Con đường hoa đạo

10/04/201312:11(Xem: 5443)
Con đường hoa đạo

canh dep

Con đường hoa đạo

Lam Khê

Một bóng người thoăn thoắt bước đi, thỉnh thoảng quay đầu nhìn ra hai bên đường đầy vẻ tư lự. Lúc này vần trán thanh tú khẻ nhíu lại, trầm ngâm nghĩ ngợi. Thanh gươm đeo bên người lập loè sáng trong ánh nắng chiều đỏ quạch, càng mang dáng dấp của một chàng tráng sĩ thời thượng. Khi rẽ sang một con đường khác, Tráng sĩ chợt dừng chân reo lên: _ “Lạ thật, nơi heo hút này lại có con đường rộng thoáng băng xuyên cả qua ngọn núi. Con đường đầy hoa, mà ai đã trồng lên dường như mang một ý nghĩa gì đó.

Trời tối từ lâu, nhưng Mạnh Trí- tên tráng sĩ _ vẫn còn loanh quanh dưới chân núi. Cơn đói đã qua, nhưng sương đêm nơi núi rừng hiu quạnh vào những ngày tàn đông cũng làm cho lòng chàng bồn chồn buốt giá. Chàng đến gõ cửa một ngôi tịnh thất nhỏ nằm chơ vơ bên vách đá, vì nghe có tiếng chuông vọng ra từ bên trong. Vị sư mở cửa, thoáng nhìn qua chàng rồi nhỏ nhẹ nói:

_ Tráng sĩ ắt hẳn muốn tá túc qua đêm nơi Bổn Tự? Vậy xin mời vào bên trong cho ấm.

Chàng trai ngạc nhiên song tự nghĩ : “ Vị Sư chắc từng đón tiếp nhiều khách lỡ đường như ta, nên đã quen mà không hỏi han gì”.

Mạnh Trí thức giấc giữa đêm khuya khi vị Sư trở dậy đi công phu. Chàng trằn trọc mãi không phải vì mệt mỏi sau nhiều ngày dong ruỗi mà bởi bao ý nghĩ chợp chờn cứ như làn sóng nhấp nhô xuống lên không dứt. Vị sư vẫn còn trung niên. Ngôi Tịnh Thất này cũng chỉ được tạo dựng sau này, rõ ràng không thể làm chứng nhân cho mọi sự việc xãy ra trước kia. Chàng lẫm bẫm :- Hừ! Ta đang muốn làm kẻ truy tìm lại một quá khứ tội ác đau thương. Thật chẳng dễ dàng gì, với chừng ấy thời gian trôi qua.

Vị Sư châm trà mời Chàng cùng đối ẩm, không gian toả rộng theo vị trà thơm thoang thoảng. Chủ khách cùng yên lặng thưởng thức. Ngoài sân trời đã sáng. Một ngày bắt đầu nơi núi rừng mới yên tịnh làm sao. Tiếng chim hót líu lo. Tiếng reo vi vu của suối ngàn thăm thẳm. Tiếng nẩy mầm tươi vui của bao chồi xanh khi đất trời đang chuyển mình để bước sang mùa xuân mới. Mùa xuân sắp về mà Mạnh Trí vẩn còn làm kẻ lang thang nơi này. Mục đích thì rõ ràng, mà đầu mối thì lại mịt mù rối rắm đâu đâu.

_ Thí chủ …._ Vị Sư lên tiếng sau một hồi cả hai cùng mật niệm bên chén trà đạo, Người đi đâu qua đây trong những ngày đông giá lạnh này. Bần đạo xem qua thì ắt hẳn không phải là thương buôn?.

_ Vâng, Bạch Thầy… Tôi đang đi tìm một người. Dạ! xin hỏi… Thầy mới đến đây ẩn tu, hay ở trước khi con đường được mở rộng dẫn xuyên qua núi. Tôi có hỏi thăm dân chúng thì được biết con đường do một vị sư tự làm lấy trong nhiều năm… Người đó có phải là Thầy…

_ Câu chuyện về con đường … nói ra thì dài lắm. Thí chủ uống trà thư thả rồi Bần đạo sẽ kể lại. Người khởi xướng và khổ công đục đá xuyên đường nhiều năm trời ròng rã chính là Sư Phụ của Bần Đạo. Người vừa tịch cách đây một năm. Khi Bần Đạo đến… thì con đường đã gần hoàn thành...

_ Thầy vì lòng mến đạo tu hành mà đến đây?

_ Không! Tôi tìm đến vì một nguyên do khác. Để rồi sau đó bằng lòng ở lại làm một ẩn sĩ tu hành, an bần lạc đạo. Câu chuyện bắt đầu từ bốn mươi năm về trước…

Ở nơi Kinh Thành xa xôi có một nhà Võ Sĩ tài danh lỗi lạc vang tiếng một thời. Trong nhà nuôi rất nhiều đệ tử và nô bộc. Ông có người thiếp trẻ, xinh đẹp nhưng tánh tình lẳng lơ quỷ quái. Cô ta ra sức quyến dụ một đồ đệ. Rồi một hôm, võ sĩ bắt gặp tại trận hai người cùng dan díu làm chuyện dâm loạn. Ông nổi giận, bắt người để tử ra giữa nhà, định chặt chân anh ta để trị tội. Nhưng khi thấy Võ Sĩ còn rất giận dữ và lơ là việc canh chừng, anh ta vụt đứng dậy, giựt lấy cây thương đâm chết Thầy mình, rồi cùng với người thiếp bỏ trốn.

Hai kẻ gian phu dâm phụ ấy đã cao chạy xa bay tìm đến một ngọn núi để chung sống với nhau. Một thời gian vì… cô ả vốn quen sống trong nhung gấm bạc tiền, nên không thể chịu nổi cảnh túng thiếu nghèo khổ. Thế là cô ta bức bách anh chồng phải làm một kẻ cướp của giết người. Hồi đó nơi ấy có con đường mòn đi tắt qua biên giới. Khách buôn thường hay qua lại, để rồi không ít người trở thành nạn nhân cho sự cuồng sát của gã, và lòng tham không đáy của mụ đàn bà kia. Gần mười năm trời Họ đã giết không biết bao người. Một hôm, có một cặp vợ chồng trẻ đi ngang qua núi. Trên mình người vợ đeo rất nhiều đồ trang sức quý giá. Người đàn bà lại bức ép anh chồng ra tay giết họ để cướp tài sản. Người đồ đệ trong lòng không nở nhưng cũng phải ra tay. Anh ta đuổi theo giết người vợ, còn người chồng thì chạy thoát được. Khi cầm trên tay những nữ trang của của người phụ nữ vừa bị mình giết, trong lòng gã hối hận buồn thương vô hạn. Thế là Anh ta quăng hết mọi thứ vào bụi cỏ. Chạy trốn cả người vợ ác quỷ.

Ông đến ngọn núi khác tu hành rồi trở thành Hoà Thượng. Hằng ngày, Ông tinh tấn tụng kinh niệm Phật và sám hối tội lỗi trước kia. Ngoài ra Ông còn vì dân chúng, sáng chiều cần cù đục đá làm đường thông qua núi. Như thế, trải qua hai mươi năm ròng, Ông đã sáu mươi tuổi mà không lúc nào lơi lõng việc tụng kinh bái sám. Công trình đục đá làm đường cũng đi được chín phần mười. Quan địa phương và dân chúng quanh vùng, rất cảm động về việc làm của Hoà Thượng nên thường cho vài người đến phụ đục đá. Con đường ngày càng được khai thông rộng rãi, dân làng thuận tiện đi lại.

Lại nói về con của người võ sĩ trước kia. Lúc này đã khôn lớn và cũng trở thành một võ sĩ có tiếng. Anh bèn đi tìm kẻ giết cha mình để phục thù. Khi đó Vị Tăng ra nhận tội, mong muốn được chết để sám tội nghiệp xưa. Nhưng dân làng một mực đứng ra bảo vệ Ông. Hoà Thượng bèn xin với tráng sĩ, cho mình làm đường xong rồi hãy giết. Võ sĩ không thể đợi, nên chờ đêm xuống, muốn đến ám sát Ông. Lúc Anh ta tới nơi thì thấy Ông cật lực làm việc thâu đêm không nghỉ, nên cảm động, bèn ở lại phụ Vị Tăng đục đá đắp đường, lòng thầm nghĩ:- Thôi thì hãy đợi làm đường xong, Ta báo thù cũng không muộn.

Võ sĩ cùng với vị Tăng thường nỗ lực làm đường ngày đêm không nghỉ tay. Một năm trôi qua, chỉ còn hai người làm với nhau. Và rồi con đường cuối cùng cũng được thông suốt. Bấy giờ cả hai đều cảm thấy rất vui mừng an lạc. Sau đó vị Tăng tụng kinh hồi hướng cho gia chủ và những người mình đã giết trước kia. Xong rồi Ông mới bảo Võ Sĩ ra tay giết mình. Một năm qua, Võ Sĩ đã thầm thọ sự cảm hoá bởi cung cách sống, tu niệm và việc làm của vị sư, nên hầu như quên hết mối thâm thù xưa. Hơn nữa, cả hai người đang vui vì đã hoàn thành một công trình lợi ích nhân sinh. Dân làng lại rất tôn trọng cùng biết ơn vị Tăng.

Võ Sĩ lúc này mới sực nhớ lại trọng trách của mình. Bất chợt chàng khẻ thở dài thầm nghĩ: “ Một người mang đầy tội lỗi cực ác trước kia, đã biết quy tâm hướng thiện, làm bao điều lợi lạc cho chúng sanh, quên hết cả bản thân mình, ra sức tu niệm, mà lại có dũng khí cải hối nhận tội. Ta vì mối thâm thù đại hận, cũng chỉ muốn hành xử với kẻ tàn ác mà thôi. Nếu giết Ông thì có khác gì xâm hại một bực tu hành chơn chánh. Dân làng sẽ không tha thứ mà lương tâm ta cũng không tha thứ cho mình.”

Thế là cả hai người cùng hoà giải. Họ ôm nhau vui mừng và cùng khóc. Sau đó chàng Võ Sĩ ấy đã ở lại xin xuất gia làm đệ tử của vị Tăng.

_ Võ Sĩ đó chính là thầy đây sao?

Mạnh Trí buột miệng kêu lên. Vị Sư hơi ngước nhìn Chàng dò hỏi, rồi gật đầu nhẹ:_ Phải! chính là Tôi. Nhưng Tráng sĩ chắc là có tâm sự gì. Trông người có vẻ khác thường khi nghe xong câu chuyện.

Chàng trai trẻ không trả lời, lặng lẽ đứng lên đi đến bên khung cửa sổ, nhìn chăm ra khu rừng thông phía ngoài. Những cây thông chịu đựng cả một mùa đông băng tuyết, nay đang nhú dần ra các chồi non mơn mởn. Mùa xuân đến rồi sao. Trời trong xanh và những tia nắng vàng ấm áp đang quét sạch hết màn sương đêm. Vị tu sĩ vẫn ngồi yên. Ông chờ đợi hay không muốn làm khuấy động phút giao lòng của vị khách lạ. Đôi mắt Tráng Sĩ gần như bất động khi nhìn sang ngôi tháp của vị Hoà Thượng vừa viên tịch mà sáng sớm nay chàng vừa ra đó nghiêng mình đảnh lễ.

_ Hình như ngay từ đầu thầy đã nhận ra Tôi? Tráng Sĩ cất tiếng hỏi, giọng lạc hẳn.

Vị Sư vẫn ôn tồn nói :_ Chúng ta chưa từng biết nhau. Nhưng Tôi vẫn đoán được mục đích của Tráng Sĩ khi đến đây. Trước lúc viên tịch Thầy Tôi có căn dặn: “ Rồi sẽ có con cháu của những người Thầy sát hại trước kia tìm đến để báo thù. Chỉ tiếc là Ta không còn để trả nợ cho người. Con hãy nói với Họ là ta xin tạ tội với tất cả. Đời đời sanh ra nguyện tu hành hồi hướng cho bao người nằm xuống dưới lưỡi đao của người, và dầu có chịu trăm ngàn lần đâm chém, Người cũng vui lòng...

Mạnh Trí mím môi nói lớn:_Hừ! Chỉ nói mấy lời như vậy là có thể xoá hết tội ác và lòng thù hận của người ta sao. Mẹ Tôi, chính là người phụ nữ cuối cùng làm Ông ta chùng lòng. Vậy mà ông cũng ra tay giết hại, để mãi mãi Tôi trở thành đứa trẻ mồ côi khi chưa tròn tuổi. Tôi lớn khôn nghe Cha kể lại và quyết tâm đi tìm kẻ thù. Tôi đã bỏ bao công sức để luyện công học võ và tìm kiếm; nhưng khi đến nơi thì Ông ta không còn.

_ Thì ra Cậu là con của người phụ nữ đeo đầy đồ trang sức ngày đó. Cái chết của mẹ Cậu đã làm cho Thầy hối hận ray rứt vì tội ác của mình. Điều ấy đã khiiến cho Người hướng theo một con đường khác. Tôi cũng từng nằm trong hoàn cảnh đó, nên hiểu rõ lòng hận thù đau khổ của một đứa con trước một kẻ đã sát hại cha mẹ mình. Bây giờ người mất rồi. Tội ác đã tạo trước kia, dù tu hành tinh tấn và chứng ngộ nhưng dư báo Người vẫn sẽ trả. Cậu có nhìn thấy tháp của Hoà thượng rồi chứ. Chính dân làng đã xây lên để tưởng niệm ân đức của Người. Cậu có thể trút hết hận thù mình lên đó, chưỡi mắng hay đập phá gì cũng được…

_ Thầy bảo Tôi xúc phạm vào linh tháp của bực tu hành để mắc tội đoạ à!

_ Cậu nghĩ được vậy là tốt. Đó cũng là ý tưởng của Tôi khi đặt chân đến nơi này. Một người từng giết cha, và bây giờ là thầy của mình. Tôi được cảm hoá bằng giá trị của một tâm hồn luôn biết sám hối hướng thiện, xã thân vì nhân thế …… Khi đi trên con đường phía trước đó, Tôi đã nghĩ như vậy. Hoà Thượng đã trồng hoa hai bên đường và gọi là con đường Hoa đạo. Con đường không chỉ mang lại nhiều tiện ích cho nhân sinh, mà nó còn chứa đựng mọi giá trị tâm linh cao cả. Thầy cầu mong ai đi trên đó đều mang cảm giác an lành hạnh phúc.

Khi những nụ tầm xuân vừa chớm nở dọc theo hai bên đường Hoa Đạo, Người ta thấy chàng tráng sĩ mang gươm ngày nào lần bước xuống núi. Lúc này hai tay chàng buông thỏng, vẻ mặt sáng ngời tươi tắn, gần như xoá hết những vết nhăn ưu tư của lúc mới đến. Chàng đi trở lại con đường cũ, nơi đã đưa Chàng tới bờ bình yên sau nhiều ngày tìm kiếm xuôi ngược. Lúc này lòng chàng thật thanh thản vì không còn mang nặng mối thù sâu. Thanh gươm tung hoành của đời tráng sĩ cũng đã gác lại… bên dưới chân ngọn Tháp của vị tăng vốn mang đầy ân oán với cuộc đời

---o0o---

Trình bày:Nhị Tường

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
07/02/2026(Xem: 556)
Xưa ở nước Xá Vệ, có một huyện nhân dân đều quy Tam bảo, phụng trì năm giới và thực hành mười thiện nghiệp của Phật dạy. Khắp huyện không bao giờ sát sanh, người uống rượu nấu rượu cũng không có. Trong huyện, có một người con dòng dõi, sắp đi buôn tha phương. Trước khi đi, cha mẹ cặn kẽ dặn rằng: “Con nên cố gắng siêng năng, giữ gìn 5 giới cấm, thực hành mười điều thiện và cẩn thận chớ uống rượu, phạm đến trọng giới của Phật”.
05/02/2026(Xem: 772)
Tu hú Trung Quốc hay còn gọi là Táo Quyên (chữ Hán: 噪鹃[1], Danh pháp khoa học: Eudynamys scolopaceus chinensis) là một phân loài của loài tu hú châu Á (Eudynamys scolopaceus) phân bố ở miền nam Trung Quốc, bán đảo Đông Dương, ngoại trừ bán đảo Mã Lai[2] Chúng sinh sống ở Thái Lan, Lào, Campuchia, Việt Nam, đông nam Trung Quốc và một phần Malaysia. Ở Việt Nam, chim tu hú phân bố ở khắp các vùng đồng bằng và vùng trung du. Vào mùa đông, rất ít gặp loài này vì phần lớn chúng bay về phương nam để tránh rét[3], chúng còn được gọi đơn giản là chim tu hú hay tu hú và cũng còn được gọi là chim quyên hay đỗ quyên[1].
31/01/2026(Xem: 1763)
Dòng nghiệp tự xoay trong một kiếp sống, có những khoảnh khắc ta tuyệt vọng, có những thời điểm trong đời sống tu tập, mọi lời dạy về chuyển nghiệp đều trở nên xa xỉ bởi vì mất mát đã xảy ra , thân bịnh đã hiện, quan hệ đã đổ vỡ, hậu quả đã đứng trước mặt ——>NGHIÊP ĐANG TRỔ Trong khoảnh khắc ấy, điều nguy hiểm nhất không phải là khổ, mà là đối diện khổ với sự VÔ MINH , điều này sẽ làm duyên cho nghiệp tiếp tục sinh sôi, tâm thức lạc lối, có lời oán trách, tự kết tội mình, tuyệt vọng khi không thấy phép màu nào đảo ngược thực tại . Đây chính là Tầng Nghiệp Thứ Hai : NGHIỆP DO PHẢN KHÁNG QUẢ BÁO .
31/01/2026(Xem: 1258)
Từ đó cho đến nay đã nhiều lần đi và nhiều lần đến ở nhiều nơi trên quả địa cầu nầy, nhưng tôi vẫn thấy như mình còn cần phải học hỏi nhiều hơn nữa, mặc dầu nay ở tuổi cũng gần 80 rồi. Ngày Hòa THượng Thích Bảo Lạc đi xuất gia (1957) và tôi đã theo chân anh ruột của mình vào chùa (1964) để đầu sư học đạo. Mấy Bà Cụ trong làng khua với nhau rằng: “Nhà Ông Quyên (Thân phụ của chúng tôi) có đến 2 người con cho đi xuất dương”. Tôi nghe chẳng hiểu gì cả, vậy mà sau nầy cả Hòa Thượng Thích Bảo Lạc và tôi đều được xuất dương sang Nhật Bản du học trước năm 1975. Như thế những gì mình chưa mong đợi, nhưng sự việc vẫn đến với mình như thường. Đó là gì? Phải chăng đó là nhân duyên, là phước báu? Hay là gì gì nữa. Mỗi người trong chúng ta sẽ có cách trả lời riêng của từng người vậy.
19/01/2026(Xem: 1612)
Ông cháu chúng tôi được Quý Thầy ở Tổ Đình Pháp Hoa, Nam Úc chở ra phi trường Adelaide vào sáng sớm ngày 8.1.2026, và buổi chiều cùng ngày được Phật Tử Chúc Nguyên đón tại phi trường Sydney, đưa về Thiền Lâm Pháp Bảo, vùng Wallacia thuộc Sydney, nơi Hòa Thượng Thích Bảo Lạc đang tịnh tu. Chiều đó có TT Phổ Huân và Sư Cô TN Giác Anh từ Tổ Đình Pháp Bảo ghé qua thăm chúng tôi tại Thiền Lâm Pháp Bảo và bàn bạc chương trình trong những ngày chúng tôi còn lưu lại ở đây cho đến ngày 24.1.2026.
14/01/2026(Xem: 1211)
Khi 740 đứa trẻ bị kết án trôi ra biển và cả thế giới nói “không”, thì một người đàn ông đã nói “có”. Đó là năm 1942. Giữa Ấn Độ Dương, một con tàu lênh đênh như một chiếc quan tài nổi. Trên tàu là 740 đứa trẻ Ba Lan ,những đứa trẻ mồ côi sống sót từ các trại lao động của Liên Xô, nơi cha mẹ chúng đã chết vì đói, bệnh tật và kiệt sức. Chúng trốn thoát được sang Iran, nhưng cơn ác mộng chưa kết thúc: không một quốc gia nào muốn nhận chúng. Hết cảng này đến cảng khác dọc bờ biển Ấn Độ, Đế quốc Anh ,cường quốc lớn nhất thời đó ,đóng sập cửa trước mặt chúng. “Không phải trách nhiệm của chúng tôi. Hãy đi nơi khác.” Thức ăn cạn dần. Thuốc men không còn. Và hy vọng ,thứ duy nhất giúp những đứa trẻ sống sót đến lúc này ,cũng đang tắt dần.
03/11/2025(Xem: 1789)
Australia: Lá thư trong chai của người lính thời Thế chiến I viết gửi mẹ năm 1916 được tìm thấy trên bãi biển Wharton sau hơn 100 năm trôi dạt và bị cát chôn vùi. Gia đình bà Debra Brown hồi cuối tháng 10 nhặt rác trên bãi biển Wharton, gần Esperance ở bang Tây Australia thì phát hiện một chai thủy tinh còn nguyên vẹn, bên trong chứa lá thư được viết vội bằng bút chì của hai người lính từ thời Thế chiến I.
25/08/2025(Xem: 3352)
Tuổi thơ của tôi là một sự pha trộn giữa hồn nhiên đầy mộng mị với những thèm thuồng, khổ đau của một thằng bé sinh ra trong một gia đình nghèo và vào thời chinh chiến. Đó là một thằng bé nghịch ngợm, ham chơi, đa cảm, thường dễ khóc khi gặp phải chuyện buồn. Suốt quãng đời thơ ấu, tôi chưa bao giờ được hân hạnh bước qua ngưỡng cửa hoặc vào trong sân của một gia đình giàu có. T
21/08/2025(Xem: 4598)
Anatha-pindika, một vị thủ quỹ giàu có, đã đến Đại Tự viện Jetavana để thăm Đức Thế Tôn. Ông mang theo năm trăm người bạn của mình, những đệ tử của các trường phái triết học khác. Sau khi bày tỏ lòng kính trọng và dâng cúng, ông cùng bạn bè ngồi nghe bài pháp của Đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn, với giọng nói mạnh mẽ như tiếng sư tử gầm và dịu dàng như chuỗi ngọc quý, đã thuyết giảng một bài pháp ngọt ngào và đẹp đẽ về Chân lý. Năm trăm đệ tử ấy cảm động đến mức họ từ bỏ niềm tin ngoại giáo, và bắt đầu quy y Tam Bảo: Phật, Pháp và Tăng. Từ đó, họ thường xuyên cùng Anatha-pindika đến chùa để nghe giáo pháp của Đức Phật.
11/08/2025(Xem: 4166)
Vô Bích động âm u mờ mịt, nó chẳng thuộc trời chẳng thuộc đất, nó không có tháng năm kiếp số thì nói chi đến thời khắc hay ngày giờ. Nó vốn là lãnh địa của lão Hades từ thuở hồng hoang đến giờ. Lão thường ngồi trên ngai bạch cốt, lúc nào cũng lim dim nhấm nháp ly hắc huyết hoàn tửu, đây là thức uống khoái khẩu của lão ta. Cái ly của y cũng rất đặc biệt, vốn chế tác từ thiên linh cái của bọn người ở nhân gian. Hắc huyết hoàn tửu là thứ mỹ tửu cực độc chỉ riêng Vô Bích động mới chế được. Mỗi khi Hades muốn gọi ai về chầu thì lão nhón ngón út chấm một giọt nhỏ lên sinh mệnh ai là người ấy lập tức vâng mệnh, xưa nay chưa có ai cưỡng được mệnh gọi chầu, dù đó là người cực thông minh hay quyền uy lớn nhất thế gian. Người đã như thế thì quỷ thần, phi nhân, súc sanh không cần phải nói nữa. Ngay cả những vị trời cũng chẳng thoát khỏi, dù đại phạm thiên thọ mạng tám vạn đại kiếp nhưng khi có mệnh thì hoa trên mão héo, thân thể tiết mùi hôi, thân quyến lìa xa... đó là dấu hiệu cho biết sắp đọa. S