Ước Nguyện Cuối Đời (Phần Cuối)

17/12/202511:19(Xem: 2237)
Ước Nguyện Cuối Đời (Phần Cuối)

ƯỚC NGUYỆN CUỐI ĐỜI (Phần cuối)

 Duc Phat

(1):Cố ứng dụng Phật pháp vào cuộc sống.

Tu Tâm tốt, vọng tưởng khó xen vào.

Vậy là PHIỀN NÃO sẽ tránh xa mau.

Cuộc sống HẠNH PHÚC đến sau liền liền.

***************************************

(B): Tu Thêm Hạnh Phụ: (tiếp theo):

 

(c): Bố Thí:

Thơ 7 chữ, 4 câu:

 

(2):Cho Đi sẽ Nhận Lại, người ơi!

Chân lí ấy luôn nhớ suốt đời.

Đừng nghĩ cho đi là mất hẳn!

Làm LÀNH gặp TỐT, chớ buông lơi.

***

(3):Lắm kẻ hiểu lầm của hiến đi.

Hoàn toàn mất trắng, chẳng hay gì.

Ấy gieo Ruộng Phước nào ai biết.

Con cháu mai sau hưởng ruộng phì.

***********************************

Thơ 9 chữ:

 

(4):Của Cho Đi không bao giờ Mất Hẳn đâu.

Cho với Tâm Rộng Lớn Trời nào Phụ Ta.

Còn Cho: Tâm Miễn Cưỡng Quả nhận Kém Xa.

Tâm Quyết Định Tất cả, cố mà gắng Tu.

***

(5):Tìm chỗ tạo Phước nhiều mới CÚNG, CHO.

Ấy Tâm tính toán, so đo, hẹp lòng.

Dù dâng, cúng tới trăm lượng vàng ròng.

So Lòng Rộng Mở, Một Đồng Vẫn Hơn.

***

(d): Phóng Sanh:

Thơ 7 chữ, 4 câu:

 

(6):Một nhóm ra ao để phóng sanh:

Ếch, lươn mừng quá vội bơi nhanh.

Khoảng xa, chúng ngoảnh đầu nhìn lại.

Tỏ vẻ cảm ơn thật chí thành.

***

(7):Chọn mua vật sắp bị phanh thây,

Rồi thả chúng ra nội một ngày.

Đừng giữ chúng lâu, lo bị giết.

Tâm từ như vậy, đáng mừng thay!

***

(8):Con vật mà ta đã phóng sinh.

Dáng hình chúng khác hẳn người mình.

Thật ra chúng: họ hàng ta đấy.

Tin hiểu thật sâu, đỡ sát sanh.

***

(đ): Ăn chay:

Thơ lục bát:

 

(9):Để tiêu tội, phải ăn chay.                                                                                                 

Lý do ăn mặn, hằng ngày sát sanh.                                                                                                    

Vật nuôi vốn giống hiền lành,

Do người giết, hận trùm quanh đất trời!

*

(10):Gây bao thảm họa khắp nơi:

Thiên tai, dịch bệnh,...người người khiếp kinh!

Súc sinh cũng có tánh linh,

Sống: Ham , Chết: Sợ như mình chẳng sai.

*

(11):Giết, ăn chúng, thật ác thay!

Thân nhân đấy, Phật dạy bày, biết không?

Bởi do nghiệp chướng chất chồng ,                                                                                                  

Chịu đày làm kiếp có lông, có sừng, … !

***

(12):Ăn mặn, cứ nghĩ con vật: thân nhân mình. (thơ 9 chữ)

Tự nhiên thấy ớn nhợn, rùng mình dừng ngay.

Thực tập như vậy trong bữa ăn hàng ngày.

Rồi chắc: bỏ mặn, qua Trường Chay mấy hồi.

***

(e): Khẩu Nghiệp:

Thơ 7 chữ, 4 câu:

 

(13):Ác khẩu, coi chừng, phải tránh thường.

Nếu không, rồi sẽ gặp tai ương.

Chết về địa ngục, theo hình phạt:

Cắt lưỡi, Xé mồm... nát tựa tương.

***

(14):Hai tai, đôi mắt đáng lo thay!

Để chúng thấy nghe có chuyện ngay.

Vì vậy, tâm tư luôn loạn động.

Thế rồi nghiệp khẩu tạo hàng ngày.

***

(15):Nên nghĩ lỗi mình lúc tĩnh tâm.

Không nêu chuyện xấu lúc nhàn đàm.

Tập TU được vậy đỡ thêm tội.

Nghiệp khẩu còn vương hại xác phàm.

***

(16):Nói Xấu Người Nhiều, trước tiên sẽ hại mình. (thơ 9 chữ)

Độc Tố tiết, lâu ngày Bệnh tình hiện ra.

Tạo Nghiệp nữa, chắc không Tránh Khỏi đâu mà.

Hãy TU MIỆNG, cuộc sống chắc là Tốt Hơn.

***

(g): Học Hạnh Khiêm Cung

Thơ 7 chữ, 4 câu:

 

(17):Học tính Khiêm Cung, học ở đâu?

Tới chùa học dễ tại vì sao?

Gặp ai mình cũng nên chào cả.

Nghĩ họ hơn ta phải xá chào!

*

(18):Họ hơn ta những điểm gì nào?

Biết Phật trước mình, cúi xá sâu!

Đi đứng oai nghi người Phật tử.

Khởi lòng kính trọng, ngượng gì đâu!

***

(19):Cố TU cho được hạnh KHIÊM CUNG.

Tật Đố tự nhiên chẳng muốn dùng.

Nhận lỗi khi SAI người Độ Lượng.

Tâm An, Người Trọng, sướng vô cùng.

***

(20):Ai ơi, cố học cho được hạnh KHIÊM CUNG. (thơ 9 chữ)

“Cái TA” biến mất, hết chỗ dùng: vui thay!

Tính Khiêm cung thường trực trong Tâm hằng ngày.

Người mà Tâm Đắc cách TU này, đời vui.

(h): Tin Sâu Nhân Quả:

Thơ 7 chữ, 4 câu:

 

(21):Tin NHÂN QUẢ, dẹp bớt “TA” ngay.

Dù xấu đến đâu xảy mỗi ngày.

Tự nhủ rằng TA đang nhận QUẢ!

Lòng sao an ổn, thật vui thay!

***

(22):Có kẻ mắng ta, cứ ngậm thinh.

Nghĩ do NHÂN QUẢ, lỗi nơi mình.

Thế là mọi việc qua êm ả.

Tu được thế này, mới thật tình!

***

Thơ 9 chữ:

 

(23):Tin sâu NHÂN QUẢ, tức Nhận Lỗi về mình.

Cái TA còn đâu nữa, thật tình mừng thay!

Từ đó, KHỔ ĐAU, GIẬN TỨC,...biến đi ngay.

Ai KHÔNG TIN NHÂN QUẢ: khổ ngày, lẫn đêm

***

(24):Người biết TU luôn thấy cuộc đời Hạnh Phúc.

Vì TIN NHÂN QUẢ, vuệc có XẤU cũng VUI.

Không TIN PHẬT chỉ thấy Nỗi Khổ cuộc đời .

Gặp Bất Hạnh đổ lỗi cho Trời Bất Công.

***

(25):Đừng Buồn khi Gặp những Chướng Duyên đau lòng.

Phải hiểu mình TRẢ QUẢ là xong chớ gì.

Vây nên CẢM ƠN KẺ TẠO XẤU ngay đi.

Những ai THỰC TẬP được, còn chi sướng bằng.

***

(i): Sám Hối Nghiệp Chướng:

Thơ 8 và 9 chữ:

 

(26):Tội Lỗi Ngập Trời nếu phát tâm Hổ Thẹn.

Sám Hối Trước Đức Phật Quyết chẳng phạm thêm.

Tội như băng tuyết dày đặc trong màn đêm.

Anh Sáng Quang Minh chư Phật chiếu soi tan liền.

***

(27):Sám Hối tức là Cải Quá Tự Tân.

Một lần Sửa Lỗi phải cần nghiêm minh.

Trước tiên, cảm thấy Hổ Thẹn lỗi mình.

Nói lời Sám Hối Thật Tình: tội tiêu.

(Tự tân: Tự sửa đổi lỗi mình/ Cải quá: Sửa đổi lỗi lầm.)

***

(28):Còn tội nặng, không thẹn, Sám Hối liều.

Tâm không chân thật, tội tiêu bao giờ!?

Hiền Thánh biết từ kẽ tóc chân tơ.

Tội chồng tội, Sám lơ mơ được gì!

***

(k): Tu Thân: Điều Chỉnh Tâm Tính, Sửa Đổi Hành Vi

Thơ 8 và 9 chữ:

 

(29):Luôn nhớ Nghĩ về điều TỐT của người.

Tâm ta sẽ được Thảnh Thơi, nhẹ nhàng.

Còn như Nhìn ai thấy Xấu hoàn toàn.

Lòng sao nặng trĩu như mang khối chì.

***

(30):Thân tâm con người lỡ có vết nhớp dơ.

Phải cố tâm, tức tốc từng giờ sửa sai.

Mới đảm bảo phẩm chất hữu dụng tương lai.

Tạo động lực vi diệu đổi thay cuộc đời.

***

(31):Nhẫn được một chút, rồi sóng yên biển lặng.

Cố lùi một bước, thấy biển rộng trời cao.

Nhẫn: biết hóa giải việc gay cấn, lớn lao:

Thành điều không đáng kể, ngõ hầu đều êm.

***

(32):Nhận lỗi, khi làm sai, với bất cứ ai.

Dù họ nhỏ tuổi, cả người hay ghét mình.

Làm được vậy, đã dẹp bỏ tính ngông nghênh.

Ai cũng quý mến, nhờ tính tình khiêm cung.

***

Kính mong quý bạn đạo hữu duyên hãy cùng chung tôi cố thực tập tốt hằng ngày bài viết ở trên. Nói chung là tu tốt 10 điều lành để cuộc sống ngày càng tốt đẹp hơn.

Cầu mong có nhiều người hưởng ứng, chúng tôi xin đem công đức này hồi hướng tất cả pháp giới chúng sanh tương lai đồng sanh về  Tịnh độ.

Xin chân thành cảm ơn quý vị đã đọc bài viết./.

 

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
31/07/2025(Xem: 3636)
Theo Luật Nhân Quả, vợ chồng, con cái đến với nhau phần nhiều qua hai con đường ĐÒI NỢ và BÁO OÁN. Nhiều người không hiểu như vậy nên khi trong nhà xảy ra nhiều chuyện không ưng ý thì than trời trách đất và khổ sở khôn cùng. Ai tin sâu Luật NHÂN QUẢ, khi gặp hoàn cảnh như vậy hãy TỰ NHỦ mình đã gieo NHÂN kiếp xa xưa, nay đủ DUYÊN, mình phải lãnh QUẢ.
27/07/2025(Xem: 2624)
Lời dịch giả: Bài thơ "Chơn Đế" được Ni Trưởng Thích Nữ Diệu Không (1905-1997) sáng tác, in trong Tạp chí Liên Hoa, số 9, tháng 9 năm Ất Mùi, tức là năm 1955. Tạp chí Liên Hoa thành lập năm 1955, với Thượng toạ Thích Đôn Hậu trú trì chùa Linh Mụ ở Huế làm chủ nhiệm, Thượng toạ Thích Đức Tâm làm chủ bút, và Ni sư Thích Nữ Diệu Không làm quản lý. Trong bài này, Ni sư ký tên tác giả là Diệu Không.
27/07/2025(Xem: 3062)
Lời mở đầu của người chuyển ngữ Vu Lan là một ngày lễ lớn của Phật giáo, nhắc nhở chúng ta tưởng nhớ đến cha mẹ, nhất là đối với mẹ, một người mang nặng đẻ đau, bồng bế mình, nuôi nấng mình từ thuở bé. Ngoài tình mẫu tử ra thì cũng còn có cả tình phụ tử. Cài lên áo mình một cánh hoa hồng không nhất thiết chỉ là để tưởng nhớ đến công ơn của cha mẹ mà đôi khi còn phải nhìn vào chính mình xem mình có xứng đáng cài lên áo mình cánh hoa hồng ấy hay không.
27/07/2025(Xem: 2695)
Indonesia không phải là một quốc gia nổi tiếng với Phật giáo; Phật tử chỉ chiếm một thiểu số rất nhỏ trong dân số đất nước với 0,7%, quá nhỏ bé so với 87,5% dân số theo đạo Hồi. Mặc dù quần đảo hiện nay tạo nên Cộng hòa Indonesia từng nằm dưới sự cai trị của đế chế Srivijaya (650–1377) và Majapahit (1293–1527) chủ yếu theo đạo Phật, người ta thường cho rằng tất cả những gì còn sót lại từ thời kỳ đó chỉ là một số ngôi đền và bảo tháp nằm rải rác, gần như đổ nát.
22/07/2025(Xem: 3089)
Lời dịch giả: Bài viết "Chơn Tâm, Vọng Tâm" được Ni Trưởng Thích Nữ Diệu Không (1905-1997) viết, in trong Tạp chí Liên Hoa, số 9, tháng 9 năm Ất Mùi, tức là năm 1955. Tạp chí Liên Hoa thành lập năm 1955, với Thượng toạ Thích Đôn Hậu trú trì chùa Linh Mụ ở Huế làm chủ nhiệm, Thượng toạ Thích Đức Tâm làm chủ bút, và Ni sư Thích Nữ Diệu Không làm quản lý. Trong bài này, Ni sư ký tên tác giả là Diệu Không.
18/07/2025(Xem: 3181)
Lời dịch giả: Bài viết "Bi Và Ái" được Ni Trưởng Thích Nữ Diệu Không (1905-1997) viết, in trong Tạp chí Liên Hoa, số 3, ấn hành cuối tháng 8/1955. Tạp chí Liên Hoa thành lập năm 1955, với Thượng toạ Thích Đôn Hậu trú trì chùa Linh Mụ ở Huế làm chủ nhiệm, Thượng toạ Thích Đức Tâm làm chủ bút, và Ni sư Thích Nữ Diệu Không làm quản lý. Trong bài này, Ni sư ký tên tác giả là Thích Diệu Không. Ni trưởng là dịch giả nhiều kinh và luận, cũng là một nhà thơ xuất sắc.
18/07/2025(Xem: 3068)
Namo Buddhaya Người ''biết rõ''.. là người giàu có từ bên trong. ..Người đời thường mải miết theo đuổi những thứ có được: tiền bạc, tài sản, danh tiếng, quyền lực… Họ gọi đó là thành công, là giàu có. Nhưng rồi bao nhiêu người, sau khi có tất cả, lại vẫn cảm thấy trống rỗng?
17/07/2025(Xem: 3532)
Cuốn theo tám ngọn gió đời, Tâm ta loạn động, chẳng hồi nào ngơi. Được khen: vui vẻ, tươi cười. Bị chê: sân dậy, giận người chê ta.
17/07/2025(Xem: 2789)
Bài viết này sẽ phân tích lời dạy của sách Trúc Lâm Tông Chỉ Nguyên Thanh về ý chỉ Thiền Tông: Khi tính người tịch diệt, thì tính trời hiển lộ. Sách Trúc Lâm Tông Chỉ Nguyên Thanh là một tác phẩm về Thiền Tông Việt Nam xuất bản lần đầu vào năm 1796. Tác phẩm này được in trong Ngô Thì Nhậm Toàn Tập - Tập V, ấn hành năm 2006 tại Hà Nội, do nhiều tác giả trong Viện Nghiên Cứu Hán Nôm biên dịch.
16/07/2025(Xem: 2825)
Hầu hết các loài trên hành tinh này đều thiếu khả năng trí tuệ để xây dựng hệ thống niềm tin. Ví dụ, mèo và chó không nghĩ về ý nghĩa cuộc sống của chúng và có xu hướng sống hạnh phúc miễn là chúng nhận được những gì chúng cần ngay tại thời điểm hiện tại. Điều này khiến Loài Người Thông Tuệ (Homo sapiens) trở thành loài duy nhất trên Trái đất có khả năng tham gia vào các quá trình tư duy phức tạp và tạo ra các hệ thống tôn giáo và triết học. Do đó, việc có tôn giáo là một đặc điểm riêng của con người mà không có ở bất kỳ loài vật nào khác.