12. Hồi Ký

14/04/201408:54(Xem: 10884)
12. Hồi Ký
blank


XII. Hồi Ký

Trần Văn Nhơn lúc nhỏ ở chùa cùng tôi vào khoảng năm 1968. Nhơn không xuất gia, chỉ là một Phật Tử do Thầy tôi nhận nuôi để Nhơn đi học trung học ở Trường Trần Quý Cáp. Có lẽ Nhơn thua tôi chừng 3 tuổi. Thuở ấy anh ta rất rụt rè; nhưng được Thầy tôi thương nhiều, có lẽ vì là con mồ côi và học giỏi. Sau nầy Nhơn vào Đại Học học Vạn Hạnh và Văn Khoa. Còn tôi thì đi Nhựt và qua Đức, đã mấy mươi năm rồi đâu có cơ hội để gặp lại nhau và chừng 10 năm về trước chúng tôi có gặp lại nhau được mấy tiếng đồng hồ ở Boston USA. Kể từ đó chúng tôi có liên lạc đều. Những bài thơ, những đoản văn mang tên Trần Trung Đạo chính là Trần Văn Nhơn nầy. Khi Thầy tôi viên tịch Nhơn có liên lạc và năm nay chỉ tình cờ thôi, tôi và Nhơn lại rủ nhau viết chung một tác phẩm lấy tên là: blank“Dưới Bóng Đa Chùa Viên Giác“ để ra mắt độc giả tại Hoa Kỳ và Âu Úc Châu thì quả là một chuyện “bất khả tư nghì“ không có thể dùng lời nói nào để diễn tả nổi hết sự vui mừng nầy. Một phần đây cũng là cơ hội để tôi viết lại một chút hồi ký của đời mình lang bang mọi chuyện đây đó, từ khi tôi xuất gia, rồi ở chùa Phước Lâm, Viên Giác rồi đi học ở trường Trung Học Diên Hồng, Bồ Đề, Trần Quý Cáp từ năm 1964 đến 1969.

Hình 24 : Bảo tháp cố Hòa Thượng Thích Long Trí nhìn ra từ phía cây đa.


Còn những quãng đời về trước lúc tuổi còn thơ tại Xuyên Mỹ cũng như những ngày ở Sài Gòn từ 1969 đến 1972 và những ngày ở Nhựt từ 1972 đến 1977 tôi sẽ viết sau. Còn những ngày ở Đức hơn 30 năm qua tôi đã viết xong cảm tưởng của mình nơi quyển: “Cảm tạ xứ Đức“ bằng cả tiếng Việt lẫn tiếng Đức rồi. Có lẽ không cần phải nhắc lại nữa.

Hồi ký là những gì thuộc về cá nhân và dĩ nhiên đa phần người ta viết về những cái tốt chứ chẳng ai dám viết về cái xấu bao giờ; nhưng tôi hy vọng với đoản văn trên dưới 160 trang nầy không chia thành chương sẽ trung thực trên 90% theo cái nhìn chủ quan của mình. Còn những phần thiếu hoặc dở xấu chắc chắn không thể tránh khỏi. Với thành phẩm như thế nầy mà chỉ viết tay trong vòng năm ngày trên núi đồi Đa Bảo tại Sydney Úc Đại Lợi nhân lần nhập thất thứ 3 của tôi và cái tuổi học trò thuở ấy đã cách xa bây giờ cũng đã hơn 40 năm rồi, không thể tài nào nhớ hết nổi. Bây giờ tôi đã ở vào tuổi 57 (2006) và sau 41 năm xuất gia học đạo, có một chút niềm vui và kỷ niệm nào xin viết lại để kẻo sau nầy bị quên hoặc không viết được nữa do tuổi già sức yếu hay do vô thường thì uổng lắm. Cho nên tôi đã cố gắng viết lên những cảm nghĩ của mình; nơi có ngôi chùa xưa, vị Thầy cũ, cây Đa già đã che chở cho tôi suốt cả đoạn đường đời với gió mưa gian khổ mà chúng tôi mới thành tựu được như ngày hôm nay; nên mỗi khi kỷ niệm hiện về là tôi lại nhớ nhớ mong mong về những hình ảnh cũ kỹ xa xưa ấy. Quả thật nó không là chuyện giàu có, cao sang, danh dự gì; nhưng chính từ chỗ bùn lầy nước đọng ấy tôi đã đi và đang đến. Đây chính là chất liệu dưỡng sinh rất vô cùng quý giá cho cuộc đời hành đạo của chính mình tại xứ trời tây nầy.

Kiều sau 15 năm lưu lạc giang hồ, đã gặp lại Kim Trọng và khi Kim Kiều tái ngộ có mấy câu thơ:

"Kể từ sen ngó đào tơ
Mười lăm năm ấy bây giờ còn đâu
Chữ Trinh còn một chút nầy....“

Tôi vào chùa lúc tuổi 15 cũng như ngó sen vừa ló dạng là hình ảnh của một đồng nam thanh tịnh và sau hơn 41 năm xuất gia học đạo vẫn còn trinh nguyên với lý tưởng của mình, không phải bị bầm dập như nàng Kiều của Nguyễn Du để mà nhớ mà thương, mà nuối tiếc kể lể với Kim Trọng. Nếu bây giờ bản thân tôi có kể lể cũng chẳng ai nghe. Vì họ bảo đó là chuyện riêng của mỗi người và tất cả mọi người trong chúng ta đều có những chuyện riêng tư như thế, ai hơi đâu mà ”dư nước mắt để khóc người đời xưa.“ Chữ Trinh mà Kiều dâng cho Kim Trọng là chữ trung trinh chứ không phải chữ Trinh Tiết của thể xác nữa. Còn với tôi một người tu thật sự ra đã chẳng có bị mất mát một điều gì cả; nên không có gì để nuối tiếc quá khứ; nếu có chăng đi nữa thì đó cũng chỉ là những hoài niệm mà thôi.

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
16/03/2026(Xem: 802)
Theo tín ngưỡng cổ của người Miến Điện, mỗi cây lớn đều trú ngụ một vị thần gọi là Nat. Trước khi chặt cây, người đó phải xin phép thần cây. Một ngày nọ, một người tiều phu đã bỏ qua quy tắc này. Anh chặt một cây mà không hề báo trước. Thần linh Nāt sống trong cây cảm thấy vô cùng phẫn nộ và quyết định trả thù.
07/02/2026(Xem: 1004)
Xưa ở nước Xá Vệ, có một huyện nhân dân đều quy Tam bảo, phụng trì năm giới và thực hành mười thiện nghiệp của Phật dạy. Khắp huyện không bao giờ sát sanh, người uống rượu nấu rượu cũng không có. Trong huyện, có một người con dòng dõi, sắp đi buôn tha phương. Trước khi đi, cha mẹ cặn kẽ dặn rằng: “Con nên cố gắng siêng năng, giữ gìn 5 giới cấm, thực hành mười điều thiện và cẩn thận chớ uống rượu, phạm đến trọng giới của Phật”.
05/02/2026(Xem: 1329)
Tu hú Trung Quốc hay còn gọi là Táo Quyên (chữ Hán: 噪鹃[1], Danh pháp khoa học: Eudynamys scolopaceus chinensis) là một phân loài của loài tu hú châu Á (Eudynamys scolopaceus) phân bố ở miền nam Trung Quốc, bán đảo Đông Dương, ngoại trừ bán đảo Mã Lai[2] Chúng sinh sống ở Thái Lan, Lào, Campuchia, Việt Nam, đông nam Trung Quốc và một phần Malaysia. Ở Việt Nam, chim tu hú phân bố ở khắp các vùng đồng bằng và vùng trung du. Vào mùa đông, rất ít gặp loài này vì phần lớn chúng bay về phương nam để tránh rét[3], chúng còn được gọi đơn giản là chim tu hú hay tu hú và cũng còn được gọi là chim quyên hay đỗ quyên[1].
31/01/2026(Xem: 2642)
Dòng nghiệp tự xoay trong một kiếp sống, có những khoảnh khắc ta tuyệt vọng, có những thời điểm trong đời sống tu tập, mọi lời dạy về chuyển nghiệp đều trở nên xa xỉ bởi vì mất mát đã xảy ra , thân bịnh đã hiện, quan hệ đã đổ vỡ, hậu quả đã đứng trước mặt ——>NGHIÊP ĐANG TRỔ Trong khoảnh khắc ấy, điều nguy hiểm nhất không phải là khổ, mà là đối diện khổ với sự VÔ MINH , điều này sẽ làm duyên cho nghiệp tiếp tục sinh sôi, tâm thức lạc lối, có lời oán trách, tự kết tội mình, tuyệt vọng khi không thấy phép màu nào đảo ngược thực tại . Đây chính là Tầng Nghiệp Thứ Hai : NGHIỆP DO PHẢN KHÁNG QUẢ BÁO .
31/01/2026(Xem: 1725)
Từ đó cho đến nay đã nhiều lần đi và nhiều lần đến ở nhiều nơi trên quả địa cầu nầy, nhưng tôi vẫn thấy như mình còn cần phải học hỏi nhiều hơn nữa, mặc dầu nay ở tuổi cũng gần 80 rồi. Ngày Hòa THượng Thích Bảo Lạc đi xuất gia (1957) và tôi đã theo chân anh ruột của mình vào chùa (1964) để đầu sư học đạo. Mấy Bà Cụ trong làng khua với nhau rằng: “Nhà Ông Quyên (Thân phụ của chúng tôi) có đến 2 người con cho đi xuất dương”. Tôi nghe chẳng hiểu gì cả, vậy mà sau nầy cả Hòa Thượng Thích Bảo Lạc và tôi đều được xuất dương sang Nhật Bản du học trước năm 1975. Như thế những gì mình chưa mong đợi, nhưng sự việc vẫn đến với mình như thường. Đó là gì? Phải chăng đó là nhân duyên, là phước báu? Hay là gì gì nữa. Mỗi người trong chúng ta sẽ có cách trả lời riêng của từng người vậy.
19/01/2026(Xem: 2528)
Ông cháu chúng tôi được Quý Thầy ở Tổ Đình Pháp Hoa, Nam Úc chở ra phi trường Adelaide vào sáng sớm ngày 8.1.2026, và buổi chiều cùng ngày được Phật Tử Chúc Nguyên đón tại phi trường Sydney, đưa về Thiền Lâm Pháp Bảo, vùng Wallacia thuộc Sydney, nơi Hòa Thượng Thích Bảo Lạc đang tịnh tu. Chiều đó có TT Phổ Huân và Sư Cô TN Giác Anh từ Tổ Đình Pháp Bảo ghé qua thăm chúng tôi tại Thiền Lâm Pháp Bảo và bàn bạc chương trình trong những ngày chúng tôi còn lưu lại ở đây cho đến ngày 24.1.2026.
14/01/2026(Xem: 1770)
Khi 740 đứa trẻ bị kết án trôi ra biển và cả thế giới nói “không”, thì một người đàn ông đã nói “có”. Đó là năm 1942. Giữa Ấn Độ Dương, một con tàu lênh đênh như một chiếc quan tài nổi. Trên tàu là 740 đứa trẻ Ba Lan ,những đứa trẻ mồ côi sống sót từ các trại lao động của Liên Xô, nơi cha mẹ chúng đã chết vì đói, bệnh tật và kiệt sức. Chúng trốn thoát được sang Iran, nhưng cơn ác mộng chưa kết thúc: không một quốc gia nào muốn nhận chúng. Hết cảng này đến cảng khác dọc bờ biển Ấn Độ, Đế quốc Anh ,cường quốc lớn nhất thời đó ,đóng sập cửa trước mặt chúng. “Không phải trách nhiệm của chúng tôi. Hãy đi nơi khác.” Thức ăn cạn dần. Thuốc men không còn. Và hy vọng ,thứ duy nhất giúp những đứa trẻ sống sót đến lúc này ,cũng đang tắt dần.
03/11/2025(Xem: 2283)
Australia: Lá thư trong chai của người lính thời Thế chiến I viết gửi mẹ năm 1916 được tìm thấy trên bãi biển Wharton sau hơn 100 năm trôi dạt và bị cát chôn vùi. Gia đình bà Debra Brown hồi cuối tháng 10 nhặt rác trên bãi biển Wharton, gần Esperance ở bang Tây Australia thì phát hiện một chai thủy tinh còn nguyên vẹn, bên trong chứa lá thư được viết vội bằng bút chì của hai người lính từ thời Thế chiến I.
25/08/2025(Xem: 4475)
Tuổi thơ của tôi là một sự pha trộn giữa hồn nhiên đầy mộng mị với những thèm thuồng, khổ đau của một thằng bé sinh ra trong một gia đình nghèo và vào thời chinh chiến. Đó là một thằng bé nghịch ngợm, ham chơi, đa cảm, thường dễ khóc khi gặp phải chuyện buồn. Suốt quãng đời thơ ấu, tôi chưa bao giờ được hân hạnh bước qua ngưỡng cửa hoặc vào trong sân của một gia đình giàu có. T
21/08/2025(Xem: 5576)
Anatha-pindika, một vị thủ quỹ giàu có, đã đến Đại Tự viện Jetavana để thăm Đức Thế Tôn. Ông mang theo năm trăm người bạn của mình, những đệ tử của các trường phái triết học khác. Sau khi bày tỏ lòng kính trọng và dâng cúng, ông cùng bạn bè ngồi nghe bài pháp của Đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn, với giọng nói mạnh mẽ như tiếng sư tử gầm và dịu dàng như chuỗi ngọc quý, đã thuyết giảng một bài pháp ngọt ngào và đẹp đẽ về Chân lý. Năm trăm đệ tử ấy cảm động đến mức họ từ bỏ niềm tin ngoại giáo, và bắt đầu quy y Tam Bảo: Phật, Pháp và Tăng. Từ đó, họ thường xuyên cùng Anatha-pindika đến chùa để nghe giáo pháp của Đức Phật.