17. Mùa An Cư thứ tư

26/10/201320:20(Xem: 45824)
17. Mùa An Cư thứ tư

Mot cuoc doi bia 02



MÙA AN CƯ THỨ TƯ

(Năm 584 trước TL)




Tứ Đại Thiên Vương






Tin đức Phật về, cả Rừng Trúc như xôn xao hẳn lên. Dường như nắng thì trong hơn, dịu hơn và mây bay cũng nhẹ nhàng, thanh thản hơn. Rồi muôn chim chợt nhiên ca hót vang lừng. Sự sống trôi chảy dạt dào, tuôn tràn khắp đầu cây ngọn cỏ. Tôn giả Uruvelākassapa, Bhaddiya và Mahā Moggallāna dẫn theo Nanda và Rāhula đi đón ngài.

Cả hai nhóm tỳ-khưu đảnh lễ nhau rồi theo sự hướng dẫn của tôn giả Mahā Moggallāna, họ tản mác đến các cốc liêu đã được sắp đặt sẵn.

Sau khi thăm hỏi các vị trưởng lão, đức Phật ngồi xuống cho vừa tầm Rāhula, cất giọng dịu dàng:

- Con học được có nhiều không, Rāhula?

- Nhiều lắm, bạch đức Thế Tôn! Rồi chú bé sa-di liến thoắng tiếp – Tôn giả Mahā Moggallāna dạy hài nhi nhiều lắm, không những bắt học thuộc mà còn thực hành! Hài nhi còn được đi bát nữa. Đức vua Seniya Bimbisāra và hoàng hậu Videhi thường cho thị nữ mang đến cho hài nhi rất nhiều thực phẩm ngon, có cả mật, đường, sữa và rất nhiều trái cây!

- Nếu con dùng không hết thì phải làm sao?

- Trước khi dùng, hài nhi lựa thứ gì ngon nhất, tốt nhất dâng thầy, các vị trưởng lão và cả chú Nanda nữa!

- Ừ, vậy là ngoan lắm!

Rāhula nụ cười tươi rạng, gật đầu; trông có vẻ ốm gầy nhưng khá rắn rỏi. Đức Phật nắm tay Rāhula bước đi.

- Thế nào hở Nanda? Đức Phật quay qua nói chuyện với ông hoàng si tình - Ở đây khung cảnh mát mẻ, thanh bình; tâm các vị trưởng lão cũng thanh bình và mát mẻ! Còn ông, tại sao, ngọn lửa nào - lửa ngọn hay lửa than - cứ thiêu đốt tim gan làm cho sắc mặt ông héo khô và tàn tạ như thế?

- Đệ tử sẽ cố gắng! Nanda cúi đầu đáp - Sẽ cố gắng nhiều hơn nữa!

- Không cần phải cố gắng nhiều lắm đâu, Nanda! Đức Phật ân cần giáo giới - Chỉ việc thở thôi, thở cho điều hoà; và chỉ cần an trú liên tục, nhất tâm trên hơi thở - thì lửa ngọn, lửa than gì chúng cũng tự động tắt ngấm! Đừng tự hại mình nữa, Nanda!

Tỳ-khưu Nanda cảm thấy rất hổ thẹn, nhưng vì lửa lòng vẫn chưa tắt, chưa nguôi! Còn đức Phật thì thấy chưa phải thời, nên không nói nhiều.

Qua mùa nắng mà Trúc Lâm vẫn xanh tốt. Đây đó có đào thêm giếng. Các công trình nơi này nơi khác dường như có gia cố thêm cho chắc bền hơn.

Tại hương phòng, thị giả Upavāna đã đốt hai ngọn nến để hút khí ẩm, xông một lò trầm để xua khí tạp. Đức Phật ngồi lắng nghe công việc tại Trúc Lâm trong gần bốn tháng qua do tôn giả Mahā Moggallāna tường trình. Đức Phật hài lòng vì Trúc Lâm vẫn phát triển bình thường, còn có thêm mấy trăm tân tỳ-khưu tại kinh thành và các nơi khác gởi về. Đức Phật đặc biệt lưu ý các tôn giả Mahā Moggallāna, Uruvelākassapa, Bhaddiya - đối với một số tỳ-khưu mới gia nhập; họ thiếu trình độ giáo dục sơ đẳng, tính khí nông nổi, cả tác phong và tư cách lúc ăn nói, lúc trì bình khất thực dễ làm mất niềm tin của đại chúng. Điều này quan trọng lắm đấy! Phải lưu tâm nhắc nhở, giáo giới họ một cách thường xuyên. Như vậy là chúng ta còn thiếu giáo thọ sư. Sau an cư mùa mưa, phải rút Sāriputta và một số các trưởng lão ở các nơi khác về đây phụ giúp. Kỳ Viên chừng hơn mươi năm sau mới hội đủ nhân duyên phát triển. Lại nữa, trong mấy năm tới, các quốc độ bên bờ Bắc sông Gaṅgā sẽ có rất nhiều việc làm, các vị tỳ-khưu A-la-hán ưu tú phải phát tâm, phải khởi tâm, phải vận dụng từ, nhẫn, xả và các phương tiện trí nhiều hơn nữa! Hiện nay, các lực lượng chống đối yên lắng một thời gian nhưng vẫn còn âm ỉ ở đâu đó, có lẽ phải hỗ trợ thêm duyên lành, ít năm sau, ở vùng này mới yên được.

Hôm kia, đức Phật trì bình khất thực một mình, sau đó lên thẳng núi Gijjhakūṭa (Linh Thứu), ở trong một hang đá. Đêm ấy, ngài phóng hào quang sáu màu, vì biết là hội chúng chư thiên và phi nhơn đã đến. Thêm vào đó, núi Linh Thứu cũng sáng rực lên bởi thần lực của chư thiên. Tứ đại thiên vương dẫn thuộc hạ tuỳ tùng đến rất đông, trình diện đức Phật một số thần dân đại biểu để đảnh lễ ngài, chào mừng ngài, tán thán ngài và dĩ nhiên còn muốn nghe pháp nữa.

Đa văn thiên vương (Vessavaṇa) cai quản phương bắc - có thân màu lục, vương bào, y giáp, mũ miện đều màu lục; tay phải cầm cờ chiến thắng, trên tay trái có con chuột màu bạc phun ngọc. Tháp tùng Bắc thiên vương có rất nhiều chư thiên, dạ-xoa và loài kim-xí-điểu Suppanna và Citrā (1). Tăng trưởng thiên vương (Virūḷha), trị vì phương nam - có thân màu xanh, vương bào, y giáp, mũ miện đều màu xanh; tay cầm thanh gươm xanh - biểu tượng trí tuệ chém vô minh. Tháp tùng Nam thiên vương cũng rất đông chư thiên, dạ-xoa và cưu-bàn-trà (Kumbhaṇḍa) (2)Trì quốc thiên vương (Dhataraṭṭa), lãnh nhiệm phương đông - có thân màu trắng, vương bào, y giáp, mũ miện đều màu trắng; tay cầm cây đàn đặc biệt của cõi trời - mỗi lần đàn lên là làm cho tâm của người nghe trở nên thanh tịnh. Tháp tùng Đông thiên vương cũng có hằng trăm chư thiên, dạ-xoa và rất đông càn-thát-bà (Gandhabha) (1)với rất nhiều cây đàn hình thù kỳ dị - đủ để tạo nên một dàn nhạc vi diệu! Thứ tư là Quảng mục thiên vương (Virūpakkha) – có thân màu đỏ, vương bào, y giáp, mũ miện đều màu đỏ; tay phải cầm con rắn canh giữ ngọc maṇi. Tháp tùng Tây thiên vương cũng có cả một hội chúng chư thiên, dạ-xoa và rất nhiều rồng (Nāga) (2). Cả bốn hội chúng này vân tụ đầy đặc cả không gian. Một số đến chỉ vì tò mò, muốn chiêm ngưỡng quý tướng và mỹ tướng của đức Thế Tôn. Một số đến chỉ muốn hợp tấu vài khúc nhạc để ca tụng tán thán oai đức của bậc Toàn Giác đã chấn động các cõi trời. Một số dạ-xoa chưa có đức tin thì hờ hững, đứng một bên hoặc bỏ đi ra bên ngoài. Còn một số đông thiên chúng, dạ-xoa, sau khi nghe pháp, họ đồng thuận quy y rồi phát lời nguyện hộ trì Tăng chúng, Giáo pháp cho được dài lâu...

Hoan hỷ về thời pháp, kính ngưỡng hào quang thù thắng của đức Phật; Trì quốc thiên vương nâng cây đàn lên - như vị nhạc trưởng điêu luyện, với mấy ngón tay bạch ngọc vừa vuốt nhẹ dây đàn - là cả giàn âm thanh của càn-thát-bà như đồng lúc khởi tấu một khúc nhạc chưa hề có ở nhân gian. Và lạ lùng làm sao, đằng sau âm điệu du dương, trầm bổng là mùi hương của cây, của lá, của hoa, của những hương liệu dị kỳ tỏa ngát giữa không gian! Chưa thôi, giữa dòng âm thanh như những làn sóng thanh khí, mềm mại, uyển chuyển, dịu dàng như nâng bổng tâm hồn lên cao, lên cao mãi, như hòa nhập với mây xanh là lời ca phiếu diễu, phiêu bồng bằng ngôn ngữ của cõi trời - không phải ai cũng nghe được, cũng hiểu được...

Đức Phật mỉm nụ hoa sen - lắng nghe thử mấy ông trời nhạc sĩ này ca tấu cái gì...

Họ ca rằng:

“- Ôi! diễm tuyệt làm sao!

Huyền nhiệm xiết bao!

Như vầng mây trắng

Kết thành đài hoa

Ngườihiện xuống giữa trần gian

Sạch trong, vô nhiễm!

Như hạo khí nghiêng chao đỉnh Sineru

Nghiêng chao thiên vương bốn cõi

Ngườibước ra khỏi Marā

Bước ra khỏi vô minh tối ám!

Như một mặt trời

Như một vầng trăng

Hợp hôn giờ hoàng đạo

Giáo pháp bất tử của Người

Ban phát bởi từ tâm và trí tuệ

Lừng lững giữa vô cùng

Lừng lững giữa thế gian

Lừng lững không thời gian

Chưa bao giờ lặn tắt!”

Đến ngang đây thì âm ba, cung bậc thay đổi đột ngột, như réo rắt hơn, dìu dặt hơn, tình tứ hơn:

“- Ôi! người ôi!

Có thấy chăng,

Như chiếc cầu vồng lung linh bảy sắc

Vút qua giữa nghìn trùng hư vô

Vút qua giữa bít bùng khổ đau, sự chết

Để đón em-bất-diệt-vô-sanh

Để đón tình yêu Nibbāna tinh khôi, vĩnh cửu!

Chàng càn-thát-bà hát ca

Nàng dạ-xoa khiêu vũ

Từ cung điện miền Đông dập dờn xiêm lụa

Đến bảo tháp non Tây yêu kiều tiên nữ

Và cả Bắc, Nam thánh thót cung đàn

Ôi trái tim, nhịp đập miên man

Trào cảm xúc hương mạn-thù thơm ngát 

Víu bắt hạt sương

Như đôi mắt em long lanh, tinh anh, trong suốt

Víu bắt niềm vui

Như mùa xuân em - tươi rạng nụ cười

Và nắng ấm sát-na tâm

Lấp lánh tiếng lời

Cho từng hạt bụi đời

Thành giọt bảo châu trong vắt!”

Đến đây thì ca từ, âm tiết có vẻ chậm rãi, yên bình và thanh thản:

“- Ôi!

Trần gian có nghe chăng,

Ngàn lá, ngàn hoa nẩy hương, nẩy ngọc

Và gió và mây hòa chan, náo nức

Biển thẳm, non sâu phơi phới, hỷ hoan

Giáo hội đức Tôn Sư mở sáng con đường

Vô lượng a-tăng-kỳ cung nghinh, chiêm bái

Hãy lắng nghe ca từ

Chim Ca-lăng-tần-già líu lo, mê mải

Tán thán Người- nhân cách thiên thu!

Tán thán Người- mở xiềng xích ngục tù

Cho vô lượng chúng sanh

Duyên lành siêu thoát

Cho trời và người thanh bình, an lạc!”

Khúc hợp xướng chấm dứt, cả bốn hội chúng đồng reo hò rung chuyển cả không gian.

Đức Phật nói:

- Này, Trì quốc thiên vương! Ngươi và hội chúng càn-thát-bà của ngươi ca tụng, tán thán Như Lai – mà sao ở đấy có lẫn lộn một khúc tình ca như thế?

- Chúng đệ tử chỉ biết cúng dường bằng ngôn ngữ và âm thanh – Trì quốc thiên vương đáp - Và đấy là tấm lòng của chúng đệ tử - bạch đức Thế Tôn!

- Nó hay đấy! Đức Phật mỉm cười – Như Lai mong rằng, các ngươi “hộ trì chánh pháp” cũng hay như thế!

Tứ đại thiên vương đồng khấu đầu phát nguyện:

- Tất thảy chúng đệ tử sẽ đồng tâm hộ trì Tam Bảo và hộ trì quốc độ! Tuy nhiên, bạch đức Thế Tôn! Trong hội chúng do chúng con cai quản vẫn còn rất nhiều dạ-xoa nhiều thần lực và ít thần lực; chúng không tin tưởng Tam Bảo, vẫn đang còn sống với ác giới, bất chánh, tà tâm... Chuyện đã xảy ra, đang xảy ra, nơi này và nơi kia – chúng hủy báng Tam Bảo, phá rối sự tu tập của tỳ-khưu, tỳ-khưu-ni, sa-di, sa-di-ni, ưu-bà-tắc, ưu-bà-di... Vậy, trong bốn chúng, khi đang an cư tu tập ở bất cứ đâu, dẫu trong rừng sâu, động vắng, nghĩa địa, miếu hoang, giữa xóm làng... nếu cảm thấy bất an, sợ hãi, cảm giác sợ phi nhân quấy phá thì xin đức Thế Tôn cho phép họ đọc to lên, đọc tụng lớn tiếng tên của những dạ-xoa, đại dạ-xoa, quân sư, đại quân sư có nhiều oai lực, có nhiều thần lực sau đây, thì tức khắc sẽ được an ổn. Đó là: “ Inda, soma, vā varuna, Bhāradvaja, Pajāpati, Candana, Kāmasettha, Khinnughandu, Nighandu, Panāda vā Opamanna.”(1)

Đức Phật chấp thuận. Họ vô cùng hoan hỷ, đảnh lễ ngài rồi biến mất giữa không gian.

Một tháng an cư diễn ra bình thường. Đức Phật thuyết rất nhiều thời pháp ở đây và cũng rất nhiều thời pháp ở núi Linh Thứu. Đặc biệt, đức Phật thuyết một thời pháp nói về trị quốc, an dân; phải cải cách chính sách cho dân giàu nước mạnh, muôn người an vui, hạnh phúc - tại triều đình đức vua Seniya Bimbisāra, gồm mười điểm nổi bật sau đây:

Thứ nhất là rà soát lại các tội tử hình, tội chung thân khổ sai, giảm miễn các hình phạt quá đau đớn về thân thể. Các hình thức như lóc thịt, năm ngựa phanh thây, chặt đầu ba khúc, chặt chân, chặt tay... đều phải bị bãi bỏ; chỉ gia trọng tội hình bằng cách tăng gia sản xuất, làm việc tại các xưởng công nghệ; và do thành quả lao động, các năm tù tội sẽ được giảm khinh.

Thứ hai là các ông chủ ngân hàng giảm bớt tiền cho vay quá nặng lãi; các ông chủ nghiệp đoàn, chủ các công nghệ, công xưởng phải trả đồng lương cho thầy thợ tương ứng khả năng và sức lao động để cho họ đủ ăn đủ mặc.

Thứ ba là tôn kính, cúng dường các sa-môn, đạo sĩ; giữ gìn truyền thống văn hóa, các phong tục, mỹ tục, các lễ tiết, lễ hội, cúng tế tổ tiên và mùa màng!

Thứ tư, người cày phải có ruộng, giảm thuế nông nghiệp, cung cấp phân, giống và hướng dẫn kỹ thuật canh tác. Khuyến khích các ngành nghề thủ công. Giảm bớt thuế má lâm sản, khoáng sản và hải sản.

Thứ năm là cấm ngược đãi, áp bức nữ giới; đối xử tốt với gia nhân, người làm công, giới chiên-đà-la.

Thứ sáu là khuyến khích sự học cho con em, cấm bóc lột sức lao động trẻ em.

Thứ bảy là lập các trại chẩn bần, cứu tế, mở bệnh xá - chữa bệnh và cấp phát thuốc men cho dân.

Thứ tám, mở thêm các hí trường lộ thiên, các nhà nghỉ cộng cộng, cơ sở vệ sinh; làm thêm các công viên, vườn hoa, trồng thêm cây xanh.

Thứ chín, nạo vét kênh mương, đào thêm giếng nước ở các trấn thành cũng như ở xóm làng.

Thứ mười, cấm buôn bán người làm nô lệ. Cấm giết súc vật để cúng tế.

Do chính sách cải cách tiến bộ, vì dân và cho dân thật sự - được giáo hóa bởi đức Phật nên uy tín của giáo hội ăn sâu vào quần chúng. Các giáo phái khác ở đây vẫn được đức vua tôn trọng, đối xử công bằng – nhưng họ cũng bị co cụm dần trước sự phát triển lớn mạnh của giáo pháp chơn chánh đầy lẽ phải và tình thương giữa cuộc đời và trong lòng người.




(1)- Loài hóa sanh - phước báu thù thắng hơn loại do noãn, thai và thấp sanh – uy lực hơn cả loài rồng.

(2)- Là những vị thiên đặc biệt có khả năng đàn, ca, xướng, hát; có vị trú hương rễ cây, có vị trú hương lõi cây, có vị trú hương giát cây, có vị trú hương của hoa, có vị trú hương của vị, có vị trú hương của hương - đời sống tinh thần khá thanh khiết, phước báu cao hơn cõi người rất nhiều..

(1)Loại hóa sanh, phước báu thù thắng hơn các loại rồng do noãn, thai, thấp sanh (Tất cả những phi nhơn này có nhiều dị bản giải thích khác nhau; và tên gọi quỷ, thần hoặc dạ-xoa – có khá nhiều sai khác).

(2) Các loài rồng, cách giải thích cũng tương tợ trên.

(1)Xem thêm Trường bộ kinh II, kinh Ātanatiya.. Ở đây chỉ trích một ít – là dấu hiệu sớm nhất của Mật tông sau này!

Tham khảo: Kinh Đại hội, Trường A-hàm, Tuệ Sỹ dịch và chú, NXB Phương Đông, năm 2008 – có dấu ấn Mật tông rất rõ – do Hán tạng phiên âm chứ không dịch nghĩa. Kinh tương đương của Nikāya thì rất mờ nhạt về Mật tông.




Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
07/02/2026(Xem: 862)
Xưa ở nước Xá Vệ, có một huyện nhân dân đều quy Tam bảo, phụng trì năm giới và thực hành mười thiện nghiệp của Phật dạy. Khắp huyện không bao giờ sát sanh, người uống rượu nấu rượu cũng không có. Trong huyện, có một người con dòng dõi, sắp đi buôn tha phương. Trước khi đi, cha mẹ cặn kẽ dặn rằng: “Con nên cố gắng siêng năng, giữ gìn 5 giới cấm, thực hành mười điều thiện và cẩn thận chớ uống rượu, phạm đến trọng giới của Phật”.
05/02/2026(Xem: 1036)
Tu hú Trung Quốc hay còn gọi là Táo Quyên (chữ Hán: 噪鹃[1], Danh pháp khoa học: Eudynamys scolopaceus chinensis) là một phân loài của loài tu hú châu Á (Eudynamys scolopaceus) phân bố ở miền nam Trung Quốc, bán đảo Đông Dương, ngoại trừ bán đảo Mã Lai[2] Chúng sinh sống ở Thái Lan, Lào, Campuchia, Việt Nam, đông nam Trung Quốc và một phần Malaysia. Ở Việt Nam, chim tu hú phân bố ở khắp các vùng đồng bằng và vùng trung du. Vào mùa đông, rất ít gặp loài này vì phần lớn chúng bay về phương nam để tránh rét[3], chúng còn được gọi đơn giản là chim tu hú hay tu hú và cũng còn được gọi là chim quyên hay đỗ quyên[1].
31/01/2026(Xem: 2326)
Dòng nghiệp tự xoay trong một kiếp sống, có những khoảnh khắc ta tuyệt vọng, có những thời điểm trong đời sống tu tập, mọi lời dạy về chuyển nghiệp đều trở nên xa xỉ bởi vì mất mát đã xảy ra , thân bịnh đã hiện, quan hệ đã đổ vỡ, hậu quả đã đứng trước mặt ——>NGHIÊP ĐANG TRỔ Trong khoảnh khắc ấy, điều nguy hiểm nhất không phải là khổ, mà là đối diện khổ với sự VÔ MINH , điều này sẽ làm duyên cho nghiệp tiếp tục sinh sôi, tâm thức lạc lối, có lời oán trách, tự kết tội mình, tuyệt vọng khi không thấy phép màu nào đảo ngược thực tại . Đây chính là Tầng Nghiệp Thứ Hai : NGHIỆP DO PHẢN KHÁNG QUẢ BÁO .
31/01/2026(Xem: 1540)
Từ đó cho đến nay đã nhiều lần đi và nhiều lần đến ở nhiều nơi trên quả địa cầu nầy, nhưng tôi vẫn thấy như mình còn cần phải học hỏi nhiều hơn nữa, mặc dầu nay ở tuổi cũng gần 80 rồi. Ngày Hòa THượng Thích Bảo Lạc đi xuất gia (1957) và tôi đã theo chân anh ruột của mình vào chùa (1964) để đầu sư học đạo. Mấy Bà Cụ trong làng khua với nhau rằng: “Nhà Ông Quyên (Thân phụ của chúng tôi) có đến 2 người con cho đi xuất dương”. Tôi nghe chẳng hiểu gì cả, vậy mà sau nầy cả Hòa Thượng Thích Bảo Lạc và tôi đều được xuất dương sang Nhật Bản du học trước năm 1975. Như thế những gì mình chưa mong đợi, nhưng sự việc vẫn đến với mình như thường. Đó là gì? Phải chăng đó là nhân duyên, là phước báu? Hay là gì gì nữa. Mỗi người trong chúng ta sẽ có cách trả lời riêng của từng người vậy.
19/01/2026(Xem: 1990)
Ông cháu chúng tôi được Quý Thầy ở Tổ Đình Pháp Hoa, Nam Úc chở ra phi trường Adelaide vào sáng sớm ngày 8.1.2026, và buổi chiều cùng ngày được Phật Tử Chúc Nguyên đón tại phi trường Sydney, đưa về Thiền Lâm Pháp Bảo, vùng Wallacia thuộc Sydney, nơi Hòa Thượng Thích Bảo Lạc đang tịnh tu. Chiều đó có TT Phổ Huân và Sư Cô TN Giác Anh từ Tổ Đình Pháp Bảo ghé qua thăm chúng tôi tại Thiền Lâm Pháp Bảo và bàn bạc chương trình trong những ngày chúng tôi còn lưu lại ở đây cho đến ngày 24.1.2026.
14/01/2026(Xem: 1429)
Khi 740 đứa trẻ bị kết án trôi ra biển và cả thế giới nói “không”, thì một người đàn ông đã nói “có”. Đó là năm 1942. Giữa Ấn Độ Dương, một con tàu lênh đênh như một chiếc quan tài nổi. Trên tàu là 740 đứa trẻ Ba Lan ,những đứa trẻ mồ côi sống sót từ các trại lao động của Liên Xô, nơi cha mẹ chúng đã chết vì đói, bệnh tật và kiệt sức. Chúng trốn thoát được sang Iran, nhưng cơn ác mộng chưa kết thúc: không một quốc gia nào muốn nhận chúng. Hết cảng này đến cảng khác dọc bờ biển Ấn Độ, Đế quốc Anh ,cường quốc lớn nhất thời đó ,đóng sập cửa trước mặt chúng. “Không phải trách nhiệm của chúng tôi. Hãy đi nơi khác.” Thức ăn cạn dần. Thuốc men không còn. Và hy vọng ,thứ duy nhất giúp những đứa trẻ sống sót đến lúc này ,cũng đang tắt dần.
03/11/2025(Xem: 1954)
Australia: Lá thư trong chai của người lính thời Thế chiến I viết gửi mẹ năm 1916 được tìm thấy trên bãi biển Wharton sau hơn 100 năm trôi dạt và bị cát chôn vùi. Gia đình bà Debra Brown hồi cuối tháng 10 nhặt rác trên bãi biển Wharton, gần Esperance ở bang Tây Australia thì phát hiện một chai thủy tinh còn nguyên vẹn, bên trong chứa lá thư được viết vội bằng bút chì của hai người lính từ thời Thế chiến I.
25/08/2025(Xem: 3962)
Tuổi thơ của tôi là một sự pha trộn giữa hồn nhiên đầy mộng mị với những thèm thuồng, khổ đau của một thằng bé sinh ra trong một gia đình nghèo và vào thời chinh chiến. Đó là một thằng bé nghịch ngợm, ham chơi, đa cảm, thường dễ khóc khi gặp phải chuyện buồn. Suốt quãng đời thơ ấu, tôi chưa bao giờ được hân hạnh bước qua ngưỡng cửa hoặc vào trong sân của một gia đình giàu có. T
21/08/2025(Xem: 5188)
Anatha-pindika, một vị thủ quỹ giàu có, đã đến Đại Tự viện Jetavana để thăm Đức Thế Tôn. Ông mang theo năm trăm người bạn của mình, những đệ tử của các trường phái triết học khác. Sau khi bày tỏ lòng kính trọng và dâng cúng, ông cùng bạn bè ngồi nghe bài pháp của Đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn, với giọng nói mạnh mẽ như tiếng sư tử gầm và dịu dàng như chuỗi ngọc quý, đã thuyết giảng một bài pháp ngọt ngào và đẹp đẽ về Chân lý. Năm trăm đệ tử ấy cảm động đến mức họ từ bỏ niềm tin ngoại giáo, và bắt đầu quy y Tam Bảo: Phật, Pháp và Tăng. Từ đó, họ thường xuyên cùng Anatha-pindika đến chùa để nghe giáo pháp của Đức Phật.
11/08/2025(Xem: 4848)
Vô Bích động âm u mờ mịt, nó chẳng thuộc trời chẳng thuộc đất, nó không có tháng năm kiếp số thì nói chi đến thời khắc hay ngày giờ. Nó vốn là lãnh địa của lão Hades từ thuở hồng hoang đến giờ. Lão thường ngồi trên ngai bạch cốt, lúc nào cũng lim dim nhấm nháp ly hắc huyết hoàn tửu, đây là thức uống khoái khẩu của lão ta. Cái ly của y cũng rất đặc biệt, vốn chế tác từ thiên linh cái của bọn người ở nhân gian. Hắc huyết hoàn tửu là thứ mỹ tửu cực độc chỉ riêng Vô Bích động mới chế được. Mỗi khi Hades muốn gọi ai về chầu thì lão nhón ngón út chấm một giọt nhỏ lên sinh mệnh ai là người ấy lập tức vâng mệnh, xưa nay chưa có ai cưỡng được mệnh gọi chầu, dù đó là người cực thông minh hay quyền uy lớn nhất thế gian. Người đã như thế thì quỷ thần, phi nhân, súc sanh không cần phải nói nữa. Ngay cả những vị trời cũng chẳng thoát khỏi, dù đại phạm thiên thọ mạng tám vạn đại kiếp nhưng khi có mệnh thì hoa trên mão héo, thân thể tiết mùi hôi, thân quyến lìa xa... đó là dấu hiệu cho biết sắp đọa. S