12-Tội phước

28/01/201109:41(Xem: 11039)
12-Tội phước

BƯỚCÐẦU HỌC PHẬT
HòathượngThích Thanh Từ
PhậtLịch 2541-1998

Tộivà phước

I.-MỞÐỀ

Nóiđếntu hành là nói đến tội phước, nếu không rõ tộiphước tức là không rõ sự tu hành. Nếu người tu mà cứlao mình trong tội lỗi, ấy là người tạo tội chớ khôngphải là người tu hành. Mọi sự an vui và đau khổ gốc từtội phước mà sanh ra. Vì thế muốn thấu hiểu sự tu hànhchúng ta phải thấu hiểu tội phước. Tội phước là nhữnghành động thiết thực trong cuộc sống này, không phải làchuyện siêu huyền mờ ảo đâu đâu. Thế nên người tu hànhphải thấu đáo phải phân rành vấn đề tội phước.

II.-THẾ NÀO LÀ TỘI?

Tộilà hành động làm cho mình và người đau khổ trong hiện tạivà vị lai. Người làm tội cũng gọi là người dữ, ngườixấu. Tội, có tội ngoài đời và tội trong đạo. Tội ngoàiđời là những kẻ phạm luật pháp nhà nước, bị tù đàyđau khổ. Tội trong đạo có hai loại: tội do hứa nguyệngìn giữ mà không giữ, tội làm đau khổ chúng sanh. Tội dohứa nguyện gìn giữ mà không giữ, như trước nhận giữnăm giới hoặc mười giới là điều cao cả quí báu, ở trướcTam Bảo nguyện trọn đời gìn giữ, mà sau này không giữđược một hoặc nhiều điều, gọi là tội phạm giới. Tạisao phạm giới gọi là tội? Bởi vì trước mình đã nhậnđịnh những giới luật đó là hay là đúng, nếu giữ đượcsẽ lợi ích cho mình và chúng sanh, nên nguyện gìn giữ. Saunày mình không gìn giữ, thế là đã phá hoại sự lợi íchcủa mình và của chúng sanh nên phạm tội. Thí dụ như giớiăn trộm chẳng hạn. Bất cứ một hành động nào làm khổcho người hiện tại hoặc mai kia đều là tội. Bởi vì mìnhđã gây ra nhân đau khổ thì quả đau khổ mình phải lãnhlấy. Do làm khổ mình khổ người nên gọi là tội. Tội cótội nhẹ và tội nặng.

a)Tội nhẹ

Nhữngđiều làm đau khổ cho người cho chúng sanh do thân miệng chúngta gây ra mà không cộng tác với ý là tội nhẹ. Bởi vì việclàm ấy là vô tâm, hoặc không có ý thức. Việc làm vô tâm,khi nạn nhân cảm thông được, họ sẽ bớt thù hận, nếuhọ đại lượng có thể tha thứ luôn. Thí dụ chúng ta điđường, có đứa bé cầm hòn đất ném chơi, lại trúng vàochúng ta. Nếu chúng ta biết nó không có ý ném mình, tuy đauđiếng mà chúng ta không giận nó. Thế nên mọi hành độngbằng thân bằng miệng làm đau khổ cho người mà không cóý thức là tội nhẹ, xin lỗi hoặc sám hối sẽ hết. Việclàm đau khổ chúng sanh chút ít cũng là tội nhẹ.

b)Tội nặng

Nhữngđiều làm đau khổ cho người cho chúng sanh do thân miệng cộngtác với ý chúng ta gây ra là tội nặng.

Bởivì việc làm ấy là có cố tâm, có hữu ý, khiến ngườioán giận không thể tha thứ. Thí dụ như có người cố tìnhđánh chúng ta, dù cái đánh ấy bị cản trở không chạm đếnthân chúng ta song biết kẻ ấy cố tình đánh mình, chúng tacũng giận họ đời đời. Vì thế hành động cố tâm, hữuý là hành động quan trọng nên tạo thành tội nặng.

Thếnên tội phát xuất từ ba nghiệp chúng ta. Nơi thân: giếtngười, trộm cướp, tà dâm. Nơi miệng: nói dối, nói hailưỡi, nói thêu dệt, nói hung ác. Nơi ý: tham, sân và tà kiến.Sự hợp tác chặt chẽ của ba nghiệp này là tội nặng.

III.-THẾ NÀO LÀ PHƯỚC?

Phướclà những hành động đem lại sự an vui cho mình, cho ngườiở hiện tại và mai kia. Người làm phước cũng gọi là ngườilành, người tốt. Bởi vì những hành động đem lại sựan vui cho người, người sẽ quí mến. Chính sự quí mến ấynên gặp nhau vui vẻ và sẵn sàng giúp đỡ nhau. Chúng ta giúpđỡ hoặc an ủi khiến người được an vui, người thù đáplại chúng ta bằng cử chỉ biết ơn vui vẻ quí mến, đólà làm phước gặp phước. Vì thế người biết làm phướchiện tại được an vui, mai sau vẫn an vui. Làm phước có haithứ: phước hữu lậu và phước vô lậu.

A)Phước hữu lậu

Làmcho mình cho người an vui tương đối trong vòng sanh tử làphước hữu lậu. Do ba nghiệp chúng ta hoạt động đem lạisự an vui cho người, chính hành vi ấy là sanh diệt giới hạn,còn trong vòng sanh tử hiện tại cũng như mai sau. Chúng ta phảinỗ lực tạo điều kiện cho mình và mọi người thườngđược an vui. Muốn thực hiện được việc đó, ngay nơi banghiệp chúng ta phải ứng dụng các điều này:

1.Về thân

a)Cứu mạng: Chúng ta phải sẵn sàng cứu giúp bảo vệ sanhmạng người. Nếu người gặp tai nạn sắp mất mạng, theokhả năng mình, chúng ta tận tâm cứu giúp. Giải cứu cho ngườithoát chết, hoặc ngừa đón những sự việc có thể làm nguyhiểm đến sanh mạng người, đó là việc làm phước củathân. Bởi vì sanh mạng đối với con người là tối thượng,cho nên ai giải cứu khỏi chết, là an vui và biết ơn vô kể.

b)Bố thí: Kế đến, sẵn sàng cứu giúp người khi gặp cảnhcơ hàn nguy khốn. Nỗi khổ đói rét cũng đe dọa đến sanhmạng, người đang lâm vào cảnh khổ này, nếu được cứugiúp, họ cũng vui mừng vô hạn. Chúng ta muốn được an vuithì phải sẵn sàng mang sự an vui bủa khắp mọi người, đólà nền tảng phước đức. Hạnh phúc không phải đến riêngvới chúng ta, mà do sự thù đáp từ hạnh phúc của mọi ngườimang lại. Chúng ta đừng dại khờ cứ bo bo giữ lấy tài sảnvô thường làm của riêng mình, cần phải ban bố cho nhữngngười đang thiết tha cần nó. Những cái vô thường mà cứgiữ, có ngày sẽ khổ đau khi nó không còn ở trong tầm taymình nữa. Mượn của cải vô thường làm phương tiện anvui cho người, nguồn an vui ấy sẽ trở về với chúng ta mộtcách bền vững lâu dài.

c)Trinh bạch: Cần phải giữ hạnh trung thành trinh bạch. Ngườibiết đạo lý đã không dám xâm phạm đến danh giá và hạnhphúc của gia đình người, còn phải trung thành trinh bạchvới gia đình mình. Tinh thần trung trinh ấy giúp cho ngườitrong gia đình tín cẩn lẫn nhau. Do sự tín cẩn nhau nên tronggia đình được sự an ổn vui tươi. Trong gia đình đã thế,chúng ta cần nhắc nhở chỉ dạy cho mọi người chung quanhđều tập hạnh trung trinh này. Ðược thế, sự an vui khôngnhững chỉ ở trong phạm vi gia đình, mà tràn lẫn đến xãhội.

2.Vềmiệng

Tuphước ở miệng phải tập bốn điều này:

a)Nói chân thật: Nói chân thật để đem lại niềm tin tưởngan ổn cho người. Bất cứ ở trường hợp nào, chúng ta cũngcố gắng nói lên những lẽ thật. Luôn luôn tôn trọng vàyêu chuộng lẽ thật, cho nên phát ngôn lúc nào cũng hợp vớisự thật. Chân thật là nguồn gốc tin yêu nhau, do đó mọisự mến thương được bền bỉ.

c)Nói đúng lý: Nói đúng lý để giúp mọi người nhận đượclẽ chánh. Trong cuộc sống phức tạp này khiến mọi ngườikhó tìm được con đường chánh. Cho nên chúng ta cố gắngnói ra lời đúng lý, hầu làm sáng tỏ mọi chỗ ngờ vựccủa người. Sống đúng, nói đúng, thật là sự hi hữu trongcuộc đời hỗn độn hiện nay. Chúng ta mãi tôn trọng câu"mặc người phi pháp, chúng ta vẫn giữ đúng pháp".

c)Nói hòa thuận: Nói hòa thuận để đem lại tình đoàn kếtcho mọi người. Tất cả việc làm phân ly chia rẽ đều làtạo nên thống khổ cho con người. Chúng ta đã không làm thế,mà luôn luôn dùng lời hòa thuận để hàn gắn lại nhữngmối tình đã rạn nứt. Ngôn ngữ chúng ta phát ra đều đemlại tình thương gắn bó cho mọi người. Thấy đâu có sựrạn nứt, có mầm tan rã, chúng ta đều nỗ l?c dùng lời hòathuận là chất keo hàn gắn lại. Tận dụng ngôn ngữ mìnhđể đem lại tình đoàn kết an vui cho nhân loại.

d)Nói nhã nhặn: Nói nhã nhặn để đem lại sự ôn hòa vui vẻcho người. Mọi sự căm phẫn, bực tức đều làm cho ngườiđau khổ. Chúng ta tập nói nhã nhặn là làm dịu mọi sựbực dọc của người. Lời nói nhã nhặn khiến người dễmến và vui vẻ. Trọn đời chúng ta đem lại sự an vui chochúng sanh, không có lý do nào lại dùng lời thô ác. Chúngta phải thực hiện lời nhã nhặn mãi mãi với mọi người.

3.Vềý

Chúngtaphải tập từ bi, nhẫn nhục và chánh kiến. Mang lại tìnhthương cho chúng sanh là tiêu diệt mầm tham lam độc ác. Nỗikhổ của chúng sanh ngập trời đều do lòng tham ác của conngười tạo nên. Chúng ta tận lực gây dựng tình thương đểgiảm thiểu đau khổ cho chúng sanh. Tập lòng nhẫn nhục đểchịu đựng mọi cảnh ngang trái mà không sanh sân hận. Cónhẫn nhục được, chúng ta mới giữ được tình thương lâudài với chúng sanh. Chánh kiến là nhận định đúng đắn,đưa chúng ta đi đúng hướng, sáng suốt vui tươi. Do chánhkiến mới có nói đúng, làm đúng. Ba nghiệp tạo phước,chánh kiến là đội binh tiên phong. Tóm lại, ba nghiệp làmmười điều trên là tu phước hữu lậu. Phước này khiếnchúng ta qua lại trên con đường an vui tươi đẹp. Mặc dùcòn tương đối sanh tử, song đến đâu cũng là hài lòng mãný.

B)Phước vô lậu

Phướcvô lậu là sự an vui tuyệt đối không giới hạn. Do thoátly sanh tử nên an vui miên viễn. Bởi sự an vui nào mà cònsanh tử đều tạm bợ đối đãi. Chỉ có tiêu diệt hếtmầm sanh tử, an trụ vô sanh, mới là an vui viên mãn. Tu phướcvô lậu là chúng ta nhắm hướng vô sanh làm mục đích, hàngngày buông xả cái chủ động sanh diệt và dùng trí thấyrõ các tướng giả dối sanh diệt, không lầm, không kẹt nó.Cứ thế tiến mãi, cho đến bao giờ viên mãn mới thôi. Mìnhlàm như vậy, chỉ dạy người làm như vậy là tu phước vôlậu.

IV.-CẦN TRÁNH TỘI LÀM PHƯỚC

a)Tránh tội

Ðãbiết tội là nhân khổ đau bất như ý, chúng ta cố gắngtránh đừng gây nên tội. Cuộc đời đã khổ đau lắm rồi,chúng ta không thể làm cho nó tươi đẹp, ít ra cũng đừngtô thêm cho đậm nét khổ đau. Tránh gây khổ đau cho ngườitức là tránh tạo khổ cho mình. Có ai ngu dại đến nỗi lấydây tự trói, lấy roi tự đánh, để rồi kêu khóc thở than.Mầm khổ đau không gieo thì cây khổ đau làm sao đâm chồinảy lộc. Biết thế, chúng ta dè dặt tối đa trong việc gieonhân đau khổ. Dù một tội nhỏ, tránh được, chúng ta cũngcố gắng tránh. Như trong Luật nói: "Giọt nước tuy nhỏ,rơi mãi cũng đầy chậu lớn." Người biết sợ tội là ngườisẽ khỏi tội. Chỉ có kẻ liều mạng xem thường tội lỗi,càng lún sâu trong tội lỗi. Ðã có tội lỗi là có khổ đau,như có hình thì có bóng, có tiếng thì có vang. Người họcđạo phải sáng suốt thấy rõ lý lẽ ấy, để không lầm,làm khổ mình khổ người.

b)Làm phước

Hạnhphúc an vui là điều ai cũng ước mơ, mong mỏi. Người họcđạo không ư?c mơ mong mỏi suông, phải thực tế gầy dựnghạnh phúc cho người tức là gầy dựng hạnh phúc cho mình.Hạnh phúc không thể ngẫu nhiên đến với chúng ta, mà docông phu bồi đắp. Một hành động, một lời nói, một ýnhiệm mầu đem an vui lại cho người, chính là gây dựng hạnhphúc cho ta. Trong cuộc đời tương phản, kẻ buông xả hếtlại là người được nhiều nhất. Ngược lại, người cốgiữ gìn lại là người mất mát nhất. Tạo hạnh phúc chomình, không phải bo bo gìn giữ những cái gì của mình màphải xả bỏ cái của mình, tạo cho người an vui. Chúng talàm cho trăm ngàn người an vui, quả thực đã tạo trăm ngànđiều an vui cho chúng ta. Vì thế làm phước không bao giờthấy đủ, chúng ta làm mãi đến suốt đời, mà vẫn thấychưa xong. Có một lần đức Phật đang ngồi trong một tịnhxá, ở phòng khác ngài A-na-luật đang xỏ kim vá y, vì mắtkhông tỏ, Ngài xỏ hoài mà chẳng được. Ngài buột miệngthan: "Có ai mắt sáng làm phước xỏ kim hộ tôi." Ðức Phậtnghe, Ngài đi đến chỗ A-na-luật bảo: "A-na-luật! Ðưa kimta xỏ hộ". Thế Tôn đầy đủ vô lượng phước đức, màcòn mót từ cái phước xỏ kim. Thử hỏi chúng ta là ngườigì mà không cố gắng làm phước? Phước càng to thì an vuicàng lắm, có thiệt thòi gì đâu mà không chịu làm!

V.-KẾT LUẬN

Tộiphước là điều thực tế trên cõi nhân gian. Cổ động khuyếnkhích người tránh tội là hành động giảm thiểu khổ đaucho nhân loại. Tán thán ca ngợi làm phước là mang lại hạnhphúc an vui cho chúng sanh. Lý đáng mọi người chúng ta đềutận lực làm điều này. Vô lý những kẻ đã không làm, lạicông kích người khác làm. Còn ai không xót xa khi thấy conngười sát phạt con người. Người có lương tâm, đầy lòngtrắc ẩn không thể ngó lơ trước huynh đệ tương tàn. Chonên tránh tội làm phước là điều mỗi con người chúng taphải ứng dụng. Biết tội phước là cội nguồn của đạođức. Song chúng ta đừng bị phỉnh gạt bằng những tộiphước rỗng. Tội là cấy mầm đau khổ nơi con người,Phước là gieo hạt hạnh phúc cho chúng sanh. Thực tếnhư vậy, không phải việc huyễn hoặc viễn vông.

















Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
30/07/2016(Xem: 20050)
Đại Trưởng lão Bửu Chơn, một bậc cao tăng, đạo cao đức trọng của Phật giáo Nguyên Thủy, ngài có hơn 10 năm tu hạnh đầu đà ở núi rừng Campuchia. Trở về Việt Nam, ngài là người tu học khá sớm ở Tổ đình Bửu Quang vào khoảng thập niên 40. Ngài là thành viên sáng lập Giáo hội Tăng già Nguyên Thủy Việt Nam và Tăng thống nhiệm kỳ Ban Chưởng quản lâm thời vào năm 1957
24/04/2016(Xem: 47076)
Qua mạng Amazon.com, tôi đặt mua cuốn sách tiếng Anh “In The Buddha’s Words” của Bhikkhu Bodhi ngay sau khi xuất bản năm 2005. Đọc sơ qua phần đầu rồi để đó. Mỗi lần đi đâu, tôi mang theo để đọc từ từ vài trang, trong lúc chờ đợi, trước khi đi ngủ. Cứ thế dần dần qua năm tháng. Rồi cũng không thẩm thấu được bao nhiêu.
09/03/2016(Xem: 24012)
Tôi cầm trên tay bộ sách 2 cuốn “Phật pháp vấn đáp” của Hòa thượng Thích Giác Quang. Và tôi đọc ngay. Đọc ngay lập tức. Sách xuất bản sát tết âm lịch để chào mừng Tết Sách và là sách lỳ xì nhân năm mới.
18/12/2015(Xem: 22460)
Thuở xưa, đức Phật với nắm lá trong tay, hỏi chư tỳ-khưu rằng: “Số lá trong bàn tay của Như Lai, so với lá trong rừng, ở đâu nhiều hơn?” Khi chư tỳ-khưu đáp“Lá trong rừng nhiều hơn”, đức Phật bèn nói tiếp: “Cũng vậy, những thấy biết của Như Lai nhiều như lá cây trong rừng, nhưng những điều Như Lai đem ra giảng nói chỉ như nắm lá ít ỏi trong bàn tay này thôi! Tại sao vậy? Vì những điều không cần thiết, những điều không đem đến cho chúng sanh thấy khổ và diệt khổ, không đem đến giải thoát tham ưu và phiền não ở đời, Như Lai không nói, Như Lai không thuyết!”
23/09/2015(Xem: 5647)
Đức Phật Bản Sư Thích Ca Mâu Ni đã giảng kinh chuyển pháp luân tứ thánh đế, tại vườn Lộc Uyển, cho năm anh em Kiều Trần Như, tứ thánh đế hay tứ diệu đế là bốn chân lý chắc thật về khổ đế, tập đế, diệt đế, đạo đế. Đức Thế Tôn đã tam chuyển thập nhị hành, là thị chuyển, khuyến chuyển, chứng chuyển. Thị chuyển tứ thánh đế là việc giới thiệu về bốn chân lý chắc thật khổ, tập, diệt, đạo, để giúp cho chúng ta hiểu thấu được bản chất của nó. Khuyến chuyển tứ thánh đế là việc khuyên bảo chúng ta tu hành theo pháp tứ thánh đế để sớm đoạn diệt được hết khổ đế, được giải thoát giác ngộ chân lý chứng đắc tứ thánh quả. Chứng chuyển tứ thánh đế đó là cảnh giới chứng đắc tứ thánh quả. Khi nghe xong bài pháp chuyển pháp luân tứ thánh đế trên, năm anh em Kiều Trần Như liền giác ngộ chân lý, chứng đắc tứ thánh quả. Như vậy, đức Thế Tôn chuyển pháp luân tứ thánh đế, giúp ích cho chúng ta hiểu thấu được bốn chân lý khổ đế, tập đế, diệt đế, đạo đế, biết được chúng ta cũng như tất cả chúng sinh từ đâu đến
01/07/2015(Xem: 33031)
Trên bước đường tu học Phật, ít nhiều gì, Phật tử cũng thường hay gặp phải những thắc mắc, nghi vấn các vấn đề mà tự mình chưa có thể tìm ra giải đáp. Có những nghi vấn mang tính chất thuần túy kinh điển, nặng về phần nghiên cứu học thuật. Bên cạnh đó, cũng có những nghi vấn liên quan thiết thân trong đời sống sinh hoạt hằng ngày mà bất cứ người Phật tử nào cũng gặp phải trong khi tu học. Khởi đi từ yếu tố thiết thực đó và cũng muốn để trao đổi trong nhu cầu nghiên cứu, học hỏi Phật pháp, nhứt là đối với những người hằng quan tâm đến Phật giáo, suốt thời gian qua, trong các khóa tu học ngắn hay dài hạn, đều có đề ra mục Phật Pháp Vấn Đáp, để cho quý Phật tử nêu ra những nghi vấn thắc mắc. Và những nghi vấn thắc mắc nầy, đã được thầy Phước Thái gom góp lại để giải đáp thành 100 Câu Hỏi Phật Pháp. Năm 2010, 100 Câu Hỏi Phật Pháp tập 2 đã được ấn hành 1500 bản. Sách ấn hành chỉ trong khoảng thời gian rất ngắn thì số lượng sách đã không còn. Từ đó đến nay (2015), trải qua thời gian 5 năm
15/06/2015(Xem: 30349)
Yếu chỉ tu tập & hành đạo. Tác giả Thích Thái Hòa
26/05/2015(Xem: 9603)
Cuốn sách này được dịch nguyên văn từ tác phẩm Buddhism key stage one của Jing Yin Ken Hudson. Tôi dịch cuốn sách này và gửi đến Thư viện Hoa Sen với các lý do : - Đạo Phật được truyền bá rộng rãi cho mọi người. Đặc biệt là các em thiếu nhi. Những mầm non cho tương lai mai sau. Các em cần phải hiểu biết Đạo Phật. - Đây là món quà thành kính dâng lên Đức Phật, mong ngài ban phước lành cho mọi người; cho gia đình tôi; cho bạn bè; cho tất cả mọi người. Rất mong Thư viện Hoa Sen duyệt và chọn đăng để làm tài liệu cho các em thiếu nhi học tập.
26/05/2015(Xem: 11414)
Lúc thiếu thời, Đức Phật đã có những suy nghĩ giống thiếu nhi hôm nay. Các cháu tự hỏi tại sao bị sốt. Tự hỏi tại sao ông bà các cháu lại chết. Tại sao những ước mơ của các cháu không phải là sự thật. Các cháu tự hỏi về vẻ đẹp và hạnh phúc của cuộc đời. Bởi vì Đức Phật biết rõ suy nghĩ của trẻ em nói riêng và loài người nói chung, Ngài dạy chúng ta làm thế nào để sống hạnh phúc và có cuộc sống thanh bình. Đạo Phật không phải là niềm tin mù quán vào nơi xa lạ nào đó.
15/05/2015(Xem: 37870)
Thể theo lời yêu cầu của các bạn Đạo, tôi chọn một số bài nói chuyện về Phật pháp của tôi tại Tổ Đình Từ Quang ở Montréal và một vài nghi thức tụng niệm để in thành cuốn sách này, với hy vọng phổ biến Phật pháp. Cuốn sách được hình thành trong dịp Tết Canh Thìn, nhưng phải đợi đến Tết Dương Lịch 2001 mới đánh máy xong. Trong thời gian chờ đợi này, tôi đã cẩn thận kiểm điểm lại nội dung từng bài, nhưng chắc chắn không tránh khỏi thiếu sót, những mong các bậc cao minh từ bi chỉ điểm cho. Montréal, Tết Dương lịch 2001 Hiển Mật, Đỗ Hữu Trạch