Đến, đi bình dị…(T.Hạnh Thức)

27/08/201318:13(Xem: 22579)
Đến, đi bình dị…(T.Hạnh Thức)

Thich_Minh_TamĐến, đi bình dị…

Tôi may mắn được dự những Khóa Tu Học Phật Pháp Âu Châu cuối có Ôn Minh Tâm: Khoá kỳ thứ 22 tại Neuss, Đức quốc; khoá kỳ thứ 24 tại Birmingham, Anh Quốc; và kỳ cuối cùng là khoá thứ 25 tại Turku, Phần Lan. Những khoá tu học trước (22 và 24), Hòa Thượng còn mạnh khoẻ, nên lớp Tăng Ni chúng tôi được gặp Hòa Thượng hầu như mỗi ngày. Nhưng đến khóa cuối cùng thứ 25 nầy, Hòa Thượng yếu hẳn đi nên trong chương trình (đã sắp xếp trước), chỉ có một lần vào ngày thứ năm 1-8-2013, nhưng đến giờ phút cuối, giờ của Ngài lại được Hòa Thượng Thắng Hoan thay thế. Thành thử chúng tôi không được nghe Ngài giảng trong khóa nầy.

Thời tiết Phần Lan những ngày cuối tháng 7 đầu tháng 8 nắng ấm hầu như suốt khóa học, chỉ một ngày giữa khóa và ngày cuối cùng có mưa phùn trong khi đi du ngoạn. Điều nầy như báo trước một tin buồn, nhưng không ai để ý.…Ngôi trường mượn (không phải trả tiền thuê, chỉ lo phần điện nước) để tổ chức khóa học thật rộng rãi, phòng ốc thênh thang, nhưng rất tiếc, sân trường không được đẹp, không có những con đường và hàng cây thẳng lối để đi dạo, nên chúng tôi cũng ít có cơ hội thấy bóng dáng Ngài trong sân như mọi khi.

Những ngày đầu khóa học trôi chảy êm thắm. Ai cũng hân hoan chào hỏi nhau, tay bắt mặt mừng. Hòa Thượng nói cười bình thường. Ngày khai mạc, lúc ban Đạo từ, Hòa Thượng thỉnh thoảng cũng chen vô vài câu hài hước ý nhị như mọi lần, làm mọi người cười rộ vui vẻ. Nhưng đến ngày thứ ba, không thấy Hòa Thượng xuất hiện trong bữa quá đường. Được biết là Ngài mệt, phải vào bệnh viện. Nhưng hai hôm sau lại thấy Ngài xuất hiện bình thường như mọi khi, vẫn nói cười vui vẻ. Mọi người ai cũng mừng, tưởng là mọi việc đã qua đi. Hòa Thượng Phương Trượng chùa Viên Giác cầm máy microphone nói: “Quí vị biết không? Hòa Thượng Chủ tịch hôm nay xuất hiện vui vẻ là nhờ 2 bình xi-rum hôm qua đó quí vị ạ…”Niềm vui không đọng được lâu. Hòa Thượng lại nhập viện. Nhiều bữa ăn vắng bóng Ngài. Mọi người lo lắng… Thời gian trôi nhanh, ngày bế mạc khóa học, Ngài lại xuất hiện trên bàn chủ tọa (nhưng trước đó, Ngài không dự lễ thỉnh Sư như thường lệ). Sau nầy chúng tôi được biết là Hòa Thượng đã năn nỉ các Bác sĩ nhà thương cho được xuất viện ít giờ để tham dự lễ bế mạc. Trong lời phát biểu (Hòa Thượng chỉ ngồi nói, không đứng như mọi khi) giọng Ngài vẫn bình thường, đều đặn, thỉnh thoảng chêm vô vài câu chọc cười ý vị. Không có gì lộ vẻ đau yếu cả.

Sau bế mạc là một ngày du ngoạn. Qua ngày 5.8, mọi người hầu hết đều trở về quốc độ mình. Bất ngờ 14g chiều ngày 8.8, trong buổi họp chúng chùa Viên Giác, Sư Phụ đọc bản cáo phó Sư Ông viên tịch. Trời ơi! Mọi người bàng hoàng sửng sốt. Xúc động như không thể nào tin được ở lỗ tai mình. Làm sao có thể như thế được? Mới hôm qua, hôm kia đây mà, Sư ông vẫn nói cười bình thường, đâu có triệu chứng gì trầm kha đâu? Sau giây phút xúc động, là sự thương tiếc vô hạn….

Hòa Thượng là một người rất bình dị, an nhẫn, không nói cười ồn ào, không muốn làm phiền lòng ai. Ngài đến mọi người đều thương, Ngài ở mọi người đều thích, Ngài đi mọi người đều tiếc. Hòa Thượng Thích Quảng Ba trong một điện thư gởi chư Tăng, đã tâm tình: “Hòa Thượng Khánh Anh là vị Tăng sĩ VN khả kính, sức nhẫn nại hơn người, 40 năm hành đạo ở Paris, luôn luôn dành tâm huyết để lo cho người khác, chùa khác, nước khác ... trước hơn cho mình, cho chùa mình, nước Pháp của mình ...”.

Quả vậy, Ngài lúc nào cũng lo cho mọi người, chỉ mong cho Phật sự được viên thành mà quên đi cái của mình. Cùng thời với Ngài, Hòa Thượng Huyền Vi có Giáo Hội Linh Sơn, Hòa Thượng Nhất Hạnh có Giáo Hội Làng Mai, Hòa Thượng Trung Quán có Hoa Nghiêm,.v.v…còn Ngài chỉ có Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất chung cho mọi người mà thôi. Chính Ngài đã khai sanh ra những Khóa Tu Học Phật Pháp Châu Âu kỳ vĩ, đông đảo, tươm tất, hoành tráng, được mọi người, mọi nơi ca ngợi, qui ngưỡng. Những Khoá Tu Học Phật Pháp Châu Âu nầy là thành tích của Ngài, sau nầy khi nhắc đến Ngài, chắc chắn không thể nào không nhắc đến các khóa Giáo lý nầy. Ngài đã tận tụy bỏ nhiều công sức vì nó. Khai sinh ra nó, và cuối cùng, Ngài đã ra đi cũng vì nó. Như một chiến sĩ dũng mãnh xông pha nơi chiến trường, bỏ thây trên lưng ngựa, Ngài suốt đời lo phụng sự Đạo pháp, chết cho Đạo Pháp. Ngài đã ra đi trong khóa học do Ngài sáng lập ra, nhẹ nhàng và êm thắm như một chiếc lá mùa thu lìa cành, chao lượn trong nắng sớm, nằm yên trong cõi vô thường. Ngài thương mọi người, sợ hàng đệ tử phải bận bịu lo cho người bệnh, nên mới vậy. Tâm niệm của Ngài là vậy. Ôi, bình dị thay. Đến, ở, và đi như Ngài là tấm gương sáng cho hậu thế noi theo. Một sự ra đi êm thắm, thật bình dị nhưng đã làm chấn động cả càn khôn vũ trụ. Nếu không là một Bồ Tát đắc đạo làm sao có thể an nhiên tự tại như thế được?….

Về kỷ niệm với Ôn, chúng tôi là hàng hậu học, lại ở xa, nên không có nhiều. Chỉ nhớ có lần, trong giờ sinh hoạt với chư Tăng Ni khoá 22 tại Neuss, Đức (?), Ôn nói về Qui Sơn Cảnh Sách: “… chấn nhiếp ma quân, dụng báo tứ ân, bạt tế tam hữu…”. Tôi dơ tay đứng lên góp ý: “Thưa Sư Ông, phải nói là TRẤN NHIẾP chứ không phải là chấn nhiếp ạ”. Ôn làm thinh, tôi nói tiếp: “Vì khi xưa các Tổ Sư xuất phát từ miền Bắc, đọc âm TR không được, đều đọc trợ ra là CH không à”. Thấy Ôn đồng ý, tôi phát biểu tiếp: “Cũng như câu: tán lễ Thích Tôn, vô thượng năng nhân, tăng kỳ cữu viễn tu chân, Đẩu xuất giáng thần…Phải nói là giáng TRẦNchứ không thể giáng thần được”. Ôn nói: THẦN là buổi sớm mai, giáng xuống vào buổi sớm mai. Tôi nói: Động từ giáng là một động từ cần một túc từ chỉ nơi chốnđi kèm theo, từ đâu giáng xuống đâu đó. Từ khung trời Đẩu xuất, giángxuống TRẦN gian thì mới đúng nghĩa, còn nói giáng xuống Thần thì thấy không được chỉnh cho lắm, có vẻ gượng ép quá ạ. Có lẽ vì người xưa, nếu phát âm là giáng chần (giọng Bắc)nghe kỳ quá, nên quí Ngài mới tìm một chữ khác để thay vào chăng?... Tranh cãi một hồi, cuối cùng, Ôn nói: “Thì cái nào cũng được. Giáng thần hay giáng trần đều được cả”. Đó, Ôn là vậy đó, nhẹ nhàng, biết lắng nghe ý kiến người khác, không cố chấp….(*).

Một lần khác, Ôn tâm tình với chúng Tăng: “Thấy mình thích ăn mì gói, mấy Sư cô (chùa BQ) thương, cứ làm mì gói cho ăn hoài. Vài lần đầu còn thấy ham, riết rồi thấy ớn quá…”.

Sư Ông là vậy, rất đơn giản, nhẹ nhàng, dễ dãi. Sao cũng được. Không phiền toái. Đơn giản chừng nào tốt chừng nấy.

Viết đến đây, tôi chạnh nhớ ra trong mấy ngày rầy, tôi nhận được rất nhiều điện thư nói về sự đầu độc trong thực phẩm, đặc biệt là thực phẩm chay xuất xứ từ Trung-quốc và Việt Nam…. Người ta tẩm đủ loại hóa chất độc hại có thể gây ung thư, dị ứng, còm xương,.v.v…và v.v... Tôi nhớ, trong khóa học cuối nầy, ngày thứ nhì, thứ ba gì đó, tôi bị ho liên miên dữ dội, nhức đầu, sốt và thở không được, đau rát một bên ngực, không ngủ được. Cũng trong đêm đó, thầy Hạnh Định phải vào nhà thương cấp cứu. Tôi biết ngay là mình bị ngộ độc rồi, vì từ sau những đợt nhịn đói vừa qua để trị bệnh (sau đó thì ăn thức ăn thực dưỡng với gạo lứt), cơ thể tôi rất “nhạy bén”. Mỗi lần ăn phải thức ăn có độc tố là nó phản ứng liền; có lúc nhẹ, chỉ ho khặc khặc vài lần; có lúc rất dữ dội, ho, nhức đầu, sốt liên miên, tùy theo mức độ nhiễm độc. Mỗi lần như vậy, tôi ngừng ngay những thức ăn mà tôi nghi là có độc tố. Nếu vẫn không hết, thì tôi nhịn đói vài ngày để tẩy độc, thanh lọc cơ thể. Tôi tuyệt đối không dùng bất cứ một viên thuốc trị bệnh nào trong những trường hợp như vậy. Lần ở khoá học nầy, tôi nhịn suốt tuần lễ không ăn chiều, chỉ dùng Quá đường (vì buổi trưa nhiều thức ăn, mình có thể chọn món nào mình thích), một đôi khi tới ngồi ăn sáng để nghe tin tức thông báo từ khoá tu học mà thôi. Hôm Sư Ông vào nhà thương, rồi lại ra thăm đại chúng, tôi thấy Sư Ông vẫn ăn chung như mọi người. Vì Sư Ông quá bình dị, thích hòa đồng với đại chúng nên không đòi hỏi gì cả, sợ phiền hà kẻ khác. Nhưng theo tôi, lẽ ra, trong những trường hợp như vậy, nên có một khẩu phần ăn riêng, tinh khiết hơn, bổ dưỡng hơn, để giúp cho người bệnh không trầm trọng thêm, và có sức để chống lại cơn bệnh. Âu đó cũng là bản chất của người mình: Không mấy chú trọng đến vấn đề ăn uống! Có lẽ đã đến lúc chúng ta cần suy nghĩ lại….

Con xin thành kính đảnh lễ Sư Ông. Nguyện Giác Linh Ôn cao đăng Phật quốc, hồi nhập Ta Bà, tiếp dẫn hậu lai.

Nam Mô Tiếp Dẫn Đạo Sư A Di Đà Phật ./.

(*) Điều nầy tôi chỉ ghi lại một kỷ niệm với Ôn Minh Tâm mà thôi, còn phần bình luận đúng, sai, xin chư liệt vị góp ý thêm. Đa tạ.

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
13/02/2011(Xem: 25938)
Ca Sĩ Gia Huy, Tên thật của Gia Huy là Đặng Quốc Hung. Anh đến Montreal, Canada vào năm 1991 để cùng đoàn tụ với gia đình. Anh hát lần đầu tiên tại vũ trường Chateau Du Parc tại Montreal. Lúc đó, anh hát với ban nhạc Phạm Mạnh Cường để trình bày những tác phẩm như "Máu Nhuộm Bãi Thượng Hải", "Mười Năm Tình Cũ" và "Lambada". Ngay sau lần trình diễn đầu tiên, Gia Huy trở thành một ấn tượng của dân chúng tại Montreal. Anh bắt đầu hát cho một số vũ trường tại địa phương như Bistro Dore, Miss Sai Gòn, và Đêm Sai Gòn. Tuy nhiên, mục đích của Gia Huy là nổi danh ngoài Canada và khuếch trương số khán thính giả đi khắp thế giới.
30/01/2011(Xem: 8406)
Hòa Thượng Thích Như Điển - Đệ Nhị Chủ Tịch Hội Đồng Điều Hành GHPGVNTN Âu Châu - Phương Trượng Chùa Viên Giác, Hannover, Đức Quốc
14/01/2011(Xem: 9225)
Hòa thượng họ Hồ Đắc, tên Cư, Pháp danh Tâm Thật, Pháp hiệu Thiện Châu, sinh ngày 23 tháng 2 năm 1931 tức ngày 7 tháng 1 năm Tân Mùi tại làng An Truyền, huyện Phú Vang, Tỉnh Thừa Thiên. Thân phụ Thầy là Cụ Hồ Đắc Phách, thân mẫu là Cụ Nguyễn Thị Cần. Thầy xuất gia năm 16 tuổi (1947) và thọ giới tỳ kheo năm 1952. Bổn sư của Thầy là Cố Đại Lão Hòa Thượng Thích Giác Nguyên, Viện chủ Tổ Đình Tây Thiên (Huế).
07/01/2011(Xem: 10019)
Ông vua đầu tiên của nhà Trần và cũng là một thiền sư cư sỹ, Trần Cảnh (Trần Thái Tông) (1218-1277) đã để lại một sự nghiệp chính trị, một dòng văn học bất hủ, đến bây giờ vẫn mãi là kim chỉ nam, ngọn đuốc soi đường trong đêm dài tăm tối, cho những ai tìm phương vượt thoát, lộ trình cho những ai muốn đưa dân tộc tìm tới đỉnh cao của nhân bản và an lạc.
05/01/2011(Xem: 9250)
Về việc Hòa Thượng Đôn Hậu lên núi, ra Bắc trong vụ Tết Mậu Thân được thầy Trí Tựu, Trú Trì chùa Linh Mụ thuật lại như sau: (lúc 12:00 giờ trưa, ngày 12-3-2009 tại chùa Linh Mụ) Vào khoảng quá nửa đêm tối Mồng một Tết Mậu Thân, có một phái đoàn gồm quân nhân và người mặc thường phục đến thăm Ôn. Ôn đang bị bệnh, bệnh suyễn và xuất huyết dạ dày. Thầy ngồi đàng xa. Thầy Trí Lưu, thân phụ của thầy Trí Siêu Lê Mạnh Thát, lúc đó là Tri Sự chùa Linh Mụ, ngồi gần Ôn. Họ mời Ôn về Huế họp. Ôn từ chối nói đau không đi được. Họ nói có người đưa Ôn đi. Sau đó người ta gánh Ôn đi trên một chiếc võng, từ chùa Linh Mụ, không về Huế mà rẽ về Chợ Thông thuộc làng An Ninh Hạ, đến La Chữ. Ban ngày núp, nghỉ, ban đêm đi. Sau một tháng đến Seopon giáp giới Lào. Máy bay trực thăng bay trên đầu mà không bắn. Trên đường đi, thiếu lương thực, bị hạm đội Mỹ pháo kích. Nhiều người bị chết vì đói và sốt rét. (Được kể lại sau 1975). Rồi sau đó từ Huế ra Hà Nội mất hết 4 tháng, đi theo đường Mòn Hồ Chí Minh đến
30/12/2010(Xem: 9705)
Nguyễn Du (1765-1820) tự là Tố Như, hiệu là Thanh Hiên, biệt hiệu Hồng Sơn Liệp Hộ, Nam Hải Điếu Đồ, sinh trưởng trong gia đình phong kiến quý tộc có nhiều danh vọng, quê gốc ở làng Tiên Điền, Nghi Xuân, Hà Tĩnh. Cha và anh của ông giữ những chức vụ quan trọng trong phủ chúa Trịnh. Thời trẻ ông tập ấm một chức quan võ nhỏ của cha nuôi họ Hà ở Thái Nguyên. Năm 1787, Tây Sơn ra Bắc diệt Trịnh, ông bắt đầu thời kỳ “Thập tải phong trần” (Mười năm gió bụi). Sau ông phục vụ nhà Nguyễn, làm đến Hữu Tham tri Bộ Lễ, từng được cử làm chánh sứ đi sứ Trung Quốc.
30/12/2010(Xem: 8226)
Viết về cụ Nguyễn Du mà chúng ta không nói đến lòng thương vô hạn của cụ đối với chính mình đối với tha nhân, đối với xã hội thì đó là một vấn đề thiếu sót; viết về Nguyễn Du mà không nói đến Phật giáo thì đó cũng là một thiếu sót quang trọng, vì toàn bộ sự nghiệp văn thơ của cụ đều phát xuất từ hai quan điểm này để từ đó cụ gởi gắm tâm sự của cụ lại cho người hậu thế.
27/12/2010(Xem: 8377)
Vị thầy người Nhật của tôi đã ra đi năm ngoái, quá trẻ, quá sớm. Bà chỉ mới năm mươi bốn tuổi, và không có ai để truyền thừa Pháp. Bà chỉ có năm người đệ tử sống cùng bà trong những năm gần đây. Tôi, năm mươi sáu tuổi, nhưng lại là đệ tử mới nhất của bà, mà lại là nam đệ tử. Tôi ở với một nhóm nhỏ đệ tử người Tây phương chỉ mới được mười năm nay, trong khi người nữ đệ tử trẻ tuổi nhất cũng đã có mười lăm năm theo học với bà. Do vị thế ưu tiên của việc “sống lâu lên lão làng” trong tăng đoàn nhỏ bé của chúng tôi, mà các vị nữ đệ tử trẻ này tha hồ chế ngạo cái đầu không tóc, và việc gia nhập tăng chúng muộn màng của tôi. Tôi không màng điều đó chút nào, vì từ những ngày đầu, tôi đã rất hạnh phúc được thân cận “roshi” của tôi, với lòng tin tưởng rằng sự gần gủi, tiếp xúc hằng ngày với bà có thể giúp tôi đi đến ngưỡng cửa tiếp cận tâm linh, nơi ma
24/12/2010(Xem: 10164)
Đại lễ đặt dưới sự chứng minh tối cao của: Đức Trưởng lão Hòa thượng Thích Minh Châu, Phó Pháp chủ Hội đồng chứng minh GHPG Việt Nam, trú trì Tổ đình Tường Vân – Huế, Trưởng lão Hòa thượng Thích khả Tấn, Thành viên Hội đồng chứng minh GHPG Việt Nam, Giáo phẩm chứng minh BTS GHPG tỉnh Thừa Thiên – Huế, Giáo phẩm chứng minh Môn phái tổ đình Tây Thiên – Huế, trú trì chùa Giác Lâm – Huế. Trưởng lão Hòa thượng Thích Đức Phương, Phó chủ tịch HĐTS Trung ương GHPG Việt Nam, Trưởng ban Trị sự GHPG tỉnh Thừa Thiên – Huế, trú trì Diệu Đế quốc tự, Lam Sơn và Tra Am – Huế. Trưởng lão Hòa thượng Thích Thiện Duyên, Thành viên Hội đồng chứng minh GHPG Việt Nam, Ủy viên thường Trực HĐTS Trung ương GHPG Việt Nam, Trưởng ban Hướng dẫn nam nữ cư sĩ Phật tử trung ương, Trưởng ban Trị sự GHPG tỉnh Quảng Nam, trú trì chùa Đạo Nguyên Tam Kỳ - Quảng Nam. Chư tôn đức trong thường trực BTS GHPG tỉnh Thừa Thiên – Huế, chư tôn đức đại diện các môn phái Tổ đình trong tỉnh Thừa Thiên – Huế, chư tôn đức trú trì các
24/12/2010(Xem: 6838)
Niên Biểu Đại Lão Hòa Thượng Thích Đôn Hậu, Chánh Thư ký, Xử lý Viện Tăng Thống Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất, Đệ Tam Tăng Thống Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất