13. Con trâu

29/11/201115:17(Xem: 5678)
13. Con trâu
TRUYỆN CỔ PHẬT GIÁO
TRUYỆN THƠ - TẬP 2
Tâm Minh Ngô Tằng Giao
Diệu Phương tái bản 2002

(13)

Con trâu

Bác nông phu vác cày lên

Giắt trâu thong thả đi bên ruộng đồng

Trong lòng sung sướng vô cùng

Được mùa lúa tốt vui chung năm này.

*

Màn sương vén nhẹ đó đây

Vừng đông ló dạng chân mây mỹ miều

Cánh đồng màu mỡ phì nhiêu

Trải dài xa tắp uốn theo chân đồi

Lùa trâu xuống ruộng, Bác vui

Lấy chân ấn mạnh lên nơi lưỡi cày

Trâu già vẫn kéo khỏe thay

Đất màu xẻ rãnh chia hai lượn vòng

Đùn lên cao, uốn cong cong

Trông như sóng lượn mặt sông dập dình

Như thuyền rẽ nước lướt nhanh,

Trâu già giúp cả gia đình nông dân

Mỗi ngày khá giả làm ăn

Nhìn trâu trìu mến Bác thầm cám ơn,

Đôi khi tiếc việc ham công

Cả hai phí sức ngoài đồng biết bao.

*

Mặt trời giờ đã lên cao

Nắng gay gắt rọi, gió xào xạc bay

Bỗng trời cuồn cuộn giăng mây

Cánh đồng tối sẫm phủ đầy gió mưa

Người và trâu vẫn cày bừa

Đồng lao cộng khổ chờ mùa đẹp sang.

*

Đến khi trời tạnh mây quang

Nhà nông mệt mỏi vội vàng nghỉ tay

Tìm vào bóng mát nằm ngay

Ngả lưng đánh một giấc say đã đời.

*

Một con cọp đói trên đồi

Mon men đi xuống tìm mồi dưới nương

Trâu tuy khổ nhọc trăm đường

Sức tàn, lực kiệt vẫn thương chủ mình

Chạy bay lại cứu nhiệt tình

Gặp trâu hung dữ cọp đành bỏ đi.

*

Nhà nông chợt tỉnh cơn mê

Tưởng lầm trâu mệt nên chi húc mình

Thế là nổi trận lôi đình

Bẻ cây rượt đánh. Tội tình chú trâu

Ba chân bốn cẳng chạy mau

Tới khi chủ mệt, gục đầu gốc cây

Ru hồn vào giấc ngủ say,

Trâu ngừng chân thở, thương thay thân mình!

*

Cọp trong bụi rậm vẫn rình

Lại mon men xuống, mắt tinh liếc mồi

Trâu nhìn cọp sắp vồ người

Vội quên đi những vết roi trên mình

Lòng can đảm, dạ trung thành

Lao vào cứu chủ, phủ nhanh che người

Cọp kia thấy khó ăn rồi

Bỏ đi về phía núi đồi thẳm sâu.

*

Nhà nông say ngủ hay đâu

Giật mình tỉnh dậy tưởng trâu đè mình

Tưởng trâu hãm hại. Thất kinh!

Vác cây tới tấp nỡ đành quất trâu

Im lìm trâu chịu đớn đau

Hai hàng lệ tủi, lệ sầu tuôn rơi.

*

Vừa khi Đức Phật tới nơi

Biết trâu cứu khổ, biết người nghi oan

Ngài bèn bước đến cản ngăn

Đưa tay xoa nhẹ vết hằn lưng trâu

Xoa lằn roi rớm máu đầu

Ghé tai trâu nói đôi câu ôn tồn:

"Ta đây biết nỗi lòng con

Ta từng bị vậy. Chớ buồn làm chi!

Ta từng đau khổ ê chề

Nỗi niềm chua chát khác chi cảnh này"

*

"Con ơi! cũng chính ta đây

Vì thương nhân loại đọa đầy khổ đau

Ra đời tỏa ánh đạo mầu

Rắp tâm xoa dịu nỗi sầu thế nhân

Vậy mà nhiều kẻ hiểu lầm

Lắm phen chửi bới, bao lần cản ngăn

Phá ta, gây chuyện khó khăn

Ta đâu nản chí chùn chân bao giờ

Chỉ khi nào bản thân ta

Không tròn phận sự mới là đáng chê

Nếu không mang lợi ích chi

Không mang an lạc chút gì cho ai

Mới là đáng nhục mà thôi

Con nên tiếp tục giúp người chủ đây!"

*

Phật quay qua phía người này

Chỉ vào vết cọp in đầy xung quanh,

Chuyện trâu cứu chủ trung thành

Đầu đuôi kể lại ngọn ngành trước sau.

*

Nhà nông hối hận lòng đau

Ôm trâu nức nở, cúi đầu ăn năn

Đồi xa rực rỡ ánh dương

Phật bèn từ giã lên đường khoan thai

Nẻo về tịnh xá còn dài

Người và trâu mắt u hoài nhìn theo.


(phỏng theo bản văn xuôi

của Châu Đức)
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
10/04/2013(Xem: 6217)
Làng Mã Châu của tôi là một ngôi làng nổi tiếng về nghề nuôi tằm, ươm tơ và dệt lụa. Những ngày còn nhỏ, tôi thích đứng xem người lớn nuôi tằm. Nhìn những con tằm nhỏ li ti, bám vào những chiếc lá dâu xanh, nhả những sợi tơ trắng mong manh, cho đến khi trở thành những con nhộng cuộn tròn trong cái kén. Qua đó, tôi cảm nhận sự kỳ diệu của một quá trình sinh diệt không cùng của vạn vật.
10/04/2013(Xem: 23167)
Quý vị đang cầm trên tay quyển "Đại Đường Tây Vức Ký" được chuyển dịch từ chữ Hán sang tiếng Việt là do kết quả của sự miệt mài dịch thuật của chúng tôi từ ngày 24 tháng 10 năm 2003 đến ngày 10 tháng 12 năm 2003 tại Tu Viện Đa Bảo, Úc Đại Lợi nhân mùa nhập thất lần đầu tại đây.
10/04/2013(Xem: 4700)
Đúng vào hôm tôi vừa ở Phật Học Đường Báo Quốc về thì Vĩnh đến thăm. Anh đến mang cho tôi một chồng sách Phật viết bằng tiếng Pháp mà anh mới gởi mua ở tận xứ xa. Anh cũng không quên mang tặng chú Tâm Mãn một cuốn tự điển Pháp Việt mới xuất bản, bởi vì anh biết chú Mãn đang cần cuốn này để học thêm Pháp văn.
10/04/2013(Xem: 18093)
Tập truyện Phật giáo này, gồm trên 70 câu truyện, rút từ các kinh, luật và luận, hoặc những chuyện mắt thấy tai nghe, có liên quan đến Phật giáo, cũng đem vào. Tập truyện này viết theo ký ức, nên không nhớ nhân danh, địa danh và thời gian. Mong chự vị độc giả thông cảm cho.
10/04/2013(Xem: 21653)
Tác phẩm “ Life and Teaching of the Masters of the Far East » (1935) ”, hồi ký của Dr. Blair T. Spalding (1857 – 1953) Một phần của hồi ký đã được Nguyên Phong chuyển ngữ với tựa đề “Hành Trình Về Phương Đông”
10/04/2013(Xem: 16999)
Ngôi chùa Sắc Tứ Hưng Phước Tự nằm trên một triền đồi thoai thoải, mặt chùa quay ra hướng đông nam hướng về phía biển đông. Lưng chùa tựa sát vào vách núi. Chung quanh là những điện đường ngang dọc, xây theo lối cổ tự ngày xưa. Đây là một chùa bề thế được bao đời chúa Nguyễn sắc phong cho các vị trụ trì tiền nhiệm tại đó. Nên trong lòng ai cũng cung kính nể vì. Lý do là chùa xây dựng rất đúng với thuật phong thuỷ.
10/04/2013(Xem: 5595)
Trong mùa xuân của thời thơ dại Anselm thường thơ thẩn chạy khắp khu vườn xanh lá cây. Cậu bé yêu đặc biệt một loài hoa trong các hoa của mẹ : Hoa Huệ Kiếm
10/04/2013(Xem: 15182)
Ngay từ khi tôi còn thơ ấu, Ba vẫn thường kể câu chuyện về Kim Các Tự cho tôi nghe. Tôi ra đời trên một mũi biển hiu quạnh nhô ra ra biển Nhật Bản ở phía đông bắc Maizuru. Tuy nhiên, nguyên quán của Ba không ở đây mà ở Shiraku, miền ngoại ô phía đông thành phố Maizuru. Ba được thúc đẩy gia nhập giáo hội và trở nên tu sĩ trụ trì một ngôi chùa tên một mỏm đất xa xôi. Ba lập gia đình ở nơi này và sinh ra một đứa con trai, ấy chính là tôi vậy.
10/04/2013(Xem: 20880)
Ðạo vốn vô ngôn; do ngôn mà hiển đạo, thế nên có mạn lục, có bảo huấn, có bút ngữ, có võ khố. Nay đây, có Hòa thượng Văn Thủ, tự Nhất Ty (1607 – 1648) người nước Nhật Bản, lúc đầu ở ẩn nơi Tây Cương thuộc đất Lạc Tây, về sau Ngài về núi Ðan mai danh ẩn tích. Nhưng các hàng xuất gia khắp chốn hải hồ tìm đến bên Ngài kết am tranh tu học số đông không kể xiết.
10/04/2013(Xem: 8227)
Trước vòm cung hình bán nguyệt có những cột trụ đôi chống đỡ, lối vào tu viện Thánh Ân, một cây giẻ - đứa con độc nhất của miền Nam mà ngày xưa một thầy dòng từ La-Mã mang đến - vươn lên ngay bên vệ đường, thân mình cường tráng. Tàng cây tròn trải ra trùm trên mặt đường trong một dáng điệu trìu mến và thở nhẹ trong gió như một lồng ngực đang phập phồng. Về mùa Xuân, trong khi vạn vật quanh nó đã xanh rờn và những cây phỉ của tu viện cũng đã khoác lại bộ lá non màu hung, mùa trổ lá cây giẻ này vẫn còn phải đợi rất lâu.