Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   
Bài mới nhất

Phần thứ V: Các bài văn tế - cảnh sách

10/05/201317:50(Xem: 4162)
Phần thứ V: Các bài văn tế - cảnh sách

Tuyển tập các bài sám văn - Tập III: 55 Bài sám văn âm nghĩa sưu tập

Phần thứ V: Các bài văn tế - cảnh sách

Thích Đồng Bổn sưu tập

Nguồn: Thích Đồng Bổn sưu tập

156 - VĂN CẢNH SÁCH BUỔI SÁNG


Bài cảnh sách trong nhà tịnh nghiệp,
Tuân lời vàng cổ triết Thiền tông,
Muốn tu Tịnh độ thành công,
Cốt sao ba nghiệp sạch không làu làu.
Thân khẩu ý trước sau tinh khiết,
Thời hiện tiền tịnh nghiệp mới nên,
Trau dồi ba nghiệp cho chuyên,
Vãng sinh Tịnh độ nhân duyên lu mờ.
Ngày đến phải sáu thời tinh tiến,
Ý miệng thân ba nghiệp cần chuyên,
Thân cần lễ bái tọa thiền,
Miệng cần phúng tụng lặng yên ít lời.
Ý cần chuyên không rời tịnh niệm,
Ðêm và ngày kế tiếp không ngơi,
Mới hay Tịnh độ hiện thời,
Rõ ràng tam muội sáng ngời tự tâm.
Ngoài sáu thời chuyên tâm tu tập,
Không chuyện trò đón tiếp vãng lai,
Nếu còn giao thiệp bề ngoài,
Chỉ e tịnh niệm phí hoài công phu.
Quy ước ấy ai dù không giữ,
Ngôi chủ đường xét xử phạt ngay,
Ba lần can gián cố chày,
Thời mời ra khỏi nhà này không dung.*

157 - VĂN CẢNH SÁCH PHÂN CÔNG


Ðây bài cảnh sách phân công,
Ðảm đang chức sự trong tùng lâm ta,
Cúng dàng Phật Pháp Tăng già,
Làm trong nghĩa vụ lợi ta lợi người.
Nên chẳng quản hao hơi nhọc sức,
Cố gắng làm công đức vẹn tuyền,
Lẽ đâu ngại khó ngại phiền,
Mượn điều lẫn tránh ngồi yên sao đành ?
Lỡ ra khuyết điểm phát sinh,
Công việc chung cũng trở thành dở dang.
Nên suy xét đảm đang nghiêm túc,
Phục vụ người tức phục vụ mình,
Chăm lo củi nước hoàn thành,
Cũng là đường lối tu hành cần chuyên.
Giúp ta giác ngộ cơ huyền,
So đo hơn thiệt não phiền càng tăng.
Tổ Tào Khê siêng năng giã gạo,
Tổ Tuyết Phong tần tảo làm cơm,
Qui Sơn bếp nước chăm nom,
Kính Sơn quét tước thường làm vệ sinh,
Tổ Bách Trượng thanh minh trong chúng,
Ngày không làm thời cũng không ăn,
Thọ Xương cầy cấy chung thân,
Ðều là những bậc vĩ nhân cửa Thiền.
Gương xưa mãi mãi còn truyền,
Cần lao phục vụ lực điền tận tâm.
Nay đại chúng tùng lâm cộng sư,ï
Chức vụ thường thiếu sự gắng công,
Ai đủ sức nên xung phong,
Rụt rè khoán phế việc chung sao đành,
Có công Phật Tổ mới thành,
Không thời biển khổ lênh đênh đời đời.*

158 - VĂN CẢNH SÁCH THẢO ÐƯỜNG


Bài cảnh sách Thảo Ðường phúng tụng,
Xin bạch cùng thất chúng Thiền gia,
Thế giới nào khác không hoa,
Thân người huyễn hóa như là chiêm bao.
Mọi sự vật trước sau đều thế,
Là vô thường không thể cậy trông,
Nhân tu nếu chẳng sớm trồng,
Thời theo cảnh huyễn mãi trong luân hồi.
Cũng vì vậy Như Lai thương xót,
Hiện ra đời thuyết pháp dạy khuyên,
Khiến cho tắt lửa não phiền,
Cạn dòng ái dục thoát miền hôn mê.
Hết sinh tử xa lìa phiền não,
Chứng Niết bàn vui đạo nhiệm mầu,
Phép tu giải thoát có nhiều,
Tóm tắt thì có ba điều như sau :
Tham thiền tu quán làm đầu,
Với môn niệm Phật để cầu vãng sinh,
Phép tham thiền không thành không lập,
Phải tự mình khế hợp chân như,
Túc căn nếu chẳng trồng sâu,
Ðường đi lắm ngã dễ hầu tới nơi,
Huống đời mạt pháp lòng người,
Kém phần phúc tuệ trây lười ngả nghiêng.
Phép tu quán thâm huyền mầu nhiệm,
Xét cho cùng tâm niệm sát na,
Hữu vô hai chữ đều xa,
Nếu không trí huệ khó mà thành công.
Môn niệm Phật phổ thông đệ nhất,
Thực rõ ràng đường tắt không hai,
Kể từ cổ vãng kim lai,
Hiền ngu già trẻ gái trai đều thành.
Tứ liệu giản rành rành kể rõ,
Tu môn nào dễ khó phân minh,
Cốt sao chuyên nhất cho tinh,
Chớ ngờ rằng Phật với mình cách xa
Ðem sáu chữ Di Ðà đối tượng,
Tâm tưởng đều không vướng tạp duyên,
Tai nghe bụng nghĩ mắt nhìn,
Rõ ràng như Phật hiện tiền trước ta.
Ví phút chốc lơ là tản mạn,
Thời hôn trầm tán loạn hiện ngay,
Phát tâm tinh tiến cao dày,
Nối liền tịnh niệm đêm ngày chớ ngơi.
Dù tịnh niệm còn chưa kế tiếp,
Cứ giữ gìn tịnh nghiệp cho chuyên,
Tâm tầm Tịnh độ tưởng liền,
Dốc lòng cứ niệm thường xuyên Di Ðà.
Thời hiện tại không xa gang tấc,
Ngay chốn này Cực lạc rồi đây,
Không cần đợi đến sau này,
Thân về an dưỡng tháng ngày thanh cao.
Ðược thắng lợi dồi dào đến thế,
Há lại không quyết chí tu trì,
Ðem thân giả tạm suy nghi,
Sinh già bệnh chết thọ kỳ bấp bênh,
Mà đổi lấy thân vô lượng thọ,
Là pháp thân không có động dao,
Vui này há chẳng vui sao,
Vãng sinh Tịnh độ vui nào còn hơn.
Tụng rằng :
Trong ba cõi lửa phiền nóng bức,
Nước tám dòng công đức thanh lương,
Muốn xa cõi uế vô thường,
Ðem thân an trụ Lạc bang quê nhà.
Thời sáu chữ Di Ðà kế niệm,
Như bánh xe liên tiếp quay hoài,
Di Ðà Phật chẳng riêng ai,
Trí nhân ngày tháng hôm mai tự cường.
Kìa tám vạn bốn ngàn hảo tướng,
Vốn không ngoài tâm tưởng người ta,
Há phiền đức Phật Thích Ca,
Ấn chân biến cõi Sa Bà trang nghiêm.*

159 - VĂN CẢNH TỈNH THẾ NHÂN


Hỡi ôi !
Ta nên hiểu rằng :
Quang cảnh trăm năm,
Chỉ trong giây phút,
Huyễn thân tứ đại,
Há được lâu dài.
Tháng ngày vất vả lắm thay,
Một sớm nghiệp duyên nặng chĩu,
Không biết viên minh nhất tính,
Chỉ ham tham dục sáu căn.
Công danh lừng lẫy,
Ðều là đại mộng, một trang;
Phú quý vinh hoa,
Khó tránh vô thường hai chữ.
Tranh nhân tranh ngã,
Rốt cuộc thành không.
Khoe giỏi khoe tài,
Cuối cùng chẳng thực.
Lửa phun, gió thổi,
Khi thiêu không kể trẻ già;
Hốc núi, khe sâu,
Vùi xác anh hùng không ít !
Tóc xanh chưa được mấy,
Mà tóc trắng đã đầy đầu,
Việc mừng vừa tới nơi,
Mà việc buồn đã xâm đến;
Một bao máu đặc,
Quanh năm ngậm đắng nuốt cay,
Bảy thước thân còm,
Nảy ý tham tiền tiếc của.
Hơi thở ra, khó đã hít được vào,
Nay còn đây, ngày mai khôn giữ được.
Sóng ái hà, chìm nổi nổi chìm,
Lửa hỏa trạch, nấu nung nung nấu,
Chẳng muốn xa rời lưới nghiệp.
Chỉ rằng : Chưa có công phu,
Lệnh vua Diêm la đã sai đòi bắt.
Thì Thôi tướng công đâu dám dung tha,
Ngoảnh cổ lại thân nhân đều chẳng thấy.
Chung quy tạo nghiệp,
Báo sự mình mang;
Quỷ vương ngục tốt,
Coi thường xâu xé.
Rừng kiếm núi đao,
Khổ sở không cùng.
Hoặc vào Thiết tiêu ngục thẳm,
Hoặc ở băng giá núi cao,
Bị nấu nung muôn tử ngàn sinh,
Chịu kìm cặp một dao hai đoạn.
Ðói ăn sắt nóng,
Khát uống đồng sôi,
Mười hai giờ cam chịu đắng cay,
Năm trăm kiếp bóng hình chẳng thấy !
Chịu đủ tội nghiệp,
Lại vào luân hồi,
Thân này từ trước mất đi,
Ðổi lấy túi cơm giá áo,
Hàm sắt đóng yên,
Mang lông mang vẩy.
Ðem thịt dâng người,
Dùng thân trả nợ.
Sống bị búa rìu,
Cay đắng lửa bỏng nước sôi.
Chết đi oan khiên,
Chồng chất hối sao cho kịp.
Chi bằng thẳng tới kêu van,
Chớ đợi muôn vàn tội lỗi.
Trộm nghĩ :
Người sinh cõi thế,
Cũng như cánh bướm bông hoa,
Vận hạn tới nơi,
Nào khác móc chiều sương sớm.
Ðức Phật mình cao trượng sáu,
Cũng còn tịch diệt chốn Song Lâm.
Lão Quân thuốc luyện chín viên,
Trót hết, hồn quy nơi Thệ Thủy.
Thương thay ! Bành Tổ,
Sống tám trăm năm;
Xót vậy ! Nhan Hồi,
Tuổi hơn ba chục;
Trẻ già dẫu khác,
Sống chết hơn chi !
Lại như : Tam Hoàng tuổi thọ,
Chẳng khỏi luân hồi,
Ngũ Ðế sống lâu,
Chưa là bất tử.
Thần Nông thuốc giỏi,
Chữa sao cho lại số trời;
Biển Thước tài hay,
Khôn cứu người về cõi đất.
Tần Thủy Hoàng dời non lấp biển,
Rồi ra mệnh táng đất Sa Khâu;
Sở Bá Vương sức lực bạt sơn,
Cũng đến phải Ô Giang tự vẫn.
Tề Cảnh Công nuôi chín nghìn ngựa Tứ, Cũng thành công cốc hơn chi !
Hán Hàn Tín mười việc công lao,
Há có được còn mãi mãi ?
Mạnh Thường Quân ba nghìn kiếm khách,
Cũng chết dần mòn;
Khổng Phu Tử trò giỏi bảy hai,
Nay ai sống nữa ?
Ngao ngán nhẽ ! Chu, Tần, Hán, Ngụy,
Chốn lâu đài này hóa chốn hoang vu :
Tiếc thương thay ! Tấn, Tống, Tề, Lương,
Nơi thành quách cũng là nơi quạnh quẽ.
Nào những bậc Tiền Hiền Cổ Thánh !
Ai đã từng chất ngọc chứa vàng ?
Ai đã từng lưng đai áo tía ?
Ai đã từng đoạt lợi tranh danh ?
Ai đã từng khoe văn diễu võ ?...
Hỡi ôi !
Ðời người ví tựa nước trôi xuôi,
Trí dậy anh hùng ở khắp nơi,
Hơi thở lúc còn lừng lẫy lắm,
Vô thường hạn đến việc buông trôi !
Vậy nên có bài kệ rằng :
Tất cả núi non đều tan vỡ hết,
Tất cả biển sông đều sẽ khô kiệt,
Tất cả cỏ cây đều sẽ tàn lụi,
Tất cả muôn vật đều sẽ bại hoại,
Mọi sự ái ân rồi sẽ ly biệt,
Mọi sự phiền não cũng dần tan hết,
Tình thân gia đình,
Một sớm đoạn tuyệt,
Duy có Pháp thân,
Thường còn chẳng diệt.
Than hỡi !
Ðời người trăm tuổi,
Mau như việc gảy móng tay.
Có khác gì chiếc bách trôi xuôi,
Hay tương tự trời Tây thỏ lặn.
Ðập hòn đá mong tìm ánh lửa,
Bóng ngựa câu bên cửa sổ thoáng qua,
Ngọn đèn lu trước trận phong ba
Hạt móc sớm treo trên đầu ngọn cỏ.
Thuyền đã tới bờ,
Cây vừa độ mục,
Chớp mắt ôi thôi !
Chỉ thấy sáng loè.
Sao tình nghĩa còn nhiều vương vít,
Mà ý hoài rối rít tơi bời ?
Lưới trần gian khin khít muôn trùng,
Trí vẫn để trong vòng lăn lộn !
Cảnh ái thằng nút thắt nghìn khoanh,
Tình vẫn hướng vào nơi trói buộc.
Núi Mạn chất chồng,
Gò đống chỗ chỗ trưng bày;
Lòng tham sâu thẳm,
Biển khơi dòng dòng cuộn đến.
Chỉ còn cách sớm hôm niệm Phật,
Mới mong về cõi Tịnh yên vui.*

160 - KHUYẾN TU TỊNH ÐỘ


Tu hành phương tiện nhiều đường,
Niệm Phật một pháp lạ thường dễ thay.
Gọi là cầu sinh Tây phương,
Cực lạc thế giới ta nay nương về.
Gọi là Tịnh độ tu trì,
Nghĩa là thanh tịnh tội thì không sinh.
Ba tạng mười hai bộ kinh,
Kinh nào cũng nói phân minh pháp này.
Tám muôn bốn ngàn môn nay,
Môn nào cũng khuyến vãng rày Tây phương.
Niệm Phật một pháp rõ ràng,
Hơn cả mọi pháp chẳng đường nào hơn.
Cổ đức bàn rằng các môn,
Học đạo như kiến lên non bao giờ.
Niệm Phật tu hạnh nhất thừa,
Chóng như gió thổi buồm nhờ nước xuôi.
Tây phương mà đã sinh rồi,
Chỉ phần lên chẳng phần lui sau này.
Thượng phẩm Phật quả chứng ngay,
Hạ phẩm thì cũng hơn dầy Thiên cung.
Công đức lớn rộng chẳng cùng,
Tu thời dễ vậy nào chưng khổ gì.
Gái trai già trẻ mới khi,
Sang hèn Tăng tục cũng thì mặn chay.
Ai ai tu cũng được dầy,
Ngày mười câu niệm công nay cũng thành.
Niệm rồi khấn nguyện phân minh,
Sau này đến lúc Phật nghinh tiếp về.
Xin người niệm Phật với tôi,
Cùng sinh nước Phật rất vui thay là.
Thấy Phật rồi khỏi luân hồi,
Cùng như đức Phật độ loài quần sinh.
Thấy đời mà tiếc cho đời,
Có thân bất hoại mà người chẳng tu.
Trải trong thế giới Diêm Phù,
Dưới trời mấy kẻ thoát lò hoá thi,
Chỉ có đạo Phật từ bi,
Muốn qua đường khổ tu trì lấy thân.
Tụng kinh niệm Phật chủng nhân,
Tam quy ngũ giới giữ phần quả sau.
Muôn ngàn ức kiếp vui lâu,
Khỏi vòng quanh lại được mầu kim thân,
Tu Tịnh độ cứ một bề,
Chăm chăm lòng chỉ cầu về Tây phương.
Công phu một chốc ngày thường,
Sau rồi ức kiếp rộng trường được lâu.
Ví người buôn bán mãi đâu,
Một quan lợi hoá ra hầu làm hai.
Trong lòng mừng rỡ chẳng thôi,
Ấy là lợi nhỏ lòng thì hỷ hoan.
Hay là mất vốn một quan.
Trong lòng cũng tiếc lo toan ngại ngần,
Ấy là vật ở ngoài thân,
Ðược nhỏ mất nhỏ thường thần lo toan.
Bụng sáng ta chẳng nghe bàn,
Lặn lội mất lớn chẳng toan lo gì.
Pháp tu nay khó gặp kỳ,
May mà biết được lớn khi thế nào.
Mừng nay lại biết là bao,
Thế gian như mộng chiêm bao ra gì.
Phật nói kinh Di Ðà khi,
Ta thấy thế lợi ta thì nói ra,
Sáu phương chư Phật đều là,
Bảo rằng thành Phật nên mà tín khen.
Phật bảo ta ở thế gian,
Nói pháp xa rộng khó bàn khó tin.
Pháp này phúc lớn nhân duyên,
Ai mà gặp được quả nhiên thoát trần.
Người thế gian tiểu khí thân,
Thấy lời kinh giáo phân vân hững hờ.
Ấy là bụng dạ hèn sơ,
Còn nhiều tội chướng bơ vơ trong lòng.*

161 - VĂN TẾ CHƯ CHIẾN SĨ TRẬN VONG CHƯ LƯƠNG DÂN TỬ NẠN


Hỡi chư chiến sĩ trận vong !
Hỡi chư lương dân tử nạn !
Nhơn sanh tự cổ thùy vô tử,
Lưu thủ đan tâm chiếu hãn thanh.
Người sanh trên thế ai không chết,
Ðể tấm lòng son rạng sử xanh.
Ngọc tuy nát vẫn còn trong sạch,
Tre cháy tiêu, mắt nọ cũng còn.
Chí trung cang nghĩa khí sắc son,
Gương Thánh Ðế nay còn nêu đó !
Nợ nước non ai ai cũng có,
Phận công dân giao phó phải mang.
Hễ đứng làm nghĩa sĩ anh trang,
Phải đáng bực trung thần liệt nữ.
Chí Quang Trung đâu màng sanh tử,
Chuyện Trưng Vương thanh sử còn ghi.
Nay tuy là u hiển biệt ly,
Lòng tưởng nhớ các vì tha thiết,
Tưởng là tưởng đức dày oanh liệt,
Chốn chiến trường sương tuyết hy sinh.
Nhưng chẳng may vì nước bỏ mình,
Ấy cũng bởi trọn gìn trung đạo.
Thôi nợ nước nay đà tận báo,
Xin hồi đầu chánh đạo tu thân.
Nương cửa thiền phủi sạch trược trần,
Sớm kinh kệ chiều lần chuỗi hột,
Lấy cam lộ nhành dương nước Phật,
Rửa cừu oan diệt tất não phiền.
Khá nguyện về Cực lạc Tây thiên,
Mà an dưỡng thiêng liêng Bổn giác
Sen chín phẩm nở ra trước mắt,
Hết tử sanh quả Phật thấy liền.
Hỡi các vì hồn có linh thiên,
Nơi chín suối khá liền sám hối,
Cầu Trời Phật xá tha tội lỗi,
Dắt dìu ra khỏi lối u minh.
Một lòng thiềng Phật Pháp trọn gìn,
Hộ thí chủ khương ninh phước thọ.
Giúp lê thứ, trợ an quốc tộ,
Lập đức công báo bổ tứ ân,
Lời thiết tha đạo đức phân trần,
Xin liệt vị hiển linh chứng chiếu.*
Nam Mô A Di Ðà Phật.

162 - VĂN TẾ CHIẾN SĨ TRẬN VONG ÐỒNG BÀO TỬ NẠN.


Hỡi ôi !
Cơn tạo hóa xoay vần khó tránh,
Cuộc trần gian hết thạnh đến suy,
Chúng sanh phải chịu khổ nguy,
Sanh già bịnh tử biệt ly thảm sầu.
Việc may rủi biết đâu chọn lánh,
Nhận làm người mang gánh sự trần,
Tam cang mới nặng muôn cân,
Ngũ thường xử vẹn là phần tu mi.
Lẽ sống thác là tùy số phận,
Nghĩa vụ tròn đâu quản gì thân,
Mình là bổn phận con dâu,
Quốc gia hữu sự báo ân đã đành.
Vì tổ quốc lợi quyền chủng tộc,
Giận quân thù chí dốc tòng quân,
Ra đi dạ luống bâng khuâng,
Màn sương gối tuyết vô chừng gian nan.
Khi lặn suối trèo non vượt bể,
Khi lên truông qua ải xuống đèo,
Ðai cơm, bầu nước, gươm đeo,
Chút thân sống thác do theo số trời.
Ra nhập ngũ thân thời chẳng kể,
Khổ thay vì cha mẹ ở nhà,
Nhớ con thổn thức canh gà,
Thương con dựa cửa trông mà sầu đau.
Khi sớm tối ai vào thăm viếng,
Lúc ốm đau lo chuyện thuốc thang ?
Ðêm ngày giọt lệ chứa chan,
Cầu trời con đặng thoát nàn đao binh.
Chữ trung đặng, mất tình hiếu thảo,
Ðánh liều theo máy tạo vần xoay,
Trước cờ da ngựa bọc thây,
Tiếng kêu cứu nước làm khuây sao đành!
Còn thương hỡi gia đình thảm cảnh,
Vợ cùng con hiu quạnh trước sau,
Con thơ vợ yếu lao nhao,
Lấy ai bảo bọc đói đau cơ hàn ?
Ðêm tủi phận dở dang duyên nợ,
Ngày gượng vui qua đỡ thời gian,
Trông cho chiến thắng khải hoàn,
Dưỡng nuôi con dại hiệp đoàn phu thê.
Nhớ đến cảnh ủ ê tấc dạ,
Cùng anh em chung chạ một nhà,
Xóm làng cô bác ông bà,
Nguyện cầu binh cách hết mà về quê.
Người muốn vậy không hề được vậy,
Bãi trường sa thịt nát máu tơi,
Tên rơi đạn lạc hết đời,
Nắm xương vô chủ lạc nơi chiến trường!
Người nằm chết ngổn ngang bờ bụi,
Dưới hố hầm chân núi cội cây,
Kẻ thời ngọn lửa thiêu thây,
Người thời trôi lấp sông nầy rạch kia.
Ai có phước thi hài chôn lấp,
Kẻ nợ phần phó mặc cá chim,
Hỡi ơi ! Nợ nước trọn niềm,
Ðến ngày chung cuộc xác tìm đâu ra ?
Vợ con với mẹ cha đâu biết,
Chừng hay tin thì việc đã rồi,
Nợ trần phủi sạch ai ôi,
Ghi vào lịch sử muôn đời ngợi khen !
Khen anh dũng xông pha tên đạn,
Liều thân sinh cứu nạn quốc dân,
Sống làm Tướng, thác làm Thần,
Non sông gánh vác tử phần đao binh.
Chùa thỉnh Phật lập đàn chẩn tế,
Tụng cầu siêu cáo lễ Phật trời,
Trận vong chiến sĩ vì đời,
Thoát vòng lục đạo về nơi trai đàn.
Nén hương đốt gội nhuần trước án,
Tế anh linh tỏ rạng danh thơm,
Ít nhiều hoa quả kỉnh đơm,
Gọi là tưởng nhớ người ơn giúp đời.
Dạ thương tiếc anh hùng dũng cảm,
Nguyện vong hồn sinh ký tử qui,
Hồi đầu nương cửa từ bi
Về miền Cực lạc Liên trì hoá sinh.
Chúng tôi đã lòng thành khấn vái,
Phật mười phương quảng đại độ siêu,
Nương đàn chẩn tế tiêu dao,
Chư vong chiến sĩ đồng bào chứng tri.*

163 - MÔNG SƠN THÍ THỰC DIỄN NGHĨA


Trên kính thỉnh thập phương chư Phật,
Tận hư không pháp giới mười phương ;
Kim cương Hộ pháp thần vương,
Thiên long bát bộ dẫn đường chúng sinh.
Nhớ Ðịa Tạng u minh giáo chủ,
Phóng hào quang cứu khổ độ mê;
Từ bi bản nguyện lời thề,
Chúng sinh độ tận Bồ đề chứng nên.
Xin Ðại thánh Át Nan Tôn giả,
Dẫn cô hồn sáu ngả chúng sinh ;
Mười phương thập loại hữu tình,
Bảo nhau cùng đến nghe Kinh kệ vàng.
Cam lộ hiến hai hàng nam nữ,
Lễ vật bày các thứ đầy mâm ;
Hôm nay trai chủ thành tâm,
Thỉnh chư Hiền Thánh giáng lâm đàn tràng.
Nhờ phép mầu tựa nương chư Phật,
Tụng chân ngôn bí mật tối linh ;
Cô hồn mười loại chúng sinh,
Về đây thụ hưởng cơm canh cúng dàng.
Không hóa có sẵn sàng ăn uống.
Ít biến nhiều nhờ lượng phép mầu;
Cô hồn già trẻ cùng nhau,
Hãy nghe sự tích trước sau mấy lời.
1. Thiết trai hội do ai mà có ?
Lập đàn tràng bá thí vì đâu ?
Tự Ngài Khánh Hỷ khởi đầu,
Quan Âm cứu khổ phép mầu hiện ra.
Tiêu Diện quỷ đấy là Bồ Tát,
Hóa thân ra cứu vớt chúng sanh ;
Khuyên nên niệm Phật tụng kinh,
Nhờ câu Thần chú oai linh nhiệm mầu.
Cô hồn đâu đấy tới mau,
Thụ Cam lộ vị còn đâu hơn này.
Ðao binh kệ tán sau đây :
2. Những ai vua chúa xưa nay,
Phân chia biên giới tháng ngày giữ nhau;
Võ văn các bậc anh hào,
Vì dân vì nước cùng nhau giữ gìn.
Cành vàng lá ngọc bao phen,
Ngựa xe rong ruổi trận tiền tử sinh.
Ai thay sống chết cho mình,
Số chung hạn tận u minh rước mời.
Cô hồn hỡi cô hồn ơi !
Thụ Cam lộ vị đêm dài còn lâu !
3. Những ai khanh tướng công hầu,
Nhà cao cửa rộng biết bao công trình ;
Kinh luân chất chứa bên mình,
Trí nhân lễ nghĩa tuyển sinh thí trường.
Văn chương lỡ bước lầm đường,
Học tài thi phận nhỡ nhàng công danh.
Thiệt mình riêng chịu đã đành,
Khó khăn nhà cửa tan tành đôi nơi.
Cô hồn hỡi cô hồn ơi !
Thụ Cam lộ vị cho đời nên thơ !
4. Những ai mưu lược binh cơ,
An bang định quốc cõi bờ chí cao ;
Ðánh đông dẹp bắc anh hào,
Tướng binh thống lĩnh ra vào trong tay.
Tiểu trừ giặc cướp tan ngay,
Quên nhà bỏ mạng kế hay cứu đời.
Cô hồn hỡi cô hồn ơi !
Thụ Cam lộ vị của người cúng dâng.
5. Những ai cậy thế binh hùng,
Sa cơ thất thế bên sông thiệt đời.
Hiền ngu già trẻ gái trai,
Số cùng mệnh tận quê người bơ vơ.
Không quen đất nước bao giờ,
Cho nên đói khát bên bờ lả lơi.
Cô hồn hỡi cô hồn ơi !
Thụ Cam lộ vị cho đời quang vinh !
6. Những ai uổng tử trong thành,
Gió mưa sấm chớp hoành hành thảm thê ;
Ma kêu quỷ rú bốn bề,
Khóc than dậy đất ủ ê oán hờn.
Biết ai danh phận kém hơn,
Thương thay mười loại cô hồn là ai ?
Cô hồn hỡi cô hồn ơi !
Thụ Cam lộ vị tuyệt vời thơm ngon !
7. Những ai binh tướng kinh hồn,
Hai bên chiến trận mưa tuôn mây sầu ;
Âm vang chiêng trống hồi lâu,
Xé gan vỡ mật khí hào bốc lên.
Rợp trời cờ kiệu hai bên,
Chúng sinh nghiệp chướng não phiền thở than.
8. Trận tiền thành đống tro tàn,
Tướng không chỗ trốn nguy nan bỏ đời.
Ngựa xe tên đạn bời bời,
Ðội binh tán loạn khắp nơi tan tành.
Lại còn gươm giáo vây quanh,
Ðạn tên bắn xé thân hình đôi nơi.
Khổ đau lắm cô hồn ơi !
Lại đây sám hối tội thời tan ngay.
9. Sa vào trận địa nguy thay,
Chiến trường bỏ mạng ai hay thế nào.
Xe đè ngựa kéo lộn nhào,
Máu trôi thịt nát chó vào tha xương.
Ðoạt mồi hổ đói đón đường,
Tranh nhau cắn xé thảm thương mạng người.
Cô hồn hỡi cô hồn ơi !
Thụ Cam lộ vị cho đời giải oan !
10. Những ai sinh chỗ vua quan,
Trung tâm văn hoá mãi ham quê người.
Trai lành gái tốt những ai,
Bán làm tôi tớ cho người phương xa.
Họ hàng tìm kiếm chẳng ra,
Chết nơi đất khách xót xa ngậm ngùi.
Cô hồn hỡi cô hồn ơi !
Thụ Cam lồ vị ngọt bùi mới cam !
11. Những ai con Bắc cha Nam,
Ngựa xe tan vỡ biết làm sao đây ?
Nhà tan nước mất khổ thay,
Ðường đi cách trở đắng cay muôn phần.
Họ hàng thân thích xa gần,
Biết ngày nào được quây quần gặp nhau.
Cô hồn thủy lục những đâu ?
Mau về truy điếu nguyện cầu sạch trong.
12. Tuyệt đường lương thực tay không,
Lại còn chết đói ngoài đồng tha ma.
Bị quân cướp giật không tha,
Giết người cướp của cùng là tranh nhau.
Thương thay ác nghiệp cơ cầu,
Một khi đã đến tránh đâu tội trời.
Cô hồn hỡi cô hồn ơi !
Thụ Cam lộ vị cho đời ung dung !
13. Những ai đói rét lạnh lùng,
Mùa đông tháng giá hãi hùng gớm ghê !
Tên rơi đạn lạc tứ bề,
Ðầy trời mưa tuyết đi về khó khăn.
Áo quần che chẳng kín thân,
Rét run cầm cập tử thần đến nơi.
Cô hồn hỡi cô hồn ơi !
Thụ Cam lộ vị cho đời ấm no !
14. Những ai rắn cắn hổ vồ,
Thiên lôi dịch lệ cơ đồ nát tan.
Tường siêu nhà đổ ngập tràn,
Trôi sông thắt cổ chết oan đầy đường.
Ai người thân thích xót thương,
Gọi là cúng tiến nắm xương rã rời.
Cô hồn hỡi cô hồn ơi !
Thụ Cam lộ vị thảnh thơi lắm mà !
15. Những ai cướp của đất nhà,
Lại còn sát hại chẳng tha mạng người.
Kẻ này hung ác nhất đời,
Phép vua luật nước chẳng coi ra gì.
Bắt giam vào ngục một khi,
Gậy roi đánh đập thân thì nát tan.
Lại còn cắt thịt moi gan,
Ðể đền tội ác hết van lạy trời.
Cô hồn hỡi cô hồn ơi !
Thụ Cam lộ vị cho đời tỉnh ra !
16. Những ai hiếu thuận mẹ cha,
Cưu mang chín tháng khó mà báo ân.
Công lao cúc dục ân cần,
Tu trì hiếu đễ được phần nào chăng.
Oan gia ngỗ nghịch hung hăng,
Rồi ra mệnh táng hết đường nào đi.
Một mai về cõi âm ty,
Tội kia phúc nọ biết gì đúng sai.
Cô hồn hỡi cô hồn ơi !
Thụ Cam lộ vị cho đời thanh cao !
17. Những ai mang nặng đẻ đau,
Lâm bồn một sớm ai vào thăm nom.
Tấm thân sinh nở gầy còm,
Ðau như dao cắt sớm hôm hãi hùng.
Sinh không tử lại hoàn không,
Thương thay số phận mảnh mong một đời.
Cô hồn hỡi cô hồn ơi !
Thụ Cam lộ vị sau đời dài lâu !
18. Những ai buôn quán bán cầu,
Sông Ngô bể Sở gặp đâu là nhà.
Tham tài bỏ mạng phương xa,
Hồn đường phách sá biết là cậy ai.
Vợ con vái đất kêu trời,
Cũng đành vĩnh biệt ngậm ngùi mà thôi !
Cô hồn hỡi cô hồn ơi !
Thụ Cam lộ vị tuyệt vời ngon ghê !
19. Những ai sông nước đi về,
Lênh đênh sóng gió thuyền bè ngả nghiêng.
Ðắm chìm trôi giạt một phen,
Còn đâu xuôi ngược xuống lên nữa mà.
Xác trôi chim mổ quạ tha,
Thương thay chôn cất biết là cậy ai ?
Cô hồn hỡi cô hồn ơi !
Thụ Cam lộ vị tuyệt vời cao sang !
20. Những ai là kẻ lang thang,
Cửa nhà chẳng đoái xóm làng chẳng trông.
Sinh nhai nghề nghiệp cũng không,
Vui chơi ca hát lầu hồng sớm khuya.
Xóm đào ngõ hạnh đi về,
Ðêm trường mờ mịt say mê nói cười.
Bơ vơ góc bể chân trời,
Bạn bè dư đãng biết người là ai ?
Cô hồn hỡi cô hồn ơi !
Thụ Cam lộ vị tuyệt vời biết bao !
21. Những ai cạo bỏ tóc râu,
Tìm thầy để học đạo mầu từ bi.
Dù gặp phải gian nguy hiểm trở,
Vẫn một lòng quyết chí theo thầy ;
Chân không chưa ngộ lý hay,
Vô thường hai chữ thoát ngay khó mà.
Nguyện giác linh Phật Ðà tiếp dẫn,
Chứng vô sinh pháp nhẫn cao siêu.
22. Khoa nghi diễn đọc mấy điều,
Gọi là hồi hướng ít nhiều chúng sinh.
Nay trai soạn lòng thành cúng tiến,
Cùng hương hoa phẩm vật kính dâng ;
Cầu cho vong giả siêu thăng,
Phúc lưu tín chủ số hằng hà sa.
Xin kính tạ các tòa chư vị,
Cùng Thiên Long hoan hỷ hộ trì ;
Cát tường như ý từ bi,
Nhân duyên công đức độ trì chúng sinh.
A Di Ðà chứng minh,
Cùng thành Phật đạo cùng sinh liên đài.*

164 - VĂN TẾ CÔ HỒN


Hỡi ôi !
Miền U cảnh lạnh lùng tăm tối,
Chốn Huỳnh tuyền nhiều lối nhọc nhằn.
Ẩn dạ đài đợi dứt kiếp căn,
Cõi Tịnh độ siêu thăng chưa được.
Ấy bởi tội lỗi gây kiếp trước,
Nhiều nghiệt oan, ít phước đức công.
Nên phải mang phiền não dập dồn,
Chịu thống khổ, phách hồn xiêu lạc.
Cầu chư Phật oai thần tế bạt,
Lên Thiên đàng, siêu thoát trần ai.
Nay trai diên đạm bạc kỉnh bày,
Xin chư vị tề lai thọ hưởng.
Giúp lê thứ quốc gia thạnh vọng,
Hộ đạo tràng tăng trưởng cơ duyên,
Ðộ mười phương sanh chúng bình yên,
Cùng thí chủ diên niên hạnh phúc.
Lụy trào đế hầu vương đáng kính,
Vận nước vong khó tính mưu thành.
Xưa cửu trùng điện các liệt oanh,
Rủi một phút tan tành cơ nghiệp.
Chư tướng soái binh cơ quyền nhiếp,
Chốn chiến trường nhiều dịp tận trung.
Vì sa cơ hồn xuống Diêm cung,
Nơi dương thế âm dung đà khuất.
Tài bút nghiên văn thần báo quốc,
Tấm lòng son công chất nhà vàng.
Nào hay đâu dị lộ tìm đàng,
Rồi một thuở danh vang tể tướng.
Nhà cơ cẩn thấy trời bốn hướng,
Lo bút nghiên vụ tưởng công danh.
Mười năm ngồi cửa sổ lạnh tanh,
Ba thước đất vùi danh tài tử.
Nhàm cuộc thế lánh thân am tự,
Nương Phật đường gắng giữ kệ kinh.
Ðèn tắt khuya Thiền thất hư minh,
Hồn theo gió đăng trình âm cảnh.
Thảm cho đấng tu chơn dưỡng tánh,
Chốn lâm tòng đói lạnh không màng.
Lòng dốc trông nhập đặng Tiên bang,
Chí chưa toại tầm đàng Ðịa phủ.
Những sĩ tốt tùng chinh đội ngũ,
Tại trận tiền củ củ oai hùng.
Chịu tuyết sương mưa nắng lạnh lùng,
Lằn tên đạn không dung tánh mạng.
Lo đồ lợi thương hồ buôn bán,
Nương thủy triều ngày tháng kinh thương.
Sóng ba đào phong võ khó lường,
Thân trôi nổi gởi xương bụng cá.
Mười tháng chẵn mang con trong dạ,
Lúc lầm bồn mạng đã tìm Tiên.
Thị huyết hồ nạn sản chi khiên,
Hoa mới nở vội liền mưa gió.
Tánh ngỗ nghịch hiếu trung chẳng có,
Công sanh thành chưa rõ cao dày.
Hoặc huyền lương độc dược ra tay,
Bị lôi chấn đọa đày ngục thất.
Người bóng quáng thêm mang bịnh tật,
Thác giữa đàng không đất gởi thây.
Hồn dật dờ theo gió theo mây,
Thành Uổng tử đêm ngày đói lạnh.
Người nghèo khó đốn cây non lãnh,
Chịu nhọc nhằn khổ hạnh cơ hàn.
Bị độc trùng ác thú hổ lang,
Hoặc hỏa thán tầm phong dị lộ.
Người lương thiện tao phùng tật đố,
Bị ngọt ngon dụ dỗ hại thầm.
Oan hồn tìm đến chốn u thâm,
Còn mắc phải gian cầm gìn giữ.
Gái khuê các giai nhơn mỹ nữ,
Chẳng trọn tình cư xử nợ khiên.
Xưa hương xông phấn ướp phấn duyên,
Nay đến chốn Huỳnh tuyền sở ỷ.
Kẻ tù tội mắc vòng lao lý,
Chúng tôi đoài nô tỷ khổ thân.
Thêm phạt hành độc thủ bất nhân,
Hồn lìa cách dương trần rất thảm.
Bị hỏa hoạn tâm hồn mê ám,
Lúc kinh hoàng khổ thảm biết bao !
Tìm đường ra khỏi ngọn lửa cao,
Rủi một phút thân thiêu tro bụi.
Cơn thủy nạn hoảng kinh bối rối,
Họa lụt tràn trôi nổi cửa nhà.
Mạng số suy, thần tử chẳng tha,
Theo dòng nước hồn ma vĩnh biệt.
Khi bão tố đá cây ngã liệt,
Sập cửa nhà đè chết nào hay.
Hồn dật dờ theo cảnh gió mây,
Chịu đau đớn đọa đày nẻo tối.
Cuộc tang thương tuần hoàn thay đổi,
Chấn động miền non núi đất liền.
Bị lấp chôn hồn phách đảo điên,
Chịu muôn nỗi não phiền đau đớn.
Bị xe cán nát thây rùng rợn,
Vận kiếp xui họa lớn nào hay.
Bà con trông than khóc thảm thay,
Cơn hoảng hốt hồn lai uổng tử.
Vì ái dục si tình tự tử,
Cơn đắm mê nào sợ tội mang.
Gieo mình nơi biển nghiệp sông oan,
Hồn phách chịu muôn vàn lạnh lẽo.
Ít phước đức họa tai lôi kéo,
Ðời lao công nhiều nẻo hiểm nguy,
Trên giàn cao ngã té bất kỳ,
Thân tan nát hồn phi phách tán.
Nơi chiến địa lâm cơn tạc đạn,
Thi hài tiêu tứ tán khó nhìn.
Thảm thương cho hồn phách linh đinh,
Miền âm cảnh muôn nghìn khổ não.
Người lương thiện chết oan điên đảo,
Vì đạn tên lạc náo xóm làng.
Oan hồn cam vào chốn nguy nan,
Chịu u ám, xa đàng giải thoát.
Bị khổ bức vì tình đen bạc,
Tự hủy mình cam chác nghiệp sâu.
Mũi đạn xuyên, muôn kiếp khổ sầu,
Hồn phưởng phất biết đâu nương dựa !
Bị cướp giặc lòng tham hung dữ,
Ðoạt của rồi giết chủ thác oan.
Hồn dật dờ thảm khổ muôn đàng,
Kết thù oán khôn toan siêu độ.
Ðời mạc kiếp loạn ly tội lỗi,
Bị hiếp dâm đến nỗi bỏ mình.
Phách hồn oan lạc lối u minh.
Lòng khổ bức muôn nghìn oán hận.
Ðời giặc giã nghịch thù vô tận,
Chôn sống người giữa đám đồng hoang.
Tiếng khóc la oán khí đầy tràn,
Trong giây phút dương gian cách biệt.
Giặc bất lương giết người chẳng tiếc,
Trói lương dân thù ghét quăng sông.
Lặn hụp nơi nước cuốn giữa dòng,
Thân trôi nổi, oan hồn thơ thẩn.
Bị oán chạ chém đâm tàn nhẫn,
Hoặc thù hiềm giết lẫn mạng vong.
Hồn phất phơ nơi chốn long đong,
Biết bao thuở thoát vòng khổ não.
Xe lật đổ, đụng nhau táo bạo,
Chết giữa đàng khôn bảo toàn thi.
Thây nằm phơi, hồn đã biệt ly,
Bà con thấy, ai bi thống thiết !
Người tắm biển tắm sông biệt tích,
Kẻ lội chìm, tê liệt tay chân.
Cơn rủi ro dòng nước gởi thây,
Hồn lạnh lẽo tháng ngày thảm khổ.
Trong cơ xưởng nhơn công phục vụ,
Bị máy lôi vào chỗ hiểm nguy.
Hoặc điện hơi giựt ngã cấp kỳ,
Rủi một phút hồn phi phách tán.
Còn nhiều loại hồn oan ta thán,
Nơi suối vàng thê thảm ngậm ngùi,
Các hồn chưa mãn kiếp Phong đô,
Ðương xiêu lạc khắp nơi khổ não.
Lời thiển bạc nay đà trần tố,
Thương xót thay nỗi khổ các vì.
Hồn linh thiêng hiển hích chứng tri,
Xin sám hối tiền phi hậu quá.
Xét tội lỗi oan khiên vay trả,
Giác ngộ tua diệt cả ác duyên,
Ý tịnh thanh dứt sạch não phiền,
Giữ ba nghiệp vẹn tuyền trong sạch.
Quy y Phật tịnh yên hồn phách,
Nhẫn tâm tồn, giải sạch cừu oan.
Phật dạy rằng tạo tội, tội mang,
Luật nhân quả rõ ràng khó tránh.
Muốn giải thoát, noi gương Phật Thánh,
Chưởng Bồ đề, xa lánh tội căn.
Nguyện Từ Tôn Tam Bảo mười phang,
Ðộ chư vị thoát đàng khổ não.
Dẫn Hồn Vương lòng thương khuyên bảo,
Thập Ðiện đồng mở đạo Từ bi.
Giảm phạt hành, ân huệ bố thi,
Ðức Ðịa Tạng đại bi cứu rỗi.
Linh hồn đặng xa nơi ngục tối,
Vãng sinh miền Tịnh Ðộ thảnh thơi.
Hết lòng thương nay tỏ mấy lời,
Xin chư vị khắp nơi chứng chiếu.
Nam mô A Di Ðà Phật.*

165 - BÁT NHÃ TÂM KINH


Quán Tự Tại thực hành trí tuệ,
Bát Nhã ba la mật sáng ngời ;
Bấy giờ Bồ Tát quán soi,
Thấy rằng năm uẩn ba đời đều không.
Ðộ tất cả qua vòng khổ ách,
Hãy nghe này, Xá Lợi Phất ông !
Sắc nào có khác gì không,
Không nào khác sắc, sắc không
vốn đồng.
Cả thọ tưởng thức hành cũng thế,
Tánh chân không các pháp viên thành ;
Thảy đều chẳng diệt, chẳng sanh,
Chẳng nhơ chẳng sạch chẳng tăng giảm gì.
Trong chân không chẳng hề có sắc,
Chẳng thọ, hành, tưởng, thức trong không,
Mắt, tai, mũi, lưỡi, ý, thân,
Sắc, thanh, vị, xúc, pháp, hương không còn.
Không nhãn thức đến không ý thức,
Không vô minh hoặc hết vô minh,
Không điều già chết chúng sanh,
Hết già hết chết thực tình cũng không.
Không trí tuệ cũng không chứng đắc ;
Bởi có gì là chỗ đắc đâu,
Bấy lâu Bồ Tát dựa vào,
Ba la mật ấy, đi sâu thực hành.
Mọi chướng ngại, quanh minh tan biến,
Mọi việc đều chẳng khiến hoảng kinh ;
Xa lìa mộng tưởng đảo điên,
Niết bàn rốt ráo an nhiên thanh nhàn.
Ba la mật rõ ràng trí tuệ,
Mà ba đời chư Phật nương qua ;
Bồ đề vô thượng chứng ra,
Nên coi Bát Nhã ba la mật là :
Lời thần chú sâu xa bậc nhất,
Lời chú thần rất mực quang minh ;
Chú thần cao cả anh linh,
Là lời thần chú thực tình cao siêu.
Trừ dứt được mọi điều đau khổ,
Ðúng như vầy, muôn thuở không sai ;
Ngài liền đọc lại chú này,
Ðể người trì niệm sáng bày chân tâm :
Yết đế yết đế, ba la yết đế, ba la tăng yết đế, Bồ đề tát bà ha.*(3lần)

NGUỒN TƯ LIỆU


• Kinh Tam Bảo , HT. Thích Trí Tịnh , Thành Hội Phật Giáo Tp.HCM xb ,1992
• Kinh Tam Bảo - Xưng Tụng Tam Bảo , Ni Trưởng Huỳnh Liên , Thành Hội Phật Giáo Tp. HCM. xb, 1992
• Thiền Môn Nhựt Tụng , HT Thích Minh Trực , Phật Bửu Tự xb , Tp.HCM , 1992
• Kinh Vu Lan và Báo Hiếu , Chùa Giác Ngộ xb , Tp. HCM , 1994
• Nghi Thức Tụng Niệm bằng chữ Việt , Sa Môn Trí Hải , Tổ đình Vĩnh Nghiêm xb , Sàigòn , 1969
• Kinh Diễn Nghĩa , HT. Thích Huệ Ðăng , Tổ đình Thiên Thai xb , Sàigòn , 1967
• Pháp Sự Khoa Nghi Việt Ngữ , HT Thích Hiển Tu , chùa Xá Lợi ấn hành Tp. HCM , 1989
• Chư Kinh Nhật Tụng , Tổ đình Vĩnh Nghiêm , Thành Hội Phật Giáo Tp. HCM , 1989
• Chư Kinh Nhựt Tụng , Thích Chân Lý , Chùa Ðức Hòa xb , Sài Gòn , 1967
• Kinh Nhựt Tụng Nam Tông , Hệ phái Nguyên Thủy , Thành Hội Phật Giáo Tp. HCM xb , 1995
• Nghi Thức Tụng Niệm Hằng Ngày bằng chữ Việt , HT Thích Thiện Thanh , THPG Tp. HCM , xb , 1994
• Nghi thức tụng niệm Khất Sĩ , Tịnh xá Trung Tâm , THPG Tp. HCM xb , 1992
• Nghi thức tụng niệm Dược Sư Pháp Bảo , Thích Thanh Ngọc , chùa Khuông Việt ấn hành , Tp. HCM xb , 1984
• Mông Sơn thí thực diễn nghĩa , Thích Thanh Khoát , Bản dịch chép tay Chùa Phú Cốc , Hà Tây , 1986
• Các Bài Cảnh Sách diễn nghĩa , HT Thích Thái Hòa soạn , Bản truyền khẩu các Sơn Môn Miền Bắc , 1930
• Nghi thức tu trì Ðại Bi , Thích Viên Thành , Sài Sơn Pháp Bảo ấn hành , Hà Tây , 1991
• Bộ Chân Lý , Luật Nghi Khất Sĩ , Thành Hội Phật Giáo Tp. HCM , xb , 1993
• Khoa Chú Thực Bản Bắc , Phần chữ Việt , Bản in lụa Hải Phòng , 1990
• Nguồn Chân Lý , Thích Giác Pháp , Thành Hội Phật Giáo Tp. HCM xb , 1996
• Văn tế Chiến sĩ trận vong , Bản chữ Nôm , Chùa Bửu Huệ , Bến Tre , Năm Giáp Dần
• SA Di Luật Giải , HT Thích Hành Trụ , Thành Hội Phật Giáo Tp. HCM xb , 1992



Chú thích


* Bài dịch nghĩa truyền khẩu trong các sơn môn chốn Tổ miền Bắc. Do Tổ Thái Hoà soạn khoảng năm 1930.
* Bài dịch nghĩa truyền khẩu ở các Sơn Môn chốn Tổ miền Bắc. Do Tổ Thái Hoà soạn khoảng 1930.
* Bài dịch nghĩa truyền khẩu trong các sơn môn chốn Tổ miền Bắc. Do Tổ Thái Hoà soạn khoảng năm 1930.
* Trích "Khoa Chú Thực" - Bản Bắc in lụa , phần chữ Việt , Hải Phòng , 1990
* Trích "Chư Kinh Nhật Tụng" Miền Bắc ,Thích Chơn Lý , Thành Hội Phật Giáo Tp. HCM xuất bản , 1996
* Trích "Thiền Môn Nhật Tụng " , HT Minh Trực , Phật Bửu Tự Tổ đình xb, Sài Gòn , 1992.
* Nguyên tác : Hòa thượng Thích Thái Không soạn vào năm Tân Hợi tại chùa Bửu Huệ, Ba Tri, Bến Tre.
* Bản dịch chép tay của TT. Thích Thanh Khoát chùa Phú Cốc, Thường Tín, Hà Tây,1986
* Trích “Thiền Môn Nhựt Tụng” ,Tổ đình Phật Bửu , 1992
* Trích Kinh Vu Lan và Báo Hiếu , Phan Khắc Nhượng ,chùa Giác Ngộ ấn hành,1994

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn