Kinh Con Rùa (Do HT. Thích Thiện Châu giảng giải và Phật tử Diệu Danh diễn đọc)

16/02/202307:38(Xem: 3600)
Kinh Con Rùa (Do HT. Thích Thiện Châu giảng giải và Phật tử Diệu Danh diễn đọc)

con rua

KINH CON RÙA

HT Thích Thiện Châu giảng giải

Phật tử Diệu Danh diễn đọc

 


 

 

Bản kinh này trích từ Tương Ưng Bộ (Samyutta Nikâya) tập IV, trang 183-185 do thượng tọa Thích Minh Châu dịch, Tủ thư Phật học Vạn Hạnh xuất bản 1982

Nội dung gồm những ý chính sau đây:

1. Phật lấy ví dụ con rùa khôn ngoan khi gặp con chó sói thì rút chân và đầu cổ vào trong mai để khỏi bị chó sói giết hại để khuyên dạy chúng ta hộ trì các giác quan khi các các giác quan tiếp xúc với các đối tượng để khỏi bị "ác ma" gây tai họa .

2. Phật chỉ dạy phương pháp "hộ trì" các căn: Khi các giác quan mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý tiếp xúc với đối tượng sắc, tiếng, mùi, vị, cảm xúc, pháp. Không nên nắm giữ tướng chung (toàn diện cách hoa hồng với tất cả hình sắc, mùi thơm v.v…) tướng riêng (một phần của hoa hồng như một tai hoa hay mùi thơm) và chế ngự những nguyên nhân nào có thể gây nên say đắm, lo buồn và những ý nghĩ, những lời nói, những hành động có hại cho mình cho người.

3. Ý thứ ba nằm trong bài kệ ở cuối bản kinh vừa tóm tắt hai ý trên vừa nhấn mạnh những điểm quan trọng trong khi thực hành "hộ trì các căn" : thâu nhóm, nhiếp phục tâm tư để tâm tư không tán loạn. Vì tán loạn là nguồn gốc của phiền não và nghiệp ác, không nương tựa vào "tà kiến" (sản phẩm của những lý thuyết sai lầm, lệch lạc đối với sự thật) để nhận xét, phán đoán sự vật, không làm hại người, không nói xấu người. Và như vậy là chứng đạt được sự an tịnh hoàn toàn.

Bản kinh trên cho chúng ta thấy rõ tính chất thực tiễn của đạo Phật. Phật không nói nhiều về tâm trên bình diện bản thể như nhiều đệ tử về sau mà chỉ thẳng phương pháp "hộ trì các căn" để tâm ý đạt được sự an tịnh. Mà an tịnh vốn là bản tánh của Tâm.

"Hộ trì các căn" còn có nghĩa là đừng để tâm ý vương vấn, trói buộc bởi các giây nhợ phiền não và tà kiến. Đây cũng là đạo lý "Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm" (khi tâm phát khởi không nên để bị kẹt vào một nơi nào) mà trong kinh Kim Cương và các Thiền Kinh thường nói đến. Và phương pháp thực hiện "vô niệm", "vô trụ" cũng được Phật chỉ dạy một cách giản dị mà sâu sắc như sau:

"Trong cái nghe, sẽ chỉ thấy cái nghe. Trong cái thọ tưởng chỉ sẽ thấy cái thọ tưởng. Trong cái thức trí sẽ chỉ là cái thức trí". Như vậy, này Bâhiya, nhà ngươi cần phải học tập. Vì rằng, này Bâhiya, nếu với ngươi trong cái thấy sẽ chỉ là cái thấy; trong cái thọ tưởng sẽ chỉ là cái thọ tưởng; trong cái thức trí sẽ chỉ là cái thức trí: do vậy, này Bâhiya, người không là chỗ ấy (không bị mắc kẹt). Vì rằng, này Bâhiya, người không là đời này, không là đời sau, không là đời chặng giữa. Như vậy, đoạn tận khổ đau

 

 

 

CHÁNH KINH:

"Thuở xưa, này các Tỳ Kheo, có một con rùa, vào buổi chiều đang đi kiếm mồi dọc theo bờ sông. Một con giã can, này các Tỳ Kheo, vào buổi chiều cũng đi tìm mồi dọc theo bờ sông".

"Này các Tỳ Kheo, con rùa từ đằng xa thấy con giã can đang đi tìm mồi, thấy vậy liền rụt bốn chân và thứ năm là cổ vào trong mai rùa của mình và nằm bất động, im lặng".

"Này các Tỳ Kheo, con giã can từ đằng xa thấy con rùa, đi đến con rùa, sau khi đến, đứng một bên nghĩ rằng: khi nào con rùa này thò ra thân phần nào và cổ là thứ năm, ngay tại chỗ ấy, Ta sẽ nắm lấy, bẻ gãy và ăn".

"Nhưng, này các Tỳ Kheo, vì rằng con rùa không thò ra một thân phần nào và cổ là thứ năm. Nên con giã can nhàm chán con rùa bỏ đi, không nắm được cơ hội". Cũng vậy, này các Tỳ Kheo, Ác ma (1) thường xuyên không gián đoạn, đứng trong tư thế rình mò các ngươi với ý nghĩ: " Rất có thể ta nắm được  cơ hội để bắt gặp từ con mắt … từ cái lưỡi…hay từ ý".

"Do vậy, này các Tỳ Kheo, hãy sống hộ trì các căn". (2)

 "Khi mắt thấy sắc, không nắm giữ tướng chúng (3), không nắm giữ tướng riêng  (4). Những nguyên nhân gì vì nhãn căn  không chế ngự, khiến tham ái, ưu bi, các ác bất thiện pháp khởi lên (5), hãy tự chế ngự nguyên nhân ấy, hộ trì nhãn căn, thiệt hành hộ trì nhãn căn. Khi tai nghe tiếng… Mũi ngửi mùi… Lưỡi nếm vị… Thân cảm xúc… Ý nhận thức các pháp, không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng. Những nguyên nhân gì, vì ý căn không được chế ngự, khiến tham ái, ưu bi, các ác bất thiện  pháp khởi lên, hãy chế ngự nguyên nhân ấy, hộ trì ý căn, thiệt hành hộ trì ý căn (6). Này các Tỳ Kheo, khi nào các ngươi sống hộ trì các căn, thời Ác ma nhàm chán các ngươi  và sẽ bỏ đi, không nắm giữ được cơ hội, như con giã can đối với con rùa" .

 Như rùa dấu thân phần,

Cũng vậy, vị Tỳ Kheo.

Không nương tựa một ai (7)

Hoàn toàn đạt tịch tịnh,

Trong mai rùa của nó,

Thâu nhóm mọi tâm tư.

 Không hại một người nào

Không nói xấu một ai.

 

CHÚ THÍCH SƠ LƯỢC

1-Ác ma : Ở đây chỉ cho phiền não trong người luôn luôn rình mò và tìm cách gây ra tai họa cho chúng ta.

2- Các căn : 6 giác quan : mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý là những cơ quan cảm giác.

3- Tướng chung :  Toàn thể của một sự vật, ví dụ một cành hoa hồng toàn diện với hình sắc, mùi thơm v.v..

4- Tướng riêng : Một phần nào đó của một sự vật, ví dụ một tai hoa hồng hay mùi thơm của hoa hồng...

5- Nếu nhãn căn không được chế ngự, không được kiểm soát thì các nguyên nhân hoặc bên trong hoặc bên ngoài có thể làm phát sanh ra tham đắm hình sắc, âm thanh ...v.v...  nếu say đắm không được thỏa mãn thì giận dữ ghét bỏ ; tham giận lúc nào cũng là nhân duyên của lo buồn và các hành động xấu hại cho mình cho người.

6- Sự sống và cảnh sống của loài người  tuy phức tạp song có thể thâu nhóm trong 6 căn : mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý và 6 trần : Sắc, tiếng, mùi, vị, cảm xúc, và pháp. Hộ trì 6 căn khi chúng tiếp xúc với 6 trần tức là hộ trì sự sống  tốt đẹp của mình và của người. Thật ra căn và trần chẳng hề có gì ghê gớm để phải bị chế ngự. Chế ngự ở đây có nghĩa là  chế ngự phiền não ; không để cho phiền não sanh khởi trong lúc 6 căn tiếp xúc với 6 trần. Một khi phiền não tiêu diệt, thì chúng ta vẫn sống với 6 căn và 6 trần song lúc nào cũng được tự tại và an vui.

7- Không nương tựa một ai : Ở đây có nghĩa không nương vào tham sân và tà kiến sẵn có nơi mình đẩ thấy nghe sự vật một cách như thật tức là giác ngộ và giải thoát.

 

 

 

 

 

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
31/03/2012(Xem: 9310)
Hòa thượng thế danh Dương Đức Thanh, tự Liễu, pháp danh Như Nhàn, tự Giải Lạc, hiệu Trí Giác, nối pháp đời thứ 41 dòng Lâm Tế, thế hệ thứ 8 pháp phái Chúc Thánh. Ngài sinh năm Ất Mão (1915) tại làng Cẩm Văn, huyện Điện Bàn tỉnh Quảng Nam, trong một gia đình nhiều đời kính tín Tam Bảo. Thân phụ là cụ ông Dương Đức Giới pháp danh Chương Đồ, thân mẫu là cụ bà Nguyễn Thị Phụng pháp danh Chơn Loan. Năm lên 3 tuổi, thân phụ Ngài qua đời, thân mẫu tảo tần nuôi con và cho Ngài theo học chữ Nho với các cụ đồ trong làng, được 5 năm mới chuyển sang học Việt văn.
23/03/2012(Xem: 8513)
Đức Đại Lão Hòa Thượng Chánh Thư Ký Xử Lý Viện Tăng Thống GHPGVNTN là thế hệ thứ 8 của phái Thiền Thiệt Diệu Liễu Quán, Pháp danh Trừng Nguyên, Hiệu Đôn Hậu. Xuất gia và thọ cụ túc với Hòa Thượng Bổn sư là Tổ Tâm Tịnh, khai sơn chùa Tây Thiên Huế, sau các Pháp huynh là quý Hòa Thượng Giác Nguyên, Giác Viên, Giác Tiên, Giác Nhiên...
21/03/2012(Xem: 8829)
Hòa Thượng Thích Trí Thủ là vị Thầy của nhiều thế hệ học tăng của các Phật học viện Báo Quốc Huế, Phổ Đà - Đà Nẵng, Hải Đức - Nha Trang, Quảng Hương Già Lam - Sài Gòn. Cuộc đời của Ngài phần nhiều cống hiến cho việc đào tạo tăng tài và sự nghiệp hoằng pháp cho Đạo Phật Việt Nam hơn là những lãnh vực phật sự khác.
10/03/2012(Xem: 9890)
Hòa thượng thế danh Dương Văn Y, sinh ngày 23 tháng Chạp năm Tân Tị (1881), nhằm vào năm thứ 33 đời vua Tự Đức triều Nguyễn tại xã Bình An, huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam. Do túc duyên nhiều đời nên Ngài sinh vào gia đình chánh tín Tam Bảo. Thân phụ là Cụ ông Dương Thi An, pháp danh Chương Thái, hiệu Quảng Liên và Thân mẫu là Cụ bà Đỗ Thị Toại. Tuổi đồng ấu, Hòa thượng có tướng mạo rất đoan nghiêm, thông minh khác chúng. Lên 10 tuổi, Ngài có ý định xuất gia nên song thân đưa Ngài đến chùa Hội Phước tại xã Thanh Chiêm, huyện Điện Bàn, Quảng Nam để tu học với Hòa thượng Như Lý-Hoằng Khâm.
10/03/2012(Xem: 9673)
Thời gian trôi nhanh như bóng câu qua cửa sổ! Mới hôm nào mà Hòathượng Thích Trí Thủ đã tiễn chân tôi ra sân bay đi Hà Nội để giảng cho trường Cao cấp Phật học tại chùa QuánSứ, mà bây giờ đã gần đến ngày giỗ đầu của Hòa Thượng.
09/03/2012(Xem: 23119)
Tăng bảo, nương vào phần tự giác của pháp làm cơ sở để kiến lập xã hội hòa bình, nhân gian Tịnh độ... Thích Đồng Bổn
02/03/2012(Xem: 7468)
Hòa thượng thế danh Trần Văn Chín, sinh năm Canh Ngọ (1930) tại làng Ái Nghĩa, huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam. Thân phụ là cụ ông Trần Văn Hoàng pháp danh Chơn Tấn và thân mẫu là cụ bà Nguyễn Thị Chung (khi Ngài viên tịch thì song thân vẫn còn tại thế). Sinh ra trong một gia đình có truyền thống Phật giáo nên Ngài sớm có ý chí thoát tục tu đạo. Lúc lên 12 tuổi, Ngài đến chùa Phổ Khánh trong làng và tỏ ra quyến luyến không muốn về. Nhưng vì là con trai duy nhất trong gia đình nên Ngài phải trở về nhà lo bổn phận môn đăng định tỉnh.
05/02/2012(Xem: 7929)
Sáng ngày 24 tháng Giêng năm Giáp Ngọ (23.02.2014), thượng tọa Thích Quảng Tâm, Ủy viên Ban Nghi lễ GHPGVN tỉnh Khánh Hòa, trụ trì chùa Thanh Hải, xã Cam Thịnh Đông, thành phố Cam Ranh, tỉnh Khánh Hòa cùng chư tôn đức môn đồ pháp quyến, thân tộc, đệ tử và phật tử đạo tràng chùa Linh Thứu, chùa Linh Quang (Nha Trang) đã thành kính tưởng niệm húy nhật lần thứ 26 cố Hòa thượng Bổn sự Thích Pháp Viện.
18/01/2012(Xem: 13986)
HT Thích Nguyên Siêu trụ trì Chùa Phật Đà, San Diego và Tu Viện Pháp Vương, Escondido, Hoa Kỳ
25/12/2011(Xem: 12602)
Thành kính tưởng niệm HT Thích Trí Hiền