Chúng con nhớ Thầy

08/12/201520:40(Xem: 9865)
Chúng con nhớ Thầy

Bài Tưởng niệm của Đoàn Oanh Vũ Nam - GĐPT Trúc Lâm

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

Chúng con kính bạch Quý Chư Tôn Đức Tăng, Ni,

Chúng con kính bạch Giác Linh Thầy

Hôm nay tất cả HT Đoàn Oanh Vũ Nam quỳ trước Giác linh Thầy để hoài niệm những ngày mà chúng con được sống và làm việc với Thầy trong suốt 10 năm Thầy về với Chùa Trúc Lâm. 

Thầy ơi, bây giờ bên ngoài trời đã vào Thu, khung cảnh mùa Thu gợi cho chúng con một nỗi buồn man mát trong lòng. Chúng con cảm thấy trống vắng và buồn lắm vì chúng con phải chấp nhận một sự thật là Thầy kính yêu của chúng con đã viên tịch. Và từ bây giờ chúng con vĩnh viễn không còn gặp Thầy nữa.  

Dẫu biết rằng đời là vô thường, không ai tránh khỏi sự sinh, lão, bệnh, tử. Nhưng khi phải đối diện với sự thật này, chúng con vẫn không cầm được nước mắt, Thầy ơi!…Hôm nay chúng con tề tựu về đây và quỳ xung quanh kim quan Thầy để làm lễ Tưởng niệm Thầy, chúng con vẫn còn có cảm tưởng như Thầy vẫn còn ở nơi này, cười, nói, nhắc nhở và chăm sóc cho chúng con, như chăm sóc đàn con yêu thương của mình.

Mười năm đã trôi qua với sự hướng dẫn của Thầy tại Trúc Lâm.  Đoàn Oanh Vũ chúng con đã bao lớp trưởng thành. Thầy ơi, Thầy còn nhớ không? Nhiều em giờ đây đã lên làm Huynh Trưởng nối truyền hạnh nguyện từ các anh chị Trưởng của mình. Cũng đã có rất nhiều em giờ đây đã lên ngành thiếu. Cũng có rất nhiều em giờ đây đang đi học ở các trường đại học.  Thầy thấy có vui không Thầy?  

Thầy đã không những chăm sóc cho chúng con về mặt tinh thần, mà còn luôn muốn đàn con của Thầy phải học và nói cho giỏi tiếng Việt.  Thầy thường khuyến khích chúng con tạo tất cả điều kiện cho các em thi đọc và nói tiếng Việt.  Thầy rất vui khi thấy chúng con có lên chương trình cho thi đố vui Phật Pháp và thi Việt ngữ. 

HT Hanh Tuan-phat tu truc lam 11 (3)

Chúng con còn nhớ rất rõ trong mỗi dịp xuân về, Thầy muốn chúng con tổ chức cho các em thi đọc tiếng Việt và Thầy nói với chúng con là Thầy đã để dành tiền để thưởng cho các em con rất nhiều, Thầy còn nói rằng nếu số tiền Thầy để dành mà không đủ tiền thưởng cho các em thì Thầy sẽ đi vận động Quý Thầy và quý Bác trong Chùa để chúng con có đủ tiền thưởng hơn khả quan cho các em mình.  Ôi, hoài niệm lại những lời Thầy dạy mà sao chúng con nghe trong lòng đau nhói, như muốn hòa khóc lên cho thỏa chí. Chúng con thật sự rất cần Thầy, các em chúng con rất cần sự hướng dẫn của Thầy. 

Chúng con còn nhớ vào những ngày cuối tuần, khi chúng con có dịp lên Chùa, chúng con thường xuyên thấy Thầy đem những đoạn phim ca nhạc cũ được quay trong những đêm Hội Làng đón giao thừa tại Trúc Lâm. Thầy xem rất say sưa, như hồi tưởng lại lúc Thầy còn là oanh vũ. Khi Thầy thấy chúng con thì Thầy lại nói vào đây xem với Thầy. Rồi Thầy nói khẽ với chúng con, “Con thấy không các em oanh vũ có dễ thương không con? Các em ca, múa có hay không?”

Mỗi lần đến tiết mục của Oanh Vũ Nam, chúng con lại thấy Thầy cười khi xem các em trình diễn. Chúng con cũng biết rằng các em của chúng con trình diễn còn vụng về lắm, nhưng trong ánh mắt Thầy, ánh mắt một vị Cha hiền của chúng con thì đâu đâu cũng đẹp, đâu đâu cũng hay, đâu đâu cũng dễ thương.  Ôi hạnh phúc thay khi nghe Thầy khen các em chúng con. 

Thật không có một ngôn từ nào có thể diễn tả được tình thương yêu của Thầy đã dành cho các em oanh vũ chúng con. Giờ đây, đứng trước Giác Linh Đài Thầy, chúng con có bao nhiêu ngậm ngùi, thương tiếc, nhớ thương, và bao kính mến nhưng không biết nói với Thầy thế nào đây. Chúng con chỉ còn cách đem hết lòng thành kính cầu cho Chư Phật mười phương tiếp độ Giác Linh Thầy về Cực Lạc quốc. Chúng con nguyện ghi nhớ những lời dạy quý báu và noi gương theo những hạnh nguyện cao cả của Thầy.

Nam mô Tiếp Dẫn Đạo Sư A Di Đà Phật.

 

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
22/06/2011(Xem: 12504)
Trong sáu thập niên qua, TIME đã không ngừng ghi chép lại những vinh quang cùng khổ nhọc của Á châu. Trong số đặc biệt kỷ niệm thường niên hôm nay, chúng tôi muốn bày tỏ lòng kính trọng của mình đến những nhân vật nổi bật đã góp phần vào việc hình thành nên thời đại chúng ta. Những thập niên xáo động nhất của một lục địa đông dân nhất trên trái đất này đã sản sinh ra hàng loạt những nhân vật kiệt xuất. Trong sáu mươi năm qua, kể từ khi TIME bắt đầu cho xuất bản ấn bản Á Châu, chúng tôi đã có cái đặc ân là được gặp gỡ đa số những nhân vật ngoại hạng này –theo dấu cuộc vận động hay trên chiến trường, trong phòng hội hay trong phòng thí nghiệm, tại cơ sở sản xuất hay tại phim trường.
16/06/2011(Xem: 7846)
Tôi có duyên lành gặp được ngài một lần khi ngài đến thăm Hòa thượng chùa Đông Hưng, bổn sư của tôi, cũng là y chỉ sư của Hòa thượng Quảng Thạc, một để tử xuất gia của ngài khi còn ở đất Bắc. Cung cách khiêm cung, ngài cùng Hòa thượng tôi đàm đạo về quá trình tu tập cũng như Phật học, hai ngài đã rất tâm đắc về chí nguyện giải thoát và cùng nhau kết luận một câu nói để đời : “Mục đích tu hành không phải để làm chính trị”. Cũng câu nói này, khi chia tay chư tăng miền Nam, ngài đã phát biểu với hàng pháp lữ Tăng ni đưa tiễn. Khi sưu tập tư liệu về cuộc đời của ngài, tôi may mắn gặp được các bậc tri thức cao đồ của ngài kể lại. Nay, nhân có cuộc hội thảo về phong trào chấn hưng Phật giáo miền Bắc và công hạnh của ngài, tôi xin được góp thêm đôi điều.
14/06/2011(Xem: 9124)
Thiền sư PHÁP THUẬN (Bính Tý 918): Thiền sư đời Tiền Lê, thuộc dòng thiền Tỳ-Ni-Đa-Lưu Chi, không rõ gốc gác quê quán và tên thật, chỉ biết rằng Sư họ Đỗ, xuất gia từ thuở nhỏ ở chùa Cổ Sơn (Thanh Hóa), sau theo học đạo Thiền sư Phù Trì ở chùa Long Thọ, nổi tiếng là uyên thâm đức độ. Tương truyền rằng chính Sư đã dùng nghệ thuật phù sấm, làm cố vấn giúp vua Lê Đại Hành nắm quyền bính, dẹp yên được hỗn loạn trong triều cuối đời nhà Đinh, được vua Lê vô cùng trọng vọng. Năm 990 niên hiệu Hưng Thống thứ 2, Sư không bệnh mà viên tịch, thọ 76 tuổi, để lại cho đời các tác phẩm: “Bồ Tát sám hối văn”, “Thơ tiếp Lý Giác”, và một bài kệ.
14/06/2011(Xem: 9156)
• Thiền sư Chân Không(Bính Tuất -1046): Sư họVương, thế danh Hải Thiềm, quê quán ở làng Phù Đổng (nay là Tiên Sơn-Bắc Ninh), xuất thân trong một gia đình quý tộc. Lúc thân mẫu của ông mang thai, cha ông nằm mộng thấy một vị tăng Ấn Độ trao cho cây tích trượng, sau đó thì ông ra đời. Mồ côi cha mẹ từ thuở niên thiếu, ông siêng chăm đọc sách không màng đến những chuyện vui chơi. Năm 20 tuổi ông xuất gia, rồi đi ngao du khắp nơi để tìm nơi tu học Phật Pháp. Nhân duyên đưa đẩy cho Sư đến chùa Tĩnh Lự ở núi Đông Cứu (Gia Lương-Hà Bắc), nghe Thiền sư Thảo Nhất giảng kinh Pháp Hoa mà ngộ đạo, được nhận làm đệ tử, sớm tối tham cứu thiền học, và được sư thầy truyền tâm ấn, thuộc dòng thiền Tì-ni-đa Lưu -chi, thế hệ thứ 16. Sau, Sư lên núi Phả Lại, trại Phù Lan (nay thuộc huyện Mỹ Văn-Hưng Yên) làm trụ trì chùa Chúc Thánh, ở suốt 20 năm không xuống núi để chuyên trì giới luật, tiếng thơm đồn xa đến cả tai vua.
13/06/2011(Xem: 18432)
Ôi, trong giáo pháp Phật đà của ta, việc trọng đại nhất là gì ? Con người sinh ra không từ cửa tử mà đến, chết không vào cửa tử mà đi. Thế nên người nằm non ở tổ, bỏ ngủ quên ăn, chẳng tiếc thân mạng, đều vì việc lớn sinh tử. Ở thời giáo suy pháp mạt này mà có người vì việc lớn sinh tử như Hòa thượng Liễu Quán, thật là hy hữu.
05/06/2011(Xem: 18192)
Ngôi chùa nhỏ nằm khiêm tốn trong khoảng đất rộng đầy cây trái. Buổi tối, mùi nhang tỏa ra từ chánh điện hòa với mùi thơm trái chín đâu đó trong vườn.
01/06/2011(Xem: 9419)
Cuộc đời và sự nghiệp của Khương Tăng Hội, ta hiểu biết qua hai bản tiểu sử xưa nhất, một của Tăng Hựu (446 - 511) trong Xuất tam tạng ký tập 13 ĐTK 2145 tờ 96a29-97a 17 và một của Huệ Hạo trong Cao Tăng truyện 1 ĐTK 2059 tờ 325a13-326b13. Bản của Huệ Hạo thực ra là một sao bản của bản Tăng Hựu với hai thêm thắt. Đó là việc nhét tiểu sử của Chi Khiêm ở đoạn đầu và việc ghi ảnh hưởng của Khương Tăng Hội đối với Tô Tuấn và Tôn Xước ở đoạn sau, cùng lời bình về sai sót của một số tư liệu. Việc nhét thêm tiểu sử của Chi Khiêm xuất phát từ yêu cầu phải ghi lại cuộc đời đóng góp to lớn của Khiên đối với lịch sử truyền bá Phật giáo của Trung Quốc, nhưng vì Khiêm là một cư sĩ và Cao Tăng truyện vốn chỉ ghi chép về các Cao Tăng, nên không thể dành riêng ra một mục, như Tăng Hựu đã làm trong Xuất tam tạng ký tập 13 ĐTK 2145 tờ 97b13-c18, cho Khiêm.
31/05/2011(Xem: 27387)
Quy ẩn, thế thôi ! (Viết để thương một vị Thầy, mỗi lần gặp nhau thường nói “mình có bạn rồi” dù chỉtrong một thời gian rất ngắn. Khi Thầy và tôi cách biệt, thỉnh thoảng còn gọi điệnthoại thăm nhau) Hôm nay Thầy đã đi rồi Sắc không hai nẻo xa xôi muôn ngàn Ai đem lay ánh trăng vàng Để cho bóng nguyệt nhẹ nhàng lung linh Vô thường khép mở tử sinh Rong chơi phù thế bóng hình bụi bay Bảo rằng, bản thể xưa nay Chơn như hằng viễn tỏ bày mà chi
27/05/2011(Xem: 12701)
Vào năm 247, một vài năm sau khi Chi Khiêm rời khỏi kinh đô Kiến Nghiệp, Khương Tăng Hội, một vị cao tăng gốc miền Trung Á, đã đến đây. Ngài đến từ Giao Chỉ, thủ phủ của Giao Châu ở miền cực Nam của đế quốc Trung Hoa (gần Hà nội ngày nay). Gia đình của Ngài đã sinh sống ở Ấn độ trải qua nhiều thế hệ; thân phụ của Ngài, một thương gia, đến định cư ở thành phố thương mại quan trọng này.
25/05/2011(Xem: 7204)
Đại lão Hòa Thượng Thích Đồng Huy HT. Thích Đồng Huy - Thành viên HĐCM, Ủy viên HĐTSTW GHPGVN, Trưởng ban Trị sự Phật giáo tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, Trưởng ban Quản trị Đại Tòng Lâm, Viện chủ Tu viện Vạn Hạnh.