22. Đồi gió thơm

05/09/201103:08(Xem: 5679)
22. Đồi gió thơm

HÀNH TRÌNH VỀ PHƯƠNG ĐÔNG
Huệ Trân 2008

Đồi gió thơm

Trời vừa hửng đông. Những vệt mây hồng quét ngang khung trời mờ sương như báo hiệu một ngày nắng ấm. Ông Mặt Trời ơi, chúng tôi cần nắng để phơi quần áo, xin ông ở chơi lâu lâu một chút nhé! Sau mấy ngày đón Tết, trà thơm và bánh mứt còn nhiều đây, xin ông cứ nhẩn nha uống trà, ăn bánh, đừng vội đi, cũng đừng vội rủ các bác Mây Đen, Mây Xám tới đe dọa. Xin cho chúng tôi thêm mấy ngày khô ráo rồi ông có rủ thêm cụ Mưa tới chơi, chúng tôi cũng chiên bánh chưng đãi khách.

Vừa ra sân phơi quần áo, tôi vừa nói chuyện với ông Mặt Trời như thế. Tôi thức dậy sớm lắm, giặt giũ và phơi phóng xong mà chưa tới bẩy giờ. Những ngày trời âm u thì giờ này còn tối nhưng hôm nay ông mặt trời không ngủ nướng nên không gian quanh tôi như sáng sủa, quang đãng, tươi vui hơn. Vậy mà các sư cô đâu cả? Tôi biết, các sư cô cũng không quen thức trễ đâu, nhưng sau mấy ngày Tết bận rộn, vui chơi, các xóm đang được làm- biếng nên chẳng thấy ai ra ngoài!

Phơi quần áo xong, tôi pha cho mình một ly trà, ngồi nhâm nhi một mình trong phòng ăn. Khóm trúc trước Niệm-Phật-đường xanh mướt như vừa tắm gội. Bãi cỏ chạy dài tới ngọn đồi xa cũng đang nhẩy nhót với tia nắng đầu ngày. Sao tôi lại ngồi thu mình trong căn phòng ăn thế này nhỉ? Dấu hỏi chưa dứt trong đầu, chân đã di chuyển. Tôi vẫn chưa thường xuyên áp dụng được đủ tứ-oai-nghi để luôn có sự chậm rãi, an nhiên! Thỉnh thoảng, tôi vẫn bắt gặp mình hấp tấp.

Ừ, thì nắng ngoài kia đẹp quá! không gian tĩnh lặng quá! ta sẽ thiền hành một mình. Nắng còn đó, ta còn đây, cớ chi mà vội!

Ra khỏi phòng ăn, tôi hướng về gác chuông. Thảm cỏ mát lạnh dưới chân, gió thoảng trên vai, nắng đùa trên áo. Qua tháp chuông, tôi rẽ vào đường Thiền. Đây là những con đường nhỏ xen giữa những hàng thông thẳng tắp, dẫn lên ngọn đồi thấp. Tôi đặt tên những con đường này là đường Thiền. Cái tên này chẳng phải chỉ vì khi tới Xóm Mới, Thầy thường dẫn chúng thiền hành, mà còn vì tự thân, những con đường này, đối với tôi, rất “thiền”. Đường phủ ngập lá phong khi tới mùa lá rụng và lấm tấm hoa dại khi lá chuyển thành đất, nuôi hoa. Khi thiền hành, tôi thường quan sát những bông hoa trắng, tím, vàng, nhỏ li ti. Đoàn thiền hành hàng trăm người chậm rãi bước tới mà tôi không hề nhìn thấy sự run sợ nào từ hoa. Trái lại, mỗi bông hoa đều như cố vươn cao lên, mỉm cười chào đón những bước chân thiền hành, không bận tâm là có thể vô tình, những bước chân kia sẽ dẫm hoa tan nát! Hoa đang dâng hiến trọn vẹn một kiếp để làm đẹp cho đời, dẫu có bị dẫm nát thì hoa lại thành đất, ấp ủ những hạt mầm còn nằm sâu dưới kia. Có lẽ biết như thế nên hoa đã sống xứng đáng với thiên chức, từ nụ hàm tiếu tới lúc rụng tàn.

Thiếu gì con người đã bất xứng khi chưa mãn kiếp!

Theo đường Thiền, tôi thong thả lên đồi. Đây là ngọn đồi thấp với bãi cỏ xanh non, trống trải. Tôi đặt tên cho ngọn đồi này là Đồi Gió Thơm vì khi nào đoàn thiền hành lên đến đỉnh đồi, gió cũng ghé thăm và tặng hương thơm kỳ diệu của đất trời. Hương rừng thông, rừng mận, rừng mai, hương lá phong, hương cỏ non… tất cả hài hòa thành hương gió thơm.

Ngày nào không có thời khóa phải đi tới xóm khác, tôi đều tìm được cho mình những giây phút hạnh phúc, thanh thản chậm bước trên đường Thiền, lên đồi Gió Thơm. Ở đó, trên là trời, giữa là ta, dưới là đất, và bao quanh là không gian bát ngát, lặng thinh. Đường lên Thiên Thai của hai chàng Lưu Nguyễn ngày xưa không thể tuyệt vời hơn vì Thiên Thai còn vui khi gặp, còn buồn khi xa; mà vui buồn là những ràng buộc khổ lụy.

Đồi Gió Thơm chỉ có thảnh thơi, an lạc, đến như chẳng hẹn, đi như chẳng rời, chỉ tiếp xúc với phút giây hiện tại và biết rõ ta đang thở, ta đang sống, thiên nhiên mầu nhiệm đang ôm ấp ta, đang đẩy lui những vướng mắc khổ lụy vô thường. Gương-tâm-ta đang cùng với thiên nhiên mà sáng trong. Ta đang nhận biết như thế.

Ta và cái-nhận-biết đang là một.

Đây là Phật tánh.

Nhận biết như thế, như vậy, không thêm không bớt, không sạch không dơ, không trong không ngoài …

Thênh thang Bát Nhã!

Tôi chọn chỗ bằng phẳng, khoanh chân ngồi bán già.

Từ trên đỉnh đồi nhìn xuống, trước mặt là Xóm Mới, bên phải là ruộng nho, bên trái là rừng táo, đằng sau là rừng thông, xa tít tắp mênh mông là nhấp nhô đồi núi …

Dễ gì có được phút giây một mình, thực sự một mình với thiên nhiên tĩnh lặng thế này. Phải có được những khoảnh khắc lắng sâu, quay nhìn bản tâm, thực chứng cái nhỏ nhoi vô thường của thân phận mới biết coi nhẹ những thị phi và tâm địa ác độc thế nhân mà tha thứ. Mình chỉ như hạt bụi, không biết làn gió sẽ thổi bay hướng nào thì xá chi chút tơ vương, rồi cũng rơi rụng chốn hồng hoang…

Hạnh phúc ngay giây phút này đây, lòng thanh thản giữa bao la trời đất, chỉ có mình ta cùng thiên nhiên, tưởng như ngọn gió này chỉ vì ta mà tới, ánh nắng này chỉ vì ta mà ấm, hương rừng này chỉ vì ta mà thơm, tiếng chim này chỉ vì ta mà hót, đóa hoa này chỉ vì ta mà nở… Vạn hữu mênh mông kể sao cho xiết!

Có phải tôi đang giầu có quá không? Đúng thế, tôi đang giầu có biết bao! Đất trời đang ôm tôi và tôi đang ôm cả đất trời. Tổ tiên trên đỉnh đầu. Cha ngồi bên vai phải. Mẹ ngồi bên vai trái. Tôi ngồi như thế, thở nhẹ nhàng và thở thật sâu. Hương trời bất tận cùng êm ái vào theo hơi thở.

Nắng ấm đậu trên mi mắt khép hờ.

Và tôi biết, tôi đang thực chứng “Mặt trời trong hạt cải”

Cám ơn đồi Gió Thơm trong buổi sáng vàng nắng.

(Tháng hai, 2008 Xóm Mới-Làng Mai)
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
07/02/2026(Xem: 852)
Xưa ở nước Xá Vệ, có một huyện nhân dân đều quy Tam bảo, phụng trì năm giới và thực hành mười thiện nghiệp của Phật dạy. Khắp huyện không bao giờ sát sanh, người uống rượu nấu rượu cũng không có. Trong huyện, có một người con dòng dõi, sắp đi buôn tha phương. Trước khi đi, cha mẹ cặn kẽ dặn rằng: “Con nên cố gắng siêng năng, giữ gìn 5 giới cấm, thực hành mười điều thiện và cẩn thận chớ uống rượu, phạm đến trọng giới của Phật”.
05/02/2026(Xem: 1012)
Tu hú Trung Quốc hay còn gọi là Táo Quyên (chữ Hán: 噪鹃[1], Danh pháp khoa học: Eudynamys scolopaceus chinensis) là một phân loài của loài tu hú châu Á (Eudynamys scolopaceus) phân bố ở miền nam Trung Quốc, bán đảo Đông Dương, ngoại trừ bán đảo Mã Lai[2] Chúng sinh sống ở Thái Lan, Lào, Campuchia, Việt Nam, đông nam Trung Quốc và một phần Malaysia. Ở Việt Nam, chim tu hú phân bố ở khắp các vùng đồng bằng và vùng trung du. Vào mùa đông, rất ít gặp loài này vì phần lớn chúng bay về phương nam để tránh rét[3], chúng còn được gọi đơn giản là chim tu hú hay tu hú và cũng còn được gọi là chim quyên hay đỗ quyên[1].
31/01/2026(Xem: 2295)
Dòng nghiệp tự xoay trong một kiếp sống, có những khoảnh khắc ta tuyệt vọng, có những thời điểm trong đời sống tu tập, mọi lời dạy về chuyển nghiệp đều trở nên xa xỉ bởi vì mất mát đã xảy ra , thân bịnh đã hiện, quan hệ đã đổ vỡ, hậu quả đã đứng trước mặt ——>NGHIÊP ĐANG TRỔ Trong khoảnh khắc ấy, điều nguy hiểm nhất không phải là khổ, mà là đối diện khổ với sự VÔ MINH , điều này sẽ làm duyên cho nghiệp tiếp tục sinh sôi, tâm thức lạc lối, có lời oán trách, tự kết tội mình, tuyệt vọng khi không thấy phép màu nào đảo ngược thực tại . Đây chính là Tầng Nghiệp Thứ Hai : NGHIỆP DO PHẢN KHÁNG QUẢ BÁO .
31/01/2026(Xem: 1524)
Từ đó cho đến nay đã nhiều lần đi và nhiều lần đến ở nhiều nơi trên quả địa cầu nầy, nhưng tôi vẫn thấy như mình còn cần phải học hỏi nhiều hơn nữa, mặc dầu nay ở tuổi cũng gần 80 rồi. Ngày Hòa THượng Thích Bảo Lạc đi xuất gia (1957) và tôi đã theo chân anh ruột của mình vào chùa (1964) để đầu sư học đạo. Mấy Bà Cụ trong làng khua với nhau rằng: “Nhà Ông Quyên (Thân phụ của chúng tôi) có đến 2 người con cho đi xuất dương”. Tôi nghe chẳng hiểu gì cả, vậy mà sau nầy cả Hòa Thượng Thích Bảo Lạc và tôi đều được xuất dương sang Nhật Bản du học trước năm 1975. Như thế những gì mình chưa mong đợi, nhưng sự việc vẫn đến với mình như thường. Đó là gì? Phải chăng đó là nhân duyên, là phước báu? Hay là gì gì nữa. Mỗi người trong chúng ta sẽ có cách trả lời riêng của từng người vậy.
19/01/2026(Xem: 1973)
Ông cháu chúng tôi được Quý Thầy ở Tổ Đình Pháp Hoa, Nam Úc chở ra phi trường Adelaide vào sáng sớm ngày 8.1.2026, và buổi chiều cùng ngày được Phật Tử Chúc Nguyên đón tại phi trường Sydney, đưa về Thiền Lâm Pháp Bảo, vùng Wallacia thuộc Sydney, nơi Hòa Thượng Thích Bảo Lạc đang tịnh tu. Chiều đó có TT Phổ Huân và Sư Cô TN Giác Anh từ Tổ Đình Pháp Bảo ghé qua thăm chúng tôi tại Thiền Lâm Pháp Bảo và bàn bạc chương trình trong những ngày chúng tôi còn lưu lại ở đây cho đến ngày 24.1.2026.
14/01/2026(Xem: 1399)
Khi 740 đứa trẻ bị kết án trôi ra biển và cả thế giới nói “không”, thì một người đàn ông đã nói “có”. Đó là năm 1942. Giữa Ấn Độ Dương, một con tàu lênh đênh như một chiếc quan tài nổi. Trên tàu là 740 đứa trẻ Ba Lan ,những đứa trẻ mồ côi sống sót từ các trại lao động của Liên Xô, nơi cha mẹ chúng đã chết vì đói, bệnh tật và kiệt sức. Chúng trốn thoát được sang Iran, nhưng cơn ác mộng chưa kết thúc: không một quốc gia nào muốn nhận chúng. Hết cảng này đến cảng khác dọc bờ biển Ấn Độ, Đế quốc Anh ,cường quốc lớn nhất thời đó ,đóng sập cửa trước mặt chúng. “Không phải trách nhiệm của chúng tôi. Hãy đi nơi khác.” Thức ăn cạn dần. Thuốc men không còn. Và hy vọng ,thứ duy nhất giúp những đứa trẻ sống sót đến lúc này ,cũng đang tắt dần.
03/11/2025(Xem: 1944)
Australia: Lá thư trong chai của người lính thời Thế chiến I viết gửi mẹ năm 1916 được tìm thấy trên bãi biển Wharton sau hơn 100 năm trôi dạt và bị cát chôn vùi. Gia đình bà Debra Brown hồi cuối tháng 10 nhặt rác trên bãi biển Wharton, gần Esperance ở bang Tây Australia thì phát hiện một chai thủy tinh còn nguyên vẹn, bên trong chứa lá thư được viết vội bằng bút chì của hai người lính từ thời Thế chiến I.
25/08/2025(Xem: 3947)
Tuổi thơ của tôi là một sự pha trộn giữa hồn nhiên đầy mộng mị với những thèm thuồng, khổ đau của một thằng bé sinh ra trong một gia đình nghèo và vào thời chinh chiến. Đó là một thằng bé nghịch ngợm, ham chơi, đa cảm, thường dễ khóc khi gặp phải chuyện buồn. Suốt quãng đời thơ ấu, tôi chưa bao giờ được hân hạnh bước qua ngưỡng cửa hoặc vào trong sân của một gia đình giàu có. T
21/08/2025(Xem: 5143)
Anatha-pindika, một vị thủ quỹ giàu có, đã đến Đại Tự viện Jetavana để thăm Đức Thế Tôn. Ông mang theo năm trăm người bạn của mình, những đệ tử của các trường phái triết học khác. Sau khi bày tỏ lòng kính trọng và dâng cúng, ông cùng bạn bè ngồi nghe bài pháp của Đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn, với giọng nói mạnh mẽ như tiếng sư tử gầm và dịu dàng như chuỗi ngọc quý, đã thuyết giảng một bài pháp ngọt ngào và đẹp đẽ về Chân lý. Năm trăm đệ tử ấy cảm động đến mức họ từ bỏ niềm tin ngoại giáo, và bắt đầu quy y Tam Bảo: Phật, Pháp và Tăng. Từ đó, họ thường xuyên cùng Anatha-pindika đến chùa để nghe giáo pháp của Đức Phật.
11/08/2025(Xem: 4793)
Vô Bích động âm u mờ mịt, nó chẳng thuộc trời chẳng thuộc đất, nó không có tháng năm kiếp số thì nói chi đến thời khắc hay ngày giờ. Nó vốn là lãnh địa của lão Hades từ thuở hồng hoang đến giờ. Lão thường ngồi trên ngai bạch cốt, lúc nào cũng lim dim nhấm nháp ly hắc huyết hoàn tửu, đây là thức uống khoái khẩu của lão ta. Cái ly của y cũng rất đặc biệt, vốn chế tác từ thiên linh cái của bọn người ở nhân gian. Hắc huyết hoàn tửu là thứ mỹ tửu cực độc chỉ riêng Vô Bích động mới chế được. Mỗi khi Hades muốn gọi ai về chầu thì lão nhón ngón út chấm một giọt nhỏ lên sinh mệnh ai là người ấy lập tức vâng mệnh, xưa nay chưa có ai cưỡng được mệnh gọi chầu, dù đó là người cực thông minh hay quyền uy lớn nhất thế gian. Người đã như thế thì quỷ thần, phi nhân, súc sanh không cần phải nói nữa. Ngay cả những vị trời cũng chẳng thoát khỏi, dù đại phạm thiên thọ mạng tám vạn đại kiếp nhưng khi có mệnh thì hoa trên mão héo, thân thể tiết mùi hôi, thân quyến lìa xa... đó là dấu hiệu cho biết sắp đọa. S