9. Mong ước đầu Xuân

03/05/201311:17(Xem: 12249)
9. Mong ước đầu Xuân
Bằng Tất Cả Tấm Lòng


9. Mong Ước Đầu Xuân

Thích Chân Tính
Nguồn: Thích Chân Tính

Chỉ còn vài giờ đồng hồ nữa là bước qua năm Tân Mùi. Khắp nơi trong thành phố xe cộ và người qua lại tấp nập. Họ đang vội vã về nhà với những thứ bên mình như: Bánh mứt, trái cây, bông hoa... để chuẩn bị cho buổi lễ giao thừa sắp tới. Trước cửa nhà dọc theo phố chính, đèn hoa, chậu bông được trang hoàng với đủ loại màu sắc rực rỡ. Tiếng pháo đì đùng đã vang vọng đó đây. Không khí thật tươi vui nhộn nhịp.

Hòa cùng với niềm vui chung đó, tôi cũng đang trên đường về chùa với một cành mai vàng trên chiếc xe Honda. Đang miên man nghĩ đến giờ phút giao thừa tại chùa với quang cảnh Phật tử đi lễ Phật và hái lộc đầu năm, với những lời chúc tụng bên cạnh tách trà nóng thắm tình đạo vị, bỗng tôi bị cắt đứt dòng suy tưởng khi thấy xa xa phía trước xe có một bóng người đi ngược đường. Có một điều làm tôi chú ý là người ấy không đi đứng tự nhiên mà dường như là ngồi đi, khiến tôi nghi vấn không hiểu đây là người hay ma? Bởi vì suốt đoạn đường Tô Hiến Thành, từ ngã tư Lý Thường Kiệt đến ngã ba Nguyễn Tri Phương, không có ánh sáng đèn đường, mặc dù cột điện và bóng đèn đã có sẵn từ lâu. Tối nhất là khu đối diện doanh trại quân đội với Trường Đại học Bách Khoa. Do vậy ánh sáng đèn xe qua lại chập chờn, khi sáng khi mờ nên không thấy rõ là người hay ma. Nhưng tôi tin chắc không thể có ma xuất hiện giữa đường phố như vậy. Đây chỉ là người mà thôi. Tôi cố hướng ánh đèn xe của mình chiếu vào người ấy xem sao. Lúc này chiếc xe chỉ còn cách xa khoảng mười thước và tôi đã nhận ra đúng là người chứ không phải ma. Một người đàn ông đi bằng hai bàn tay của chính mình, vì hai chân đã bị cụt. Xe càng đến gần tôi càng nhận rõ gương mặt gầy xạm nắng của ông. Tuổi ông khoảng độ 50, mặc chiếc áo lính đã vá nhiều mảnh với chiếc quần đùi để lộ hai chân cụt ngủn phía trước, bên dưới mông có lót một miếng vỏ xe hơi. Trên vai ông đeo một chiếc túi đã cũ màu. Ông đi bằng cách chống hai tay xuống đất - dưới bàn tay có cột hai chiếc ghế con - rồi nhấc mình lên đằng trước. Cứ thế một thân một mình ông lê từng bước trên con đường đầy xe cộ qua lại, trước giờ phút vội vã của bao nhiêu người đang chuẩn bị đón mừng xuân mới. Tôi dừng xe bên cạnh ông, qua ánh đèn thấy mặt ông nhễ nhại những giọt mồ hôi. Tôi hỏi:

- Bác đi về đâu vậy?

Ngước nhìn tôi ông đáp:

- Tôi đi đến đầu đường Nguyễn Tri Phương.

Lúc ấy có chiếc xe xích lô chạy tới, tôi liền ngoắc lại. Mặc cả giá xong tôi trả tiền trước và nhờ anh xích lô đưa ông lên xe. Trong túi chỉ còn 2.000 đồng, tôi biếu ông luôn. Gương mặt ông rạng rỡ hẳn lên với lời cám ơn rất chân thành. Tôi muốn hỏi thăm và an ủi về cuộc đời bất hạnh của ông, nhưng vì trời đã tối, đường về chùa còn xa nên tôi đành phải tạm biệt ông.

Suốt chặng đường còn lại tôi không thiết nghĩ gì khác ngoài số phận của người tàn phế này. Chắc chắn khi sinh ra ông cũng đầy đủ chân tay như bao người khác. Và không khi nào ông nghĩ là cuộc đời mình sẽ bị cảnh tàn phế như vậy. Thế rồi vì chiến tranh, hay vì một lý do nào đó đã cướp đi một phần thân thể yêu quý của ông. Theo tôi đoán trong các lý do trên thì chiến tranh là phần đúng. Vì dấu tích nơi thân thể ông là một bằng chứng rõ rệt. Ai cũng công nhận và lên án chiến tranh là thảm họa và đau thương. Không một ai muốn cảnh tương tàn tương sát xảy ra giữa con người với nhau. Vậy mà tại vùng Vịnh ngày nay người ta lại đang tiến hành một cuộc chiến tranh khốc liệt. Ai đã gây nên cảnh máu đổ thịt rơi như thế? Ông trời hay con người? Rõ ràng chúng ta không thể đổ lỗi cho ông trời mà phải nhìn nhận một cách thực tế rằng chiến tranh là do con người gây ra. Mà tham, sân, si là đầu mối của bao tai họa trên quả đất này. Khi nào tham, sân, si còn khống chế sai sử con người thì cuộc đời này sẽ không bao giờ có hòa bình vĩnh cửu.

Tiếng pháo đã vang rền khắp nơi. Năm cũ đang đi qua và năm mới sắp đến. Trong khi chúng ta hân hoan đón mừng Xuân mới thì đó đây trên quả địa cầu này chiến tranh vẫn tiếp tục gieo rắc đau thương và cướp đi một phần thân thể của biết bao con người. Chúng ta hãy chắp tay cầu nguyện cho thế giới hòa bình, cho người người thương yêu nhau, cho tình thương xóa sạch hận thù. Để những mùa Xuân mới sẽ không còn thêm những người lê tấm thân tàn phế vì chiến tranh trên khắp nẻo đường quê hương đất nước.
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
07/02/2026(Xem: 634)
Xưa ở nước Xá Vệ, có một huyện nhân dân đều quy Tam bảo, phụng trì năm giới và thực hành mười thiện nghiệp của Phật dạy. Khắp huyện không bao giờ sát sanh, người uống rượu nấu rượu cũng không có. Trong huyện, có một người con dòng dõi, sắp đi buôn tha phương. Trước khi đi, cha mẹ cặn kẽ dặn rằng: “Con nên cố gắng siêng năng, giữ gìn 5 giới cấm, thực hành mười điều thiện và cẩn thận chớ uống rượu, phạm đến trọng giới của Phật”.
05/02/2026(Xem: 849)
Tu hú Trung Quốc hay còn gọi là Táo Quyên (chữ Hán: 噪鹃[1], Danh pháp khoa học: Eudynamys scolopaceus chinensis) là một phân loài của loài tu hú châu Á (Eudynamys scolopaceus) phân bố ở miền nam Trung Quốc, bán đảo Đông Dương, ngoại trừ bán đảo Mã Lai[2] Chúng sinh sống ở Thái Lan, Lào, Campuchia, Việt Nam, đông nam Trung Quốc và một phần Malaysia. Ở Việt Nam, chim tu hú phân bố ở khắp các vùng đồng bằng và vùng trung du. Vào mùa đông, rất ít gặp loài này vì phần lớn chúng bay về phương nam để tránh rét[3], chúng còn được gọi đơn giản là chim tu hú hay tu hú và cũng còn được gọi là chim quyên hay đỗ quyên[1].
31/01/2026(Xem: 1999)
Dòng nghiệp tự xoay trong một kiếp sống, có những khoảnh khắc ta tuyệt vọng, có những thời điểm trong đời sống tu tập, mọi lời dạy về chuyển nghiệp đều trở nên xa xỉ bởi vì mất mát đã xảy ra , thân bịnh đã hiện, quan hệ đã đổ vỡ, hậu quả đã đứng trước mặt ——>NGHIÊP ĐANG TRỔ Trong khoảnh khắc ấy, điều nguy hiểm nhất không phải là khổ, mà là đối diện khổ với sự VÔ MINH , điều này sẽ làm duyên cho nghiệp tiếp tục sinh sôi, tâm thức lạc lối, có lời oán trách, tự kết tội mình, tuyệt vọng khi không thấy phép màu nào đảo ngược thực tại . Đây chính là Tầng Nghiệp Thứ Hai : NGHIỆP DO PHẢN KHÁNG QUẢ BÁO .
31/01/2026(Xem: 1324)
Từ đó cho đến nay đã nhiều lần đi và nhiều lần đến ở nhiều nơi trên quả địa cầu nầy, nhưng tôi vẫn thấy như mình còn cần phải học hỏi nhiều hơn nữa, mặc dầu nay ở tuổi cũng gần 80 rồi. Ngày Hòa THượng Thích Bảo Lạc đi xuất gia (1957) và tôi đã theo chân anh ruột của mình vào chùa (1964) để đầu sư học đạo. Mấy Bà Cụ trong làng khua với nhau rằng: “Nhà Ông Quyên (Thân phụ của chúng tôi) có đến 2 người con cho đi xuất dương”. Tôi nghe chẳng hiểu gì cả, vậy mà sau nầy cả Hòa Thượng Thích Bảo Lạc và tôi đều được xuất dương sang Nhật Bản du học trước năm 1975. Như thế những gì mình chưa mong đợi, nhưng sự việc vẫn đến với mình như thường. Đó là gì? Phải chăng đó là nhân duyên, là phước báu? Hay là gì gì nữa. Mỗi người trong chúng ta sẽ có cách trả lời riêng của từng người vậy.
19/01/2026(Xem: 1687)
Ông cháu chúng tôi được Quý Thầy ở Tổ Đình Pháp Hoa, Nam Úc chở ra phi trường Adelaide vào sáng sớm ngày 8.1.2026, và buổi chiều cùng ngày được Phật Tử Chúc Nguyên đón tại phi trường Sydney, đưa về Thiền Lâm Pháp Bảo, vùng Wallacia thuộc Sydney, nơi Hòa Thượng Thích Bảo Lạc đang tịnh tu. Chiều đó có TT Phổ Huân và Sư Cô TN Giác Anh từ Tổ Đình Pháp Bảo ghé qua thăm chúng tôi tại Thiền Lâm Pháp Bảo và bàn bạc chương trình trong những ngày chúng tôi còn lưu lại ở đây cho đến ngày 24.1.2026.
14/01/2026(Xem: 1235)
Khi 740 đứa trẻ bị kết án trôi ra biển và cả thế giới nói “không”, thì một người đàn ông đã nói “có”. Đó là năm 1942. Giữa Ấn Độ Dương, một con tàu lênh đênh như một chiếc quan tài nổi. Trên tàu là 740 đứa trẻ Ba Lan ,những đứa trẻ mồ côi sống sót từ các trại lao động của Liên Xô, nơi cha mẹ chúng đã chết vì đói, bệnh tật và kiệt sức. Chúng trốn thoát được sang Iran, nhưng cơn ác mộng chưa kết thúc: không một quốc gia nào muốn nhận chúng. Hết cảng này đến cảng khác dọc bờ biển Ấn Độ, Đế quốc Anh ,cường quốc lớn nhất thời đó ,đóng sập cửa trước mặt chúng. “Không phải trách nhiệm của chúng tôi. Hãy đi nơi khác.” Thức ăn cạn dần. Thuốc men không còn. Và hy vọng ,thứ duy nhất giúp những đứa trẻ sống sót đến lúc này ,cũng đang tắt dần.
03/11/2025(Xem: 1843)
Australia: Lá thư trong chai của người lính thời Thế chiến I viết gửi mẹ năm 1916 được tìm thấy trên bãi biển Wharton sau hơn 100 năm trôi dạt và bị cát chôn vùi. Gia đình bà Debra Brown hồi cuối tháng 10 nhặt rác trên bãi biển Wharton, gần Esperance ở bang Tây Australia thì phát hiện một chai thủy tinh còn nguyên vẹn, bên trong chứa lá thư được viết vội bằng bút chì của hai người lính từ thời Thế chiến I.
25/08/2025(Xem: 3432)
Tuổi thơ của tôi là một sự pha trộn giữa hồn nhiên đầy mộng mị với những thèm thuồng, khổ đau của một thằng bé sinh ra trong một gia đình nghèo và vào thời chinh chiến. Đó là một thằng bé nghịch ngợm, ham chơi, đa cảm, thường dễ khóc khi gặp phải chuyện buồn. Suốt quãng đời thơ ấu, tôi chưa bao giờ được hân hạnh bước qua ngưỡng cửa hoặc vào trong sân của một gia đình giàu có. T
21/08/2025(Xem: 4658)
Anatha-pindika, một vị thủ quỹ giàu có, đã đến Đại Tự viện Jetavana để thăm Đức Thế Tôn. Ông mang theo năm trăm người bạn của mình, những đệ tử của các trường phái triết học khác. Sau khi bày tỏ lòng kính trọng và dâng cúng, ông cùng bạn bè ngồi nghe bài pháp của Đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn, với giọng nói mạnh mẽ như tiếng sư tử gầm và dịu dàng như chuỗi ngọc quý, đã thuyết giảng một bài pháp ngọt ngào và đẹp đẽ về Chân lý. Năm trăm đệ tử ấy cảm động đến mức họ từ bỏ niềm tin ngoại giáo, và bắt đầu quy y Tam Bảo: Phật, Pháp và Tăng. Từ đó, họ thường xuyên cùng Anatha-pindika đến chùa để nghe giáo pháp của Đức Phật.
11/08/2025(Xem: 4362)
Vô Bích động âm u mờ mịt, nó chẳng thuộc trời chẳng thuộc đất, nó không có tháng năm kiếp số thì nói chi đến thời khắc hay ngày giờ. Nó vốn là lãnh địa của lão Hades từ thuở hồng hoang đến giờ. Lão thường ngồi trên ngai bạch cốt, lúc nào cũng lim dim nhấm nháp ly hắc huyết hoàn tửu, đây là thức uống khoái khẩu của lão ta. Cái ly của y cũng rất đặc biệt, vốn chế tác từ thiên linh cái của bọn người ở nhân gian. Hắc huyết hoàn tửu là thứ mỹ tửu cực độc chỉ riêng Vô Bích động mới chế được. Mỗi khi Hades muốn gọi ai về chầu thì lão nhón ngón út chấm một giọt nhỏ lên sinh mệnh ai là người ấy lập tức vâng mệnh, xưa nay chưa có ai cưỡng được mệnh gọi chầu, dù đó là người cực thông minh hay quyền uy lớn nhất thế gian. Người đã như thế thì quỷ thần, phi nhân, súc sanh không cần phải nói nữa. Ngay cả những vị trời cũng chẳng thoát khỏi, dù đại phạm thiên thọ mạng tám vạn đại kiếp nhưng khi có mệnh thì hoa trên mão héo, thân thể tiết mùi hôi, thân quyến lìa xa... đó là dấu hiệu cho biết sắp đọa. S