04. Cây Ðèn Kỳ Lạ

29/11/201115:17(Xem: 6164)
04. Cây Ðèn Kỳ Lạ
TRUYỆN CỔ PHẬT GIÁO
TRUYỆN THƠ - TẬP 1
Tâm Minh Ngô Tằng Giao
Diệu Phương tái bản 2002

(4)

Cây Ðèn Kỳ Lạ

Vua A Xà Thế một ngày

Cúng dường Ðức Phật lễ đầy trang nghiêm,

Hôm sau Vua họp tôi hiền

Cùng ngồi bàn chuyện cúng thêm dâng Ngài.

Các quan đồng loạt tâu bày:

"Cơm chay, y phục vừa đây cúng rồi

Giờ thêm đèn đuốc mà thôi

Dâng lên ánh sáng tỏa nơi Phật Ðài

Tượng trưng trí tuệ cao vời

Soi đường giác ngộ cho người trần gian

Hào quang Ðức Phật chói chang

Tiêu trừ tội lỗi, xóa tan mê mờ!".

Vua nghe vui vẻ vô bờ

Truyền quan sắm sửa lễ cho chu toàn

Mai lên tịnh xá Kỳ Hoàn

Cúng dường Ðức Phật và hàng Chư Tăng.

*

Có bà lão nọ xin ăn

Chiều hôm lê bước muộn mằn về thôn

Sống nghèo, thân xác mỏi mòn

Nhưng lòng kính Ðức Chí Tôn vô cùng,

Bà hành khất thấy người đông

Ngựa xe, lính tráng trên đường đi mau

Rộn ràng chở những thùng dầu

Cùng đèn đủ kiểu phô mầu đẹp xinh,

Lão bà thăm hỏi sự tình

Biết là lễ vật dâng trình của Vua

*

Lão bà lòng chợt suy tư

Buồn vì công đức mình chưa có gì

Nghĩ thầm nên sắm chút chi

Thành tâm, cung kính đem đi cúng liền

Suốt ngày xin được chút tiền

Lão bà hoan hỉ dừng bên lề đường

Ghé vào một quán bán hàng

Bỏ mua dầu thắp cúng dường đêm nay,

Nhà hàng nghe cảm động thay

Lòng thành xin góp, đong đầy dầu thêm

Lại cho mượn một cây đèn

Tối nay bà thắp mang lên cúng dường.

*

Ðêm về tịnh xá Kỳ Hoàn

Ðèn Vua ngàn chiếc rỡ ràng khắp nơi

Ðàn ca, nhã nhạc chơi vơi

Bà con dự lễ tươi cười bước mau.

Lão bà châm chiếc đèn dầu

Thành tâm phát nguyện, cúi đầu, chắp tay:

"Xin dâng Phật ánh sáng này

Mong hàng Giáo Hội nơi đây trường tồn

Phò con minh mẫn luôn luôn

Ðuốc cao trí tuệ soi đường dài lâu!".

Tuy đèn chỉ có ít dầu

Nhưng bà thầm nguyện phép mầu hiện ra:

"Nếu mà quả thật thân ta

Sau này giác ngộ, thoát qua luân hồi

Thì xin đèn cháy mãi thôi

Hào quang rực rỡ chiếu soi suốt đời!".

Bà treo đèn phía vườn ngoài

Sau khi lễ Phật khoan thai ra về.

*

Ðèn Vua giăng khắp bốn bề

Người lo thay bấc, kẻ đi châm dầu

Nhưng đèn tắt giữa đêm thâu

Ít đèn cháy sáng được lâu được dài

Riêng đèn bà lão cháy hoài

Lung linh phô sắc rạng ngời trong đêm

Dầu không hao, bấc vẫn bền

Hào quang phá vỡ màn đêm mịt mùng.

*

Hôm sau vừa mới hừng đông

Mặt trời lấp ló ánh dương khắp miền

Phật truyền ngài Mục Kiền Liên

Dạo quanh tìm cách tắt đèn hết đi,

Ðèn còn cháy chẳng nhiều chi

Quạt qua liền tắt không gì khó khăn,

Riêng đèn bà lão xin ăn

Quạt càng cho mạnh lại càng sáng thêm

Thật là kỳ lạ vô biên

Mọi người bàn tán ngạc nhiên vô vàn,

Phật vừa đến mới dạy rằng:

"Ðèn này khó tắt, tỏa vàng muôn nơi

Hào quang công đức rạng ngời

Là đèn của Phật trong thời tương lai!"

*

Sau khi dò hỏi mọi nơi

Biết đèn dầu của một người ăn xin

Vua A Xà Thế ngạc nhiên

Hỏi quần thần biết vì duyên cớ nào:

"Trẫm đây công đức biết bao

Cúng đèn cửa Phật kể sao cho vừa

Phật không thọ ký bây giờ

Mà Ngài thọ ký bà già. Lạ thay?".

Ðại thần chẳng dám tâu bày

Lệnh Vua bèn phán: "Trẫm đây lòng thành

Muốn tìm hiểu rõ ngọn ngành

Ðể rồi nguyện với Trời xanh sửa mình!".

*

Ðại thần mạnh dạn tâu trình:

"Ðại Vương đã dạy thần đành xin thưa

Cúng dường quý ở động cơ

Ðại Vương có lẽ lòng chưa chí tình

Thiếu lời thệ nguyện quang minh

Cho nên công đức mong manh không nhiều

Bà già hành khất tuy nghèo

Tuy ít phẩm vật, nhưng nhiều thành tâm

Ðèn bà chiếu sáng vô ngần

Tan sương mờ ám, vén màn u minh

Soi đường giải thoát chúng sinh

Suy tôn Giáo Hội, vinh danh Phật Ðà!"

(phỏng theo bản văn xuôi
của Thiện Châu)

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
10/04/2013(Xem: 6230)
Làng Mã Châu của tôi là một ngôi làng nổi tiếng về nghề nuôi tằm, ươm tơ và dệt lụa. Những ngày còn nhỏ, tôi thích đứng xem người lớn nuôi tằm. Nhìn những con tằm nhỏ li ti, bám vào những chiếc lá dâu xanh, nhả những sợi tơ trắng mong manh, cho đến khi trở thành những con nhộng cuộn tròn trong cái kén. Qua đó, tôi cảm nhận sự kỳ diệu của một quá trình sinh diệt không cùng của vạn vật.
10/04/2013(Xem: 23263)
Quý vị đang cầm trên tay quyển "Đại Đường Tây Vức Ký" được chuyển dịch từ chữ Hán sang tiếng Việt là do kết quả của sự miệt mài dịch thuật của chúng tôi từ ngày 24 tháng 10 năm 2003 đến ngày 10 tháng 12 năm 2003 tại Tu Viện Đa Bảo, Úc Đại Lợi nhân mùa nhập thất lần đầu tại đây.
10/04/2013(Xem: 4795)
Đúng vào hôm tôi vừa ở Phật Học Đường Báo Quốc về thì Vĩnh đến thăm. Anh đến mang cho tôi một chồng sách Phật viết bằng tiếng Pháp mà anh mới gởi mua ở tận xứ xa. Anh cũng không quên mang tặng chú Tâm Mãn một cuốn tự điển Pháp Việt mới xuất bản, bởi vì anh biết chú Mãn đang cần cuốn này để học thêm Pháp văn.
10/04/2013(Xem: 18493)
Tập truyện Phật giáo này, gồm trên 70 câu truyện, rút từ các kinh, luật và luận, hoặc những chuyện mắt thấy tai nghe, có liên quan đến Phật giáo, cũng đem vào. Tập truyện này viết theo ký ức, nên không nhớ nhân danh, địa danh và thời gian. Mong chự vị độc giả thông cảm cho.
10/04/2013(Xem: 21736)
Tác phẩm “ Life and Teaching of the Masters of the Far East » (1935) ”, hồi ký của Dr. Blair T. Spalding (1857 – 1953) Một phần của hồi ký đã được Nguyên Phong chuyển ngữ với tựa đề “Hành Trình Về Phương Đông”
10/04/2013(Xem: 17157)
Ngôi chùa Sắc Tứ Hưng Phước Tự nằm trên một triền đồi thoai thoải, mặt chùa quay ra hướng đông nam hướng về phía biển đông. Lưng chùa tựa sát vào vách núi. Chung quanh là những điện đường ngang dọc, xây theo lối cổ tự ngày xưa. Đây là một chùa bề thế được bao đời chúa Nguyễn sắc phong cho các vị trụ trì tiền nhiệm tại đó. Nên trong lòng ai cũng cung kính nể vì. Lý do là chùa xây dựng rất đúng với thuật phong thuỷ.
10/04/2013(Xem: 5785)
Trong mùa xuân của thời thơ dại Anselm thường thơ thẩn chạy khắp khu vườn xanh lá cây. Cậu bé yêu đặc biệt một loài hoa trong các hoa của mẹ : Hoa Huệ Kiếm
10/04/2013(Xem: 15428)
Ngay từ khi tôi còn thơ ấu, Ba vẫn thường kể câu chuyện về Kim Các Tự cho tôi nghe. Tôi ra đời trên một mũi biển hiu quạnh nhô ra ra biển Nhật Bản ở phía đông bắc Maizuru. Tuy nhiên, nguyên quán của Ba không ở đây mà ở Shiraku, miền ngoại ô phía đông thành phố Maizuru. Ba được thúc đẩy gia nhập giáo hội và trở nên tu sĩ trụ trì một ngôi chùa tên một mỏm đất xa xôi. Ba lập gia đình ở nơi này và sinh ra một đứa con trai, ấy chính là tôi vậy.
10/04/2013(Xem: 21357)
Ðạo vốn vô ngôn; do ngôn mà hiển đạo, thế nên có mạn lục, có bảo huấn, có bút ngữ, có võ khố. Nay đây, có Hòa thượng Văn Thủ, tự Nhất Ty (1607 – 1648) người nước Nhật Bản, lúc đầu ở ẩn nơi Tây Cương thuộc đất Lạc Tây, về sau Ngài về núi Ðan mai danh ẩn tích. Nhưng các hàng xuất gia khắp chốn hải hồ tìm đến bên Ngài kết am tranh tu học số đông không kể xiết.
10/04/2013(Xem: 8262)
Trước vòm cung hình bán nguyệt có những cột trụ đôi chống đỡ, lối vào tu viện Thánh Ân, một cây giẻ - đứa con độc nhất của miền Nam mà ngày xưa một thầy dòng từ La-Mã mang đến - vươn lên ngay bên vệ đường, thân mình cường tráng. Tàng cây tròn trải ra trùm trên mặt đường trong một dáng điệu trìu mến và thở nhẹ trong gió như một lồng ngực đang phập phồng. Về mùa Xuân, trong khi vạn vật quanh nó đã xanh rờn và những cây phỉ của tu viện cũng đã khoác lại bộ lá non màu hung, mùa trổ lá cây giẻ này vẫn còn phải đợi rất lâu.