Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   
Bài mới nhất

314. Vua, Thiền Sư Trần Thái Tông (1216-1277), Người thiết lập nền tảng cho Thiền Phái Trúc Lâm Yên Tử 🙏🌷🙏🌼🙏🌺🙏

23/11/202111:33(Xem: 642)
314. Vua, Thiền Sư Trần Thái Tông (1216-1277), Người thiết lập nền tảng cho Thiền Phái Trúc Lâm Yên Tử 🙏🌷🙏🌼🙏🌺🙏

thich nguyen tang (2)thich nguyen tang (3)thich nguyen tang (4)



314. Vua, Thiền Sư Trần Thái Tông (1216-1277)

Người thiết lập nền tảng cho Thiền Phái Trúc Lâm Yên Tử

🙏🌷🙏🌼🙏🌺🙏🌹🌺🍀💐🌼🌹🥀🌷🌸🏵️🌻🌺🍀💐🌼🌹🥀🌷🌸🏵️

Thuyết giảng: TT Thích Nguyên Tạng
Bài trình pháp: Cư Sĩ Quảng Tịnh Tâm & Cư Sĩ Huệ Hương
Diễn đọc: Cư Sĩ Diệu Danh ; Lồng nhạc: Cư Sĩ Quảng Phước-Quảng Tịnh
 





Nam Mô A Di Đà Phật


Kính bạch Sư Phụ, hôm nay Thứ Ba 23/11/2021 (19/10/Tân Sửu), chúng con được học về Trần Thái Tông (1218 - 1277), một vịVua khai sáng triều đại nhà Trần, cũng là một Thiền Sư Việt Nam, người có công thiết lập nền tảng vững chắc cho Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử, một dòng thiền nguyên chất của người Việt Nam. Sư phụ dựa theo tài liệu gốc Thiền Sư Việt Nam do HT Thích Thanh Từ biên soạn và ấn hành tại VN vào năm 1972. Pháp thoại hôm nay là bài giảng thứ 314 của Sư Phụ bắt đầu từ mùa cách ly do bệnh đại dịch covid 19 (đầu tháng 5-2020).


Trần Thái Tông tên Trần Cảnh, con thứ của Trần Thừa, sanh năm Mậu Dần niên hiệu Kiến Gia thứ tám (1218) triều Lý. Gia thế ở hương Tức Mặc, phủ Thiên Trường (nay là xã Tức Mặc huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định); ông cha làm nghề đánh cá. Nhờ có công dẹp loạn, họ Trần dần dần có thế lực từ đời Lý Cao Tông. Trần Cảnh mới có tám tuổi được Lý Chiêu Hoàng nhận làm chồng và truyền ngôi cho, lấy hiệu là Thái Tông.

Sư Phụ giải thích:
- Triều đại nhà Lý chấm dứt sau 216 năm, do Lý Chiêu Hoàng nhường ngôi cho chồng là Trần Cảnh.
Trần Cảnh lên ngôi lấy hiệu là Trần Thái Tông.
Triều đại nhà Trần kéo dài được 175 năm (1225-1400), có 12 vua trị vì.
- Vua, cũng là Thiền Sư Trần Thái Tông, người có công thiết lập nền tảng vững chắc cho thiền phái Trúc Lâm Yên Tử. Trần Thái Tông là đệ tử của Quốc Sư Đạo Viên.Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử hoàn toàn độc lập của người Việt Nam.
- Dòng thiền Trúc Lâm Yên Tử chỉ biết đến các vị lúc đầu: thiền sư Trần Thái Tông, Tuệ Trung Thượng Sĩ, Điều ngự giác hoàng Trần Nhân Tông là sơ tổ khai sáng dòng thiền Trúc Lâm Yên Tử, nhị tổ là Đại Sư Pháp Loa, Tam tổ là Đại Sư Huyền Quang, những vị truyền thừa sau đó không thấy có tài liệu truyền thừa, có thể do chiến tranh, hỏa hoạn nên sử liệu nay không còn nữa.
Cuối thế kỷ 20, chúng ta may mắn có Thiền Sư Thanh Từ tìm ra cội nguồn và nỗ lực phục hưng lại truyền thống của thiền phái này. HT Thanh Từ đã đặt danh hiệu Trúc Lâm cho tất cả những ngôi thiền viện của Ngài khai sơn để từ nay đến mãi về sau thiền phái này được duy trì và không còn bị mai một nữa. Trúc Lâm vừa là rừng trúc ở trên núi Yên Tử nơi Sơ Tổ Điều Ngự Giác Hoàng tu tập và Trúc Lâm cũng là ngôi Tịnh xá đầu tiên của Đức Thế Tôn và Tăng Đoàn tại thành Vương Xá, nước Ma Kiệt Đà do Vua Tần Bà Sa La cúng dường vào mùa An Cư năm thứ hai sau khi Phật thành Đạo.

Năm Thái Tông lên hai mươi tuổi, Lý Chiêu Hoàng mười chín tuổi đang là Hoàng hậu, bị Trần Thủ Độ ép Thái Tông giáng Chiêu Hoàng làm Công chúa, lấy Thuận Thiên là vợ Trần Liễu (anh ruột Thái Tông) làm Hoàng hậu. Lý do, vì Thủ Độ nôn nóng Thái Tông có con để kế thừa, mà Chiêu Hoàng chậm con, Thuận Thiên đang mang thai. Trần Liễu phẫn uất nổi loạn tháng giêng năm Bính Thân (1236).

Do nhiều nỗi khổ và lòng ray rứt bất an, lúc mười giờ đêm ngày mồng ba tháng tư năm 1236, vua Thái Tông bỏ ngai vàng, trốn lên núi Yên Tử đi tu. Vua đem theo một số tùy tùng, nói đi để nghe dư luận dân gian, biết rõ sự thật cho dễ bề trị nước. Sang sông, đoàn người đi về phía đông. Bây giờ Vua mới nói rõ ý định đi tu với các người tùy tùng và bảo họ trở về. Mọi người đều ngạc nhiên và khóc lóc. Vào khoảng sáu giờ sáng hôm sau Vua đến bến đò Đại Than ở núi Phả Lại. Trời sáng, sợ người nhận ra, Vua lấy vạt áo che mặt mà qua đò, rồi theo đường tắt lên núi. Đến tối, Vua vào nghỉ trong chùa Giác Hạnh, đợi sáng lại đi. Khó khăn trèo núi hiểm, lội suối sâu, con ngựa đã yếu không thể lên núi được nữa, Vua phải bỏ ngựa vịn vào các tảng đá mà đi. Khoảng hai giờ trưa mới đến chân núi Yên Tử. Sáng hôm sau, Vua lên thẳng đỉnh núi và vào tham kiến Thiền sư Trúc Lâm (Thiền sư Đạo Viên).

Sư Phụ giải thích:
- Vua Trần Thái Tông đã đau đớn và không thể chịu đựng nỗi trước âm mưu táng tận lương tâm của Thái Sư Trần Thủ Độ ép ngài phải lấy người chị dâu là vợ của anh ruột là Trần Liễu, nên Ngài bỏ ngai vàng và trốn trên núi Yên Tử để tu hành, tại đâu ngài được diện kiến Thiền sư Đạo Viên, thuộc thiền phái Vô Ngôn Thông.

“Thấy Trẫm, Quốc sư mừng rỡ. Người ung dung bảo Trẫm: Lão tăng ở chốn sơn dã đã lâu, xương cứng mặt gầy, ăn rau răm, nhai hạt dẻ, uống nước suối, vui cảnh núi rừng đã quen, lòng nhẹ như đám mây nổi, cho nên mới theo gió mà đến đây. Nay Bệ hạ bỏ địa vị nhân chủ mà nghĩ đến cảnh quê mùa rừng núi, hẳn là muốn tìm cầu gì ở đây cho nên mới đến, phải không? Trẫm nghe lời thầy hỏi, hai hàng nước mắt ứa ra, liền thưa với thầy rằng: Trẫm còn thơ ấu, đã sớm mất mẹ cha, trơ vơ đứng trên sĩ dân, không có nơi nào để nương tựa. Lại nghĩ rằng sự nghiệp đế vương đời trước hưng phế bất thường, cho nên mới vào đây, chỉ muốn cầu thành Phật, chớ chẳng muốn tìm gì khác. Thầy đáp: Trong núi vốn không có Phật, Phật ở trong tâm ta. Nếu tâm lắng lặng trí tuệ xuất hiện, đó chính là Phật. Nếu Bệ hạ giác ngộ được tâm ấy thì tức khắc thành Phật ngay tại chỗ, không cần đi tìm cực khổ ở bên ngoài.” (Bài tựa sách Thiền Tông Chỉ Nam)

Sư Phụ giải thích:

- Lời tự thuật của vua Trần Thái Tông lên núi gặp được thiền sư Đạo Viên và được thiền sư Đạo Viên khai thị “ trong núi vốn không có Phật, Phật ở trong tâm ta. Nếu tâm lắng lặng trí tuệ xuất hiện, đó chính là Phật. Nếu Bệ hạ giác ngộ được tâm ấy thì Phật hiện tiền, không cần đi tìm bên ngoài.”


Hôm sau, Trần Thủ Độ đem các quan lên núi Yên Tử đón Vua về kinh. Bài tựa Thiền Tông Chỉ Nam, Thái Tông viết:
“Thấy Trẫm, Trần Công thống thiết nói: Tôi chịu lời ủy thác của Tiên quân, phụng sự nhà vua trong việc làm chủ thần dân. Nhân dân đang mong đợi Bệ hạ như con đỏ trông đợi cha mẹ. Huống chi ngày nay các vị cố lão trong triều đều là họ hàng thân thích, sĩ thứ trong nước ai nấy đều vui vẻ phục tùng, đến đứa trẻ lên bảy cũng biết nhà vua là cha mẹ dân. Vả lại Thái Tổ vừa mới bỏ tôi mà đi, hòn đất trên nấm mồ chưa ráo, lời dặn dò bên tai còn văng vẳng, thế mà Bệ hạ đã lánh vào chốn núi rừng ẩn cư để cầu thỏa lấy ý chí riêng của mình. Tôi dám nói rằng Bệ hạ vì sự tự tu cho riêng mình mà làm vậy thì được, nhưng còn quốc gia xã tắc thì sao? Nếu để lời khen suông cho đời sau thì sao bằng lấy ngay thân mình làm người dẫn đạo cho thiên hạ? Bệ hạ nếu không nghĩ lại, quần thần chúng tôi cùng thiên hạ sẽ xin cùng chết cả trong ngày hôm nay, quyết không trở về.

Sư Phụ giải thích:
- Lời tự thuật của vua Trần Thái Tông về lời của Thái Sư Trần Thủ Độ rất thống thiết hết lời muốn nhà Vua trở về triều đình.

Trẫm nghe Thái sư và các quần thần bô lão đều không chịu bỏ Trẫm, cho nên mới đem lời Thái sư mà bạch lại với Quốc sư, Quốc sư cầm tay Trẫm mà nói: Phàm làm đấng nhân quân, thì phải lấy ý muốn của thiên hạ làm ý muốn của mình, và tâm thiên hạ làm tâm của mình. Nay thiên hạ muốn đón Bệ hạ về, Bệ hạ không về sao được? Tuy nhiên sự nghiên cứu nội điển xin Bệ hạ đừng phút nào quên.
Bởi vậy Trẫm với mọi người trong triều mới trở về kinh, miễn cưỡng mà lên lại ngôi báu. Ròng rã trong mười năm trời, mỗi khi có cơ hội việc nước nhàn rỗi, Trẫm lại tụ họp các bậc kỳ đức để học hỏi đạo thiền. Các kinh điển của các hệ thống giáo lý chánh, không kinh nào là Trẫm không nghiên cứu. Trẫm thường đọc kinh Kim Cang, một hôm đọc đến câu ‘Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm’, buông kinh xuống chiêm nghiệm, bỗng hoát nhiên tự ngộ...”

Sư Phụ giải thích:
- Lời của Quốc Sư Đạo Viên khuyên vua Trần Thái Tông nên trở về cung điện làm tròn sứ mạng lo cho dân, nhưng đừng phút nào quên sự nghiên cứu kinh điển. Ròng rã suốt mười năm, nhà vua đều nhân cơ hội lúc nhàn rỗi, đều học hỏi đạo thiền, đọc kinh Kim Cang và tự ngộ khi đọc đến câu “Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm “.

Thái Tông là ông vua chăm học, trong bài tựa kinh Kim Cang Tam-muội ông viết:
“Trẫm lo việc chăn dân, mỗi lúc gian nan thường lăn lóc trong công việc, quên cả sớm chiều. Công việc thì có hàng vạn thứ mà thì giờ nhàn rỗi không có được bao lăm. Siêng công việc, tiếc ngày giờ, Trẫm cố học hành thêm. Chữ nghĩa thì chưa biết được bao lăm, cho nên ban đêm đến giờ khuya vẫn còn phải thức để đọc sách; học sách Nho rồi còn học kinh Phật.”

Thái Tông quả là ông vua cần mẫn hiếu học, không buông mình theo dục lạc.
Chẳng những thế, Thái Tông lại là ông vua anh hùng. Năm 1257 giặc Mông Cổ xâm lăng đất nước, Thái Tông đích thân tham gia chỉ huy nhiều trận, có mặt ở cả mọi nơi nguy hiểm, khiến quân sĩ đều nức lòng chiến đấu. Kết quả quân ta đã đánh tan quân xâm lược, giặc Mông Cổ tháo thân chạy về Vân Nam vào đầu năm 1258. Đây là ông vua vừa đạo đức vừa anh hùng, làm sáng rỡ những trang sử oai hùng của dân tộc Việt Nam.

Sau cuộc chiến, đất nước thái bình, Trần Thái Tông nhường ngôi cho con năm 1258 lên làm Thái thượng hoàng. Từ đây Thái Tông vừa làm cố vấn cho con, vừa lo nghiên cứu tu thiền. Đến lúc vua Trần Thánh Tông đủ sức đảm đương việc nước, ông lui về lập am Thái Vi ở vùng rừng núi Vĩ Lâm cố đô Hoa Lư để an dân lập ấp và tu hành.

Sư Phụ giải thích:
- Năm 1257, giặc Mông Cổ xâm lăng, nhờ Thái Sư Trần Thủ Độ có thời gian qua nước Mông cổ nên biết rõ người Mông Cổ nên giúp vua Trần Thái Tông đánh tan quân Mông Cổ.


Thái Tông cũng là nhà văn, đời Ngài viết khá nhiều tác phẩm, hiện nay còn thấy trong tập Khóa Hư Lục.
Thái Tông là một Thiền sư có tầm cỡ. Đầu tiên Ngài đã ngộ câu “Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm” trong kinh Kim Cang. Sau Ngài còn tập họp các bậc kỳ đức để tham vấn thiền. Những năm làm Thái thượng hoàng, Ngài có thì giờ nghiên tầm thấu suốt, cho nên có người tham vấn, liền đáp một cách tự tại. Nghe danh Ngài, vị tăng Đức Thành người Tống đến hỏi:
- Đức Thế Tôn chưa rời Đâu-suất đã giáng vương cung, chưa ra khỏi thai mẹ độ hết chúng sanh là thế nào?
Ngài đáp:
- Ngàn sông có nước, ngàn sông nguyệt,
Muôn dặm không mây muôn dặm trời.
(Thiên giang hữu thủy thiên giang nguyệt,
Vạn lý vô vân vạn lý thiên.)

Sư Phụ giải thích:

Đây là 1 câu hỏi khó, người hỏi muốn biết ý nghĩa “Đức Thế Tôn chưa rời Đâu-suất mà đã có mặt tại vương cung Ca Tỳ La Vệ, Đức Thế Tôn chưa ra khỏi thai mẹ mà ngài đã độ hết chúng sanh” là như thế nào? Vua Thiền Sư Trần Thái Tông trả lời câu thơ ngắn gọn nhưng độc đáo rằng:

“Ngàn sông có nước, ngàn trăng hiện
Muôn dặm không mây muôn dăm trời”

Ý của Vua muốn nói rằng trong mỗi chúng sanh đã có sẳn Phật tánh rồi, nên Đức Thế Tôn có đến Ấn Độ hay không, có độ chúng sanh hay không, không còn là vấn đề nữa, vấn đề ở đây là mọi người phải nhận ra chân tâm Phật tánh của riêng mình, và tất nhiên, dù đã có sẵn rồi, nhưng tự thân hành giả đó phải tu, không để “sóng phiền não” nổi lên thì “trăng Phật tánh” sẽ hiện rõ trên dòng sông, nên nói “ngàn sông có nước, ngàn trăng hiện” và muôn dặm đường tu tiến đến đích giác ngộ của mình phải vén sạch hết “mây mù vô minh” thì sẽ thấy được “mặt trời Phật tánh”, nên mới nói “ muôn dặm không mây, muôn dặm trời” là vậy



Tăng khác hỏi:

- Được trên phần của học nhân có tu chứng chăng? Ngài đáp:
- Nước chảy xuống non nào có ý,
Mây ra khỏi núi vốn không tâm.
(Lưu thủy hạ sơn phi hữu ý,
Bạch vân xuất tụ bản vô tâm.)


Sư Phụ giải thích:
Đây cũng là một câu hỏi khó dành cho Vua Trần Thái Tông, vị này muốn biết “đã thấy chân tâm của mình rồi thì có tu chứng gì không ?”. Vua đáp: người thấy chân tâm, nhận ra Phật tánh là người thong dong tự tại trong mọi hành xứ, không vô tướng, vô tánh, không bị kẹt, bị mắc, bị dính ở đâu cả, giống như nước chảy từ trên núi cao xuống, giống như mây bay ra khỏi ngọn núi một cách tự nhiên, nhẹ nhàng mà không cần phải khởi nghĩ tưởng có chảy hay có bay hay không.


Đến niên hiệu Bảo Phù thứ năm (1277), Ngài tịch, thọ sáu mươi tuổi. Ngài viết những tác phẩm:
1) Thiền Tông Chỉ Nam
2) Kim Cang Tam-muội Kinh chú giải
3) Lục Thời Sám Hối Khoa Nghi
4) Bình Đẳng Lễ Sám Văn
5) Khóa Hư Lục
6) Thi Tập


Tác phẩm của vua chỉ còn lại:
1- Bình Đẳng Lễ Sám Văn
2-Lục Thổi Sám Hối Khoa Nghi
3-Khoá Hư Lục


Cuối bài giảng, Sư Phụ diễn ngâm bài thơ tán thán công hạnh của vịHoàng đế và là Thiền Sư Trần Thái Tông:

Minh vương uy đức rạng nam thiên
Trị quốc an dân, thấu tỏ thiền
Trực ngộ Kim Cang không chỗ trụ
Thường hay Tổ ấn có cơ truyền
Nghiên tầm bối diệp soi chân thể
Thấu tỏ kinh văn xiễn diệu nguyên
Thiền mạch châu lưu an xã tắc
Văn chương thi tứ rạng tâm nguyền
Tâm nguyền trải khắp lợi nhân gian
Đại Việt uy hùng đuổi ngoại bang
Bốn biển thanh bình hưng đạo pháp
Ba miền thịnh vượng rạng ân quang
Thăng Long vạn kiếp lưu hào khí
Yên Tử ngàn năm tỏa đạo vàng
Năm tháng an lành hoa tuệ nở
Thái Tông đức hoá sáng trời Nam.

Kính bạch Sư Phụ, hôm nay chúng con được Sư Phụ ban giảng về vua Trần Thái Tông, một vị Vua Thiền Sư. Ngài là vị Vua lên ngôi lúc giao thời giữa triều đại nhà Lý và khởi đầu cho triều đại nhà Trần. Nghịch cảnh là cơ duyên giúp Vua gặp thiền sư Đạo Viên khai thị nên tìm Phật tại tâm và nhà Vua đã đạt tự tại đến đi như : “Nước chảy xuống non nào có ý. Mây ra khỏi núi vốn không tâm”.

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật

Cung kính và tri ơn Sư Phụ,
Đệ tử Quảng Tịnh Tâm
(Montréal, Canada).


314_TT Thich Nguyen Tang_Vua Thien Su Tran Thai Tong

Vua, Thiền Sư Trần Thái Tông (1216-1277)
 Người thiết lập nền tảng cho Thiền Phái Trúc Lâm Yên Tử



Con kính dâng Thầy bài trình pháp về một vị ,Thiền Sư Vua Trần Thái Tông đã được Thầy giảng hôm nay ( bài pháp thoại 314 ) . Kính bạch Thầy tuy bài pháp được tóm tắt chỉ trong 1 giờ 20 phút nhưng đầy đủ chứa đựng một thiên tình sử bi tráng của vua Trần Thái Tông để rồi nhờ ảnh hưởng Phật Giáo đã chuyển hoá tâm linh và trở thành một Thiền Sư giác ngộ và giải thoát như Lục Tổ Huệ Năng nhờ Kinh Kim Cang Bát Nhã và đã mở ra kỷ nguyên mới cho triều đại nhà Trần

Kính bạch Thầy, tuy học lịch sử về đời nhà Trần từ tiểu học đến trung học vây mà đến hôm nay "công vi thủ, tội vi khôi" của Ngài Trần Thủ Độ mới được Thầy chỉ dẫn tỏ tường và trong đó là tình và lý đã đè nặng trên vai con người này . Có mấy ai nếu được ở vào vị trí Ngài có thể tạo nên một triều đại hiển hách như nhà Trần ? Kính đa tạ và tri ân những chi tiết lịch sử thật sâu sắc và súc tích quá trong bài pháp thoại đã giúp con có một nhận định trên tinh thần khách quan hơn về mọi việc và phải nói rằng dù lịch sử có ghi lại nhưng hậu thế vẫn không thể nào đánh giá thực sự bất cứ một sự kiện nào nếu không nằm bắt gia phả của dòng họ nối tiếp những thế hệ truyền thừa ...Kính đảnh lễ Thầy và Kính chúc sức khỏe Thầy HH

Có được nghe bài pháp thoại thứ 314 hôm nay do Giảng Sư TT. Thích Nguyên Tạng trình bày về "Công Vi Thủ, Tội vi Khôi" của Ngài Trần Thủ Độ , Người trình pháp đã có một nhận xét mới về vị vua , vị Thiền Sư Trần Thái Tông mà trước đó các sử gia và người đời vẫn còn chê trách việc năm hai mươi tuổi, Trần Thái Tông buộc vào thế phải phế Chiêu Hoàng – vị vua nữ cuối cùng của triều nhà Lý nhường ngôi cho ông, xuống làm công chúa, lấy vợ của anh trai Trần Liễu là Thuận Thiên vì dòng dõi kế nghiệp. Và cho rằng ông đã đặt tiền đề cho các hành vi trái “tam cương ngũ thường” của vua tôi triều Trần .


Nhưng rồi dần với thời gian sự gán tội ấy cũng đã dần nhìn nhận một cách khách quan hơn sau khi Vua Trần Thái Tông gặp được Quốc Sư Trúc Lâm trên núi Yên Tử và cho rằng khi ấy Trần Thái Tông hãy còn thơ ấu, mà Thủ Độ là người rất ngoan cố. Phàm việc gì cũng do hắn chỉ sử, Trần Thái Tông không theo cũng không được.

Đến bây giờ có lẽ hậu bối đời sau chỉ biết " Nhà Trần là vương triều phát triển rực rỡ trong lịch sử phong kiến Việt Nam và là một trong những giai đoạn Đạo Phật hòa nhập sâu rộng vào lòng dân tộc," Phật giáo đã góp phần tạo dựng những nền móng tư tưởng tốt đẹp cho xã hội đời Trần. Một xã hội được giáo dục bằng giáo lý Ngũ giới và Thập thiện, mà các vua Trần xem là khuôn mẫu, là chuẩn mực đạo đức bấy giờ. Phật giáo thời Trần đã góp phần cải tạo gia đình và xã hội, đem lại an vui hạnh phúc cho mọi người, hướng đến đời sống chân, thiện, mỹ.


Trở về nền tảng của Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử mà mãi đến thế kỷ thứ 20, HT Thích Thanh Từ đã khởi phát lại sau Thiền sư Hương Hải có 23 Vị mà trong đó mười lăm đời còn lại là kể từ khi Huyền Quang viên tịch vẫn được các đệ tử Trúc Lâm kế tục.


Trộm nghĩ những ai đã đọc qua Phật giáo VN Sử Luận của HT Nhất Hạnh đều có thể cùng một lý luận sau nhất là khi đã học Tổ Sư Thiền VN vào đầu thế kỷ 13 theo đó :

" Lịch sử Phật Giáo VN thường vinh danh Vua Trần Thái Tông là Người thiết lập nền tảng cho cho Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử nhưng ai đã từng học đến các vị Thiền Sư của các thế hệ truyền thừa cuối của 3 thiền phái Tỳ Ni Đa LưuChi, Vô Ngôn Thông và Thảo Đường đều thấy rằng Thiền sư Thường Chiếu có thể được gọi là người khởi đầu cho sự tổng hợp giữa ba thiền phái Tỳ Ni Đa Lưu Chi, Vô Ngôn Thông và Thảo Đường và cũng là gạch nối giữa Phật giáo đời Lý và Phật giáo đời Trần và trong đó ba vị đệ tử quan trọng của Thường Chiếu là Thần Nghi, Thông Thiền và Hiện Quang đã thể hiện rõ nhất.

TSThông Thiền nối tiếp truyền thống Vô Ngôn Thông truyền xuống cho Tức Lự, rồi Ứng Thuận Vương nhưng Thiền sư Hiện Quang khai sơn núi Yên Tử , có thể nói chính là người đã mở đầu cho Phật giáo Trúc Lâm, nền Phật giáo Thống nhất đời Trần.

Có thể nói tổ khai sơn chùa Hoa Yên núi Yên Tử, Hiện Quang thiền sư được xem như là người đích thực sáng lập truyền thống Yên Tử.

Và trong bài tựa sách Thiền Tông Chỉ Nam, Thái Tông đã vinh danh thiền sư núi Yên Tử là Trúc Lâm đại sa môn, tôn xưng là quốc sư, Vị thiền sư này là đệ tử của Hiện Quang,có pháp danh là Đạo Viên;

Thiền sư Hiện Quang tịch năm 1220, lúc vua Thái Tông mới lên 4 tuổi, nên có thể nói người vua gặp trên núi. chính là Đạo Viên thiền sư , đệ tử Ngài Hiện Quang đã làm lễ an táng thầy trên núi Yên Tử;

Lịch sử còn ghi lại Năm 1236 khi vua Thái Tông bỏ lên núi Yên Tử định đi tu, Trúc Lâm quốc sư hỏi vua muốn tìm gì mà lên núi. Vua nói chỉ muốn tìm thành Phật.

Ông nói: “Trong núi vốn không có Phật, Phật ở trong tâm ta. Nếu tâm ta lắng lại và trí tuệ xuất hiện thì đó chính là Phật. Nếu bệ hạ giác ngộ được tâm ấy thì tức khắc thành Phật ngay tại chỗ, không cần phải đi tìm cực nhọc bên ngoài” (bài tựa Thiền Tông Chỉ Nam).

Và nhà sư đã khuyên Vua Trần Thái Tông trở về nhận nhiệm vụ trị dân, thiền sư nói: “Đã làm vua thì không còn có thể theo ý thích riêng mình được nữa. Phải lấy ý muốn của dân làm ý muốn của mình; phải lấy lòng dân làm lòng của mình. Nay dân đã muốn vua về mà vua không về thì làm sao được?”.

Thiền sư buộc vua trở về với bổn phận bằng một lý luận đanh thép. Nhưng ông an ủi: Tuy vậy, vua vẫn có thể vừa làm nghề trị dân vừa tu học Phật pháp. Thiền sư ân cần dặn vua đừng quên học Phật và tham thiền.

Vào khoảng năm 1248, Trúc Lâm có xuống kinh sư theo lời mời của vua Thái Tông để kiểm điểm lại các bộ kinh và lục trước khi đem khắc bản gỗ để ấn loát phát hành. Vua Thái Tông thỉnh ông ở lại chùa Thắng Nghiêm, tôn xưng là quốc sư.

Vua cũng trình ông một tác phẩm vua mới viết tên là Thiền Tông Chỉ Nam.

Ông khen ngợi và khuyên nên khắc bản để in luôn trong dịp ấy.

Không biết sau khi hoàn tất việc in kinh, Trúc Lâm quốc sư có lưu lại kinh sư một thời gian trước khi về núi hay không. Ảnh hưởng của ông không những lớn lao trên sự tu học của Trần Thái Tông mà trên nhiều mặt khác nữa. Ít ra ông cũng đã góp về phương diện văn hóa trong việc san định và ấn hành kinh lục, và đã cống hiến cho đời thêm một vị đệ tử xuất sắc là Đại Đăng quốc sư, người đã ảnh hưởng nhiều tới tư tưởng thiền phái Trúc Lâm sau này.và Vua . Trần Nhân Tông, thuộc thế hệ thứ sáu phái Yên Tử, lấy hiệu là Trúc Lâm đầu đà."


Tóm lại Vào đầu thời Trần, Thiền sư Hiện Quang thuộc thiền phái Vô Ngôn Thông ẩn tu khổ hạnh tại núi Yên Tử, sư được xem là tổ thứ nhất của phái Yên Tử. Sau khi Thiền sư Hiện Quang thị tịch, đệ tử là Thiền sư Đạo Viên kế thừa.

Vua Trần Thái Tông từng có thời gian lên núi và học đạo với Thiền sư Đạo Viên và phong hiệu cho sư là Trúc Lâm Quốc sư. Đồng thời, vua Trần Thái Tông là một vị vua ngộ Thiền và từng có thời gian đăng đàn thuyết pháp, dạy Thiền cho các tăng sĩ cũng như bình xướng, trước tác kệ tụng về các công án Thiền Tông. Tác phẩm Thiền học của vua còn lưu giữ đến ngày nay đó là Khóa Hư Lục, Thiền Tông Chỉ Nam.

Sau khi Thiền sư Đạo Viên thị tịch, đệ tử là Thiền sư-Quốc sư Đại Đăng nối tiếp, sư là người kế thừa hai dòng tư tưởng là Thiền tông Việt Nam lúc bấy giờ cùng với Tông Lâm Tế do Thiền sư Thiên Phong (người Trung Quốc) truyền sang Việt Nam

Và vua Trần Thái Tông đã là người có công nhất trong việc thiết lập nền tảng cho Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử


Lời kết:

Kính tri ân những tác phẩm của Vua Trần Thái Tông : Kim cang tam muội kinh tự, Thiền tông chỉ nam tự, Khoá Hư lục đã giúp Phật giáo Việt Nam đã thể hiện rõ tính nhập thế, “Phật pháp tại thế gian, bất ly thế gian giác” đạo không tách rời đời và đời cũng không thiếu vắng đạo.

Và nhất là tư tưởng "Phật tại Tâm" là triết lý được ưa chuộng và thực hành rộng rãi trong đời sống nhân dân Đại Việt bấy giờ.

1/ : Phạm trù "Tâm" trong Phật giáo rất phong phú, nhiều tầng bậc, ý nghĩa. Khi Phật giáo vào Việt Nam, quan niệm về "Tâm" đã có những biến đổi cho phù hợp với đời sống nhân dân nơi đây. Vào thời Trần, các thiền sư như Thường Chiếu,Trúc Lâm quốc sư, Trần Thái Tông,mở đầu cho các thế hệ sau . Đặc biệt với nghĩa "Tâm" là Thực tướng, là Chân Như, là Bản thể vũ trụ, là Tự tính, là Chân Tâm.

2/ : Băt nguồn từ "Tâm" Phật, với tư tưởng: trong núi vốn không có Phật, Phật ở trong tâm ta. Nếu tâm ta lắng lại và trí tuệ xuất hiện thì đó chính là Phật,

Để từ đó đã gắn kết được giữa đạo và đời, đã làm cho Phật giáo trở thành một tôn giáo có những đóng góp quan trọng vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ nền độc lập của dân tộc, góp phần làm phong phú hơn nền văn hóa của người Việt mang đậm chất nhân văn, nhân bản.


Kính trân trọng,




Kính ngưỡng vị Vua, Thiền Sư Trần Thái Tông ...bậc Trí Tuệ,
Thiết lập nền tảng vững chắc cho Thiền Phái Trúc Lâm (1)
Sát nhập ba dòng thiền do ảnh hưởng chữ Tâm
Để lại nhiều tác phẩm Phật học giá trị lớn (2)


Nhìn lại tích sử Ngài...vận mệnh đổi thay khó đoán
Vốn người thuần hậu bất lực trước tính toán an bày (3)
Sử gia người đời phê trách ...nhận định phải, sai
Từ thơ ấu đến 20 tuổi ...thiên tình sử bi tráng (4)
Đặt quốc gia xã tắc ưu tiên ... thật kính phục thương cảm (5)


Kính tri ân Giảng Sư ....Trần Thủ Độ
" CÔNG VI THỦ, TỘI VI KHÔI "(6)
Gia phả ...giúp diệt Mông , chí khí sáng ngời (7)
Giúp vua thấy được trách nhiệm và bổn phận (8)


Hơn thế nữa ...
những lời dạy của Quốc Sư ăn sâu vào tâm khảm (9)
Đạt tầm cỡ Thiền Sư ...nghiên tầm hiểu rõ Kim Cang (10)
Đối đáp vị tăng Đức Thành ...ngữ lục rạng danh (11)
Những năm Thái Thượng Hoàng...thênh thang tự tại (12)


An nhiên thị tịch ...sá gì sinh tử sự đại ?
Lời nói huyền, thuyết diệu chỉ thừa có ích gì ! (13)
Một trang sử đời .... quá bất khả tư nghì
Kính nguyện ....
.....hạ thủ công phu những lời dạy sâu sắc (14)
Khoá Hư Lục , Sáu thời sám hối đúng nguyên tắc !


Nam Mô Vua, Thiền Sư Trần Thái Tông tác đại chứng minh !


Huệ Hương
Sydney 23/11/2021


thich nguyen tang (1)thich nguyen tang (5)thich nguyen tang (6)thich nguyen tang (7)thich nguyen tang (8)




Chú thích :

(1)

Vào đầu thời Trần, Thiền sư Hiện Quang thuộc thiền phái Vô Ngôn Thông ẩn tu khổ hạnh tại núi Yên Tử, sư được xem là tổ thứ nhất của phái Yên Tử. Sau khi Thiền sư Hiện Quang thị tịch, đệ tử là Thiền sư Đạo Viên kế thừa.

Vua Trần Thái Tông từng có thời gian lên núi và học đạo với Thiền sư Đạo Viên và phong hiệu cho sư là Trúc Lâm Quốc sư. Đồng thời, vua Trần Thái Tông là một vị vua ngộ Thiền và từng có thời gian đăng đàn thuyết pháp, dạy Thiền cho các tăng sĩ cũng như bình xướng, trước tác kệ tụng về các công án Thiền Tông. Tác phẩm Thiền học của vua còn lưu giữ đến ngày nay đó là Khóa Hư Lục, Thiền Tông Chỉ Nam.

Sau khi Thiền sư Đạo Viên thị tịch, đệ tử là Thiền sư-Quốc sư Đại Đăng nối tiếp, sư là người kế thừa hai dòng tư tưởng là Thiền tông Việt Nam lúc bấy giờ cùng với Tông Lâm Tế do Thiền sư Thiên Phong (người Trung Quốc) truyền sang Việt Nam

Và vua Trần Thái Tông đã là người có công nhất trong việc thiết lập nền tảng cho Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử

(2)Ngài còn lưu lại những tác phẩm:

1. Thiền Tông Chỉ Nam

2. Kim Cang Tam-muội Kinh chú giải

3. Lục Thời Sám Hối Khoa Nghi

4. Bình Đẳng Lễ Sám Văn.l

5. Khóa Hư Lục

6. Thi Tập.

Tất cả đều thất lạc trừ lục thời sám hôi khoa nghi, bình đẳng lễ sám văn và khoá hư lục


(3)Trần Thái Tông tên Trần Cảnh, con thứ của Trần Thừa, sanh năm Mậu Dần niên hiệu Kiến Gia thứ tám (1218) triều Lý.

Gia thế ở hương Tức Mặc, phủ Thiên Trường (nay là xã Tức Mặc huyện Mỹ Lộc tỉnh Hà Nam Ninh); ông cha làm nghề đánh cá.

Nhờ có công dẹp loạn, họ Trần dần dần có thế lực từ đời Lý Cao Tông. Trần Cảnh mới

có tám tuổi được Lý Chiêu Hoàng nhận làm chồng và truyền ngôi cho, lấy hiệu là Thái Tông.


(4)Trần Cảnh mới có tám tuổi được Lý Chiêu Hoàng nhận làm chồng và truyền ngôi cho, lấy hiệu là Thái Tông.

Năm Thái Tông lên hai mươi tuổi, Lý Chiêu Hoàng mười chín tuổi đang là Hoàng hậu, bị Trần Thủ Độ ép Thái Tông giáng Chiêu Hoàng làm Công chúa, lấy chị bà là Thuận Thiên, vợ Trần Liễu (anh ruột Thái Tông) làm Hoàng hậu. Lý do vì Thủ Độ nôn nóng Thái Tông có con để kế thừa, mà Chiêu Hoàng chậm con, chị bà đang mang thai. Trần Liễu phẫn uất nổi loạn tháng giêng năm Bính Thân (1236).


(5) Bị Trần Thủ Độ ép Thái Tông giáng Chiêu Hoàng làm Công chúa, trong khi đã có tình yêu sâu đậm với Lý Chiêu Hoàng để lấy chị bà là Thuận Thiên, vợ Trần Liễu (anh ruột Thái Tông) làm Hoàng hậu. Lý do vì Thủ Độ nôn nóng Thái Tông có con để kế thừa, mà Chiêu Hoàng chậm con, chị bà đang mang thai. Trần Liễu phẫn uất nổi loạn tháng giêng năm Bính Thân (1236).


Do nhiều nỗi khổ và lòng ray rứt bất an, lúc mười giờ đêm ngày mồng ba tháng tư năm 1236, vua Thái Tông bỏ ngai vàng, trốn lên núi Yên Tử đi tu. Vua đem theo một số tùy tùng, nói đi để nghe dư luận dân gian, biết rõ sự thật cho dễ bề trị nước. Sang sông, đoàn người đi về phía đông. Bấy giờ Vua mới nói rõ ý định đi tu với các người tùy tùng và bảo họ trở về. Mọi người đều ngạc nhiên và khóc lóc


(6) Nhiều người cho rằng Ông không giết vua Lý Huệ Tông

Trần Thủ Độ là một trụ cột của triều Trần. Một nhân vật lịch sử với bản lĩnh chính trị và cá tính khác thường. Ông xử lý việc gì cũng thẳng thắn, quả quyết theo ý chí của mình. Ông ít khi để cho tình cảm sai khiến. Ngoài ra, ông là một đại công thần, người sáng lập và trực tiếp lãnh đạo công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước những năm đầu thời kỳ nhà Trần.

Tuy là người lợi ích quốc gia đặt trên tất cả. Nhưng ông vẫn bị các sử thần thời phong kiến chê trách nhiều dưới ngòi bút của họ. Trần Thủ Độ hiện ra như một quyền thần vô học, có tài mà không có đức. Vậy ông là người có công hay kẻ có tội?

Đối với Trần Thủ Độ, ông một tay quán xuyến cơ nghiệp nhà Trần trong buổi đầu. Dù quyền hành “nghiêng nước” nhưng ông quang minh lỗi lạc, chí công vô tư. Bên cạnh đó, dù hết lòng bảo vệ nhà Trần ông cũng không dùng thủ đoạn lừa dối để giết người bừa bãi như vậy.

Không những vậy, Trần Thái Tông là con rể của Lý Huệ Tông và Trần Thánh Tông chính là cháu ngoại của Lý Huệ Tông. Nhà Trần, kể từ Trần Thánh Tông có một nửa dòng máu của họ Lý. Cho nên nói “Họ Lý vẫn được tế tự luôn luôn” là có cơ sở và việc Trần Thủ Độ “giết hết” tôn thất nhà Lý là không thể.


(7)

Thái Tông lại là ông vua anh hùng. Năm 1257 giặc Mông Cổ xâm lăng đất nước. Thái Tông đích thân tham gia chỉ huy nhiều trận, có mặt ở cả mọi nơi nguy hiểm, khiến quân sĩ đều nức lòng chiến đấu. Kết quả quân ta đã đánh tan quân xâm lược, giặc Mông Cổ tháo thân chạy về Vân Nam vào đầu năm 1258.

Đây là ông vua vừa đạo đức vừa anh hùng, làm sáng rỡ những trang sử oai hùng của dân tộc Việt Nam.

Nhưng Trong cuộc kháng chiến lần thứ nhất chống quân xâm lược Mông Cổ, Trần Thủ Độ có vai trò hết sức quan trọng. Tháng 12 năm Đinh Tỵ. Quân Mông Cổ, sau khi tiêu diệt nước Đại Lý (Vân Nam), đã tiến vào lưu vực sông Hồng. Thế giặc rất mạnh, quân Đại Việt bị đánh lui, vua Thái Tông phải bỏ Thăng Long rút xuống phía nam. Vua ngự thuyền nhỏ đến thuyền em ruột là Thái úy Trần Nhật Hạo hỏi kế. Nhật Hạo lấy ngón tay chấm nước viết hai chữ “Nhập Tống” ở mạn thuyền. Ý muốn khuyên vua nên chạy sang nhờ vả nước Tống.

Vào lúc gay go nhất của cuộc kháng chiến. Câu trả lời đanh thép “Đầu tôi chưa rơi xuống đất, xin bệ hạ đừng lo!” của ông đã giữ vững được tinh thần dám đánh và quyết thắng của quân dân Đại Việt trong cuộc phản công quyết liệt đánh vào Đông Bộ Đầu ngày 29/1/1258, buộc địch phải rút chạy về nước. Trần Thủ Độ xứng đáng được xếp vào hàng những nhân vật kiệt xuất. Trần Thủ Độ đi đầu trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước trong lịch sử dân tộc.


Từ đó nhiều người đã tìm lại gia phả Trần Thủ Độ vì có thời gian sống tại nước Liêu


Theo trang web của gia tộc họ Trần (donghotrannguyenhan) thì Trần Hấp không phải là ông nội của Trần Thủ Độ mà Trần Hấp là anh ruột của Trần Tự Duy và Trần Tự Duy mới là ông nội của Trần Thủ Độ. Cụ thể, Trần Hấp ở đất Thái Đường sinh ra Trần Lý. Trần Lý lại sinh ra các con Trần Thừa, Trần Tự Khánh, Trần Thị Dung, Trần Thị Tam Nương.

Người em là Trần Tự Duy ở đất Lưu Xá bên cạnh (nay là thôn Lưu Xá, xã Canh Tân, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình) sinh ra Trần Thủ Huy, Trần Thủ Huy lại sinh ra Trần Thẩm (tước An Quốc Vương) và Trần Thủ Độ. Như vậy nếu xét từ đời Trần Tự Kinh thì Trần Tự Hấp thuộc cành trưởng, Trần Tự Duy thuộc cành thứ. Đến đời Trần Thừa và Trần Thủ Độ là quan hệ anh em nhưng khác cành hay nói cách khác là anh em chung cụ nội (Trần Kinh) chứ không phải chung ông nội Trần Hấp.

Trang web của gia tộc cũng dẫn câu chuyện trong cuốn "Phật hoàng Trần Nhân Tông, tác giả Trần Trương, nxb Văn hóa - Thông tin 2009" để đưa ra thông tin: "Trần Thủ Huy vốn là một trang nam nhi tuấn tú và dũng mãnh. Gặp người bị nạn, Thủ Huy đã ra tay cứu giúp. Không ngờ người đó lại là vị thái tử nhà Lý tên là Lý Long Xưởng. Thái tử mang ơn kết tình huynh đệ với Thủ Huy. Thủ Huy giúp Lý Long Xưởng dẹp loạn trừ gian trong hoàng tộc nhà Lý nên được vua gả công chúa Đoan Nghi, trở thành phò mã có quyền, có chức trong triều đình".

Tháng 9 năm Giáp Ngọ (1174), Thái tử Lý Long Xưởng phạm tội với vua cha là Lý Anh Tông, bị vua cha phế truất làm thứ nhân và bắt giam (Long Xưởng thông dâm với cung phi của vua, vua không nỡ bắt tội chết). Vì thế những người thân tín của Long Xưởng đều bị loại trừ. Trần Thủ Huy và công chúa Đoan Nghi bị đẩy đi sứ nước Kim, nước Liêu (thực ra thời điểm 1174 thì nước Liêu đã bị Kim tiêu diệt) không có ngày về. Trần Thủ Độ lớn lên được gửi về nước ở với bác là Trần Lý, sau đó cùng bác Trần Lý khởi nghiệp nhà Trần.

(8)

Hôm sau, Trần Thủ Độ đem các quan lên núi Yên Tử đón Vua về kinh. Bài tựa Thiền Tông Chỉ Nam, Thái Tông viết:

Thấy Trẫm, Trần Công thống thiết nói:

- Tôi chịu lời ủy thác của Tiên quân, phụng sự nhà vua trong việc làm chủ thần dân. Nhân dân đang mong đợi Bệ hạ như con đỏ trông đợi cha mẹ. Huống chi ngày nay các vị cố lão trong triều đều là họ hàng thân thích, sĩ thứ trong nước ai nấy đều vui vẻ phục tùng, đến đứa trẻ lên bảy cũng biết nhà vua là cha mẹ dân. Vả lại Thái Tổ vừa mới bỏ tôi mà đi, hòn đất trên nấm mồ chưa ráo, lời dặn dò bên tai còn văng vẳng, thế mà Bệ hạ đã lánh vào chốn núi rừng ẩn cư để cầu thỏa lấy ý chí riêng của mình.

Tôi dám nói rằng Bệ hạ vì sự tự tu cho riêng mình mà làm vậy thì được, nhưng còn quốc gia xã tắc thì sao?

Nếu để lời khen suông cho đời sau thì sao bằng lấy ngay thân mình làm người dẫn đạo cho thiên hạ? Bệ hạ nếu không nghĩ lại, quần thần chúng tôi cùng thiên hạ sẽ xin cùng chết cả trong ngày hôm nay, quyết không trở về.

(9)

Trẫm nghe Thái sư và các quần thần bô lão đều không chịu bỏ Trẫm, cho nên mới đem lời Thái sư mà bạch lại với Quốc sư, Quốc sư cầm tay Trẫm mà nói:

- Phàm làm đấng nhân quân, thì phải lấy ý muốn của thiên hạ làm ý muốn của mình, và tâm thiên hạ làm tâm của mình. Nay thiên hạ muốn đón Bệ hạ về, Bệ hạ không về sao được? Tuy nhiên sự nghiên cứu nội điển xin Bệ hạ đừng phút nào quên.

(10)

Thái Tông là một Thiền sư có tầm cỡ. Đầu tiên Ngài đã ngộ câu “Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm” trong kinh Kim Cương. Sau Ngài còn tập họp các bậc kỳ đức để tham vấn thiền. Những năm làm Thái thượng hoàng, Ngài có thì giờ nghiên tầm thấu suốt, cho nên có người tham vấn, liền đáp một cách tự tại.

Trong lời tựa kim cang tâm muội

Trẫm nghe bản tánh lắng mầu, chân tâm trong lặng, tròn khuyết đều dứt, chẳng phải tánh trí hay tìm được mối manh; tan hợp trọn quên, tai mắt đâu thể dự vào vang bóng; có không chung lại, đạo tục san bằng; sừng sững riêng còn, siêu nhiên không gì ngoài. Đây là trọng yếu tánh Kim cangvậy.


(11) i. Nghe danh Ngài, vị tăng Đức Thành người Tống đến hỏi:

- Đức Thế Tôn chưa rời Đâu-suất đã giáng vương cung, chưa ra khỏi thai mẹ độ hết chúng sanh là thế nào?

Ngài đáp:

- Ngàn sông có nước, ngàn sông nguyệt,

Muôn dặm không mây muôn dặm trời.

(Thiên giang hữu thủy thiên giang nguyệt,

Vạn lý vô vân vạn lý thiên.)

Tăng khác hỏi:- Được trên phần của học nhân có tu chứng chăng?

Ngài đáp:

- Nước chảy xuống non nào có ý,

Mây ra khỏi núi vốn không tâm.

(Lưu thủy hạ sơn phi hữu ý,

Bạch vân xuất tụ bản vô tâm.

(12) Thái Tông là một Thiền sư có tầm cỡ. Đầu tiên Ngài đã ngộ câu “Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm” trong kinh Kim Cương. Sau Ngài còn tập họp các bậc kỳ đức để tham vấn thiền.

Sau cuộc chiến, đất nước thái bình, Trần Thái Tông nhường ngôi cho con năm 1258 lên làm Thái thượng hoàng.

Những năm làm Thái thượng hoàng, Ngài có thì giờ nghiên tầm thấu suốt, cho nên có người tham vấn, liền đáp một cách tự tại

(13) Thái Tông bệnh, nhân nuôi bệnh cha, Thánh Tông thưa: “Chân không và ngoan không là đồng hay khác?” Thái Tông bảo: “Hư không là một, chỉ vì tâm mình mê ngộ nên có chân và ngoan. Thí như phòng nhà mở cửa thì sáng, đóng cửa thì tối, sáng tối chẳng đồng mà phòng nhà là một.”


Hôm sau, Quốc sư Đại Đăng vào thăm thưa: “Bệ hạ bệnh chăng?” Thái Tông nói: “Tứ đại là bệnh, cái này xưa nay sanh tử không can hệ, mà dính kẹt trong bệnh hoạn sao?”

Khoảng mấy hôm sau, Thái Tông lặng thinh không nói, đuổi hết kẻ hầu hạ, đem việc nước dặn dò Thánh Tông. Thánh Tông muốn nhờ hai Quốc sư Phù Vân (Đạo Viên), Đại Đăng nói pháp xuất thế cho Thái Tông nghe.

Thái Tông gằn giọng bảo: “Đến trong đây, bớt một mảy tơ dường trên thịt khoét thương, thêm một mảy tơ như trong mắt để bụi. Ba đời chư Phật bốn mắt nhìn nhau, sáu đời Tổ sư thối thân có phần. Dù Phù Vân nói huyền, Đại Đăng thuyết diệu đều là lời thừa, có ích gì đối với cái này?”

Nói xong, Ngài lặng lẽ thị tịch, nhằm năm Đinh Sửu niên hiệu Bảo Phù thứ năm, thọ sáu mươi tuổi.


(14) Thái Tông cũng là nhà văn, đời Ngài viết khá nhiều tác phẩm, hiện nay còn thấy trong tập Khóa Hư Lục. Thử trích một vài đoạn để chứng thực điều này:

Trong bài Phổ Thuyết Sắc Thân có đoạn:

“Khi xưa tóc mượt má hồng, ngày nay tro xanh xương trắng; khi mưa lệ tưới mây ảm đạm, lúc gió sầu lay nguyệt mơ màng; canh tàn thì quỉ khóc thần sầu, năm muộn thì trâu giày ngựa đạp. Đom đóm lập lòe trong cỏ biếc, côn trùng rên rỉ ngọn dương trơ. Bia đá một nửa phủ rêu xanh, tiều mục đạp ngang thành lối tắt...”

Hoặc đoạn khác trong bài Phổ Khuyến Phát Bồ-đề Tâm:

“Công danh cái thế, chẳng qua một giấc mộng dài, phú quí kinh người, khó tránh ‘vô thường’ hai chữ. Tranh nhân chấp ngã, rốt cuộc là không; khoe giỏi khoe hay rốt cùng chẳng thực. Tứ đại rã rời thôi già trẻ, núi khe mòn mỏi hết anh hùng. Tóc xanh chưa mấy mà mầu bạc đã pha, kẻ mừng mới đi mà người điếu đã tới. Một bao máu mủ, bao năm khổ luyến ân tình; bảy thước xương khô, mặc sức xan tham tiền của. Thở ra không hẹn thở vào, ngày nay không tin ngày kế; trôi nổi sông yêu giờ nào nghỉ, nấu nung nhà cháy biết bao thôi ?”



🙏🙏🙏🌹🥀🌷🍀🌷🌸🏵️🌻🌼🍁🌺🍀🌹🥀🌷🌸🏵️

thieu lam tu

Trở về Mục Lục Bài giảng của

TT Nguyên Tạng về Chư Vị Thiền Sư Trung Hoa

🙏🙏🙏🌹🥀🌷🍀🌷🌸🏵️🌻🌼🍁🌺🍀🌹🥀🌷🌸🏵️
facebook

 

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn