7. SỰ TÍCH PHẬT LỰC THỨ BẢY

30/05/201319:07(Xem: 11940)
7. SỰ TÍCH PHẬT LỰC THỨ BẢY

 

Tám Sự Tích Phật Lực

Tỳ khưu Hộ Pháp
(Dhammarakkhita Bhikkhu)

Phật lịch 2545 (TL 2001)

---o0o---

SỰ TÍCH PHẬT LỰC THỨ BẢY

ĐỨC PHẬT CHO PHÉP ĐẠI ĐỨC MAHÀMOGGALLÀNA
THU PHỤC RỒNG CHÚA NANDOPANANDA

-ooOoo-

Đức Phật cho phép Đại đức Mahàmoggallàna vận dụng thần thông để thu phục Rồng chúa Nandopananda, là Rồng tà kiến có nhiều thần thông.

(Phỏng theo Chú giải Theragàthà và Apàdàna, chuyện Đại đức Màhàmoggallàna)

Thuở nọ, Đức Thế Tôn ngự tại Jetavana gần thành Sàvatthi. Phú hộ Anàthapindika, sau khi nghe xong thời pháp, rất hoan hỷ đảnh lễ Đức Thế Tôn bạch rằng:

- Kính bạch Đức Thế Tôn, con kính thỉnh Đức Thế Tôn cùng Tăng chúng 500 vị Tỳ khưu ngự đến thọ thực tại tư gia của chúng con vào ngày mai.

Đức Phật làm thinh nhận lời thỉnh mời của ông, biết Đức Phật đã nhận lời, tâm ông phú hộ vô cùng hoan hỷ đảnh lễ Đức Thế Tôn rồi xin phép trở về.

Vào canh chót đêm ấy, như lệ thường, Đức Phật nhập đại bi định, khi xả định quán xét thế gian xem chúng sinh nào hữu duyên nên tế độ. Ngài nhìn thấy Rồng chúa Nandopananda hiện ra trong mạng lưới đại bi tế độ của Ngài. Đức Phật quán xét thấy Rồng chúa là Rồng tà kiến, không có đức tin nơi Tam bảo, rất hung dữ có nhiều thần thông. Nhưng cuối cùng, nó sẽ có đức tin rồi quy y Tam bảo. Vậy, ai là người có khả năng thu phục được Rồng chúa này? Ngài biết rằng Đại đức Mahàmoggallàna có năng lực thu phục được Rồng chúa này.

Sáng hôm ấy, Đức Phật gọi Đại đức Ànanda dạy:

- Này Ànanda, con hãy thông báo cho 500 vị Tỳ khưu cùng đi theo Như Lai lên cõi Tam thập tam thiên.

Cũng vào sáng hôm ấy, tại cung điện Long vương có tổ chức yến tiệc linh đình, Rồng chúa Nandopananda ngự trên ngai có lọng trắng che, bá quan văn võ áo mũ chỉnh tề ngồi theo thứ bậc, cùng hoàng tộc nhà Rồng đang say mê xem những vũ khúc kỳ diệu của các long nữ, và cùng nhau thưởng thức những món ngon vật lạ đặc biệt chốn long cung.

Ngay lúc ấy, Đức Phật cùng với 500 vị Tỳ khưu Tăng đang bay qua khoảng không gian phía trên địa phận cung điện của Rồng chúa, cố ý làm rơi bụi xuống đầu, cốt để cho chúng Rồng nhìn thấy như chọc tức, như khiêu khích, cho nên Rồng chúa Nandopananda nổi cơn thịnh nộ, tuyên bố với bọn bầy tôi thuộc hạ: "Bọn Sa môn đầu trọc này lên cõi Tam thập tam thiên, dám bay ngang qua cung điện của ta, ta sẽ làm cho họ phải kính nể, để về sau không dám bay ngang qua đây nữa". Rồng chúa tức giận đi đến chân núi Sineru dùng phép thuật hoá thân hình to lớn và dài bao vòng quanh, cuộn tròn cả ngọn núi, chồng lên nhau bảy vòng, rồi phồng mang che phủ luôn cả đỉnh núi, bao trùm cả cõi Tam thập tam thiên. Thế là từ xa chẳng ai còn nhìn thấy cõi trời đâu nữa.

Khi ấy, Đại đức Ratthapàla bạch với Đức Thế Tôn rằng:

- Kính bạch Đức Thế Tôn, trước kia mỗi lần lên ngang đây, con đều nhìn thấy, không những núi Sineru mà còn nhìn thấy cõi Tam thập tam thiên, nhìn thấy cả cung điện Vejayantapasàda của Đức vua trời Sakka cùng lá cờ trên đỉnh cung điện ấy, nhưng bây giờ con chẳng nhìn thấy được gì cả.

Kính bạch Đức Thế Tôn, do nhân duyên nào vậy, Bạch Ngài.

Đức Phật dạy rằng:

- Này Ratthapàla, Rồng chúa Nandopananda tức giận các con, nên đã hoá thân hình to lớn và dài, bao quanh núi Sineru chồng lên bảy vòng, rồi phồng mang che phủ luôn cả đỉnh núi, bao trùm cả cõi Tam thập tam thiên, cho nên con không nhìn thấy được gì nữa.

Đại đức Ratthapàla bạch với Đức Thế Tôn:

- Kính bạch Đức Thế Tôn, kính xin Đức Thế Tôn cho phép con được dạy Rồng chúa bớt tánh kiêu căng ngã mạn ấy.

Đức Phật không cho phép, rồi lần lượt Đại đức Bhaddiya, Đại đức Ràhula... vị nào cũng muốn trừng phạt Rồng chúa ấy, nhưng Đức Phật đều không cho phép, cuối cùng Đại đức Mahàmoggallàna bạch Đức Thế Tôn:

- Kính bạch Đức Thế Tôn, kính xin Đức Thế Tôn cho phép con được thu phục Rồng chúa Nandopa-nanda ấy.

Đức Phật chấp nhận cho phép Đại đức Mahà-monggallàna vận dùng thần thông biến hoá thành con Rồng có thân hình to lớn và dài hơn Rồng chúa Nandopananda, bao quanh thân hình Rồng chúa, chồng lên nhau 14 vòng, siết chặt lấy thân hình của nó, phồng mang lớn đè lên mang của nó, Đại đức Mahàmonggallàna càng siết vào, thân mình Rồng chúa càng đau đớn chịu không nổi.

Rồng chúa tức giận hoá ra luồng khí độc phun ra để làm hại Ngài Đại đức Mahàmonggallàna, nhưng không hại được Ngài, ngược lại Ngài Đại đức cũng hoá ra luồng khói mạnh hơn làm cho Rồng chúa vô cùng khó chịu.

Rồng chúa càng tức giận hoá ra luồng lửa phun ra để thiêu đốt Ngài, Ngài Đại đức cũng hoá ra luồng lửa mạnh hơn làm cho thân hình Rồng chúa nóng như thiêu như đốt.

Thế là một phần thân thể bị siết chặt, đau đớn, một phần thì bị khói và lửa thiêu đốt không sao chịu nổi được nữa.

Rồng chúa muốn biết vị Sa môn này là ai, bèn hỏi rằng:

- Ngươi là ai? Sao dám làm khổ ta đến như vậy?

Đại đức Mahàmoggalàna trả lời:

- Này Nandopananda, bần đạo là Mahàmoggalàna đây!

Rồng chúa yêu cầu Ngài Đại đức rằng: Bạch Đại đức, xin Ngài hiện trở lại hình tướng vị Tỳ khưu.

Đại đức Mahàmoggallàna biết mưu mô xảo quyệt của Rồng chúa muốn hại Ngài, cho nên Ngài vừa hiện ra, liền đi thẳng vào lỗ tai bên phải, đi sang lỗ tai bên trái, rồi từ lỗ tai bên trái đi sang lỗ tai bên phải của Rồng chúa. Rồng chúa đau đớn khó chịu, nhanh như chớp, Ngài lại đi vào từ lỗ mũi bên phải đi sang lỗ mũi bên trái, rồi từ lỗ mũi bên trái đi sang lỗ mũi bên phải của Rồng chúa.

Rồng chúa càng đau đớn, càng khó chịu gấp bội phần, dường như không còn chịu đựng được nữa, nó van xin Ngài Đại đức tha lỗi cho nó; nhưng thật tâm của nó chưa chịu khuất phục, đây chỉ là một mưu kế chờ có cơ hội là hại Ngài, ngay tức khắc. Ngài Đại đức biết rõ ác tâm của nó, cho nên Ngài vừa thoát ra khỏi lỗ mũi, khi Rồng chúa vừa mở miệng, Ngài lại nhanh như chớp đi thẳng vào miệng của Rồng chúa mà nó không hề hay biết, Ngài đi thẳng vào bụng của nó, mở đường đi kinh hành từ hướng Đông sang hướng Tây, rồi đi ngược lại, và từ hướng Nam sang hướng Bắc, rồi đi ngược lại làm cho Rồng chúa đau đớn và khó chịu vô cùng.

Đức Thế Tôn nhìn thấy như vậy, nhắc nhở Đại đức Mahàmoggallàna.

- Này Moggallànà, con nên thận trọng, Rồng chúa có nhiều phép mầu lợi hại và ác tâm, vậy con hãy cẩn thận kẻo nguy hiểm.

Đại đức Mahàmoggallàna bạch với Đức Thế Tôn:

- Kính bạch Đức Thế Tôn, con đã luyện Iddhipàla (tứ thần túc) đến chỗ thuần thục, vận dụng như ý. Còn ý nghĩ độc ác của Rồng chúa thì con biết rõ.

Kính bạch Đức Thế Tôn, xin Ngài đừng bận tâm lo cho con. Dầu có hàng trăm, hàng ngàn Rồng chúa như Nandopananda thì con cũng có khả năng thu phục được dễ dàng, huống hồ gì chỉ có một con. Bạch Ngài.

Rồng chúa Nandopananda nghĩ rằng: "Lúc đầu vị Sa môn này đi vào miệng mà ta chẳng hề hay biết, bây giờ ta chờ y ra, ta sẽ cắn răng, nhai nuốt y vào bụng mới hả cơn tức giận này".

Rồng chúa bạch Ngài Đại đức:

- Kính bạch Đại đức, tôi xin chịu khuất phục Ngài rồi, kính thỉnh Ngài từ bi ra ngoài, Ngài đi qua, đi lại trong bụng của tôi, làm cho tôi đau đớn khó chịu quá!

Ngay lúc ấy, Đại đức Màhàmoggallàna đi ra khỏi miệng, mà Rồng chúa Nandopannanda không hề hay biết gì cả. Ngài hiện ra đứng trước mặt, vừa nhìn thấy Ngài Đại đức Rồng chúa bằng giọng căm tức nói:

- Chính Sa môn này đây à!

Nhanh như chớp, từ hai lỗ mũi, Rồng chúa phun ra hai luồng khí độc như vũ bão cực kỳ nguy hiểm để giết hại Ngài Đại đức; ngay tức khắc, Ngài Đại đức liền nhập đệ tứ thiền hữu sắc, nên luồng khí độc của Rồng chúa không thể làm cho đầu sợi lông chân của Ngài lay động.

Thấy vậy, Rồng chúa Nandopananda vô cùng kinh ngạc, nghĩ rằng vị Sa môn này có thần thông thật là phi thường.

Lúc ấy, Đại đức Mahàmoggallàna hoá ra điểu vương Garuda, to lớn phát ra một luồng khói mạnh, phóng thẳng đến Rồng chúa, làm cho thân hình của nó quằn quại lảo đảo một cách khốn khổ. Rồng chúa tự biết mình không thể chịu đựng nổi oai lực của Ngài Đại đức nên đành chịu khuất phục trước uy lực và đức độ của Ngài.

Rồng chúa hoá ra một cậu bé chấp tay đảnh lễ Đại đức rồi bạch rằng:

- Kính bạch Ngài Đại đức, con đem hết lòng thành kính xin nương nhờ nơi Ngài, rồi y cúi đầu đảnh lễ dưới chân của Ngài Đại đức một cách thành kính bằng tâm phục thiện.

Như vậy, Đại đức Mahàmoggallàna đã thu phục được Rồng chúa Nandopananda cải ác tùng thiện, cải tà quy chánh, Ngài Đại đức bảo Rồng chúa rằng:

- Này Nandopananda, có Đức Thế Tôn đang ngự ở kia, con hãy đi theo thầy đến hầu đảnh lễ Ngài.

Rồng chúa Nandopananda ngoan ngoãn vâng lời thầy đi theo sau đến hầu đảnh lễ Đức Thế Tôn rồi bạch rằng:

- Kính bạch Đức Thế Tôn:

Con đem hết lòng thành kính xin qui y Phật.

Con đem hết lòng thành kính xin qui y Pháp.

Con đem hết lòng thành kính xin qui y Tăng.

Con đem hết lòng thành kính xin qui y Phật, lần thứ nhì.

Con đem hết lòng thành kính xin qui y Pháp, lần thứ nhì.

Con đem hết lòng thành kính xin qui y Tăng, lần thứ nhì.

Con đem hết lòng thành kính xin qui y Phật, lần thứ ba.

Con đem hết lòng thành kính xin qui y Pháp, lần thứ ba.

Con đem hết lòng thành kính xin qui y Tăng, lần thứ ba, kể từ nay cho đến trọn đời.

Đức Thế Tôn truyền dạy rằng: "Này Rồng chúa Nandopananda, cầu chúc cho con được sự an lạc lâu dài".

Rồng chúa Nandopananda có duyên lành đã quy y Tam bảo trở thành Rồng chúa có chánh kiến, có đức tin trong sạch nơi Tam bảo.

Sáng hôm ấy, công việc hoá độ Rồng chúa Nandopananda đã hoàn thành, Đức Phật cùng 500 vị Tỳ khưu Tăng vân hành trở lại kinh thành Sàvatthi ngự đến tư thất phú hộ Anàthapindika để thọ thực cũng vừa đúng ngọ.

Vị trưởng giả đại thí chủ hoan hỷ đón rước Đức Phật cùng chư Tỳ khưu Tăng xong bèn bạch với Đức Thế Tôn rằng:

- Kính bạch Đức Thế Tôn, do vì nhân duyên nào mà Đức Thế Tôn cùng chư Tỳ khưu Tăng ngự đến trễ như thế này?

- Này Anàthapindika, sáng nay Như Lai cùng chư Tỳ khưu Tăng trên đường đến Tam thập tam thiên, ngang qua cung điện của Rồng chúa Nandopananda, Như Lai đã cho phép Moggallàna dùng thần thông để thu phục Rồng chúa có tà kiến, nhiều thần thông ấy.

- Kính bạch Đức Thế Tôn kết quả như thế nào? Bạch Ngài?

- Này Anàthapindika, Moggallàna đã thu phục được Rồng chúa Nandopananda, nó đã cải ác tùng thiện, cải tà quy chánh, trở thành Rồng chúa có chánh kiến, có đức tin trong sạch và đã quy y Tam bảo.

Nghe vậy, vị đại phú hộ vô cùng hoan hỷ bạch với Đức Thế Tôn rằng:

- Kính bạch Đức Thế Tôn, thật là hạnh phúc biết dường nào! Vậy, con kính thỉnh Đức Phật cùng 500 vị Đại đức Tăng ngự đến thọ thực nhà con suốt 7 ngày, để mừng Ngài Đại đức Mahàmoggallàna đã thâu phục được Rồng chúa Nandopananda có đức tin quy y Tam bảo.



---o0o---
Trình bày:Nhị Tường


Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
27/03/2026(Xem: 1626)
Trong các kinh điển Phật giáo sơ kỳ—như Nikāya và Āgama—Đức Phật thường nhắc đến những loài động vật sinh sống trong rừng sâu, núi cao và sông ngòi của Ấn Độ cổ đại. Rất nhiều loài vật như voi, sư tử, hươu, rùa, ngựa, chim chóc và nhiều loài khác xuất hiện trong những lời dạy này; chúng không hiện diện như những sinh vật hung dữ hay đáng sợ, mà là những người bạn hiền trí, giúp chúng ta thấu hiểu cách sống với lòng từ bi, sự dũng cảm và tâm trí sáng suốt.
16/03/2026(Xem: 2309)
Theo tín ngưỡng cổ của người Miến Điện, mỗi cây lớn đều trú ngụ một vị thần gọi là Nat. Trước khi chặt cây, người đó phải xin phép thần cây. Một ngày nọ, một người tiều phu đã bỏ qua quy tắc này. Anh chặt một cây mà không hề báo trước. Thần linh Nāt sống trong cây cảm thấy vô cùng phẫn nộ và quyết định trả thù.
07/02/2026(Xem: 1417)
Xưa ở nước Xá Vệ, có một huyện nhân dân đều quy Tam bảo, phụng trì năm giới và thực hành mười thiện nghiệp của Phật dạy. Khắp huyện không bao giờ sát sanh, người uống rượu nấu rượu cũng không có. Trong huyện, có một người con dòng dõi, sắp đi buôn tha phương. Trước khi đi, cha mẹ cặn kẽ dặn rằng: “Con nên cố gắng siêng năng, giữ gìn 5 giới cấm, thực hành mười điều thiện và cẩn thận chớ uống rượu, phạm đến trọng giới của Phật”.
05/02/2026(Xem: 2375)
Tu hú Trung Quốc hay còn gọi là Táo Quyên (chữ Hán: 噪鹃[1], Danh pháp khoa học: Eudynamys scolopaceus chinensis) là một phân loài của loài tu hú châu Á (Eudynamys scolopaceus) phân bố ở miền nam Trung Quốc, bán đảo Đông Dương, ngoại trừ bán đảo Mã Lai[2] Chúng sinh sống ở Thái Lan, Lào, Campuchia, Việt Nam, đông nam Trung Quốc và một phần Malaysia. Ở Việt Nam, chim tu hú phân bố ở khắp các vùng đồng bằng và vùng trung du. Vào mùa đông, rất ít gặp loài này vì phần lớn chúng bay về phương nam để tránh rét[3], chúng còn được gọi đơn giản là chim tu hú hay tu hú và cũng còn được gọi là chim quyên hay đỗ quyên[1].
31/01/2026(Xem: 3602)
Dòng nghiệp tự xoay trong một kiếp sống, có những khoảnh khắc ta tuyệt vọng, có những thời điểm trong đời sống tu tập, mọi lời dạy về chuyển nghiệp đều trở nên xa xỉ bởi vì mất mát đã xảy ra , thân bịnh đã hiện, quan hệ đã đổ vỡ, hậu quả đã đứng trước mặt ——>NGHIÊP ĐANG TRỔ Trong khoảnh khắc ấy, điều nguy hiểm nhất không phải là khổ, mà là đối diện khổ với sự VÔ MINH , điều này sẽ làm duyên cho nghiệp tiếp tục sinh sôi, tâm thức lạc lối, có lời oán trách, tự kết tội mình, tuyệt vọng khi không thấy phép màu nào đảo ngược thực tại . Đây chính là Tầng Nghiệp Thứ Hai : NGHIỆP DO PHẢN KHÁNG QUẢ BÁO .
31/01/2026(Xem: 2529)
Từ đó cho đến nay đã nhiều lần đi và nhiều lần đến ở nhiều nơi trên quả địa cầu nầy, nhưng tôi vẫn thấy như mình còn cần phải học hỏi nhiều hơn nữa, mặc dầu nay ở tuổi cũng gần 80 rồi. Ngày Hòa THượng Thích Bảo Lạc đi xuất gia (1957) và tôi đã theo chân anh ruột của mình vào chùa (1964) để đầu sư học đạo. Mấy Bà Cụ trong làng khua với nhau rằng: “Nhà Ông Quyên (Thân phụ của chúng tôi) có đến 2 người con cho đi xuất dương”. Tôi nghe chẳng hiểu gì cả, vậy mà sau nầy cả Hòa Thượng Thích Bảo Lạc và tôi đều được xuất dương sang Nhật Bản du học trước năm 1975. Như thế những gì mình chưa mong đợi, nhưng sự việc vẫn đến với mình như thường. Đó là gì? Phải chăng đó là nhân duyên, là phước báu? Hay là gì gì nữa. Mỗi người trong chúng ta sẽ có cách trả lời riêng của từng người vậy.
19/01/2026(Xem: 4354)
Ông cháu chúng tôi được Quý Thầy ở Tổ Đình Pháp Hoa, Nam Úc chở ra phi trường Adelaide vào sáng sớm ngày 8.1.2026, và buổi chiều cùng ngày được Phật Tử Chúc Nguyên đón tại phi trường Sydney, đưa về Thiền Lâm Pháp Bảo, vùng Wallacia thuộc Sydney, nơi Hòa Thượng Thích Bảo Lạc đang tịnh tu. Chiều đó có TT Phổ Huân và Sư Cô TN Giác Anh từ Tổ Đình Pháp Bảo ghé qua thăm chúng tôi tại Thiền Lâm Pháp Bảo và bàn bạc chương trình trong những ngày chúng tôi còn lưu lại ở đây cho đến ngày 24.1.2026.
14/01/2026(Xem: 2393)
Khi 740 đứa trẻ bị kết án trôi ra biển và cả thế giới nói “không”, thì một người đàn ông đã nói “có”. Đó là năm 1942. Giữa Ấn Độ Dương, một con tàu lênh đênh như một chiếc quan tài nổi. Trên tàu là 740 đứa trẻ Ba Lan ,những đứa trẻ mồ côi sống sót từ các trại lao động của Liên Xô, nơi cha mẹ chúng đã chết vì đói, bệnh tật và kiệt sức. Chúng trốn thoát được sang Iran, nhưng cơn ác mộng chưa kết thúc: không một quốc gia nào muốn nhận chúng. Hết cảng này đến cảng khác dọc bờ biển Ấn Độ, Đế quốc Anh ,cường quốc lớn nhất thời đó ,đóng sập cửa trước mặt chúng. “Không phải trách nhiệm của chúng tôi. Hãy đi nơi khác.” Thức ăn cạn dần. Thuốc men không còn. Và hy vọng ,thứ duy nhất giúp những đứa trẻ sống sót đến lúc này ,cũng đang tắt dần.
03/11/2025(Xem: 2896)
Australia: Lá thư trong chai của người lính thời Thế chiến I viết gửi mẹ năm 1916 được tìm thấy trên bãi biển Wharton sau hơn 100 năm trôi dạt và bị cát chôn vùi. Gia đình bà Debra Brown hồi cuối tháng 10 nhặt rác trên bãi biển Wharton, gần Esperance ở bang Tây Australia thì phát hiện một chai thủy tinh còn nguyên vẹn, bên trong chứa lá thư được viết vội bằng bút chì của hai người lính từ thời Thế chiến I.
25/08/2025(Xem: 5338)
Tuổi thơ của tôi là một sự pha trộn giữa hồn nhiên đầy mộng mị với những thèm thuồng, khổ đau của một thằng bé sinh ra trong một gia đình nghèo và vào thời chinh chiến. Đó là một thằng bé nghịch ngợm, ham chơi, đa cảm, thường dễ khóc khi gặp phải chuyện buồn. Suốt quãng đời thơ ấu, tôi chưa bao giờ được hân hạnh bước qua ngưỡng cửa hoặc vào trong sân của một gia đình giàu có. T