15. Thiền Sư Đàm Thạnh Vân Nham (781-841) Người đạt nền móng cho phái Tào Động sau này

12/10/202113:01(Xem: 37645)
15. Thiền Sư Đàm Thạnh Vân Nham (781-841) Người đạt nền móng cho phái Tào Động sau này




Thiền Sư Đàm Thạnh Vân Nham (781-841)
Người đạt nền móng cho phái Tào Động sau này


Vài cảm nghĩ sau khi nghe pháp thoại được
TT Thích Nguyên Tạng thuyết giảng 14/10/2020

 

 

Kính bạch Thầy, sau khi nghe đi nghe lại pháp thoại này nhiều lần con chợt nhận ra một điều tất cả những gì mình đã được học, trì tụng từ kinh điển, nghe một lời khai thị dù chưa hiểu thấu đáo nhưng sẽ nằm trong A lại da thức cho đến một ngày nào đó sẽ có dịp khai mở .

Hôm nay với hành trạng Thiền Sư Đàm Thạnh được Thầy thuyết giảng đã minh chứng hùng hồn lại những gì con đã thu thập nhiều năm những tưởng sẽ khó mà hiểu được nay lại thông thoát tuôn chảy từ suối nguồn pháp bảo. Con thành kính đa tạ Thầy và gởi trọn tấm lòng thành vào vần thơ sau:

Cơ hội vàng ...chú tâm nghe Thầy thuyết giảng

Hành trạng Thiền Sư Đàm Thạnh Vân Nham

Hai mươi năm nơi Tổ Bá Trượng hành, tham

Chưa tỏ huyền chi vẫn không hề nản chí

 

Tổ viên tịch, Ngài Dược Sơn Duy Nghiễm khai thị

Mây phủ che mờ nay thoát...đắc pháp liền khi

Từ đấy nhiều đối thoại ngữ lục được chép ghi

Đa tạ Giảng sư ...Tiệm Tu và Đốn Ngộ

 

Với tài quảng bác, kinh văn liễu tri, Thầy chỉ rõ

Từng ngữ lục ...đâu là thể tánh tịnh minh

Văn, tư , tu, theo đuốc sáng tâm linh

Mưa pháp nhủ ...tự chiêm nghiệm, tự thấu hiểu,

Kính trình pháp ...khi thọ nhận tinh yếu !

 

 

Theo tài liệu Thiền Sư Trung Hoa do HT Thích Thanh Từ biên soạn:

Sư họ Vương, quê ở Kiến Xương, Chung Lăng.Sau hai mươi năm tham học với Ngài Bá Trượng nhưng chưa tỏ huyền chi thì Ngài Bá Trượng viên tịch  ...có lẽ đã đúng thời đúng lúc cho Ngài có cơ hội các chủng tử đã tưới tẩm nay được nẩy mầm và Ngài đã gặp minh sư Dược Sơn Duy Nghiễm.

 

Sau khi Sư ở chỗ tổ Bá Trượng đến, ngài Dược Sơn hỏi: Bá Trượng có ngôn cú gì để chỉ dạy đồ chúng? Đây là một cách hỏi. Sư thưa: Thường ngày hay nói “ta có một câu đầy đủ trăm vị”. Dược Sơn gạn lại: Mặn là vị mặn, lạt là vị lạt, không mặn không lạt là vị thường, thế nào là một câu đầy đủ trăm vị? Ngài đáp không được.

Ngày khác Ngài Duy Nghiễm cũng gạn lại câu hỏi cũ thôi: Bá Trượng nói pháp gì?

Ngài Đàm Thạnh thưa: Có khi Thầy thượng đường đại chúng ngồi yên, cầm gậy đồng thời đuổi tan hết, lại gọi: “Đại chúng!” Chúng xoay đầu lại, Thầy bảo: “Ấy là gì?”

Dược Sơn bảo: Sao không sớm nói thế đó? Hôm nay nhân ngươi thuật lại, ta được thấy Hải huynh. Ngay câu nói ấy, Sư tỉnh ngộ, lễ bái.

 

Chỉ qua hai lần được gạn hỏi những gì Tổ Bá Trượng dạy chưa khai thị gì thêm, thế mà nhờ hạ thủ công phu 20 năm đủ cơ duyên nên Ngài Đàm Thạnh mới chợt ngộ được cái thể tánh tịnh minh của mình vẫn theo ta từ bao kiếp .

 

Kính đa tạ Thầy cũng nhờ theo dõi từ đầu các bài học trước nên con cũng biết được Ngài Dược Sơn chính là đệ tử nối pháp của Ngài Hy Thiên Thạch Đầu và vang danh lúc bấy giờ và từ đây như thuyền thuận buồm xuôi gió , mỗi lần đối thoại giữa Thầy Dược Sơn và Trò Vân Nham Đàm Thạnh lại càng chứng tỏ Cái Thấy (Thể tánh tịnh minh) nơi  Ngài Đàm Thạnh đã tỏ huyền chi rồi


Ngài Dược Sơn hỏi:

- Ngoài chỗ Bá Trượng ngươi còn đến đâu chăng?

Sư thưa:

- Con từng đến Quảng Nam.

- Ta nghe nói ngoài cửa thành Đông ở Quảng Châu có một hòn đá bị Châu chủ dời đi phải chăng?

- Chẳng những Châu chủ, dù họp tất cả người toàn quốc dời cũng chẳng động.

Chẳng những Châu chủ, dù họp tất cả người toàn quốc dời cũng chẳng động. Ngài Đàm Thạnh ngộ đạo rồi mới nói được câu đó. 

 

Lại nữa một hôm Thầy, Trò đối đáp

- Ta nghe ngươi biết làm sư tử múa phải chăng?

- Phải.

- Múa được mấy suất?

- Múa được sáu suất.

- Ta cũng múa được.

- Hòa thượng múa được mấy suất?

- Ta múa được một suất.

- Một tức sáu, sáu tức một.

 

Kính bạch Thầy, thật là hoan hỷ vô cùng khi được Thầy  khai thị cho chúng đệ tử với sự chiêm nghiệm của mình từ Kinh Lăng Nghiêm mà con cho đây là thần chú con phải ghi nhớ “Nhất Tinh minh, sanh Lục hòa hợp “ để giải thích thế nào là Một tức sáu, sáu tức một của Ngài Vân Nham ,

Giờ đây Ngài đã thong dong tự tại bất cứ lời đối đáp nào cũng cho ta suy nghiệm và học hỏi

Sư đến Quy Sơn Linh Hựu, Ngài Quy Sơn hỏi:

- Nghe Trưởng lão ở Dược Sơn làm sư tử múa phải chăng?

Sư đáp:

- Phải.

- Thường múa hay có khi nghỉ?

- Cần múa thì múa, cần nghỉ thì nghỉ.

- Khi nghỉ, sư tử ở chỗ nào?

- Nghỉ, nghỉ.

 

 

Bạch Thầy, con rất tâm đắc khi nghe Thầy dạy về hai chữ “ Nghỉ , Nghỉ “ cái thường hằng bình đẳng luôn rỗng lặng và trong sáng thì múa hay nghỉ gì cũng vậy thôi , ôi vi diệu thế mà bấy lâu nay bao người đã tỏ .

Thêm một câu chuyện khác được Thầy khai thị từ ngữ lục

Ngài Thạch Sương Khánh Chư cũng là một thiền sư nổi tiếng sau này. Được ngài Vân Nham hỏi :

- ở chỗ Quy Sơn bao lâu,

 ngài thưa trải qua một đông một hạ.

Vân Nham bảo: Như thế thành núi dài. tu học mà tính thời gian, năm tháng hết xuân tới hạ… thì khó mà xong việc. Thạch Sương thưa: Tuy ở trong đó mà chẳng biết, tức là đã đến Quy Sơn nhưng chưa xong việc.

Ngài Vân Nham bảo: Người khác cũng chẳng hiểu chẳng biết. 

Tôi ở trong đó cũng không biết, người khác cũng chẳng hiểu chẳng biết.

 

 

Thì ra Chỗ đó làm sao hiểu, làm sao biết ...Chổ Ngộ và chỗ Thấy Tánh chỉ mình mình biết mà thôi,

Kính đa tạ Thầy ,nay con đã hiểu và nguyện ghi nhớ trong tâm .

Đây là lúc Sư dạy chúng

Một hôm, Sư bảo chúng:

- Có đứa trẻ nhà kia, hỏi đến không có gì nói chẳng được.

Động Sơn Lương Giới hỏi:

- Trong ấy có kinh sách nhiều ít?

- Một chữ cũng không.

- Sao được biết nhiều thế ấy?

- Ngày đêm chưa từng ngủ.

- Làm một việc được chăng?

- Nói được lại chẳng nói.

 

Lời thầy giảng Đứa trẻ là Thể Tánh Chân Như, có lẽ phải niệm niệm trong đầu với câu chuyện này để luôn nhớ rằng Phật Tánh chưa bao giờ ngủ, và rõ biết thiên kinh vạn sử gọi là trí tuệ siêu việt  và cứ thế thường hằng qua bao kiếp

Sư hỏi vị tăng:

- Ở đâu đến?

Tăng thưa:

- Thêm hương rồi đến.

- Thấy Phật chăng?

- Thấy.

- Thấy ở đâu?

- Thấy ở hạ giới.

- Phật xưa! Phật xưa!

 

Có ai hiểu trong câu chuyện này ...Phật được tôn thờ tại chánh điện các phương tự  chỉ là biểu tượng cho Đức Phật lịch sử đã tìm ra con đường giác ngộ mà chính mình phải thấy  cho ra Ông Phật Tâm của chính mình nên Ngài Đàm Thạnh mới ngầm chỉ cho vị tăng ấy gắng  thấy được Phật nay?

Ngài Đạo Ngô hỏi:

- Đại Bi ngàn tay mắt, mắt nào là mắt chánh?

Sư bảo:

- Như người ban đêm vói tay lại sau mò chiếc gối.

- Tôi hội rồi.

- Hội thế nào?

- Khắp thân là tay mắt.

- Nói tột cùng lời nói, chỉ nói được tám phần.

- Sư huynh thế nào?

- Khắp thân là tay mắt


Ngài Vân Nham bảo: Nói tột cùng lời nói, chỉ nói được tám phần. Nói khắp thân rồi mà ngài bảo chỉ nói được tám phần. Mỗi người chúng ta đều có cái đặc biệt này. Mong rằng mình hằng sống với nó để lúc nào cũng sáng suốt. 

Kính đa tạ Thầy đã giúp chúng đệ tử qua cuộc đối thoại này về lòng Từ Bi và trí Tuệ, theo đó bàn Tay chính là Từ Bi, con Mắt là Trí Tuệ. Tình thương phải được soi sáng bởi trí tuệ thì hành thiện  việc gì cũng diệu dụng thành tựu.

 

Sư ngồi bện giày cỏ, Động Sơn Lương Giới đến trước thưa:

- Xin Thầy tròng mắt được chăng?

Sư bảo:

- Ngươi đi với ai?

- Lương Giới không.

- Giả sử có, ngươi nhằm để chỗ nào?

Lương Giới không đáp được.

Sư bảo:

- Xin tròng mắt là mắt chăng?

- Chẳng phải mắt.

Sư nạt đuổi ra.

Người người ai cũng biết sở dĩ ta thấy được là nhờ con ngươi tròng mắt và tánh Thấy cũng  là Tánh Biết ( thể tánh tịnh minh ) Mỗi người tự tu tự ngộ ...xin được thì cũng chẳng có thể để vào bất cứ chỗ nào . Đây phải chăng là kinh nghiệm của Ngài Đàm Thạnh? Vì nếu xin được 20 năm trước Ngài đã xin từ Ngài Bá Trượng rồi ...

 

Phần cuối xin được ghi chép lại những lời dạy của HT Thích Thanh Từ và Kính tri ân Giảng Sư với bài pháp thoại quá tuyệt vời ...

Đời Đường niên hiệu Hội Xương năm đầu (841 TL), tháng 10 ngày 26, Sư có chút ít bệnh, tắm gội xong, kêu Chủ sự bảo: “Sắm sửa trai, ngày mai có Thượng tọa đi.” Đến tối đêm 27, Sư quy tịch, thọ 60 tuổi. Trà-tỳ được xá-lợi rất nhiều.

Chúng ta học ngài Vân Nham Đàm Thạnh thấy nhân duyên và cách thức dạy dỗ của ngài đối với đệ tử trong pháp hội rất bình thường. Tuy nhiên ngài bắt đầu cho những vị kế thừa, mở ra các tông phong lớn. Động Sơn Lương Giới là đệ tử đắc pháp của ngài. Động Sơn có một vị đệ tử là Tào Sơn Bổn Tịch, hai thầy trò nhà này lập ra tông Tào Động. Trong nhà thiền có năm tông bảy phái. Năm tông gồm: Tào Động, Lâm Tế, Vân Môn, Pháp Nhãn, Quy Ngưỡng. Hai phái là: Dương Kỳ Phương Hội, Hoàng Long Huệ Nam là hai chi của tông Lâm Tế sau này.

 

Kính mong bài trình pháp này có thể nói lên phần nào để đáp lại tâm huyết của Giảng Sư muốn truyền trao Pháp Bảo của Đức Thế Tôn  trên đường “Tác Như Lai Sứ “

Kính trân trọng.

Huệ Hương

15_Thien Su Van Nham

 

Nam Mô A Di Đà Phật

Kính bạch Sư Phụ

Hôm nay, ngày 14-10-2020, chúng con được nghe Sư Phụ giảng pháp về Thiền Sư Vân Nham Đàm Thạnh ( 782-841). Ngài thuộc phái Tào Động ở Vân Nham Sơn. Lúc nhỏ Ngài xuất gia với Thiền Sư Bách Trượng Hoài Hải, ở tu được 20 năm, Thiền Sư Bách Trượng viên tịch nhưng Ngài chưa đủ duyên đắc pháp.

Sau đó, Ngài tìm tới Thiền Sư Duy Nghiễm thọ học, và trình bạch là từ nơi Tổ Bách Trượng đến.
Thiền sư Duy Nghiễm hỏi ngài Đàm Thạnh ở Tổ Bách Trượng dạy pháp gì?
Đàm Thạnh thưa: lúc đại chúng thượng đường ngồi yên, tổ Bách Trượng vào cầm gậy đuổi ra hết, lúc đại chúng ra ngoài hết, Tổ gọi “đại chúng “, đại chúng quay đầu lại, Tổ hỏi “ấy là cái gì?”
Ngài Duy Nghiễm bảo: hôm nay nhân người thuật lại, cái “đại chúng quay đầu lại “ là cái giác tánh thường hằng ở trong tất cả chúng sanh vạn loài. Ngài Đàm Thạnh nghe Tổ Duy Nghiễm giải thích, hoát nhiên đại ngộ.

Ngài Đàm Thạnh đã có quá trình 20 năm tu với Tổ Bách Trượng, nay được tổ Duy Nghiễm khai mở giác tánh hằng có bên trong.

Một hôm, tổ Duy Nghiễm hỏi ngài Đàm Thạnh biết làm sư tử múa hay không?

Ngài Đàm Thạnh thưa: múa được 6 xuất rất giỏi.
Ngài Duy Nghiễm nói, ta cũng múa được nhưng chỉ một xuất thôi.
Một xuất lưu xuất từ gốc Tịnh Minh, trong sáng ra thành 6 tánh thấy dung thông tự tại.

Một ngày kia, Ngài Đàm Thạnh đến thăm tổ Quy Sơn Linh Hựu.
Tổ Quy Sơn nghe ngài Đàm Thạnh biết múa Sư tử, Tổ hỏi ngài Đàm Thạnh múa liên tục hay có lúc nghỉ ?
Ngài Đàm Thạnh trả lời: nghỉ, nghỉ. Là khi cần thì múa, không cần thì nghỉ.


Sư phụ giải thích: nghỉ là lặng lẽ, biểu trưng cho thể tánh rỗng lặng của tâm, tâm không còn chút gì xáo trộn, tâm không vọng tưởng điên đảo, tất cả mọi phiền não đều đã nghỉ. Nghỉ như vậy mới thật sự là nghỉ, cái từ nghỉ của Ngài Vân Nham muốn nói là nhắm vào ý nghĩa này. Sư Phụ kể chuyện vui về Cụ Tâm Thái, Cụ bà tránh dùng từ "ngủ nghỉ" vì Cụ cho rằng “ngủ mà còn nghỉ thì coi chừng có ngày sẽ an nghỉ ngàn thu”.


Thiền Sư Vân Nham Đàm Thạnh trụ trì ở núi Vân Nham, Sư kể có một đứa trẻ nhà kia biết tất cả mọi thứ. Ngài Động Sơn Lương Giới hỏi:
- trong ấy có kinh sách nhiều không?
-một chữ cũng không, ngài Đàm Thạnh trả lời.
- sao biết nhiều?
- ngày đêm chưa từng ngủ.

Sư Phụ giải thích, đứa trẻ ở đây là chỉ cho Phật tánh của ngài Đàm Thạnh, vì sao ? vì tâm của đứa trẻ lúc nào cũng hồn nhiên, không có chút gì lo âu buồn khổ và phiền não tham sân si.

Ngài Đạo Ngô hỏi ngài Đàm Thạnh:
- Thiên thủ thiên nhãn vô ngại đại bi tâm, Đà là Ni. Mắt nào là mắt chánh.
- như ban đêm lấy tay mò chiếc gối.
- hiểu rồi, khắp thân là tay là mắt.
- chỉ nói được 8/10 thôi.


Sư phụ giải thích: Bồ tát Quan Âm với ngàn tay ngàn mắt (thiên thủ thiên nhãn), trên mỗi long bàn tay đều có một mắt; bàn tay tượng trưng cho lòng từ bi, con mắt biểu trưng cho trí tuệ. Từ bi và trí tuệ là thể tánh giác ngộ, là diệu dụng có khắp trên thân và tâm ta, chỗ nào cũng có.

Ngài Động Sơn Lương Giới hỏi ngài Đàm Thạnh về tánh thấy, Ngài Đàm Thạnh giải thích tánh thấy là Phật tánh hằng có trong tất cả chúng sanh vạn loài, chỉ người nào có tự chứng thì tự biết.

Đời Đường, năm 841 Tây lịch, ngày 26-10, Sư có chút bệnh, tắm gội xong, ngày 27 Sư an nhiên thị tịch thọ 60 tuổi. Lúc trà tỳ có rất nhiều xá lợi.

Ngài Vân Nham Đàm Thạch tuy phải trải 20 năm tu tập với Tổ Bách Trượng chưa chứng đắc, nhưng là 20 năm tiệm tu và đến lúc đúng thời Ngài “nghỉ nghỉ “ tỏa sáng trong chân như tự tánh thường hằng của Ngài.

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật

Cung kính và tri ơn Sư Phụ,
Đệ tử Quảng Tịnh Tâm.
(Montreal, Canada)






Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
07/02/2026(Xem: 897)
Xưa ở nước Xá Vệ, có một huyện nhân dân đều quy Tam bảo, phụng trì năm giới và thực hành mười thiện nghiệp của Phật dạy. Khắp huyện không bao giờ sát sanh, người uống rượu nấu rượu cũng không có. Trong huyện, có một người con dòng dõi, sắp đi buôn tha phương. Trước khi đi, cha mẹ cặn kẽ dặn rằng: “Con nên cố gắng siêng năng, giữ gìn 5 giới cấm, thực hành mười điều thiện và cẩn thận chớ uống rượu, phạm đến trọng giới của Phật”.
05/02/2026(Xem: 1074)
Tu hú Trung Quốc hay còn gọi là Táo Quyên (chữ Hán: 噪鹃[1], Danh pháp khoa học: Eudynamys scolopaceus chinensis) là một phân loài của loài tu hú châu Á (Eudynamys scolopaceus) phân bố ở miền nam Trung Quốc, bán đảo Đông Dương, ngoại trừ bán đảo Mã Lai[2] Chúng sinh sống ở Thái Lan, Lào, Campuchia, Việt Nam, đông nam Trung Quốc và một phần Malaysia. Ở Việt Nam, chim tu hú phân bố ở khắp các vùng đồng bằng và vùng trung du. Vào mùa đông, rất ít gặp loài này vì phần lớn chúng bay về phương nam để tránh rét[3], chúng còn được gọi đơn giản là chim tu hú hay tu hú và cũng còn được gọi là chim quyên hay đỗ quyên[1].
31/01/2026(Xem: 2413)
Dòng nghiệp tự xoay trong một kiếp sống, có những khoảnh khắc ta tuyệt vọng, có những thời điểm trong đời sống tu tập, mọi lời dạy về chuyển nghiệp đều trở nên xa xỉ bởi vì mất mát đã xảy ra , thân bịnh đã hiện, quan hệ đã đổ vỡ, hậu quả đã đứng trước mặt ——>NGHIÊP ĐANG TRỔ Trong khoảnh khắc ấy, điều nguy hiểm nhất không phải là khổ, mà là đối diện khổ với sự VÔ MINH , điều này sẽ làm duyên cho nghiệp tiếp tục sinh sôi, tâm thức lạc lối, có lời oán trách, tự kết tội mình, tuyệt vọng khi không thấy phép màu nào đảo ngược thực tại . Đây chính là Tầng Nghiệp Thứ Hai : NGHIỆP DO PHẢN KHÁNG QUẢ BÁO .
31/01/2026(Xem: 1576)
Từ đó cho đến nay đã nhiều lần đi và nhiều lần đến ở nhiều nơi trên quả địa cầu nầy, nhưng tôi vẫn thấy như mình còn cần phải học hỏi nhiều hơn nữa, mặc dầu nay ở tuổi cũng gần 80 rồi. Ngày Hòa THượng Thích Bảo Lạc đi xuất gia (1957) và tôi đã theo chân anh ruột của mình vào chùa (1964) để đầu sư học đạo. Mấy Bà Cụ trong làng khua với nhau rằng: “Nhà Ông Quyên (Thân phụ của chúng tôi) có đến 2 người con cho đi xuất dương”. Tôi nghe chẳng hiểu gì cả, vậy mà sau nầy cả Hòa Thượng Thích Bảo Lạc và tôi đều được xuất dương sang Nhật Bản du học trước năm 1975. Như thế những gì mình chưa mong đợi, nhưng sự việc vẫn đến với mình như thường. Đó là gì? Phải chăng đó là nhân duyên, là phước báu? Hay là gì gì nữa. Mỗi người trong chúng ta sẽ có cách trả lời riêng của từng người vậy.
19/01/2026(Xem: 2108)
Ông cháu chúng tôi được Quý Thầy ở Tổ Đình Pháp Hoa, Nam Úc chở ra phi trường Adelaide vào sáng sớm ngày 8.1.2026, và buổi chiều cùng ngày được Phật Tử Chúc Nguyên đón tại phi trường Sydney, đưa về Thiền Lâm Pháp Bảo, vùng Wallacia thuộc Sydney, nơi Hòa Thượng Thích Bảo Lạc đang tịnh tu. Chiều đó có TT Phổ Huân và Sư Cô TN Giác Anh từ Tổ Đình Pháp Bảo ghé qua thăm chúng tôi tại Thiền Lâm Pháp Bảo và bàn bạc chương trình trong những ngày chúng tôi còn lưu lại ở đây cho đến ngày 24.1.2026.
14/01/2026(Xem: 1500)
Khi 740 đứa trẻ bị kết án trôi ra biển và cả thế giới nói “không”, thì một người đàn ông đã nói “có”. Đó là năm 1942. Giữa Ấn Độ Dương, một con tàu lênh đênh như một chiếc quan tài nổi. Trên tàu là 740 đứa trẻ Ba Lan ,những đứa trẻ mồ côi sống sót từ các trại lao động của Liên Xô, nơi cha mẹ chúng đã chết vì đói, bệnh tật và kiệt sức. Chúng trốn thoát được sang Iran, nhưng cơn ác mộng chưa kết thúc: không một quốc gia nào muốn nhận chúng. Hết cảng này đến cảng khác dọc bờ biển Ấn Độ, Đế quốc Anh ,cường quốc lớn nhất thời đó ,đóng sập cửa trước mặt chúng. “Không phải trách nhiệm của chúng tôi. Hãy đi nơi khác.” Thức ăn cạn dần. Thuốc men không còn. Và hy vọng ,thứ duy nhất giúp những đứa trẻ sống sót đến lúc này ,cũng đang tắt dần.
03/11/2025(Xem: 2028)
Australia: Lá thư trong chai của người lính thời Thế chiến I viết gửi mẹ năm 1916 được tìm thấy trên bãi biển Wharton sau hơn 100 năm trôi dạt và bị cát chôn vùi. Gia đình bà Debra Brown hồi cuối tháng 10 nhặt rác trên bãi biển Wharton, gần Esperance ở bang Tây Australia thì phát hiện một chai thủy tinh còn nguyên vẹn, bên trong chứa lá thư được viết vội bằng bút chì của hai người lính từ thời Thế chiến I.
25/08/2025(Xem: 4188)
Tuổi thơ của tôi là một sự pha trộn giữa hồn nhiên đầy mộng mị với những thèm thuồng, khổ đau của một thằng bé sinh ra trong một gia đình nghèo và vào thời chinh chiến. Đó là một thằng bé nghịch ngợm, ham chơi, đa cảm, thường dễ khóc khi gặp phải chuyện buồn. Suốt quãng đời thơ ấu, tôi chưa bao giờ được hân hạnh bước qua ngưỡng cửa hoặc vào trong sân của một gia đình giàu có. T
21/08/2025(Xem: 5321)
Anatha-pindika, một vị thủ quỹ giàu có, đã đến Đại Tự viện Jetavana để thăm Đức Thế Tôn. Ông mang theo năm trăm người bạn của mình, những đệ tử của các trường phái triết học khác. Sau khi bày tỏ lòng kính trọng và dâng cúng, ông cùng bạn bè ngồi nghe bài pháp của Đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn, với giọng nói mạnh mẽ như tiếng sư tử gầm và dịu dàng như chuỗi ngọc quý, đã thuyết giảng một bài pháp ngọt ngào và đẹp đẽ về Chân lý. Năm trăm đệ tử ấy cảm động đến mức họ từ bỏ niềm tin ngoại giáo, và bắt đầu quy y Tam Bảo: Phật, Pháp và Tăng. Từ đó, họ thường xuyên cùng Anatha-pindika đến chùa để nghe giáo pháp của Đức Phật.
11/08/2025(Xem: 4945)
Vô Bích động âm u mờ mịt, nó chẳng thuộc trời chẳng thuộc đất, nó không có tháng năm kiếp số thì nói chi đến thời khắc hay ngày giờ. Nó vốn là lãnh địa của lão Hades từ thuở hồng hoang đến giờ. Lão thường ngồi trên ngai bạch cốt, lúc nào cũng lim dim nhấm nháp ly hắc huyết hoàn tửu, đây là thức uống khoái khẩu của lão ta. Cái ly của y cũng rất đặc biệt, vốn chế tác từ thiên linh cái của bọn người ở nhân gian. Hắc huyết hoàn tửu là thứ mỹ tửu cực độc chỉ riêng Vô Bích động mới chế được. Mỗi khi Hades muốn gọi ai về chầu thì lão nhón ngón út chấm một giọt nhỏ lên sinh mệnh ai là người ấy lập tức vâng mệnh, xưa nay chưa có ai cưỡng được mệnh gọi chầu, dù đó là người cực thông minh hay quyền uy lớn nhất thế gian. Người đã như thế thì quỷ thần, phi nhân, súc sanh không cần phải nói nữa. Ngay cả những vị trời cũng chẳng thoát khỏi, dù đại phạm thiên thọ mạng tám vạn đại kiếp nhưng khi có mệnh thì hoa trên mão héo, thân thể tiết mùi hôi, thân quyến lìa xa... đó là dấu hiệu cho biết sắp đọa. S