Quảng Chân Tâm

11/08/201620:19(Xem: 5469)
Quảng Chân Tâm

Chu Tieu Nhat Tam (3)

Quảng Chân Tâm

 

Nó không biết chính xác năm nay mình bao nhiêu tuổi, chỉ nghe sư thầy nói nó ở chùa đã 12 năm với cái tên Quảng Chân Tâm. Tất cả những đứa trẻ ở chùa ngoài tên đời do cha mẹ đặt, sư thầy đều cho pháp danh với chữ Quảng đứng đầu.

Anh Quảng Phước lớn nhất được sư phụ giao nhiệm vụ quản chúng, chị Quảng Hoa phụ trách đời sống, chị Quảng Nhàn lo về việc học tập của bọn trẻ hơn ba chục đứa, chỉ có mình nó sư phụ đặt tên là Quảng Chân Tâm. Có lần nó thắc mắc thì được sư phụ dạy: Quảng là quảng đại, Chân Tâm là cái tâm chân chính, nguyên cái tên của con, thầy muốn sau này con có tấm lòng nhân ái, biết yêu thương mọi người và chân chánh từ lời nói đến việc làm.

Mỗi lần lên chánh điện lạy Phật nó đều cầu nguyện cho sư phụ có sức khỏe vì hiện nay thầy đã lớn tuổi lại hay đau bệnh, cầu nguyện cho mọi người trong chùa biết sống lục hòa. Có một lời cầu nguyện nó giấu kín trong lòng, chưa hề nói với ai, chỉ có Đức Phật và nó biết mà thôi, đó là đừng bao giờ gặp người đã từ chối và đem nó bỏ trước cổng chùa. Sau lần bị cô giáo chủ nhiệm đến chùa méc về tội đánh nhau với bạn, nó càng căm thù “người ấy” nhiều hơn. Nó rất ghét từ “con hoang” nên bao nhiêu trận đánh nhau với bạn cũng bắt đầu từ việc bị bạn gọi “mầy là đồ con hoang”.

Tại sao ai cũng có cha mẹ mà nó thì không! Trong tâm tư của nó luôn có hai tư tưởng đối lập nhau: Muốn có cha mẹ để không phải tủi thân vì chúng bạn trêu chọc nhưng lại thù hận cha mẹ vì đã bỏ rơi nó. Hồi tháng trước có một đoàn Phật tử đến thăm chùa, nó cũng chẳng quan tâm mấy vì đang là mùa An cư nên có nhiều đoàn đến cúng dường. Buổi tối sư phụ gọi nó lên liêu của ngài và cho biết có một Phật tử trong đoàn hành hương nhận ra nó là con của cô ấy vì cái bớt son ở bên má trái. Cô ấy rất hối hận, khi “gửi” con cho nhà chùa nuôi giúp cô chỉ mới 18 tuổi, do nông nổi, sợ ảnh hưởng đến gia đình, sợ bỏ học nửa chừng…hôm nay cô muốn nhận lại con. Sư phụ bảo nếu thử AND đúng thì sẽ cho mẹ con đoàn tụ.

Nó vô cảm trước tin này. Tại sao “người ấy” ích kỷ, chỉ biết “sợ” cho mình mà không nghĩ rằng nó đã đau khổ như thế nào khi cả tuổi thơ của nó phải sống trong mặc cảm là con hoang. Lúc trước ao ước được gặp mẹ bao nhiêu thì giờ đây nó mong cho “người ấy” đừng đến chùa, đừng làm cho nó tổn thương, hãy để cho nó làm con của sư phụ như những đứa trẻ mồ côi khác, cứ xem như nó là đứa mồ côi từ tấm bé. Thà như vậy còn hơn! Nó trả lời thẳng thừng với sư phụ:

_ Con không có mẹ, mẹ của con là thầy, xin thầy đừng bỏ con.

_ Thầy đâu có bỏ con, con vẫn là đệ tử chủa thầy. Mẹ của con bây giờ đã thành đạt, hiện là giám đốc của một công ty trách nhiệm hữu hạn, mẹ muốn đền bù cho con những lỗi lầm mà do vô minh mẹ đã làm tổn thương con…

Sư phụ còn nói nhiều nữa nhưng nó hầu như không nghe được gì? Nó gục đầu lên chân sư phụ khóc nức nở, khóc như chưa bao giờ được khóc. Thương đứa đệ tử tội nghiệp do chưa hiểu luật nhân quả nên vị thầy cứ để cho nó khóc.

_ Nếu nước mắt làm cho con vơi bớt nỗi khổ niềm đau thì con cứ khóc nhưng con nên nhớ, trên đời này không có gì tự nhiên. Mọi sự vật hiện tượng đều có nhân và duyên. Biết đâu trong quá khứ con đã từng gây đau khổ cho mẹ. Phật dạy tất cả người nam đều là ông, là cha là chú bác, là anh…; tất cả người nữ là mẹ, là cô dì, chị gái… của ta. Con đừng oán trách mẹ nữa, trước kia mẹ của con do chưa hiểu đạo nên đã gây ra lầm lỗi, bây giờ đã ăn năn sám hối, con cũng đừng cố chấp mà tạo nên tội lỗi. Trong Kinh Tăng chi I, 75 Phật dạy: “Này các Tỳ-kheo, có hai hạng người, ta nói không thể trả ơn được. Thế nào là hai? Đó là mẹ và cha. Nếu một bên vai cõng mẹ, một bên vai cõng cha, làm như vậy suốt một trăm năm cho đến khi cha mẹ trăm tuổi. Như vậy. này các Tỳ-kheo, cũng chưa làm đủ để trả ơn cho mẹ và cha. Nếu đấm bóp, thoa xức, tắm rửa, xoa gội và dù tại đấy, mẹ cha có vãi đại tiện, tiểu tiện, dù như vậy, này các Tỳ-kheo, cũng chưa làm đủ để trả ơn mẹ và cha”.

Tháng bảy mùa Vu an báo hiếu, chùa khai kinh “Báo đáp công ơn cha mẹ” từ tối mồng một, nó đã cùng với đại chúng tụng kinh Vu lan không biết bao nhiêu lần rồi nhưng hôm nay lòng nó rưng rưng cảm xúc. Nó thật sự hối hận, nước mắt tuôn trào.

Sau thời khóa, chờ cho mọi người ra về, nó lẳng lặng quỳ trước Đức Thế Tôn với lời khấn nguyện: “Kính bạch Đức Thế Tôn, con pháp danh Quảng Chân Tâm, kể từ hôm nay xin sám hối những lỗi ầm đã qua. Con không còn giận mẹ nữa, xin cho con được gặp mẹ, xin cho con được nói với mẹ lời xin lỗi chân thành nhất. Xin Đức Phật luôn hiện hữu trong từng lời nói, từng suy nghĩ, từng hành động của con để cho mỗi lời nói, mỗi suy nghĩ, mỗi hành động của con là của Ngài”.

Sau lời sám hối, nó thấy lòng thanh thản và nhẹ nhỏm. Nhìn lên tôn tượng Đức Bổn Sư, nó thấy hình như Ngài đang mỉm cười với nó. Ôi! Nụ cười của Ngài từ bi biết bao nhiêu. Kính lạy Ngài, con nguyện xin sống thật xứng đáng với pháp danh mà sư phụ của con đã đặt là Quảng Chân Tâm.


Quảng Ấn


 

 

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
07/02/2026(Xem: 556)
Xưa ở nước Xá Vệ, có một huyện nhân dân đều quy Tam bảo, phụng trì năm giới và thực hành mười thiện nghiệp của Phật dạy. Khắp huyện không bao giờ sát sanh, người uống rượu nấu rượu cũng không có. Trong huyện, có một người con dòng dõi, sắp đi buôn tha phương. Trước khi đi, cha mẹ cặn kẽ dặn rằng: “Con nên cố gắng siêng năng, giữ gìn 5 giới cấm, thực hành mười điều thiện và cẩn thận chớ uống rượu, phạm đến trọng giới của Phật”.
05/02/2026(Xem: 773)
Tu hú Trung Quốc hay còn gọi là Táo Quyên (chữ Hán: 噪鹃[1], Danh pháp khoa học: Eudynamys scolopaceus chinensis) là một phân loài của loài tu hú châu Á (Eudynamys scolopaceus) phân bố ở miền nam Trung Quốc, bán đảo Đông Dương, ngoại trừ bán đảo Mã Lai[2] Chúng sinh sống ở Thái Lan, Lào, Campuchia, Việt Nam, đông nam Trung Quốc và một phần Malaysia. Ở Việt Nam, chim tu hú phân bố ở khắp các vùng đồng bằng và vùng trung du. Vào mùa đông, rất ít gặp loài này vì phần lớn chúng bay về phương nam để tránh rét[3], chúng còn được gọi đơn giản là chim tu hú hay tu hú và cũng còn được gọi là chim quyên hay đỗ quyên[1].
31/01/2026(Xem: 1767)
Dòng nghiệp tự xoay trong một kiếp sống, có những khoảnh khắc ta tuyệt vọng, có những thời điểm trong đời sống tu tập, mọi lời dạy về chuyển nghiệp đều trở nên xa xỉ bởi vì mất mát đã xảy ra , thân bịnh đã hiện, quan hệ đã đổ vỡ, hậu quả đã đứng trước mặt ——>NGHIÊP ĐANG TRỔ Trong khoảnh khắc ấy, điều nguy hiểm nhất không phải là khổ, mà là đối diện khổ với sự VÔ MINH , điều này sẽ làm duyên cho nghiệp tiếp tục sinh sôi, tâm thức lạc lối, có lời oán trách, tự kết tội mình, tuyệt vọng khi không thấy phép màu nào đảo ngược thực tại . Đây chính là Tầng Nghiệp Thứ Hai : NGHIỆP DO PHẢN KHÁNG QUẢ BÁO .
31/01/2026(Xem: 1261)
Từ đó cho đến nay đã nhiều lần đi và nhiều lần đến ở nhiều nơi trên quả địa cầu nầy, nhưng tôi vẫn thấy như mình còn cần phải học hỏi nhiều hơn nữa, mặc dầu nay ở tuổi cũng gần 80 rồi. Ngày Hòa THượng Thích Bảo Lạc đi xuất gia (1957) và tôi đã theo chân anh ruột của mình vào chùa (1964) để đầu sư học đạo. Mấy Bà Cụ trong làng khua với nhau rằng: “Nhà Ông Quyên (Thân phụ của chúng tôi) có đến 2 người con cho đi xuất dương”. Tôi nghe chẳng hiểu gì cả, vậy mà sau nầy cả Hòa Thượng Thích Bảo Lạc và tôi đều được xuất dương sang Nhật Bản du học trước năm 1975. Như thế những gì mình chưa mong đợi, nhưng sự việc vẫn đến với mình như thường. Đó là gì? Phải chăng đó là nhân duyên, là phước báu? Hay là gì gì nữa. Mỗi người trong chúng ta sẽ có cách trả lời riêng của từng người vậy.
19/01/2026(Xem: 1616)
Ông cháu chúng tôi được Quý Thầy ở Tổ Đình Pháp Hoa, Nam Úc chở ra phi trường Adelaide vào sáng sớm ngày 8.1.2026, và buổi chiều cùng ngày được Phật Tử Chúc Nguyên đón tại phi trường Sydney, đưa về Thiền Lâm Pháp Bảo, vùng Wallacia thuộc Sydney, nơi Hòa Thượng Thích Bảo Lạc đang tịnh tu. Chiều đó có TT Phổ Huân và Sư Cô TN Giác Anh từ Tổ Đình Pháp Bảo ghé qua thăm chúng tôi tại Thiền Lâm Pháp Bảo và bàn bạc chương trình trong những ngày chúng tôi còn lưu lại ở đây cho đến ngày 24.1.2026.
14/01/2026(Xem: 1213)
Khi 740 đứa trẻ bị kết án trôi ra biển và cả thế giới nói “không”, thì một người đàn ông đã nói “có”. Đó là năm 1942. Giữa Ấn Độ Dương, một con tàu lênh đênh như một chiếc quan tài nổi. Trên tàu là 740 đứa trẻ Ba Lan ,những đứa trẻ mồ côi sống sót từ các trại lao động của Liên Xô, nơi cha mẹ chúng đã chết vì đói, bệnh tật và kiệt sức. Chúng trốn thoát được sang Iran, nhưng cơn ác mộng chưa kết thúc: không một quốc gia nào muốn nhận chúng. Hết cảng này đến cảng khác dọc bờ biển Ấn Độ, Đế quốc Anh ,cường quốc lớn nhất thời đó ,đóng sập cửa trước mặt chúng. “Không phải trách nhiệm của chúng tôi. Hãy đi nơi khác.” Thức ăn cạn dần. Thuốc men không còn. Và hy vọng ,thứ duy nhất giúp những đứa trẻ sống sót đến lúc này ,cũng đang tắt dần.
03/11/2025(Xem: 1790)
Australia: Lá thư trong chai của người lính thời Thế chiến I viết gửi mẹ năm 1916 được tìm thấy trên bãi biển Wharton sau hơn 100 năm trôi dạt và bị cát chôn vùi. Gia đình bà Debra Brown hồi cuối tháng 10 nhặt rác trên bãi biển Wharton, gần Esperance ở bang Tây Australia thì phát hiện một chai thủy tinh còn nguyên vẹn, bên trong chứa lá thư được viết vội bằng bút chì của hai người lính từ thời Thế chiến I.
25/08/2025(Xem: 3367)
Tuổi thơ của tôi là một sự pha trộn giữa hồn nhiên đầy mộng mị với những thèm thuồng, khổ đau của một thằng bé sinh ra trong một gia đình nghèo và vào thời chinh chiến. Đó là một thằng bé nghịch ngợm, ham chơi, đa cảm, thường dễ khóc khi gặp phải chuyện buồn. Suốt quãng đời thơ ấu, tôi chưa bao giờ được hân hạnh bước qua ngưỡng cửa hoặc vào trong sân của một gia đình giàu có. T
21/08/2025(Xem: 4599)
Anatha-pindika, một vị thủ quỹ giàu có, đã đến Đại Tự viện Jetavana để thăm Đức Thế Tôn. Ông mang theo năm trăm người bạn của mình, những đệ tử của các trường phái triết học khác. Sau khi bày tỏ lòng kính trọng và dâng cúng, ông cùng bạn bè ngồi nghe bài pháp của Đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn, với giọng nói mạnh mẽ như tiếng sư tử gầm và dịu dàng như chuỗi ngọc quý, đã thuyết giảng một bài pháp ngọt ngào và đẹp đẽ về Chân lý. Năm trăm đệ tử ấy cảm động đến mức họ từ bỏ niềm tin ngoại giáo, và bắt đầu quy y Tam Bảo: Phật, Pháp và Tăng. Từ đó, họ thường xuyên cùng Anatha-pindika đến chùa để nghe giáo pháp của Đức Phật.
11/08/2025(Xem: 4167)
Vô Bích động âm u mờ mịt, nó chẳng thuộc trời chẳng thuộc đất, nó không có tháng năm kiếp số thì nói chi đến thời khắc hay ngày giờ. Nó vốn là lãnh địa của lão Hades từ thuở hồng hoang đến giờ. Lão thường ngồi trên ngai bạch cốt, lúc nào cũng lim dim nhấm nháp ly hắc huyết hoàn tửu, đây là thức uống khoái khẩu của lão ta. Cái ly của y cũng rất đặc biệt, vốn chế tác từ thiên linh cái của bọn người ở nhân gian. Hắc huyết hoàn tửu là thứ mỹ tửu cực độc chỉ riêng Vô Bích động mới chế được. Mỗi khi Hades muốn gọi ai về chầu thì lão nhón ngón út chấm một giọt nhỏ lên sinh mệnh ai là người ấy lập tức vâng mệnh, xưa nay chưa có ai cưỡng được mệnh gọi chầu, dù đó là người cực thông minh hay quyền uy lớn nhất thế gian. Người đã như thế thì quỷ thần, phi nhân, súc sanh không cần phải nói nữa. Ngay cả những vị trời cũng chẳng thoát khỏi, dù đại phạm thiên thọ mạng tám vạn đại kiếp nhưng khi có mệnh thì hoa trên mão héo, thân thể tiết mùi hôi, thân quyến lìa xa... đó là dấu hiệu cho biết sắp đọa. S