Hai Cách Đánh Trống (truyện thơ Phật Giáo)

26/11/201807:39(Xem: 19388)
Hai Cách Đánh Trống (truyện thơ Phật Giáo)

hai canh danh trong

HAI CÁCH ĐÁNH TRỐNG

  

Xưa trong làng nhỏ vùng quê

Có ông đánh trống chuyên nghề lâu nay

Một hôm ông được cho hay

Tại Ba La Nại nơi đây ăn mừng

Có phiên hội chợ tưng bừng

Bao người tham dự vô cùng đông vui

Ông bèn quyết định tới nơi

Trổ tài đánh trống kiếm chơi ít tiền,

Ông mang con trai theo liền

Vì nhiều bài trống cần thêm một người

Con ông nghề cũng giỏi thôi

Cha con cùng đánh trống thời tuyệt luân.

Tới nơi hội chợ nhiều dân

Cha con biểu diễn vô ngần thành công

Những người thích trống rất đông

Nghe xong thưởng bạc, khen không tiếc lời

Đến khi hội chợ vãn rồi

Cha con tiền bạc kiếm thời đầy tay

Cùng nhau quyết định rời đây

Trở về làng cũ lòng đầy niềm vui.

*

Đường về xa tít mù khơi

Cha con buộc phải qua nơi rừng già

Âm u, tăm tối, bao la

Mọi người đều biết thật là hiểm nguy

Quân gian ẩn núp thiếu chi

Mưu toan cướp bóc khách đi ngang rừng.

Chàng con tỏ vẻ hào hùng

Kiếm đường đối phó tưởng chừng tinh khôn

Trống mang ra đánh dập dồn

Làm như một phái đoàn đông lắm người

Cướp nghe sẽ sợ hãi thôi

“Càng ồn càng tốt!” chàng cười vênh vang.

Người cha thấy vậy vội vàng

Ngăn con rồi giảng rõ ràng cho nghe:

“Thường thường những phái đoàn kia

Nếu là đám rước uy nghi đông người

Làm ồn. Đánh trống. Đúng rồi!

Để xua quân cướp tức thời tránh xa

Nhưng mà tiếng trống đánh ra

Luôn theo nhịp điệu rất là xuôi tai

Làm như họ chẳng sợ ai

Trống vang từng nhịp khoan thai rồi ngừng

Ngừng xong lại trổi vang lừng

Luân phiên như vậy cướp rừng sợ ngay

Con nên theo cách đánh này,

Đánh hoài không nghỉ chẳng hay chút nào.”

Chàng con ngu dại biết bao

Tưởng rằng tài trí mình cao hơn đời

Không theo lệnh, chẳng nghe lời

“Càng ồn càng tốt!” chàng cười tự kiêu.

*

Trong rừng bọn cướp rõi theo

Khi nghe tiếng trống đánh kêu vang ầm

Thoạt tiên bọn cướp nghĩ thầm:

“Đây là đám rước ta cần nể nang

Oai nghiêm, hùng mạnh, giàu sang

Chắc đoàn hộ tống dềnh dàng lớn lao.”

Khi nghe kỹ thấy ồn ào

Om sòm tiếng trống vọng vào rừng hoang

Cứ liên tục. Chẳng nhịp nhàng

Nghe ra cuồng loạn bất thường kể chi

Giống như chú chó nhỏ kia

Thấy con chó lớn tức thì sủa vang

Chỉ vì hãi sợ kinh hoàng

Sủa vang để tự trấn an cho mình.

Cướp kia quả thật thông minh

Đoán ra mọi việc tài tình lắm thay

Chúng mò ra dò xét ngay

Quả nhiên chỉ thấy tại đây hai người

Chúng bèn đánh gục cả đôi

Bao nhiêu tiền bạc cướp rồi còn chi

Mồ hôi nước mắt trôi đi

Cha con vất vả, nay thì trắng tay,

Phóng mình cướp chạy như bay

Cùng nhau khuất bóng rừng cây mịt mùng.

*

NHẬN DIỆN TIỀN THÂN:

Người cha đánh trống là tiền thân Đức Phật.

 

Tâm Minh Ngô Tằng Giao

(thi hóa, phỏng dịch theo bản văn xuôi

TWO WAYS OF BEATING A DRUM

của Ven. Kurunegoda Piyatissa & Tod Anderson)

__________________________________________________

 

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
07/02/2026(Xem: 776)
Xưa ở nước Xá Vệ, có một huyện nhân dân đều quy Tam bảo, phụng trì năm giới và thực hành mười thiện nghiệp của Phật dạy. Khắp huyện không bao giờ sát sanh, người uống rượu nấu rượu cũng không có. Trong huyện, có một người con dòng dõi, sắp đi buôn tha phương. Trước khi đi, cha mẹ cặn kẽ dặn rằng: “Con nên cố gắng siêng năng, giữ gìn 5 giới cấm, thực hành mười điều thiện và cẩn thận chớ uống rượu, phạm đến trọng giới của Phật”.
05/02/2026(Xem: 885)
Tu hú Trung Quốc hay còn gọi là Táo Quyên (chữ Hán: 噪鹃[1], Danh pháp khoa học: Eudynamys scolopaceus chinensis) là một phân loài của loài tu hú châu Á (Eudynamys scolopaceus) phân bố ở miền nam Trung Quốc, bán đảo Đông Dương, ngoại trừ bán đảo Mã Lai[2] Chúng sinh sống ở Thái Lan, Lào, Campuchia, Việt Nam, đông nam Trung Quốc và một phần Malaysia. Ở Việt Nam, chim tu hú phân bố ở khắp các vùng đồng bằng và vùng trung du. Vào mùa đông, rất ít gặp loài này vì phần lớn chúng bay về phương nam để tránh rét[3], chúng còn được gọi đơn giản là chim tu hú hay tu hú và cũng còn được gọi là chim quyên hay đỗ quyên[1].
31/01/2026(Xem: 2086)
Dòng nghiệp tự xoay trong một kiếp sống, có những khoảnh khắc ta tuyệt vọng, có những thời điểm trong đời sống tu tập, mọi lời dạy về chuyển nghiệp đều trở nên xa xỉ bởi vì mất mát đã xảy ra , thân bịnh đã hiện, quan hệ đã đổ vỡ, hậu quả đã đứng trước mặt ——>NGHIÊP ĐANG TRỔ Trong khoảnh khắc ấy, điều nguy hiểm nhất không phải là khổ, mà là đối diện khổ với sự VÔ MINH , điều này sẽ làm duyên cho nghiệp tiếp tục sinh sôi, tâm thức lạc lối, có lời oán trách, tự kết tội mình, tuyệt vọng khi không thấy phép màu nào đảo ngược thực tại . Đây chính là Tầng Nghiệp Thứ Hai : NGHIỆP DO PHẢN KHÁNG QUẢ BÁO .
31/01/2026(Xem: 1365)
Từ đó cho đến nay đã nhiều lần đi và nhiều lần đến ở nhiều nơi trên quả địa cầu nầy, nhưng tôi vẫn thấy như mình còn cần phải học hỏi nhiều hơn nữa, mặc dầu nay ở tuổi cũng gần 80 rồi. Ngày Hòa THượng Thích Bảo Lạc đi xuất gia (1957) và tôi đã theo chân anh ruột của mình vào chùa (1964) để đầu sư học đạo. Mấy Bà Cụ trong làng khua với nhau rằng: “Nhà Ông Quyên (Thân phụ của chúng tôi) có đến 2 người con cho đi xuất dương”. Tôi nghe chẳng hiểu gì cả, vậy mà sau nầy cả Hòa Thượng Thích Bảo Lạc và tôi đều được xuất dương sang Nhật Bản du học trước năm 1975. Như thế những gì mình chưa mong đợi, nhưng sự việc vẫn đến với mình như thường. Đó là gì? Phải chăng đó là nhân duyên, là phước báu? Hay là gì gì nữa. Mỗi người trong chúng ta sẽ có cách trả lời riêng của từng người vậy.
19/01/2026(Xem: 1777)
Ông cháu chúng tôi được Quý Thầy ở Tổ Đình Pháp Hoa, Nam Úc chở ra phi trường Adelaide vào sáng sớm ngày 8.1.2026, và buổi chiều cùng ngày được Phật Tử Chúc Nguyên đón tại phi trường Sydney, đưa về Thiền Lâm Pháp Bảo, vùng Wallacia thuộc Sydney, nơi Hòa Thượng Thích Bảo Lạc đang tịnh tu. Chiều đó có TT Phổ Huân và Sư Cô TN Giác Anh từ Tổ Đình Pháp Bảo ghé qua thăm chúng tôi tại Thiền Lâm Pháp Bảo và bàn bạc chương trình trong những ngày chúng tôi còn lưu lại ở đây cho đến ngày 24.1.2026.
14/01/2026(Xem: 1253)
Khi 740 đứa trẻ bị kết án trôi ra biển và cả thế giới nói “không”, thì một người đàn ông đã nói “có”. Đó là năm 1942. Giữa Ấn Độ Dương, một con tàu lênh đênh như một chiếc quan tài nổi. Trên tàu là 740 đứa trẻ Ba Lan ,những đứa trẻ mồ côi sống sót từ các trại lao động của Liên Xô, nơi cha mẹ chúng đã chết vì đói, bệnh tật và kiệt sức. Chúng trốn thoát được sang Iran, nhưng cơn ác mộng chưa kết thúc: không một quốc gia nào muốn nhận chúng. Hết cảng này đến cảng khác dọc bờ biển Ấn Độ, Đế quốc Anh ,cường quốc lớn nhất thời đó ,đóng sập cửa trước mặt chúng. “Không phải trách nhiệm của chúng tôi. Hãy đi nơi khác.” Thức ăn cạn dần. Thuốc men không còn. Và hy vọng ,thứ duy nhất giúp những đứa trẻ sống sót đến lúc này ,cũng đang tắt dần.
03/11/2025(Xem: 1861)
Australia: Lá thư trong chai của người lính thời Thế chiến I viết gửi mẹ năm 1916 được tìm thấy trên bãi biển Wharton sau hơn 100 năm trôi dạt và bị cát chôn vùi. Gia đình bà Debra Brown hồi cuối tháng 10 nhặt rác trên bãi biển Wharton, gần Esperance ở bang Tây Australia thì phát hiện một chai thủy tinh còn nguyên vẹn, bên trong chứa lá thư được viết vội bằng bút chì của hai người lính từ thời Thế chiến I.
25/08/2025(Xem: 3490)
Tuổi thơ của tôi là một sự pha trộn giữa hồn nhiên đầy mộng mị với những thèm thuồng, khổ đau của một thằng bé sinh ra trong một gia đình nghèo và vào thời chinh chiến. Đó là một thằng bé nghịch ngợm, ham chơi, đa cảm, thường dễ khóc khi gặp phải chuyện buồn. Suốt quãng đời thơ ấu, tôi chưa bao giờ được hân hạnh bước qua ngưỡng cửa hoặc vào trong sân của một gia đình giàu có. T
21/08/2025(Xem: 4717)
Anatha-pindika, một vị thủ quỹ giàu có, đã đến Đại Tự viện Jetavana để thăm Đức Thế Tôn. Ông mang theo năm trăm người bạn của mình, những đệ tử của các trường phái triết học khác. Sau khi bày tỏ lòng kính trọng và dâng cúng, ông cùng bạn bè ngồi nghe bài pháp của Đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn, với giọng nói mạnh mẽ như tiếng sư tử gầm và dịu dàng như chuỗi ngọc quý, đã thuyết giảng một bài pháp ngọt ngào và đẹp đẽ về Chân lý. Năm trăm đệ tử ấy cảm động đến mức họ từ bỏ niềm tin ngoại giáo, và bắt đầu quy y Tam Bảo: Phật, Pháp và Tăng. Từ đó, họ thường xuyên cùng Anatha-pindika đến chùa để nghe giáo pháp của Đức Phật.
11/08/2025(Xem: 4551)
Vô Bích động âm u mờ mịt, nó chẳng thuộc trời chẳng thuộc đất, nó không có tháng năm kiếp số thì nói chi đến thời khắc hay ngày giờ. Nó vốn là lãnh địa của lão Hades từ thuở hồng hoang đến giờ. Lão thường ngồi trên ngai bạch cốt, lúc nào cũng lim dim nhấm nháp ly hắc huyết hoàn tửu, đây là thức uống khoái khẩu của lão ta. Cái ly của y cũng rất đặc biệt, vốn chế tác từ thiên linh cái của bọn người ở nhân gian. Hắc huyết hoàn tửu là thứ mỹ tửu cực độc chỉ riêng Vô Bích động mới chế được. Mỗi khi Hades muốn gọi ai về chầu thì lão nhón ngón út chấm một giọt nhỏ lên sinh mệnh ai là người ấy lập tức vâng mệnh, xưa nay chưa có ai cưỡng được mệnh gọi chầu, dù đó là người cực thông minh hay quyền uy lớn nhất thế gian. Người đã như thế thì quỷ thần, phi nhân, súc sanh không cần phải nói nữa. Ngay cả những vị trời cũng chẳng thoát khỏi, dù đại phạm thiên thọ mạng tám vạn đại kiếp nhưng khi có mệnh thì hoa trên mão héo, thân thể tiết mùi hôi, thân quyến lìa xa... đó là dấu hiệu cho biết sắp đọa. S