Ước Nguyện Cuối Đời (Phần Cuối)

17/12/202511:19(Xem: 2228)
Ước Nguyện Cuối Đời (Phần Cuối)

ƯỚC NGUYỆN CUỐI ĐỜI (Phần cuối)

 Duc Phat

(1):Cố ứng dụng Phật pháp vào cuộc sống.

Tu Tâm tốt, vọng tưởng khó xen vào.

Vậy là PHIỀN NÃO sẽ tránh xa mau.

Cuộc sống HẠNH PHÚC đến sau liền liền.

***************************************

(B): Tu Thêm Hạnh Phụ: (tiếp theo):

 

(c): Bố Thí:

Thơ 7 chữ, 4 câu:

 

(2):Cho Đi sẽ Nhận Lại, người ơi!

Chân lí ấy luôn nhớ suốt đời.

Đừng nghĩ cho đi là mất hẳn!

Làm LÀNH gặp TỐT, chớ buông lơi.

***

(3):Lắm kẻ hiểu lầm của hiến đi.

Hoàn toàn mất trắng, chẳng hay gì.

Ấy gieo Ruộng Phước nào ai biết.

Con cháu mai sau hưởng ruộng phì.

***********************************

Thơ 9 chữ:

 

(4):Của Cho Đi không bao giờ Mất Hẳn đâu.

Cho với Tâm Rộng Lớn Trời nào Phụ Ta.

Còn Cho: Tâm Miễn Cưỡng Quả nhận Kém Xa.

Tâm Quyết Định Tất cả, cố mà gắng Tu.

***

(5):Tìm chỗ tạo Phước nhiều mới CÚNG, CHO.

Ấy Tâm tính toán, so đo, hẹp lòng.

Dù dâng, cúng tới trăm lượng vàng ròng.

So Lòng Rộng Mở, Một Đồng Vẫn Hơn.

***

(d): Phóng Sanh:

Thơ 7 chữ, 4 câu:

 

(6):Một nhóm ra ao để phóng sanh:

Ếch, lươn mừng quá vội bơi nhanh.

Khoảng xa, chúng ngoảnh đầu nhìn lại.

Tỏ vẻ cảm ơn thật chí thành.

***

(7):Chọn mua vật sắp bị phanh thây,

Rồi thả chúng ra nội một ngày.

Đừng giữ chúng lâu, lo bị giết.

Tâm từ như vậy, đáng mừng thay!

***

(8):Con vật mà ta đã phóng sinh.

Dáng hình chúng khác hẳn người mình.

Thật ra chúng: họ hàng ta đấy.

Tin hiểu thật sâu, đỡ sát sanh.

***

(đ): Ăn chay:

Thơ lục bát:

 

(9):Để tiêu tội, phải ăn chay.                                                                                                 

Lý do ăn mặn, hằng ngày sát sanh.                                                                                                    

Vật nuôi vốn giống hiền lành,

Do người giết, hận trùm quanh đất trời!

*

(10):Gây bao thảm họa khắp nơi:

Thiên tai, dịch bệnh,...người người khiếp kinh!

Súc sinh cũng có tánh linh,

Sống: Ham , Chết: Sợ như mình chẳng sai.

*

(11):Giết, ăn chúng, thật ác thay!

Thân nhân đấy, Phật dạy bày, biết không?

Bởi do nghiệp chướng chất chồng ,                                                                                                  

Chịu đày làm kiếp có lông, có sừng, … !

***

(12):Ăn mặn, cứ nghĩ con vật: thân nhân mình. (thơ 9 chữ)

Tự nhiên thấy ớn nhợn, rùng mình dừng ngay.

Thực tập như vậy trong bữa ăn hàng ngày.

Rồi chắc: bỏ mặn, qua Trường Chay mấy hồi.

***

(e): Khẩu Nghiệp:

Thơ 7 chữ, 4 câu:

 

(13):Ác khẩu, coi chừng, phải tránh thường.

Nếu không, rồi sẽ gặp tai ương.

Chết về địa ngục, theo hình phạt:

Cắt lưỡi, Xé mồm... nát tựa tương.

***

(14):Hai tai, đôi mắt đáng lo thay!

Để chúng thấy nghe có chuyện ngay.

Vì vậy, tâm tư luôn loạn động.

Thế rồi nghiệp khẩu tạo hàng ngày.

***

(15):Nên nghĩ lỗi mình lúc tĩnh tâm.

Không nêu chuyện xấu lúc nhàn đàm.

Tập TU được vậy đỡ thêm tội.

Nghiệp khẩu còn vương hại xác phàm.

***

(16):Nói Xấu Người Nhiều, trước tiên sẽ hại mình. (thơ 9 chữ)

Độc Tố tiết, lâu ngày Bệnh tình hiện ra.

Tạo Nghiệp nữa, chắc không Tránh Khỏi đâu mà.

Hãy TU MIỆNG, cuộc sống chắc là Tốt Hơn.

***

(g): Học Hạnh Khiêm Cung

Thơ 7 chữ, 4 câu:

 

(17):Học tính Khiêm Cung, học ở đâu?

Tới chùa học dễ tại vì sao?

Gặp ai mình cũng nên chào cả.

Nghĩ họ hơn ta phải xá chào!

*

(18):Họ hơn ta những điểm gì nào?

Biết Phật trước mình, cúi xá sâu!

Đi đứng oai nghi người Phật tử.

Khởi lòng kính trọng, ngượng gì đâu!

***

(19):Cố TU cho được hạnh KHIÊM CUNG.

Tật Đố tự nhiên chẳng muốn dùng.

Nhận lỗi khi SAI người Độ Lượng.

Tâm An, Người Trọng, sướng vô cùng.

***

(20):Ai ơi, cố học cho được hạnh KHIÊM CUNG. (thơ 9 chữ)

“Cái TA” biến mất, hết chỗ dùng: vui thay!

Tính Khiêm cung thường trực trong Tâm hằng ngày.

Người mà Tâm Đắc cách TU này, đời vui.

(h): Tin Sâu Nhân Quả:

Thơ 7 chữ, 4 câu:

 

(21):Tin NHÂN QUẢ, dẹp bớt “TA” ngay.

Dù xấu đến đâu xảy mỗi ngày.

Tự nhủ rằng TA đang nhận QUẢ!

Lòng sao an ổn, thật vui thay!

***

(22):Có kẻ mắng ta, cứ ngậm thinh.

Nghĩ do NHÂN QUẢ, lỗi nơi mình.

Thế là mọi việc qua êm ả.

Tu được thế này, mới thật tình!

***

Thơ 9 chữ:

 

(23):Tin sâu NHÂN QUẢ, tức Nhận Lỗi về mình.

Cái TA còn đâu nữa, thật tình mừng thay!

Từ đó, KHỔ ĐAU, GIẬN TỨC,...biến đi ngay.

Ai KHÔNG TIN NHÂN QUẢ: khổ ngày, lẫn đêm

***

(24):Người biết TU luôn thấy cuộc đời Hạnh Phúc.

Vì TIN NHÂN QUẢ, vuệc có XẤU cũng VUI.

Không TIN PHẬT chỉ thấy Nỗi Khổ cuộc đời .

Gặp Bất Hạnh đổ lỗi cho Trời Bất Công.

***

(25):Đừng Buồn khi Gặp những Chướng Duyên đau lòng.

Phải hiểu mình TRẢ QUẢ là xong chớ gì.

Vây nên CẢM ƠN KẺ TẠO XẤU ngay đi.

Những ai THỰC TẬP được, còn chi sướng bằng.

***

(i): Sám Hối Nghiệp Chướng:

Thơ 8 và 9 chữ:

 

(26):Tội Lỗi Ngập Trời nếu phát tâm Hổ Thẹn.

Sám Hối Trước Đức Phật Quyết chẳng phạm thêm.

Tội như băng tuyết dày đặc trong màn đêm.

Anh Sáng Quang Minh chư Phật chiếu soi tan liền.

***

(27):Sám Hối tức là Cải Quá Tự Tân.

Một lần Sửa Lỗi phải cần nghiêm minh.

Trước tiên, cảm thấy Hổ Thẹn lỗi mình.

Nói lời Sám Hối Thật Tình: tội tiêu.

(Tự tân: Tự sửa đổi lỗi mình/ Cải quá: Sửa đổi lỗi lầm.)

***

(28):Còn tội nặng, không thẹn, Sám Hối liều.

Tâm không chân thật, tội tiêu bao giờ!?

Hiền Thánh biết từ kẽ tóc chân tơ.

Tội chồng tội, Sám lơ mơ được gì!

***

(k): Tu Thân: Điều Chỉnh Tâm Tính, Sửa Đổi Hành Vi

Thơ 8 và 9 chữ:

 

(29):Luôn nhớ Nghĩ về điều TỐT của người.

Tâm ta sẽ được Thảnh Thơi, nhẹ nhàng.

Còn như Nhìn ai thấy Xấu hoàn toàn.

Lòng sao nặng trĩu như mang khối chì.

***

(30):Thân tâm con người lỡ có vết nhớp dơ.

Phải cố tâm, tức tốc từng giờ sửa sai.

Mới đảm bảo phẩm chất hữu dụng tương lai.

Tạo động lực vi diệu đổi thay cuộc đời.

***

(31):Nhẫn được một chút, rồi sóng yên biển lặng.

Cố lùi một bước, thấy biển rộng trời cao.

Nhẫn: biết hóa giải việc gay cấn, lớn lao:

Thành điều không đáng kể, ngõ hầu đều êm.

***

(32):Nhận lỗi, khi làm sai, với bất cứ ai.

Dù họ nhỏ tuổi, cả người hay ghét mình.

Làm được vậy, đã dẹp bỏ tính ngông nghênh.

Ai cũng quý mến, nhờ tính tình khiêm cung.

***

Kính mong quý bạn đạo hữu duyên hãy cùng chung tôi cố thực tập tốt hằng ngày bài viết ở trên. Nói chung là tu tốt 10 điều lành để cuộc sống ngày càng tốt đẹp hơn.

Cầu mong có nhiều người hưởng ứng, chúng tôi xin đem công đức này hồi hướng tất cả pháp giới chúng sanh tương lai đồng sanh về  Tịnh độ.

Xin chân thành cảm ơn quý vị đã đọc bài viết./.

 

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
31/10/2025(Xem: 2708)
(1):Tôi làm thơ chuyên về những Điều Răn Dạy. Trước giúp mình: cố học lấy Điều Hay. Sau, Mong Người Thích: hãy Thực Tập hằng ngày. Hy vọng đời thay đổi, tốt thay: Lành Nhiều!
31/10/2025(Xem: 4147)
LỜI GIÃI BÀY Nếu là một liên hữu Việt Nam, có lẽ không ai không biết đến đại sư Ấn Quang qua dịch phẩm Thiền Tịnh Quyết Nghi của hòa thượng Trí Tịnh và Lá Thư Tịnh độ của cố hòa thượng Thiền Tâm. Khi đọc Lá Thư Tịnh Độ, chúng tôi vẫn luôn kỳ vọng sau này có thiện duyên sẽ được đọc toàn bộ Ấn Quang Văn Sao. Khi được quen biết với đạo hữu Vạn Từ, anh nhiều lần khuyên chúng tôi khi nào có dịp hãy cố dịch toàn bộ tác phẩm này sang tiếng Việt, bởi lẽ văn từ của tổ càng đọc càng thấm, càng thấy có lợi ích.
31/10/2025(Xem: 3160)
Trước hết thưa rằng: chân lý tột cùng không có danh xưng, có danh xưng thì lưu truyền khắp bốn phương trời; Phật thừa không lay động, động thì hiện trong ba cõi. Chứng đắc giáo pháp thì muôn sự ngưng lặng tịch nhiên, nhưng phương tiện nên dùng bốn pháp tất đàn[1] tùy cơ duyên hóa độ. Không toan tính mưu cầu mà dẫn dắt chúng sinh, công đức ấy thật vĩ đại thay!
31/10/2025(Xem: 2383)
Không kể là người tại gia hay xuất gia, cần phải: trên kính dưới hòa, nhẫn những điều mà người không thể nhẫn, làm những việc mà người khác không thể làm, [gánh vác] thay người việc khó nhọc, thành tựu việc tốt cho người.
28/10/2025(Xem: 2686)
LỜI ĐẦU SÁCH Kinh Tứ Thập Nhị Chương là bốn mươi hai bài kinh do hai ngài Ca Diếp Ma Đằng và Trúc Pháp Lan dịch. Hai ngài này là người Ấn Độ, sang Trung Hoa vào thời đại nhà Tiền Hán, tức Hán Minh Đế. Trong quyển Việt Nam Phật Giáo Sử Luận tập một, trang 52, tác giả Nguyễn Lang do nhà xuất bản Lá Bối ấn hành năm 1973, trong đó có đoạn nói về Kinh Tứ Thập Nhị Chương, theo giáo sư Nguyễn Lang cho rằng: “Kinh này hình thức và nội dung đã khác nhiều với Kinh Tứ Thập Nhị Chương lưu hành ở thế kỷ thứ hai. Nhiều tư tưởng Thiền và Đại thừa đã được thêm vào”.
28/10/2025(Xem: 3556)
LỜI ĐẦU SÁCH Kinh Di Giáo là một bộ kinh mà đại đa số người xuất gia đều phải học. Chúng tôi dùng chữ “Phải” trong tiếng Anh gọi là “must be”, chớ không phải “have to”. Động từ must be nó có nghĩa là bắt buộc phải làm. Còn động từ “have to” cũng có nghĩa là phải, nhưng không có bắt buộc, có thể làm mà cũng có thể không làm. Nói thế để thấy rằng, bản kinh này bắt buộc người xuất gia nào cũng phải học.
28/10/2025(Xem: 3441)
LỜI ĐẦU SÁCH Trong giới học Phật, ai cũng biết trong 49 năm hoằng hóa độ sanh, đức Phật tùy theo căn cơ trình độ hiểu biết sâu cạn cao thấp của mỗi chúng sanh mà Ngài thuyết giáo. Mục đích là để cho họ được an vui hạnh phúc trong đời sống. Vì thế mà trong toàn bộ hệ thống giáo điển của Phật giáo có đề cập đến khế lý và khế cơ. Có những bộ kinh chuyên thuyết minh về khế lý như Kinh Đại Thừa Diệu Pháp Liên Hoa chẳng hạn.
27/10/2025(Xem: 3506)
Thời gian đó Hòa thượng Tông trưởng vẫn còn sinh tiền khỏe mạnh. Về thính chúng ngoài chư Tăng, Ni tại Tổ Đình ra, còn có một số quý Phật tử tại gia bên ngoài vào tham dự. Vì tôi giảng vào mỗi buổi tối hằng ngày. Chúng tôi dựa vào những lời khuyến nhắc của Tổ mà triển khai thêm. Xét thấy những lời Tổ dạy rất thiết yếu cho việc tu học, nhất là đối với những người mới xuất gia vào chùa.
27/10/2025(Xem: 2795)
TÍNH CẢM TRI VÀ TÂM PHẬT: LÀM SAO ĐỂ NHẬN RA CHÚNG? Nguyên tác: Sentience and Buddha-Mind: How Do We Recognize Them?*1 Tác giả: Gereon Kopf Việt dịch: Quảng Cơ Biên tập: Tuệ Uyển
27/10/2025(Xem: 2349)
Tam Chướng là ba thứ chướng ngại gặp thường. Phiền não, Nghiệp, Báo Chướng cản đường ta Tu. Ngăn ngại bước tiến tu Thánh đạo nữa ư! Cùng Thiện căn Gia hạnh từng Tu trước rồi.