng duyên độ đời.
Cùng nhau chung ở một nơi,
Theo hầu bảo ngự chẳng rời hai bên.
Di Ðà đức Phật ngôi trên,
Khiến hai Bồ Tát giúp nên duyên lành.
Quan Âm có nguyện tâm thành,
Nghe ai thống khổ thương tình cứu ngay.
Cứu người có pháp rất hay,
Nước Cam lồ chữa bệnh nay hết liền.
Oai linh trông thấy nhãn tiền,
Xưa kia thường trụ ở miền biển Nam.
Từ bi mở lượng hải hàm,
Xót thương nhân thế mà cam giúp đời.
Kìa như đại lực chót vời,
Là ngài Thế Chí dạo chơi cõi này.
Một nhành sen trắng cầm tay,
Bước chân thế giới lung lay ba ngàn.
Trên đầu có mão kim quang,
Trong mình như vẽ rõ ràng thiên y.
Ai mà phát nguyện Tây qui,
Thì ngài tiếp dẫn rước ngay đem về.
May thay trong cõi Bồ đề,
Chúng sanh muốn thoát sông mê khó gì.
Lại thêm trên hội Liên trì,
Số người thượng thiện hiếm chi hằng hà.
Cho hay cõi Phật Di Ðà,
Phong quang khác hẳn Ta bà cõi đây.
Thiệt là một cảnh diệu kỳ,
Thiên đường có chút nào bì đặng đâu.
Thơm tho trong sạch một mầu,
Sự vui thì có sự rầu thì không.
Sống lâu kiếp kiếp vô cùng,
Không già không chết không vòng khổ luân.
Cởi xong hết thảy nợ nần,
Ðâu còn có nhiễm bụi trần chút chi.
Vốn không địa ngục A Tỳ,
Không đường ác đạo có gì trầm luân.
Biết bao nhờ cậy oai thần,
Ðánh tan muôn đạo ma quân rã rời.
Vậy nên vô số ngôi trời,
Cũng mong theo Phật đặng chơi liên trì.
Riêng mừng cho bữa hôm nay,
Chúng con được biết đường đi nẻo về.
--------------
— Trích soạn theo “Văn khố Từ Bi Âm”, Hội Nam Kỳ nghiên cứu Phật Học, Chùa Linh Sơn ấn hành, Sài Gòn, 1936

253. SÁM VĂN CẦU PHÚC THỌ
(Sám tán cầu an 6)


Kính nghe thân mệnh an vui,
Ý nguyện lòng người ước vọng,
Nếu được tâm thần hoan hỷ,
Cầu mong cuộc sống thanh bình.
Chúng con một niệm kính thành,
Ngưỡng niệm mười phương cảm ứng.
Nay trước Phật đài kính lễ,
Lòng thành sám hối cầu xin.
Hương dâng một nén tâm linh,
Nguyện cầu tăng long phúc tuệ,
Chúng con sinh nơi trần thế,
Nghiệp mang ở cõi Ta bà.
Mẹ cha công dưỡng tày trời,
Ðất nước ơn sâu tựa bể,
Ðời này nhân tốt ít trồng,
Kiếp thác duyên lành hạn chế.
Cứ mãi vòng quanh cõi thế,
Hay đâu tội phúc không lường,
Nay con tới trước Phật đường,
Lễ cầu mười phương sám hối.
Ðệ tử xiết bao lầm lỗi,
Nguyện mong được rửa sạch làu,
Thành tâm tha thiết khẩn cầu,
Gia trì hướng về đường thiện.
Giập đầu dốc lòng phát nguyện,
Ngưỡng mong chư Phật chứng minh,
Vô lượng thường trụ Tam Bảo,
Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni.
Dược Sư Lưu Ly Giáo Chủ,
Ðại Bi Bồ Tát Quán Âm,
Tổ sư Tây Thiên Ðông độ,
Hết thảy Hộ pháp Thiện thần.
Cùng với chư thiên Bồ Tát,
Kính nguyện mười phương chư Phật.
Chư đại Bồ Tát Thánh Tăng,
Các ngài đức độ cao dày.
Thể hiện lòng thương rộng lớn,
Cúi xin dang tay cứu vớt,
Chúng con ra khỏi si mê,
Từ đây thắp lên đuốc tuệ.
Phá trừ phiền não chướng duyên,
Nương đức từ bi độ thế,
Phúc lành tự lợi lợi tha,
Hạnh nguyện Bồ Tát độ sinh.
Thọ mệnh trường sinh vui khỏe,
Quyết tâm hướng về chính nghĩa,
Học đòi mở rộng từ tâm,
Việc lành nhân tốt gieo mầm.
Giáo pháp điều hay học hỏi,
Hiện đời phúc thọ tăng long,
Hạnh phúc vinh quang tươi đẹp,
Tinh tấn học cầu nếp thiện.
Văn minh cuộc sống mạnh lành,
Xa rời thói cũ quẩn quanh,
Buộc ràng đã từ bao kiếp,
Con nay chí thành phát nguyện.
Bốn ơn ba cõi báo đền,
Chín phẩm vãng sinh quyết định,
Nguyện cầu thế giới hòa bình,
Pháp giới chúng sanh an lạc.
Nam Mô Tăng Phúc Thọ Bồ Tát Ma Ha Tát
--------------
— Trích soạn lại theo “Sớ cầu Phúc Thọ miền Bắc.” Ðồng Bổn soạn thành sám văn 6 chữ, chùa Xá Lợi, Tp. HCM, 1998

254. SÁM CẦU TU
(Sách tấn tu tập 13)


Nguyện cầu tu tập hạnh lành,
Phụng vì cha mẹ sinh thành báo ân.
Cùng vì khắp hết hiền nhân,
Ân sâu nghĩa nặng trọn phần khắc ghi.
Theo Phật giáo hóa từ bi,
Học pháp dẫn thế cứu nguy Ta bà.
Tĩnh tâm niệm Phật Di Ðà,
Tìm cầu giải thoát, lánh xa trược phiền.
Cầu tu giới định sống hiền,
Thực hành pháp Phật, tâm thiền tịnh suy.
Rõ chánh lý, thoát mê li,
Trí huệ dũng cảm, từ bi độ đời.
Lục hòa thấu ý đạt lời,
Cứu khổ, độ thoát, dẫn ngời làu thông.
Nguyện cùng đạt trí dốc lòng,
Khắp cùng bốn biển chung đồng hướng tu.
Rốt ráo dứt phá mê ngu,
Tìm cầu tịnh lạc, quả tu định, thiền.
Thực hành sáu pháp an nhiên:
Bố thí tài, pháp. Nhân, hiền phát tâm.
Giữ giới tránh xa mê lầm,
Không buông tâm ý tham tranh đua đòi.
Nhẫn nhục – cầu với người người,
Diệt tâm sân oán thôi gây họa, phiền.
Tinh tấn – dũng mãnh cần chuyên,
Xây đời cảnh Phật nhãn tiền rõ trông.
Thiền định – cầu đạt tâm không,
Trí huệ Bát nhã – dung thông khắp cùng.
Ðại bi, đại trí, đại hùng,
Tánh Phật khai mở rộng lòng vị tha.
Nương chánh đạo phá gian tà,
Thoát mê liễu ngộ Di Ðà pháp vương.
Chí thành tâm nguyện: an nương,
Hiện tiền cảnh Phật – thường hằng tịnh tu.
Nam Mô Pháp Giới Tàng Thân A Di Ðà Phật (3 lần).
--------------
— Bài sám nguyện do cư sĩ Nghiêm Thức soạn, trong nghi “Khóa Lễ Phật” cảo bản, Tp. HCM, 1994 - PL. 2538

255. SÁM VĂN CẦU SIÊU CHO CHA
(Sám báo hiếu 14)


Tử sanh giã biệt tình thâm,
Làm sao gặp đặng kiếm tầm thấy cha?
Ruột đau từ đoạn thiết tha,
Con thơ còn dại, cha đà bỏ đi!
Cháu con sầu thảm biệt ly,
Nhìn quanh đâu thấy dung nghi cha mình!
Than ôi phụ tử thâm tình,
Chừng nào gặp lại bóng hình của cha?
Nhớ thương đau xót thiết tha,
Cơm dâng ba bát xin cha chứng lòng.
Tưởng rằng hiếu thảo nối dòng,
Một nhà sum hợp phụng rồng vui chơi.
Ngờ đâu cha lại qua đời,
Bỏ con côi quạnh ở nơi dương trần.
Chẳng còn gặp lại phụ thân,
Ðể con phụng dưỡng báp ân sanh thành.
Công lao dạy dỗ học hành,
Trông cho con đặng nên danh với đời.
Bé thơ thương mến chẳng rời,
Chưa nên khôn lớn cha thời bỏ con!
Nhớ cha tấc dạ mỏi mòn,
Ân sâu chưa trả khiến con đau lòng.
Hồi nào chăm sóc bế bồng,
Bây giờ cha đã ra đồng cỏ xanh!
Nuôi con mong được trưởng thành
Mà con chưa báo công sanh một ngày!
Nhắc thôi lệ rớt ngắn dài,
Nhớ thương từ phụ biết ngày nào quên.
Công ơn chưa trả chưa đền,
Mà nay cha đã sớm trên mây ngàn.
Lòng con thương nhớ thở than,
Nguyện cầu siêu độ chay đàn tụng kinh.
Ngưỡng cầu Phật Tổ chứng minh,
Ðộ vong thân phụ vãng sinh Liên trì.
Cầu xin đức Phật A Di,
Ðộ hồn giải thoát đồng qui lạc thành.
Về nơi Tịnh độ tu hành,
Hoa sen cửu phẩm nêu danh liên đài.
Quan Âm Thế Chí các ngài,
Tiếp vong dẫn lối đến ngay sen vàng.
Nam mô Tịnh độ lạc bang,
Ðộ vong hồn đặng Tây phang mau về.
Nam Mô Siêu Lạc Ðộ Bồ Tát Ma Ha Tát
--------------
— Bài được soạn từ bài sám cùng tên, trích trong “Pháp Môn Tu Tịnh Ðộ.” Chùa Ðại Giác ấn hành, Sài Gòn, 1974.

256. SÁM CẦU SIÊU CÚNG THẤT
(Cảnh tỉnh vô thường 9)


Ðường sanh tử, nối dài quá ngán,
Cõi hồng trần, tụ tán mấy hồi,
Một đời mau lẹ ai ôi!
Thân người tuy có, có rồi hoàn không!
Mấy bữa trước: ước mong lắm việc,
Ngày hôm nay, tử biệt gia đình,
Cùng là lối xóm bạn mình,
Bỏ nhà xuống đất thân hình còn đâu!
Nhớ những lúc tình sầu man mác,
Nghĩ đến hồi lên gác xuống lầu,
Bây giờ để thảm để sầu,
Cho người quyến thuộc buồn rầu khóc than.
Ra đến chỗ đồng hoang cỏ lạnh,
Với nấm mồ hiu quạnh từ đây,
Nhớ hồi sum hiệp vui vầy,
Bây giờ vĩnh biệt mặt mày thấy đâu.
Nhớ mấy lúc, canh thâu phất phưởng,
Nghĩ đến hồi vào trướng ra màn,
Bây giờ xa cách xóm làng,
Thân bằng quyến thuộc họ hàng biệt tăm.
Nhớ từ thuở ngồi nằm sớm tối,
Nghĩ mấy hồi trao đổi tình nhân,
Bây giờ xa cách chẳng gần,
Nỡ đành ra ở mộ phần đồng sâu.
Ba bảy thất, ưu sầu buồn bã,
Mãn hai năm, mồ mả quạnh hiu,
Dù cho tiền của có nhiều,
Cũng không mua chuộc người yêu sống hoài.
Ðã nhiều kiếp trần ai lao khổ,
Ðã bao lần quá khổ cực thân,
Từ đây đã dứt nợ nần,
Nương về với Phật cảnh trần lánh xa.
Ðừng mến tiếc Ta bà uế trược,
Về Tây phương mới được an thân,
Di Ðà, Bồ Tát được gần,
Dạy hồn phương pháp hóa thân độ đời.
Nơi cảnh Phật đời đời chẳng có,
Ở trần ai mưa gió không chừng,
Tử sanh tiếp nối chẳng ngừng,
Vô thường chi phối không ngừng ai ơi!
Nơi biểân ái lội bơi cũng ngán,
Giữa sông mê phải rán lướt qua,
Quyết lên cho khỏi bờ ma,
Về nơi an dưỡng mới là tiêu diêu.
Ao thất bảo có nhiều của báu,
Ngọc xà cừ mã não bao quanh,
Kim ngân xây bảy lớp thành,
Bảy hàng cây báu, bảy vành lưới châu.
Nào ngân các với kim lầu,
Có chim nói pháp nhiệm mầu dễ nghe.
Nghe rồi tỏ đạo Bồ đề,
Bao nhiêu nghiệp chướng tâm mê giác liền.
Hồn về Cực lạc ở yên,
Ðến sau trở lại hóa duyên Ta bà.
Nam Mô Từ Phụ Thích Ca,
Ðộ hồn thoát khổ thẳng qua Liên trì.
Niệm rành sáu chữ A Di,
Nhứt tâm niệm Phật tham si hết liền.
Nguyện sanh về cửu phẩm liên,
Ở nơi Cực lạc vô biên thanh nhàn.
Nam Mô Tịnh Ðộ Lạc Bang,
Ðộ vong hồn đặng Tây phương mau về.
--------------
— Trích trong “Kinh Nhật Tụng,” chùa Ðại Giác ấn hành, Sài Gòn, 1974.
— Ðây là bài cải biên từ bài sám Tống táng, số 51, tập I. Văn phong có nhiều nét mới, dễ đọc và tiện dụng hơn, nên đưa vào để tùy độc giả lựa chọn mà tụng.

257. SÁM KỲ SIÊU
(Sám tán cầu siêu 18)


Trên đài Phật chiên đàn tỏa ngút,
Dưới chúng con cảm xúc từ đây,
Hào quang năm sắc phủ vây,
Từ bi tế độ, độ ngay linh hồn.
Về an dưỡng Từ Tôn giáo hóa,
Cõi hồng trần như lá trên cây,
Ðường sanh nẻo tử khó thay,
Có không không có mới hay vô thường.
Nạn nước lửa bốn phương tàn khốc,
Họa chiến tranh chết chóc cùng nơi,
Có thân phải khổ trọn đời,
Lại thêm bão lụt đạn rơi thình lình.
Ðời mạt pháp, chúng sanh ít phước,
Kiếp trần ai, vọng ước đủ điều,
Khuyên hồn niệm Phật một chiều,
Nương nhờ đức Phật tội tiêu tức thì.
Trước chánh điện quy y Tam Bảo,
Nghe câu kinh sầu não dứt liền,
Lời thầy giáo hóa ban truyền,
Y lời Phật dạy diệu huyền rất sâu.
Lòng cung kính, cúi đầu gìn giư,
Dạ chí thành, đệ tử quyết tin,
Nguyện hồn kiến tánh tâm minh,
Về nơi Tịnh độ hương linh an nhàn.
Chẳng còn lúc lầm than khổ sở,
Sắc mây lành rực rỡ hào quang,
Quan Âm Thế Chí dẫn đàng,
Ðưa về Cực lạc muôn ngàn thảnh thơi.
Xin nhắc nhở người đời nghe rõ,
Gắng tin lòng mới tỏ nhơn tâm,
Báu mầu thiệt rất uyên thâm,
Ðộ vong hồn đặng thâm tâm nhẹ nhàng.
Ðời sanh tử khóc than đau khổ,
Kiếp luân hồi khứ khứ lai lai,
Thay hình đổi dạng hoài hoài,
Hồn theo chư Phật về đài liên hoa.
Cõi trần thế, thân ta không chắc,
Kiếp phù sinh, tài sắc vọng cầu,
Linh hồn chớ khá lo âu,
Nghe kinh giác ngộ nguyện cầu siêu thăng.
Thỉnh cầu Ðại Ðức Ni Tăng,
Tụng kinh niệm Phật hồn đăng bửu đài.
Quan Âm Ðịa Tạng các ngài,
Di Ðà giáo chủ rước ngay đem về.
Liên đài chín phẩm hầu kề,
Tắm ao bát đức trọn bề vãng sanh.
Nguyện cho hồn đặng an lành,
Mau về Cực lạc đến thành Tây phương.
Nam Mô Ðịa Tạng Minh Vương,
Ðộ hồn thoát ngục về đường vãng sanh.
--------------
— Trích soạn từ “Pháp môn tu Tịnh Ðộ”, chùa Niệm Phật Bình Dương ấn hành, Bình Dương, 1970.
— Có sửa lại vài chữ ở câu đầu tiên để tránh nhầm lẫn với bài sám Cầu Siêu I, mã số 29, Tập I đã in.

258. SÁM CẦU SIÊU TỈNH THẾ
(Cảnh tỉnh vô thường 10)


Tử sanh giã biệt cuộc đời,
Huyễn thân trả lại, về nơi mịt mờ.
Sống thời chồng, vợ, con thơ,
Thác thời một nấm bơ vơ ngoài đồng!
Ðâu nào gác tía lầu hồng,
Giờ đây cách biệt núi sông ba đào.
Cái thân là gốc khổ sầu,
Muốn cho khỏi đọa phải mau tu hành.
Ðến khi công quả viên thành,
Mới mong thoát khỏi tử sanh luân hồi.
Cõi đời khổ não lắm ôi,
Khuyên hồn niệm Phật về ngôi sen vàng.
Ở đây biển khổ trần gian,
Sanh già bịnh chết không an chút nào.
Kiếp người là kiếp khổ đau,
Mày xanh mới đó, lẹ mau bạc đầu.
Hôm nay tang quyến khẩn cầu,
Lạy xin chư Phật ân sâu cứu nàn.
Biệt ly đứt ruột bầm gan,
Thân tình quyến thuộc nát tan cõi lòng.
Ngưỡng cầu Phật lực thần thông,
Tây phương tiếp dẫn vong hồn bước sang.
Quan Âm Ðại Sĩ từ hàng,
Lòng bi cứu khổ muôn vàn chúng sanh.
Ðức ngài Ðịa Tạng U Minh,
Xả thân vào chốn ngục hình độ vong.
Ðạo sư Thái Thượng tiên ông,
Luyện trường sanh dược cũng không thọ dài.
Kìa ông Bành Tổ sống đời,
Tám trăm tuổi thọ cũng thời tiễn đưa.
Thích Ca Thái tử thuở xưa,
Nghiệm xem tứ khổ nắng mưa vô thường.
Nửa đêm lén trốn phụ vương,
Lìa con bỏ vợ tìm phương tu hành.
Ẩn nơi tịch mịch non xanh,
Sáu năm khổ hạnh lưu danh muôn đời.
Ta bà giảng đạo khắp nơi,
Bồ đề ngồi gốc làm nơi tham thiền.
Ðến ngày tứ đại mãn duyên,
Cũng theo định luật tịch viên Niết bàn.
Cho hay hoa nở cũng tàn,
Pháo nào kêu lớn lại tan xác nhiều.
Giàu sang sung sướng đủ điều,
Vui đây, khổ đó, ái yêu giả trò.
Cuộc đời như thể bến đò,
Kẻ qua người lại đắn đo khổ sầu.
Chi bằng tìm chốn đạo mầu,
Tu hành giải thoát nguyện cầu lợi tha.
Noi gương Từ phụ Thích Ca,
Dắt dìu nhân loại Ta bà trầm luân.
Ðộ đời bá tánh vạn dân,
Cứu hồn hoạnh tử hóa thân liên trì.
Cầu ngài giáo chủ A Di,
Ðộ hồn nam nữ đồng qui lạc thành.
Ở yên mát mẻ tu hành,
Xa lìa hầm lửa vô sanh đời đời.
Phá tan địa ngục khắp nơi,
Kíp nghe kinh kệ chiều mơi an nhàn.
Thành tâm nương chốn đạo tràng,
Chuông khuya mõ tối độ an vong hồn.
Nam mô cứu khổ Bổn tôn,
Xá tội vong giả ngục môn xa rời.
Hiện thân lễ Phật trọn đời,
Ba đường tám nạn khỏi nơi luân hồi.
Nguyện cho tất cả muôn loài,
Ðồng lên bến Giác liên đài kết hoa.
--------------
Soạn phỏng theo bài sám cùng tên in trong “Pháp môn tu Tịnh Ðộ” trang 347-350, chùa Niệm Phật, Bình Dương, 1974
— Nguyên tác bài cũ đoạn đầu là sự lắp ghép cải biên từ bài Sám tống táng số 51 và đoạn cuối là sự trùng lặp từ các bài nguyện Tịnh Ðộ. Không đủ giá trị để phổ biến, nên phải soạn rút lại cho có chất lượng.
— Người soạn lại: Chiêu Ðề, tháng 8/1997.

259. BÀI TỐNG CHUNG (*)
(Cảnh tỉnh vô thường 11)


Thái Không Pháp Sư
Nhớ lời Phật Tổ dạy rằng,
Ðời người chớp nhoáng như lằn điển quang.
Thân người giả hợp rồi tan,
Lao xao bọt nước mơ màng chiêm bao.
Nặng mang những nghiệp trần lao,
Loanh quanh ba cõi lao xao sáu đường.
Ðã sanh vào cõi vô thường,
Nào ai tránh khỏi con đường tử sanh.
Bầu trời lồng lộng xanh xanh,
Xây mưa, trở nắng tan tành gió mây.
Mênh mông đất nước nặng dày,
Cồn dâu, bể thẳm lưng đầy chiều mai.
Kể từ vô thỉ dĩ lai,
Ðến đời mạt pháp là ngày hôm nay.
Biết bao tan xác rã thây,
Biết bao những nấm mả lài mồ hoang.
Phật xưa trượng sáu mình vàng,
Mãn duyên còn phải Niết bàn hóa thân.
Tiên gia như Lý Ðạo Quân,
Ðến ngày vỏ hóa, hình thần cũng tan.
Tam hoàng Ngũ đế Thánh nhân,
Nào ai giữ được xác thân đời đời.
Hạng Vương khuấy nước chọc trời,
Tám ngàn tử đệ còn người nào đâu?
Thủy Hoàng bạo ngược tóm thâu,
Tràng thành giữ được bao lâu vững bền.
Trọng Ni thất thập nhị hiền,
Tam thiên đồ đệ hiện tiền còn ai?
Tám trăm tuổi số thật dài,
Mà nay Bành Tổ mặt mày là đâu?
Băm hai tuổi trẻ xanh đầu,
Thầy Nhan Uyên có van cầu được thêm.
Lang thang tơi tả áo xiêm,
Tăng Sâm, Yến Tử có bền gì ru!
Giàu như Ỷ Ðốn, Ðào Châu,
Thạch Sùng, Vương Khải há mua vô thường.
Thánh, Tiên, trời, đất giang sơn,
Noãn, thai, thấp hóa sáu đường cũng tan.
Than ôi cuộc thế ngỡ ngàng,
Não nùng chết khổ, lỡ làng sống vui.
Nếu ba hơi thở tắt rồi,
Mưa tuôn cỏ lợp đất vùi nắng phơi.
Nào người hống hách rùm trời,
Xiêm rồng mão phụng chói ngời trên ngai.
Ba ngàn hổ bái kim giai,
Hầu trong mỹ nữ, vệ ngoài trảo nha.
Ngày nay gió táp mưa sa,
Rêu phong mặt đất đốm lòa đầu cây.
Nào người Bắc phạt chinh Tây,
Binh hùng dậy đất gió bay lộng trời.
Thanh gươm mũi sóc sáng ngời,
Máu tuôn thành bể thây phơi chật đồng.
Ngày nay tuyết phủ sương lồng,
Véo von giọng dế, não nùng tiếng quyên.
Nào người thẻ ngọc bài huyền,
Gia phong cửu tích, chưởng quyền tam công.
Tới lui kiệu phụng xe rồng,
Linh đình nghìn tứ, chập chồng muôn chung.
Ngày nay khói tỏa rêu phong,
Sớm soi gương thỏ, chiều dòm bóng ô.
Nào người trướng ngọc giường ngà,
Châu hài nghìn khách, kim thoa mấy hàng.
Ê chề hải vị sơn trân,
Thóc tiền hàng triệu, ngọc vàng dư muôn.
Ngày nay quạnh quẽ bên truông,
Bóng lau âm ỉ tiếng người nỉ non.
Nào người gác tía lầu hồng,
Tay tiên đơm ngọc gót sen rải vàng.
Mái mây rẽ ngút mai trang,
Phấn tô vóc liễu gấm choàng mình mai.
Ngày nay một nhúm mộ lài,
Vỉ lau hiu hắt mấy ai tưởng tình!
Nào người đổ nước nghiêng thành,
Sóng xao biển bạc, gương nhìn non xuân.
Bóng Nga nhẹ tách Quảng Hàn,
Lừ đừ cá ngắm, rập ràng nhạn sa.
Ngày nay biềm sắn giắt gia,
Líu lo chim hót rườm rà cỏ đơm.
Âu sầu nắng sớm mưa hôm,
Nào ai hương khói dưng đơm ít nhiều.
Quạnh hiu hiu quạnh đến điều,
Thê thê thảm thảm chín chiều bâng khuâng.
Xót thay cho lẽ tuần hoàn,
Còn còn mất mất xoay vần như xe.
Gẫm đường sống thác mà ghê,
Sớm sanh chiều diệt ai dè vậy vay!
Hồi nào giao mặt bắt tay,
Ái ân dan díu những ngày bén duyên.
Bây giờ rẽ thúy chia quyên,
Bỗng dưng dương cảnh hoàng tuyền cách xa.
Hồi nào mẹ mẹ cha cha,
Ngày nay một nắm cỏ hoa dãi dầu.
Ôi thôi nghĩa nặng cù lao,
Ơn sâu thăm thẳm trời cao khôn cùng.
Hồi nào cháu cháu ông ông,
Ngày nay phân cách xa trông biệt ngàn.
Chạnh niềm cây cội nước nguồn,
Ðã đành u hiển hai đường lạnh tanh.
Hồi nào như lá liền cành,
Ngày nay cốt nhục tan tành rụng rơi.
Ngẩn ngơ chiếc nhạn bên trời,
Tích linh lịu dịu rã rời bơ vơ!
Hồi nào điểm cúc vây cơ,
Ngày nay nước chảy hửng hờ non cao.
Bâng khuâng mai úa liễu xàu,
Gương treo bóng xế mây rào vườn xuân.
Than ôi cuộc thế xoay vần,
Hợp tan tan hợp mấy lần từ xưa.
Than ôi tạo hóa khéo lừa,
Bày chi cái chết không chừa một ai?
Than ôi giấc mộng muôn đời,
Biết bao nhiêu khách dạ đài say vui.
Hỡi vong ôi! Hỡi hồn ôi!
Bao nhiêu nợ thế trả rồi thế thôi!
Rửa lòng cho sạch trần ai,
Lưỡi câu dục lạc, miếng mồi lợi danh.
Tránh xa cái cửa tử sanh,
Thoát nơi tham ái, khỏi thành sân si.
Bước vào trong cửa từ bi,
Nương theo chơn Phật trở về Liên bang.
Khỏi đường sống chết xây lăn,
Khỏi điều khổ thống khỏi thân tội tình.
Liên bang là nước hóa sanh,
Có ao tám đức có sen bốn màu.
Có cây ngọc có lưới châu,
Có thành thất bảo có lầu thất trân.
Sáu thời thiên nhạc vang rân,
Màu hoa chói rạng mùi hương nực nồng.
Tốt thay thế giới vàng ròng,
Bảy hàng bửu thụ, chín trùng liên hoa.
Ðạo sư là Phật Di Ðà,
Mình vàng rực rỡ chói lòa hào quang.
Hằng ngày thuyết pháp rền vang,
Tiếp người niệm Phật dẫn đàng thiện duyên.
Hồn ôi hồn có linh thiêng,
Phát tâm niệm Phật mà nguyền vãng sanh.
Thành tâm phát một nguyện lành,
Hoa sen vàng đã nêu danh tánh rồi!
Căn lành cội phúc vun bồi,
Mượn thuyền lục độ để hồi hướng qua.
Mãn duyên sen nở một tòa,
Rước hồn có Phật Di Ðà phóng quang.
Muôn trùng bửu cái tràng phan,
Lư hương khói tòa sen vàng hoa đơm.
Hiện thân Thế Chí, Quan Âm,
Vô biên Bồ Tát thiên trùng Thánh Tăng.
Hồn ngồi trên tọa sen vàng,
Nhạc tâu hoa rải vinh quang ai tày.
Ðến nơi quỳ trước Liên đài,
Vâng lời thọ ký nghe bài pháp âm.
Nhiệm mầu Phật pháp cao thâm,
Linh quang sáng suốt chân tâm tỏ tường.
Dạo xem cảnh giới Tây phương,
Ðơm hoa Bát nhã xông hương ngũ phần.
Chói ngời cây ngọc lá vàng,
Mưa sa hoa báu gió đàn mành châu.
Bạch hạc trước, Khổng tước sau,
Ca lăng, Anh võ... chầu hầu nghiêm trang.
Kêu lên những tiếng dịu dàng,
Tám phần chánh đạo, bảy phần giác chi.
Thâm trầm những tiếng từ bi,
Nhiệm mầu không thể nghĩ suy luận bàn.
Nghe ra ai cũng phát tâm,
Nguyện sanh với bực thượng căn một nhà.
Mạn đà rải rác mưa sa,
Nhạc trời chập thổi diệu hòa rền vang.
Gió khua cội báu như đàn,
Ðồng thời in rập muôn phường nhạc tâu.
Những cây báu những lưới châu,
Những đài hổ phách những lầu ma ni.
Gác mã não, tọa lưu ly,
Chiên đàn trầm thủy xông nghi ngút mùi.
Mỗi tòa trên có mỗi ngôi,
Màu phù đàn, Hóa Phật ngồi nghiêm trang.
Mi gian phóng bạch hào quang,
Ðôi tròng trong trẻo mình vàng sáng trưng.
Chói ngoài tám vạn do tuần,
Mỗi tia lại có một vầng hoa sen.
Mỗi hoa một thế giới riêng,
Nước tên Cực Lạc, Phật tên Di Ðà.
Cũng hóa Phật cũng Liên tòa,
Cũng đồng thuyết pháp diệu hòa cao sâu.
Vô vi pháp Phật nhiệm mầu,
Hóa sanh cơm ngọc áo châu đủ mùi.
Rảnh rang hưởng sự rất vui,
Những điều ác thú, luân hồi vốn không.
Làu làu chân tánh sạch trong,
Tinh tường muôn kiếp tỏ thông ba đời.
Ngộ lòng thường trú không dời,
Bao trùm tất cả đất trời đại thiên.
Bấy giờ vận dụng phép huyền,
Từ chơn lại tục tùy duyên hiện hình.
Phân tâm tùy thuận chúng sanh,
Ra vào khắp cõi Khí, Tình thế gian.
Rải gieo hột giống sen vàng,
Cứu đời ác trược vớt đoàn trầm mê.
--------------
— Nguyên tác của Hòa Thượng Thái Không soạn, Hòa Thượng Khánh Anh chép lại trong “Phật hoá gia đình” trang 79-85. Nhà in Sao Mai ấn bản, Sài Gòn, 1951. Thư viện Phật học Xá Lợi tàng bản.
— Sao y nguyên văn, không có sửa đổi.
(*) Bài này nguyên đã có ở quyển I, bài số 46, tựa là Kệ Vô Thường. Tuy nhiên trong bài đó đã được người sau rút ngắn để làm bài sám thường tụng phổ thông. Ở đây sở dĩ biên giả cho đăng vào là có ý lấy đầy đủ tác phẩm, dài gấp 3 lần bài sám 46.

260. SÁM NGUYỆN HƯƠNG LINH
(Sám tán cầu siêu 19)


Cuộc trần lắm nỗi vần xoay,
Còn mất, ảo hóa; rủi thay sự thường.
Nay linh cảnh sống thôi vương,
Tìm nơi tịnh lạc an nương tâm mình.
Lễ cầu hướng Phật siêu linh,
Lòng thành mượn nén hương tinh khấn nguyền.
Cầu linh niệm đạo cần chuyên,
Xa nơi huyễn cảnh lụy phiền trần ai.
Di Ðà thọ ký, nguyện ngài,
Tiếp dẫn Cực lạc, sen đài hóa thân.
Bồ Tát Thế Chí, Quan Âm,
Ðịa Tạng, Thánh Chúng đồng tâm độ về:
Dẫn linh chứng đạo Bồ đề,
Thần thức sáng láng thôi mê cảnh trần.
Lòng từ chứng lý thật chân,
Khai thông trí huệ, định tâm hành thiền.
Giải thoát khổ cảnh nghiệp duyên,
Phù sinh huyễn kiếp triền miên buộc ràng.
Dẫu việc tế thế an bang,
Dầu trong gia đạo an khang thâm tình.
Dầu cảnh ngục thất tội hình,
Dầu trong trướng gấm cung đình tôn xưng.
Cuộc thế chìm nổi không dừng,
Ðều là nghiệp quả phế hưng theo thời.
Sống là thọ cảm cảnh đời,
Chết cầu thức giác xa rời nghiệp nhân.
Nương tánh Phật linh dự phần,
Phiêu diêu thanh thoát chứng phần độ an.
Linh thần nhập thánh siêu phàm,
Chuyển nghiệp trí giác, chuyên làm độ tha.
Thỉnh linh niệm Phật Di Ðà,
Siêu sanh Tịnh độ, vào nhà Như Lai.
--------------
— Trích trong “Khóa lễ Phật”,Cư sĩ Nghiêm Thức soạn,Cảo bản TP HCM, 1994, Tr. 41-50.

261. SÁM CẦU SIÊU THỦY LỤC VỚT VONG
(Thí thực cô hồn 13)


Nam mô Từ phụ Di Ðà,
Xin ngài cứu khổ Ta bà trầm luân.
Thương đời bá tánh vạn dân,
Các hồn hoạnh tử cõi trần thác oan.
Thế gian mong được an nhàn,
Khai đàn Thủy lục làm đàn vớt vong.
Chết ao, khe, biển, suối, sông,
Linh đinh trôi nổi số đông quá nhiều.
Gió giông bão tố thủy triều,
Thảm thương thân xác dập dìu nổi trôi.
Hồn phi phách lạc mất rồi,
Cá ăn, sấu nuốt, khổ thôi đủ điều.
Cõi đời sanh tử mơi chiều,
Sống nơi hầm lửa đốt thiêu thân mình.
Lại còn giặc giã đao binh,
Trúng nhằm súng đạn thình lình mạng vong.
Núi rừng đồng rộng biển sông,
Các hồn oan ức nguyện đồng tiêu diêu.
Hôm nay khẩn đảo cầu siêu,
Những hồn chìm đắm thủy triều tai ương.
Sông sâu biển rộng bốn phương,
Sa chơn đắm đuối vấn vương khổ sầu.
Thành tâm lạy Phật khẩn cầu,
Ðộ hồn lên khỏi biển sâu vào bờ.
Linh đinh hồn vía mịt mờ,
Nương nhờ Phật lực kịp giờ cứu an.
Cầu cho hồn đặng nhẹ nhàng,
Thủy Long thần nữ dẫn sang hồn về.
Hồn về cảnh Phật đề huề,
Kíp nghe kinh kệ trầm mê khỏi nàn.
Quan Âm đại sĩ từ hàng,
Cứu hồn ra khỏi sáu đàng trầm luân.
Nguyện cho hồn đặng vui mừng,
Khỏi nơi lạnh lẽo gian truân khổ sầu.
Nương nhờ Phật lực nhiệm mầu,
Thả đèn thủy lục, bắt cầu vớt vong.
Vớt vong khỏi chốn suối sông,
Về nơi no ấm non bồng tiêu dao.
Ðưa vong khỏi biển ba đào,
Ðến nơi bờ giác lên mau lạ thường.
Nam Mô Ðịa Tạng Minh Vương,
Vì lời đại nguyện xót thương Ta bà.
Chúng sanh chìm đắm hải hà,
Cầu ngài cứu vớt vượt qua biển trần.
Nổi trôi khổ sở tấm thân,
Âm nhơn lạnh lẽo muôn phần thiết tha.
Nam mô đức Phật Thích Ca,
Cầu ngài tế độ vớt mà vong linh.
Ở trong thế giới U Minh,
Dẫn qua Cực lạc vãng sanh Liên trì.
Nguyện ngài giáo chủ A Di,
Ðộ vong trầm nịch đồng qui Liên thành.
Ở yên mát mẻ tu hành,
Cầu cho giải thoát hóa sanh sen vàng.
Nam mô Tịnh độ Lạc bang,
Ðộ vong hồn đặng Tây phang mau về.
--------------
— Trích xuất từ “Pháp môn tu Tịnh Ðộ” Niết Bàn Tịnh Xá – Vũng Tàu ấn hành, 1970, Tr. 313-315.
— Bài này dùng để tụng trong đàn thủy lục vớt vong ở bờ biển, bên sông, có thêm nghi thức vớt vong và cầu siêu chư linh. Vì thế nên không phải là bài phổ biến. Tuy nhiên, có thể dùng tụng ở các đàn kỳ siêu, chẩn tế, thí thực ở chùa, ở nhà cũng được.



Chú thích


(1) “Nước đá” thau: Câu này Hòa thượng soạn theo ý ngài Huệ Lưu có sửa đổi từ “đá mài dao” thì lâu mòn lắm! Nước đá thì mau tiêu hơn, là muốn cho tội cũng mau tiêu như thế (Tr. 70 Sđd).
(2) Phu: bày, trải, ý nói đều đầy đủ như ý nguyện.
(3) Tây cù: cõi phương Tây.
(4) Hoa bù đôi thân: bù có nghĩa bồi thường, thay thế. Vì hoa sen thay vì cha mẹ để hoá sanh cho chúng sanh niệm Phật được vãng sanh (Tr. 71 Sđd).

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn