Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   
Bài mới nhất

311. Thiền Sư Thông Thiền (?-1228) (Đời thứ 13, Thiền Phái Vô Ngôn Thông, đời Vua Trần Thái Tông) 🙏🌷🙏🌼🙏🌺🙏🌹

16/11/202110:52(Xem: 727)
311. Thiền Sư Thông Thiền (?-1228) (Đời thứ 13, Thiền Phái Vô Ngôn Thông, đời Vua Trần Thái Tông) 🙏🌷🙏🌼🙏🌺🙏🌹

 
thich nguyen tang (3)
thich nguyen tang (1)

Thiền Sư Thông Thiền (?-1228)

(Đời thứ 13, Thiền Phái Vô Ngôn Thông,
đời Vua Trần Thái Tông)

🙏🙏🙏🌹🥀🌷🍀🌷🌸🏵️🌻🌼🍁🌺🍀🌹🥀🌷🌸🏵️🙏🙏🙏🌹🥀🌷🍀🌷🌸


Thuyết giảng: TT Thích Nguyên Tạng
Bài trình pháp: Cư Sĩ Quảng Tịnh Tâm & Cư Sĩ Huệ Hương
Diễn đọc: Cư Sĩ Diệu Danh ; Lồng nhạc: Cư Sĩ Quảng Phước-Quảng Tịnh






Nam Mô A Di Đà Phật

 

Kính bạch Sư Phụ, hôm nay Thứ Ba 16/11/2021 (14/10/Tân Sửu)chúng con được học về  Thiền Sư Thông Thiền (?-1228) đời thứ 13, Thiền Phái Vô Ngôn Thông, Sư phụ dựa theo tài liệu gốc Thiền Sư Việt Nam do HT Thích Thanh Từ biên soạn và ấn hành tại VN vào năm 1972. Pháp thoại hôm nay là bài giảng thứ 311 của Sư Phụ bắt đầu từ mùa cách ly do bệnh đại dịch covid 19 (đầu tháng 5-2020).

 

Sư họ Đặng quê làng Ốc, An La. Sư cùng Quách Thần Nghi ở chùa Thắng Quang đồng thờ Thiền sư Thường Chiếu ở chùa Lục Tổ làm thầy.

Một hôm Sư vào thất thưa hỏi rằng:

- Thế nào biết rõ Phật pháp?

TS Thường Chiếu đáp:

- Phật pháp không thể biết rõ, đây đâu có pháp biết. Chư Phật như thế, tu tất cả pháp mà không thể được.

Ngay câu nói này, Sư đã lãnh ngộ yếu chỉ.

 

Sư Phụ giải thích:

- Sư Phụ kể sơ lược về các triều vua. 

Thiền sư Thông Thiền thuộc đời thứ 13 của thiền phái Vô Ngôn Thông, và vào thời vua Trần Thái Tông. Vua Trần Thái Tông vừa là vua và vừa là thiền sư Việt Nam đầu tiên xây dựng nền tảng vững chắc cho thiền phái Trúc Lâm Yên Tử sau này.

Trong thời gian qua, chúng ta đã học tất cả chư vị Thiền Sư 2 thiền phái Tỳ Ni Đa Lưu Chi & Vô Ngôn Thông qua các triều đại Đinh, Lê, Lý, đặc biệt là triều đại Lý trải dài 216 năm gồm 9 đời vua, triều đại này sản sanh ra nhiều thiền sư lừng danh nổi tiếng cho xứ sở VN.

Sau triều đại nhà Lý là triều đại nhà Trần kéo dài 175 năm (1225-1400), khởi đầu là vua Trần Thái Tông và kết thúc vào thời Vua Trần Thiếu Đế. Sau đó là triều đại nhà Hồ, ở ngôi 7 năm thì nhà Trần khôi phục lại được 19 năm. Tiếp đó nhà Lê Sơ 99 năm, nhà Mạc 150 năm, nhà Hậu Lê 255, nhà Tây Sơn (24 năm), nhà Nguyễn 143 năm, mở đầu là Vua Gia Long Nguyễn Ánh, cuối cùng là vua Bảo Đại Nguyễn Phước Vĩnh Thụy, đây là triều đại phong kiến cuối cùng của Việt Nam.

 

- Thiền Sư Thông Thiền được xem như một đại sĩ đặc cách, Ngài chỉ nghe một câu nói là lãnh ngộ yếu chỉ, sau khi thưa hỏi Sư Phụ Thường Chiếu “thế nào là biết rõ Phật pháp?”

Ngài Thường Chiếu đáp: Phật pháp không thể biết rõ…

- Sư Phụ giải thích, Phật pháp theo nghĩa rốt ráo không phải là giáo lý của Đức Phật, mà Phật pháp ở đây chính là chỗ lặng lẽ của viên mãn, của thể tánh tịnh minh, chân tâm thường trú của hành giả, vô sở đắc, vô sở chứng. Phật Pháp không phải là “pháp biết” vì cái biết thông thường theo thế gian là cái biết của vọng tưởng điên đảo, còn cái “pháp biết” của chân tâm là không qua suy lường, phân biệt.

 

- Sư Phụ kể lại sự ngộ đạo của ngài Nam Nhạc Hoài Nhượng khi đến thọ pháp với Lục Tổ Huệ Năng.

Lục Tổ hỏi “Con từ đâu tới ?”

Ngài Nam Nhạc trả lời: “Con từ Tung Sơn tới”

Ngài Lục Tổ hỏi: “vật gì đến thế ?”

Ngài Nam Nhạc không trả lời được.

Ngài Lục Tổ cho  xuống bếp công quả, sau 8 năm ngài mới trình bạch với Lục Tổ “ con đã có chỗ lãnh hội rồi”.

Lục Tổ hỏi: “Lãnh hội thế nào ?”
Ngài Nam Nhạc thưa: “Nói giống một vật tức chẳng trúng”.

Lục Tổ gạn hỏi : “Có tu chứng chăng?”

Ngài Nam Nhạc thưa: “Tu chứng tức chẳng không, nhiễm ô chẳng thể được”. (ý Ngài Nam Nhạc muốn cái tánh thấy đó không có hình tướng, nói theo tinh thần của Lục Tổ xưa kia trình kiến gaỉi với Ngũ Tổ là “bản lai vô nhất vật”, xưa nay không một vật)

Lục Tổ đúc kết và ấn chứng cho đệ tử Nam Nhạc: “Chỉ cái "chẳng nhiễm ô" này, là chỗ hộ niệm của chư Phật, ông đã như thế ta cũng như thế”.

 

Sư trở về cố hương, học giả nghe pháp tụ hội rất đông. Phàm có người thưa hỏi, Sư thảy đều dùng tâm ấn tâm.

Có vị Tăng hỏi:

- Thế nào là người xuất thế?

Sư đáp:

- Đâu chẳng nghe người xưa nói: “Chỉ xem năm uẩn đều không, tứ đại vô ngã, Chân tâm không tướng, không đi không lại, khi sanh tánh chẳng đến, khi tử tánh chẳng đi, yên tĩnh tròn lặng, tâm cảnh nhất như.” Chỉ hay như thế, liền đó chóng liễu ngộ, không bị ba đời ràng buộc, bèn là người xuất thế. Cần thiết chẳng được có một mảy may thú hướng.

 

Sư Phụ giải thích:

Vị Tăng hỏi: Thế nào là người xuất thế?

Ngài trả lời rất siêu tuyệt.

 Sư Phụ giải thích, xuất thế là phải tận trừ tất cả ác nghiệp thì mới ra đi nhẹ nhàng, ba nghiệp thanh tịnh thì về Tây Phương.

Nhưng ở đây Ngài Thông Thiền dạy muốn xuất thế giải thoát phải hoàn tất việc “xem năm uẩn đều không, tứ đại vô ngã, Chân tâm không tướng”.

- năm uẩn là sắc thọ tưởng hành thức đều không.

- tứ đại gồm đất nước gió lửa do duyên hợp, hết duyên thì tan rã, nên gọi là vô ngã

- chân tâm vô tướng, vì chân tâm không có hình tướng, ngồi thiền lặng lẽ không có hình tướng. Vọng tâm thì có hình tướng do nghĩ tưởng khiến những hình tướng xuất hiện ra trong tâm.

- ba đời ràng buộc là quá khứ, hiện tại và vị lai. Chỉ trong một sát na, hiện ra ba đời trong vọng tâm. Giải thoát hay trầm luân là ngay tại sát na này, không phải là lúc không còn hơi thở.

- cần thiết chẳng được mảy may thú hướng, là không khởi một niệm nào vọng hướng về những cõi giới xa xăm khi chết để thác sanh về, mà ngay trong sát na hiện tiền này là vô niệm, là giải thoát.

 

Có vị Tăng khác hỏi:

- Thế nào là nghĩa vô sanh?

Sư đáp:

- Phân biệt các uẩn này tánh nó vốn không tịch, vì không, nên không thể diệt, đây là nghĩa vô sanh.

 

Sư Phụ giải thích:

- Vô sanh theo nghĩa đen là không còn đi luân hồi tái sanh nữa, nhưng nghĩa rốt ráo ở đây Ngài Thông Thiền muốn dạy là quán chiếu ngay 5 uẩn: sắc, thọ, tưởng, hành và thức luôn ở tánh không tịch, rỗng lặng, vì tánh nó là không, nên nó vượt ra ngoài vòng đối đãi sanh diệt, nên đó là nghĩa vô sanh.

 

- Thế nào là lý vô sanh?

- Do việc điều uẩn, mới hiểu Tánh không, Tánh không chẳng thể diệt, ấy là lý vô sanh.

 

Sư Phụ giải thích:

- Do vì mình chấp 5 uẩn: sắc, thọ, tưởng, hành và thức là thật có, nhưng kỳ thật 5 uẩn chỉ là giả có, chỉ có trong một thời gian nhất định rồi cũng bị hủy diệt, nằm trong vòng sanh tử luân hồi; nhưng ở chỗ rốt ráo thì 5 uẩn tánh nó là không tịch, không sanh không tử, nên gọi đây là lý vô sanh.

 

 

- Thế nào là Phật?

- Tâm vốn là Phật, do đó ngài Huyền Trang nói: “Chỉ liễu ngộ tâm địa nên hiệu là Tổng Trì, ngộ pháp vô sanh gọi là Diệu Giác.”

 

Sư Phụ giải thích:

Thiền Sư Thông Thiền mượn lời của Đường Tam Tạng Pháp Sư Huyền Trang để giải đáp : “Chỉ liễu ngộ tâm địa nên hiệu là Tổng Trì, ngộ pháp vô sanh gọi là Diệu Giác.”

  - Liễu ngộ tâm mình nên hiệu là Tổng Trì, Tổng Trì tiếng Phạn là Darani, đó là sức niệm tuệ có khả năng thâu tóm, ghi nhớ vô lượng Phật pháp, không để quên mất.

Tổng Trì cũng gọi là Ngũ trì:

1. Văn trì: Nghe âm của một chữ mà hiểu được giáo pháp của 5 thừa.

2. Pháp trì: Đối với pháp nắm giữ hết không để sót mất.

3. Nghĩa trì: Đối với nghĩa lý của các pháp, giữ nhớ hết, không để quên mất.

4. Căn trì: Đối với cảnh sở duyên của 6 căn thu tóm hết tất cả mà không có bất cứ một niệm nào khác.

5. Tạng trì: Thu tóm, gìn giữ hạt giống của Như lai tạng, không để sót mất.

Sư phụ nhấn mạnh chỉ có Phật mới có đủ ngũ trì này.

- Ngộ pháp vô sanh là diệu giác. 

 Sư Phụ kể chuyện ngộ đạo của Thiền Sư Bách Trượng Hoài Hải khi đến hỏi pháp sư phụ Mã Tổ Đạo Nhất: “thế nào là chỗ đến của Phật pháp ?

Ngài Mã Tổ trả lời:”đó chính là chỗ con bỏ thân mạng này”.

Ngài Bách Trượng Hoài Hải nghe xong liễu ngộ.

Sư phụ giải thích: Bỏ thân mạng chính là buông xuống kiến chấp ngũ uẩn thân là có thật, ngày nào còn thấy thân ngũ uẩn này là thật có thì ngày đó vẫn còn khổ đau dài dài. Buông xuống thân mạng ngũ uẩn sẽ ngộ pháp vô sanh, đó là diệu giác.

 

  *

*   *

Đến niên hiệu Kiến Trung thứ tư (1228) đời Trần Thái Tông, vào lúc tháng 7, Sư tịch.

 

 

Cuối bài giảng, Sư Phụ diễn ngâm bài thơ tán thán công hạnh của Thiền Sư Thông Thiền  do Thượng Tọa Chúc Hiền sáng tán cúng dường Ngài:

 

 

Lục Tổ thiền môn sớm tối nương
Hầu thầy kinh kệ thắp nguyền hương
Oai nghi vững chãi nuôi ước nguyện
Tế hạnh trang nghiêm dưỡng lập trường
Tham vấn lẽ mầu soi diệu thể
Cần cầu nghĩa diệu thấu huyền gương
Hoát nhiên tỏ ngộ bừng khai trí
Pháp hoá hưng long rạng tổ tông

Tổ tông đạo nghiệp tỏa nơi nơi
Thiền mạch châu lưu mát đất trời
Tự tại ra vào tâm chẳng vướng
Thong dong lui tới ý không lơi
Tham thiền lễ Phật vui nguồn đạo
Tiếp vật ứng cơ chuyển nghiệp đời
Pháp hoá châu viên quy cõi tịch
Thiền phong pháp ngữ độ trần vơi

 

 Kính bạch Sư Phụ, hôm nay chúng con được Sư Phụ ban giảng về Thiền Sư Thông Thiền, Ngài đạt ngộ rất siêu tuyệt chỉ nghe một câu trả lời của Sư Phụ Thường Chiếu là liễu ngộ, Phật pháp là thể tánh lặng lẽ bên trong, không vật, không hình tướng, là chân tâm Phật tánh của chính mình.

 

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật

 

Cung kính và tri ơn Sư Phụ,

Đệ tử Quảng Tịnh Tâm

(Montréal, Canada).

 





311_TT Thich Nguyen Tang_Thien Su Thong Thien


Thiền Sư Thông Thiền (?-1228)

(Đời thứ 13, Thiền Phái Vô Ngôn Thông, đời Vua Trần Thái Tông)


Kính dâng Thầy bài trình pháp về Thiền Sư Thông Thiền, Kính bạch Thầy thật khó khi được trình pháp về là một sở học của người chứng ngộ, đã đạt đến sơ trụ vị nhưng với khả năng cầu học kính xin Thầy duyệt lại và tha lỗi cho sự yếu kém của con nếu không thể trình lại những gì thu thập được từ lời Thầy đã giảng .Bài pháp thoại quá tuyệt vời và lung linh chất Thiền lại thêm những mẫu chuyện xã hội tác hại của vọng tưởng và ảo tưởng khiến người được nghe pháp thoại được chiêm nghiệm nhiều điều lý thú .Kính tri ân công đức vô lượng về tài uyên bác giảng pháp của Thầy và kính đảnh lễ Thầy, HH

 

Không hiểu vì lý do nào mà khi đọc xong hành trạng của Thiền Sư Thong Thiền lú Ngài triệt ngộ ... lãnh hội yếu chỉ từ Thiền Sư Thường Chiếu (Trích đoạn :Một hôm Sư vào thất thưa hỏi rằng:Thế nào biết rõ Phật pháp?

Thường Chiếu đáp:

- Phật pháp không thể biết rõ, đây đâu có pháp biết. Chư Phật như thế, tu tất cả pháp mà không thể được.)

Tôi chợt nhớ đến Chứng Đạo Ca của Ngài Vĩnh Gia Huyền Giác như sau

Bậc tuyệt học vô vi nhàn đạo

Vọng không trừ , tưởng chẳng cầu chân

Tánh của Vô minh và Phật tánh không hai

Phật tánh ấy, chính là Thật Tánh của Vô Minh đấy

Thân ảo hoá với Pháp thân cũng vậy

Ảo hoá thân là hiện tướng của Pháp Thân

Biển Pháp thân ví Bản thể vô cùng

Thân ảo hoá tựa sóng mòi lao xao trên mặt nước

Nhận thức rõ hai thân PHÁP, HOÁ

Chợt tỉnh ra rằng Vạn pháp giai không

Tánh thiên chân là thật tánh của mình

Mình là Phật vốn là thiên chân Phật

Thân ngũ uẩn chỉ là phù vân tụ tán

Hợp rồi tan trong vũ trụ bao la

Sự diệt sanh, sanh diệt vô cùng

Nó hiện bữa với thời gian vô tận

....có lẽ thêm một nguyên do khác là ảnh hưởng của chủ trương Thiền phái Vô Ngôn Thôngđược truyền thừa trong thời gian bốn thế kỷ (từ đầu thế kỷ thứ chín đến đầu thế kỷ thứ mười ba),và chịu ảnh hưởng Phật Giáo Trung Hoa sâu đậm. Các thiền sư trong thiền phái này thay vì chỉ dùng các kinh Bát Nhã, đã sử dụng rất nhiều các kinh điểnkhác như kinh Viên Giác, Pháp Hoa, họ nhấn mạnh đến chủ trương đốn ngộ và vô đắc vốn rất gần gũi với giáo lý thiền phái Nam Phương ở Trung Hoa.

Riêng với Thiền Sư Thông Thiền có lẽ Kinh Đại Bát Nhã, kinh Kim Cang và Bát Nhã Tâm kinh ảnh hưởng nhiều nhất

Từ việc giảng giải Thế nào là người xuất thế?

Sư đáp:

- Đâu chẳng nghe người xưa nói: “Chỉ xem năm uẩn đều không, tứ đại vô ngã, Chân tâm không tướng, không đi không lại, khi sanh tánh chẳng đến, khi tử tánh chẳng đi, yên tĩnh tròn lặng, tâm cảnh nhất như.” Chỉ hay như thế, liền đó chóng liễu ngộ, không bị ba đời ràng buộc, bèn là người xuất thế. Cần thiết chẳng được có một mảy may thú hướng.

Cho thấy hoàn toàn giống cái thấy của người chứng đạo mà HT Từ Thông đã giải thích trong thi kệ 6- chứng đạo ca (Tứ đại là 4 chất : đất, nước , gió , lửa. Nó là cái thân bị lệ thuộc chi phối bởi luật vô thường như các hiện tượng vạn vật khác . Nó còn là kết quả của khổ và bất an nhiều mặt

Kinh điển thường ví sự tạm bợ mong manh vô chủ của nó qua danh từ huyễn thân

Ấy thế mà người đời có mấy ai thấy được tánh chất huyễn của nó .Trái lại người ta rất quý trọng nó hơn bấu ức thứ gì trên đơ.

Điều đáng nói là tạo nghiệp bất thiện trong suốt cuộc đời để phục dịch vun bồi cho nó không một phút giây nào nhàm chán

Y niệm đam mê luyến ái nặng nề về thân, kinh điển gọi là chấp ngã ...tức là quá tôn trọng cái thân.. Rồi vì Thân mà tạo ác nghiệp , vì thân mà chịu khổ (

Thân tứ đại đừng sanh tâm chấp đắm

Quay trỏ về thể vắng lặng của tâm mình

Đói thì ăn' khát uống ngại ngừng chi

Gọi là ngũ thể vẫn hư thì đời chi có thật

Nhận thấy được tánh chất " ngã không" thì "pháp không "thì tính Không sẽ không còn là vấn đề khó biết nữa

Chủ thể nhân thức đã là vô thường, vô ngã , khổ, bất tịnh, và không thì đối tượng nhân thức cũng không vượt ngoài sự chi phối đó . Cho nên người đạt đạo sẽ nhận thấy rõ : CHƯ HÀNH VÔ THƯỜNG NHẤT THIẾT KHÔNG

Thấy được tánh giai không của vạn pháp , thấy được tánh vô thường của hành pháp thì cái năng tri và sở tri đó trỏ thành một bầu vũ trụ NHƯ LAI VIÊN GIÁC nhiệm mầu

Lúc bấy giờ

Ta không cầu thành Phật

Phật cũng chẳng cầu thành ta

Ta là Phật

Phật là ta

Sau đó Ngài lại nhắc đến Chân Tâm và vọng tâm mà Căn bản của vô minh yêu ghét là do vọng tâm không thấu rõ pháp giới nhất tướng mà sanh, chứ không phải dựa vào cảnh mà sanh. Cảnh không sanh vô minh, đủ thấy bị cảnh làm chướng ngại chỉ tại "tình" của vô minh yêu ghét. Trái lại, nếu biết rõ tánh tướng của vạn pháp một cách thông suốt là tại nơi "trí". Vì thế, các loại kiến giải như : "Tâm tùy cảnh chuyển, cảnh chánh thì tâm chánh, cảnh tà thì tâm tà", hoặc "chìm trong trạng thái tịch tịnh, thích tĩnh lặng, ghét náo động", hay "phá tướng", "tích trần" (phân tích trần cảnh để đạt đến Tánh không) đều không phù hợp với giáo lý Đại thừa thuộc tông Pháp tánh của Kinh Hoa Nghiêm.

Sự sai biệt giữa chúng sanh và Phật đã chẳng phải tại cảnh, mà là tại "tình" và "trí". Do đó, muốn giải thoát, cần phải tu tập pháp môn Pháp giới duyên khởi để phát sanh trí huệ, đạt đến kết quả tâm cảnh dung thông vô ngại thì tâm chẳng bị cảnh chuyển, chẳng bị cảnh trói buộc, mà trái lại, còn có khả năng chuyển vật (cảnh), như KINH LĂNG NGHIÊM dạy : "Tâm chuyển được vật tức đồng Như Lai".

Để rồi ơn một thời điểm khác Ngài đã giảng giải về

Có vị Tăng khác hỏi:

- Thế nào là nghĩa vô sanh?

Sư đáp:

- Phân biệt các uẩn này tánh nó vốn không tịch, vì không, nên không thể diệt, đây là nghĩa vô sanh.

- Thế nào là lý vô sanh?

- Do việc điều uẩn, mới hiểu Tánh không, Tánh không chẳng thể diệt, ấy là lý vô sanh.

- Thế nào là Phật?

- Tâm vốn là Phật, do đó ngài Huyền Trang nói: “Chỉ liễu ngộ tâm địa nên hiệu là Tổng Trì, ngộ pháp vô sanh gọi là Diệu Giác.”

Có lẽ Ngài đã tiệm tu và đạt đến sơ trụ vị trong nhiều Hà sa kiếp nên mới có thể dùng những danh từ phát xuất từ kinh điển của Bát Nhã và Pháp Hoa như trích đoạn sau

Phẩm Như Lai thọ lượng, thứ 16, nói:

“Như Lai như thật thấy biết tướng của ba cõi, vốn không có sanh tử, không lui mất, không xuất hiện, không ở đời, không diệt độ, chẳng phải thật chẳng phải hư, chẳng phải như vậy chẳng phải khác đi, chẳng phải ba cõi mà thấy ba cõi”

Cái thấy ấy là thấy tánh Không, không có sanh không có tử, không lui mất không xuất hiện, chẳng phải như vậy chẳng phải khác đi. Cái thấy ấy soi chiếu tất cả hình tướng mà không đồng hóa với hình tướng nào, do đó không chia cắt thành không gian và thời gian. Như tấm gương bao la vô biên(Đại viên cảnh trí), trong đó có đủ các hình bóng vuông tròn xanh đỏ mà gương không vì thế trở thành vuông tròn xanh đỏ. Gương là sự xa lìa tuyệt đối, có tất cả mọi hình bóng mà chẳng dính dáng với cái gì. Đó gọi là “chẳng phải ba cõi mà thấy ba cõi”.

Thấy mà không từ một trung tâm, không dính bám một đối tượng nào, thì đây là cái thấy toàn thể, có tất cả mà chẳng phải là tất cả.

Phẩm Hiện bảo tháp thứ 11, Phật Đa Bảo nói: “Nếu lúc tháp báu của ta vì nghe kinh Pháp Hoa mà hiện ra trước chư Phật, có vị Phật nào muốn chỉ bày thân ta cho bốn chúng, thì các phân thân thuyết pháp của vị Phật ấy ở mười phương thế giới đều tụ lại một chỗ, rồi thân ta mới hiện ra”.

Các phân thân – hay Hóa thân – tụ lại một chỗ thì thân Phật – hay Pháp thân – hiện ra. Một nguyên lý của Đại thừa là “Ba cõi duy chỉ là tâm, muôn pháp duy chỉ là thức”, khi các thức phân tán tụ về lại một chỗ, thì cái toàn thể các thức hợp nhất ấy là tâm, Chân tâm, Nhất tâm.

Ở cấp độ của chúng ta, những phân thân của chúng ta là các sắc thanh hương vị xúc pháp được phóng chiếu qua mắt tai mũi lưỡi thân ý. Không biết điều căn bản này, chúng ta đã tạo cho mình thói quen từ rất lâu chạy theo những phóng chiếu ấy tạo thành “tham ái, bám sâu, tự che”, khiến những phóng chiếu ấy bị nhiễm ô. Sanh tử chúng ta đang trải nghiệm chính là những phóng chiếu bị nhiễm ô ấy. Những phân thân, những phóng chiếu ấy là những đứa con nghèo cùng, lạc lõng, không biết đâu là quê nhà, nguồn cội, đâu là người cha của mình và tiếp tục lang thang lạc loài trong sanh tử. (Phẩm Tín giải, thứ 4).

Thế nên, để chấm dứt sự lạc loài lang thang này, để trở về quê nhà với người cha hằng ngóng đợi, chúng ta phải đưa về, gom tụ những phân thânphóng chiếu lại một chỗ; chỗ ấy chính là nguồn cội từ đó phát xuất mọi phân thân phòng chiếu của chúng ta. Chỗ ấy chính là Pháp thân, là Nhất tâm.

Đưa tất cả bóng trở lại nguồn cội của chúng là tấm gương, lúc ấy chúng ta thấy ra tấm gương. Đưa tất cả sóng trở lại nền tảng xuất phát của chúng là đại dương, lúc ấy chúng ta kinh nghiệm được đại dương. Đưa tất cả tướng trở về một chỗ nguồn cội của chúng, lúc đó chúng ta thấy tánh, nền tảng của tất cả các tướng. Đưa tất cả những phân thân, hóa thân là sắc thanh hương vị xúc pháp trở lại cội nguồn nền tảng của chúng là Pháp thân, lúc ấychúng ta thấy nền tảng Pháp thân của mọi biểu hiện thành thân tâm, thế giới, chúng sanh. Đưa mọi sự vật, thế giới chúng sanh về nền tảng của chúng, lúc ấy thực tại Pháp thân hiện tiền trước mát chúng ta.

Khi những phân thân, phóng chiếu được đặt vào nền tảng của chúng là Pháp thân tánh Không, chúng trở nên “vốn không có sanh tử, không lui mất không xuất hiện, chẳng phải thật chẳng phải hư” như huyễn, như mộng. Đó là “như thật thấy biết tướng của ba cõi”, khi ấy ba cõi vốn là giải thoát.

Qua ba điều trên về cái thấy như thật, chúng ta học được rằng với đạo Phật, không có sự phân chia giả tạo giữa tâm và cảnh, không có chuyện tâm thấy cảnh và cảnh ở ngoài tâm, mà thật ra tâm cảnh là một, tâm cảnh nhất như. Nói cách khác, tất cả chỉ là Nhất Tâm.

Lời kết

Thật là tuyệt vời khi học về hành trạng một Thiền Sư mà HT Thích Thanh Từ tôn xưng là Đại Sĩ có lẽ vì Ngài đã hành thâm chiếu kiến ngũ uẩn giai không như Bồ Tát Quán Tự Tại vì theo định nghĩa về Đại Sĩ tôi được học là Đại sĩ phu là người có sức mạnh, Đại sĩ phu là con ngựa hay, Đại sĩ phu là bậc đứng đầu, Đại sĩ phu là người hơn hết. [X. Vô lượng thọ Như lai hội Q.thượng]. II.

Đại sĩ. cũng là tiếng tôn xưng Bồ tát. Dịch âm: Ma ha tát đỏa, cũng gọi Ma ha tát, cùng nghĩa với Bồ tát. Trong kinh thường nối liền: Bồ tát ma ha tát. Vì Bồ tát là bậc có đại hạnh, đại nguyện cứu độ chúng sinh nên gọi là Ma ha tát đỏa. Thông thường, khi Ma ha tát đỏa được dịch thành Đại sĩ thì Bồ tát phần nhiều được dịch thành Khai sĩ, nhưng đều chỉ cho Bồ tát cả

Kính trân trọng,



Kính ngưỡng Thiền Sư Thông Thiền ưu việt mẫn tiệp

"Thế nào là Phật Pháp? ." ...kính bạch Thầy (1)

"ĐÂY ĐÂU CÓ PHÁP BIẾT" lãnh hội yếu chỉ ngay (2)

Đệ tử nối pháp truyền thừa từ minh Sư Thường Chiếu (3)


Kính đa tạ Giảng Sư ..dòng sử Việt chính yếu

Kể từ năm thiền sư thị tịch đời vua Trần Thái Tông (4)

Kéo dài đến triều đại phong kiến suy vong

Để từ đấy sau ba mươi năm lật trang sử khác



Quay về Tổ sư Thiền phân biệt ...MÊ và Giác (5)

Pháp biết thật sự ....chỗ lặng lẽ của riêng mình

Cơ phong giáo hoá ...phỏng theo Bát Nhã tâm kinh (6)

Tâm cảnh nhất như ....vì Chân Tâm không hình tướng (7)


Kính tri ân Giảng Sư ôn nhắc hai vị Tổ ....

Thanh Nguyên Hành Tư và Nam Nhạc Hoài Nhượng (8)

Cùng câu chuyện Isabella ác quỷ hiện dưới dáng thiên thần (9)

Tâm cảnh nhất như do Tâm không bị cảnh chuyển (10)


"Người xuất thế " phải tận trừ phiền não..ảo huyễn

Năng lực Chân Tâm ...tìm học Ngài Huyền Trang (11)

Người đạt đạo hiểu rõ nhất thiết pháp bất sanh

Ngay trong sát na ...giải thoát hay trầm luân khổ !

Ảnh hưởng thiền phái Vô Ngôn Thông ... vô đắc , đốn ngộ !

Nam Mô Thiền Sư Thông Thiền tác đại chứng minh ,



Huệ Hương

Sydney 16/11/2021


thich nguyen tang (2)thich nguyen tang (4)
thich nguyen tang (5)



Chú thích

(1)

Sư họ Đặng quê làng Ốc, An La. Sư cùng Quách Thần Nghi ở chùa Thắng Quang đồng thờ Thiền sư Thường Chiếu ở chùa Lục Tổ làm thầy.

Một hôm Sư vào thất thưa hỏi rằng:

- Thế nào biết rõ Phật pháp?

(2) Thường Chiếu đáp:

- Phật pháp không thể biết rõ, đây đâu có pháp biết. Chư Phật như thế, tu tất cả pháp mà không thể được.

Sư ngay câu nói này lãnh ngộ yếu chỉ.

(3)


Thế hệ 11 - Quảng Nghiêm (mất 1190) và tám người khuyết lục

Thế hệ 12- Thường Chiếu ( mất 1230)và sáu người khuyết lục trong đó có thể có Thiền sư Trí Thông mà thiền Sư Hiện Quang đến thọ cụ túc sau khi Thường Chiếu mất

Thế hệ 13- Thông Thiền (mất 1228) Thần Nghi (mất 1221) và ba người khuyết lục

Thiền Sư Thường Chiếu được xem là người người can đảm phi thường dám nói thẳng về sự thị tịch của Bồ đề Đạt Ma. Không chấp nhận câu chuyện được truyền lại và tuyên bố dõng dạc một câu để đời

Thần Nghi thưa : “Rõ ràng vua Hiếu Trang Đế cho người dở quan tài ở núi Hùng Nhĩ thấy chỉ có một chiếc dép, còn môt chiếc Tổ đã quảy về Ấn Độ”.

Ngài bảo : “Một con chó lớn sủa láo, bầy chó nhỏ sủa theo”.

(4)

Đến niên hiệu Kiến Trung thứ tư (1228) đời Trần Thái Tông, vào lúc tháng 7, Sư tịch.


Từ Trần Thái Tông đến Trần Hiếu Đế cuối cùng của nhà Trần (179 năm ) =>Hồ Quý Ly (7 năm) => Hậu Trần (19 năm)=> Lê sơ (99 năm) =>Nhà Mạc Đăng Dung (99 năm )=> Hậu Lê (25 năm )=> Trịnh Nguyễn phân tranh => Tây Sơn => Nhà Nguyễn từ Vua Gia Long đến Bảo Đại chấm dứt Triều đại phong kiến 1945 => 1975 chế độ tự do thay đổi lịch sử sang trang


(5) Vì đức Phật là người giác ngộ. Đạo là phương pháp hay là một con đường, Phật là giác ngộ. Nói tới đạo Phật tức là nói tới phương pháp giác ngộ. Giác ngộ thì không có mê tín, mê tín thì không phải giác ngộ. Mê thì không phải giác mà giác thì không phải mê, nó rõ ràng như vậy.

“Tánh Giác tròn đầy sáng tỏ đã hiện ra nên hiển bày tâm thanh tịnh. Tâm thanh tịnh thì cái thấy trần thanh tịnh. Cái thấy thanh tịnh thì nhãn căn thanh tịnh. Nhãn căn thanh tịnh thì nhãn thức thanh tịnh. Thức thanh tịnh thì cái nghe trần thanh tịnh. Cái nghe thanh tịnh thì nhĩ căn thanh tịnh. Nhĩ căn thanh tịnh thì nhĩ thức thanh tịnh. Thức thanh tịnh thì cái tri giác trần thanh tịnh. Như thế cho đến mũi, lưỡi, thân, ý đều thanh tịnh”.

“Thiện nam tử! Căn thanh tịnh thì sắc trần thanh tịnh. Sắc thanh tịnh thì thanh trần thanh tịnh. Hương vị xúc pháp cũng đều thanh tịnh như vậy.”

“Sáu trần thanh tịnh thì địa đại thanh tịnh. Địa đại thanh tịnh thì thủy đại thanh tịnh. Hỏa đại phong đại cũng lại thanh tịnh như vậy”.

“Bốn đại thanh tịnh thì mười hai xứ, mười tám giới, hai mươi lăm cõi đều thanh tịnh. Bởi tất cả thế gian thanh tịnh nên mười lực, bốn vô sở úy, bốn vô ngại trí, mười tám pháp bất cộng, ba mươi bảy phẩm trợ đạo đều thanh tịnh. Như thế cho đến tám vạn bốn ngàn môn đà-la-ni, tất cả thanh tịnh”.

“Tất cả đều là thật tướng thanh tịnh thế nên một thân thanh tịnh. Một thân thanh tịnh như thế cho đến nhiều thân thanh tịnh. Nhiều thân thanh tịnh như thế cho đến mười phương chúng sanh đều là tánh Viên Giác thanh tịnh”.

Vì đã trừ các dơ bẩn của huyễn nên tất cả đều là tánh Viên Giác thanh tịnh. Kinh còn nói nhiều đoạn về thanh tịnh, vì thanh tịnh chính là tánh Viên Giác. Ở đây chúng ta chỉ trích ra một đoạn để thấy tâm thanh tịnh của người tu đạo Bồ-tát:

“Thiện nam tử! Vì thành tựu tánh Giác nên phải biết Bồ-tát không dính với pháp buộc, chẳng cầu pháp thoát, không chán bỏ sanh tử, chẳng yêu đắm Niết-bàn, không kính người giữ giới, chẳng ghét người phá giới, không nể sợ người tu lâu, chẳng coi thường người mới học”.

“Vì sao thế? Vì tất cả là tánh Giác vậy”.

(6)

Theo Từ điển Phật học Tuệ Quang, Từ điển Đạo uyển, Pháp có các nghĩa chính như:

- Luật lệ, tập quán, thói quen, tiêu chuẩn của phép cư xử, bổn phận, nghĩa vụ, quy củ trong xã hội… p

- Điều lành, việc thiện, đức hạnh.

- Đối tượng của tâm ý (pháp trần).

- Giáo pháp của Đức Phật bao gồm Kinh-Luật-Luận.

- Chân lý, thực tại tối hậu, bản thể, tự tính. L

Chữ Pháp trong hai đoạn kinh trên, “Ai thấy được lý duyên khởi, người ấy thấy được Pháp; ai thấy được Pháp, người ấy thấy được lý duyên khởi” (Kinh Trung bộ, số 28, Đại kinh Dụ dấu chân voi) và “Ai thấy Pháp, người ấy thấy Như Lai; ai thấy Như Lai, người ấy thấy Pháp” (Kinh Tương ưng bộ) không mang ý nghĩa Phật pháp hay giáo pháp (Tam tạng) mà chính là thực tại tối hậu.


“Trong Phật giáo, cái thực chính là Pháp. Pāli là Dhamma, Sanskrit là Dharma, là Pháp được dùng để chỉ cái thực này. ‘Ai thấy Pháp tức là thấy Như Lai, ai thấy Như Lai tức thấy Pháp’. Chúng ta có thể nói một cách khác: ‘Ai thấy cái thực tức thấy Như Lai, ai thấy Như Lai tức thấy cái thực’. Pháp là sự thật, là chân lý, là thực tại hiện tiền, là cái đang là. Pháp đã được khai thị bởi Đức Thế Tôn là thực tại hiện tiền (thấy ngay lập tức), không có thời gian, hãy hồi đầu mà thấy, ngay trên đương xứ, mà mỗi người có thể tự mình chứng nghiệm”.

(7)

Sư trở về cố hương, học giả nghe pháp tụ hội rất đông. Phàm có người thưa hỏi, Sư thảy đều dùng tâm ấn tâm.

Có vị Tăng hỏi:

- Thế nào là người xuất thế?

Sư đáp:

- Đâu chẳng nghe người xưa nói: “Chỉ xem năm uẩn đều không, tứ đại vô ngã, Chân tâm không tướng, không đi không lại, khi sanh tánh chẳng đến, khi tử tánh chẳng đi, yên tĩnh tròn lặng, tâm cảnh nhất như.” Chỉ hay như thế, liền đó chóng liễu ngộ, không bị ba đời ràng buộc, bèn là người xuất thế. Cần thiết chẳng được có một mảy may thú hướng


Pháp biết của phàm phu là những vọng tưởng điên đảo , của đối đãi thị phi trong khi Pháp Biết thật sự là TU TẤT CẢ MÀ KHÔNG THỂ ĐƯỢC ( không có chỗ để chứng - VÔ SỞ ĐẮC)


(7)

Căn có 6 : nhãn nhỉ tỷ thiệt thân yếu biểu hiện thông qua 6 giác quan

Tâm được biểu hiện bằng 6 công dụng : tánh thấy nghe Ngửi , nếm, xúc và biết

Thúc tâm là do áy căn biểu hiện, căn là chỗ sở y của thức tâm, cho nên Tâm không ngoài 6 căn Sáu căn không ngoài Tâm, Tâm là Căn vậy


Pháp lại gọi chung trong 6 dạng ... Sắc thanh, hương, vị, xúc, pháp Sáu món này biểu trung cho hiện tượng vạn hữu trong mắt ta. Tánh của chúng vốn không nhiễm ô, nhưng vì chúng mà 6 căn của con người có thể nhiễm ô, nên gọi là Trần .

Trần không ngoài các pháp , các pháp là dữ kiện sanh ra Trần => Pháp chính là Trần vậy

Căn và Trần vừa là nguyên nhân vừa là kết quả sanh khởi ra phiền não vô minh , Vô minh là nguồn gốc của mọi nguyên nhân đau khổ

Nhưng truy nguyện chúng ra, thì chúng cũng chỉ là một thứ huyễn hư, KHÔNG CÓ TỰ TÁNH

Đối với những ai có được một tâm tánh rỗng rằng, thanh tịnh của con người, thì chúng chỉ là một thứ bụi bám trên thể gương sáng mà thôi. Bụi một khi được lâu rồi thì thể sáng tự khắc hiện ra

Pháp giới duyên khởi là học thuyết chính của tông Hoa Nghiêm về các hiện tượng tâm lý và vật lý trùng trùng vô tận trong vũ trụ. Nhất đa vô ngại là nội dung thực tế của Pháp giới duyên khởi và đồng thời cũng từ đây sanh ra phạm trù tâm cảnh dung thông trong khi giải thích về sự quan hệ giữa tâm và cảnh.


Tâm cảnh dung thông vô ngại được xây dựng trên lý luận tất cả các hiện tượng tâm lý và vật lý đều có sẵn tánh đồng nhất. Loài người có tri giác và vật vô tình không có tri giác. Từ hai phương diện này hình thành thực tại khách quan của muôn vật trong vũ trụ. Người và vật vô tình trên tác dụng có tri giác và không tri giác thì bất đồng, do đó mà bản tánh cũng chia ra thành Giác tánh và Pháp tánh. Cũng từ đó sanh ra sự phân biệt hữu tình gọi là Phật tánh, vật vô tình gọi là Pháp tánh. Nhưng Giác tánh và Pháp tánh không phải hoàn toàn phân cách với nhau mà giữa chúng có mối liên hệ không thể chia cắt, và tại phương diện này, chúng còn có tánh đồng nhất.


Theo giáo lý học Phật ta lại biết cái Tâm của con người từ xưa đến nay vốn thanh tịnh, trong sáng rảnh rằng...

Còn cảnh bên ngoài thì sắc, thanh hương vị xúc mà tasnh của chúng vốn lặng lẽ và vô tình , nên kinh Pháp Hoa khuyên chúng ta nên nhìn chúng như THỊ thì sẽ không gây đau khổ gì cho mình

Một người tu tập nếu biết hồi quang phản chiếu nhận lấy Tâm Không vốn có, nhận biết Cẩnh vốn tịch tĩnh như vậy thì sẽ viễn ly được vọng tâm đắm nhiễm sai lầm chân lý của mình trong cuộc sống hằng ngày . Đó là lúc chúng ta sống được trong chân tâm thường trú , sống trong thể tánh tịnh minh của mình


(8)

Một hôm, Ngài Thanh Nguyên Hành Tư hỏi Lục Tổ Huệ Năng: Tu hành thế nào thì không bị rơi vào phân biệt? Lục Tổ hỏi vặn lại sư: Ông từng tu hành thế nào ? Sư đáp: Tuy không theo tục đế, nhưng cũng không cầu tìm Thánh. Tổ hỏi: Vậy thì ông rơi vào phân biệt gì ? Sư đáp: Thánh đế còn không tìm cầu thì còn có phân biệt gì ?


Riêng Ngài Nam Nhạc Hoài Nhượng đến Tào Khê tham yết Tổ Huệ Năng,

Tổ hỏi: "Ở đâu đến?" Sư thưa: "Ở Tung Sơn đến." Tổ hỏi: "Vật gì đến?" Sư trả lời không được bèn ở lại. Sau tám năm, sư chợt tỉnh, đến trình Tổ câu trả lời sau: "Nói là một vật là không đúng."Tổ hỏi: "Lại có thể đạt được chăng?" Sư đáp: "Tu chứng tức chẳng không, nhiễm ô tức chẳng được." Tổ bèn nói: "Chính cái không nhiễm ô này là chỗ hộ niệm của chư Phật, ngươi đã như thế, ta cũng như thế.


(9) Isabella Guzman là ai?Ác quỷ trong thân hình của một thiên thần

Isabella Guzman là một cô gái đã gây ra vụ án kinh hoàng ngay trong gia đình của mình.

Vào tháng 8 năm 2013, Isabella Guzman, 18 tuổi, bị buộc tội giết người cấp độ một trong vụ đâm chết mẹ cô, Yun Mi Hoy, tại nhà ở Aurora, Colorado

Nhiều người dùng mạng phải rùng mình ớn lạnh khi tìm hiểu về quá khứ phạm tội của cô gái ưa nhìn này. Theo tài liệu của tòa án, Isabella đã đâm mẹ ruột của mình, bà Yun-Mi Hoy, nhiều nhát vào mặt và cơ thể trong phòng tắm tại nhà riêng của họ. Lúc đó, Isabella mới chỉ là thiếu nữ 18 tuổi.( tổng cộng gần 150 nhát )

Cách đây không lâu, hai mẹ con xảy ra mâu thuẫn khi gia đình phát hiện bạn trai Isabella lẻn vào nhà. Sau đó vụ án thương tâm đã diễn ra theo một cách 'kinh dị' nhất có thể.

Trước khi xảy ra vụ án, Isabella từng nhổ nước bọt lên người mẹ và viết mail: “Bà phải trả giá”. Tuy nhiên, một vài người hàng xóm nói rằng Isabella đã phải hứng chịu nhiều trận bạo hành và những lời mắng chửi từ mẹ của mình nên có lẽ đó là giọt nước tràn li cho cơn tức giận bị kìm nén của cô.

Vụ việc xảy ra vào buổi tối ngày 28/8/2013, lúc đó bà Yun-Mi Hoy đi làm ca đêm trở về nhà và bước vào phòng tắm. Vào thời điểm ấy, Isabella Yun đang ở phòng riêng còn cha dượng cô Ryan Hoy đang một mình ngồi ăn ở căn bếp dưới nhà.

Tuy nhiên, khi bà Yun-Mi Hoy bước vào nhà tắm chưa được bao lâu thì ông Ryan Hoy nghe thấy tiếng động lạ trên lầu. Ông vội chạy lên xem xét tình hình và cố gắng mở cửa phòng tắm nhưng không được. Qua khe cửa, ông nhìn thấy rõ cô con gái riêng của vợ, Isabella đang ra sức chốt cửa lại.

Vào tháng 6 năm 2014, Guzman đã không nhận tội vì lý do mất trí, với các công tố viên nói rằng có bằng chứng rõ ràng rằng cô ấy bị bệnh tâm thần, CBS Denver đưa tin vào thời điểm đó.

Một bác sĩ đã làm chứng trước tòa rằng cô bị tâm thần phân liệt, cô đã bị chứng hoang tưởng trong nhiều năm, và cô đã đâm mẹ mình vì cô tin rằng mẹ cô là một người phụ nữ tên Cecelia cần phải bị giết để cứu thế giới.

Tòa án cũng khẳng định Isabella Guzman bị tâm thần phân liệt, không biết đúng sai và, do mắc chứng tâm thần phân liệt và hoang tưởng hoang tưởng, ảo giác thính giác, thị giác. Thế nên, Guzman được đưa vào bệnh viện tâm thần của bang và sẽ ở đó cho đến khi cô ấy được coi là không còn là mối đe dọa đối với cộng đồng hoặc chính cô ấy.

(10) Lục Tổ có dạy rõ: "Ở trên cảnh mà tâm chẳng nhiễm là vô niệm. Ở trên niệm của chính mình mà thường lìa cảnh, chẳng ở trên cảnh sanh tâm. Nếu chỉ trăm vật chẳng nghĩ niệm phải trừ hết, một niệm dứt tức là chết rồi, sẽ sanh nơi khác, ấy là lầm to. Người học đạo suy nghĩ đó, nếu không biết cái ý của pháp thì tự lầm còn có thể, lại dạy người khác, tự mê không thấy lại còn chê bai kinh Phật, vì thế nên lập vô niệm làm tông".

Lục Tổ dạy vô niệm không phải là diệt niệm để thành không, không còn biết gì hết rồi ngồi trơ như khúc gỗ thì đó là lầm to. Ngài dạy ở trên cảnh mà tâm chẳng nhiễm mới là vô niệm, chứ không phải diệt hết niệm không còn biết gì hết giống như cây như gỗ. Tức là ở trên cảnh mà chẳng sanh tâm và ở trên niệm mà thường lìa cảnh. Ở trên niệm mà lìa cảnh, lìa cảnh tức là đâu có sanh. Không phải diệt niệm mà ngay niệm đó nhưng lìa cảnh thì sáng ngời. Cho nên ở trên niệm mà lìa cảnh, chẳng sanh tâm ở trên cảnh tức là niệm không rời tự tánh để đi theo cảnh. Tu hành như thế thì đâu có mê được. Mình vẫn thấy nghe nhưng lìa cảnh thì đâu có mê. Còn sở dĩ mê là do dính cảnh, theo cảnh. Vô niệm như vậy đồng với tinh thần Sơ Tổ Trúc Lâm dạy: "Đối cảnh vô tâm chớ hỏi thiền".

Lục Tổ dạy thêm: "Này thiện tri thức! Tự tánh chân như khởi niệm tuy có sáu căn thấy nghe cảm biết mà chẳng nhiễm muôn cảnh thì chân tánh thường tự tại". Tức là tự tánh chân như khởi niệm không phải là cái vọng tâm khởi niệm. Ngay từ tự tánh chân như khởi niệm cho nên tuy có sáu căn thấy nghe cảm biết rõ ràng nhưng không nhiễm muôn cảnh, do đó chân tánh thường tự tại, là niệm mà chưa từng niệm. Tuy khởi niệm mà sự thực là chưa từng có khởi. Đây là dùng theo ngôn ngữ thế gian tạm nói vậy, chứ sự thực niệm mà chưa từng niệm nên không theo cảnh sanh tâm để mất mình. Nghĩa là, tuy niệm niệm nhưng không rời tự tánh nên đâu có mất mình. Còn mình niệm mà theo cảnh là rời mất tự tánh, rời mất tự tánh mới mê, mê mới mất mình. Bởi vậy thấy nghe hiểu biết mà lìa mọi cảnh thì thường tự tại, đâu có bị ngăn ngại, đâu bị che mờ. Có lần Tướng quốc Bùi Hưu hỏi Thiền sư Hoàng Bá: "Thế nào là Phật?". Sư đáp: "Tức tâm là Phật, không tâm là đạo, chỉ không cái tâm động niệm có không, dài ngắn, ta người, năng sở v.v. Tâm vốn là Phật, Phật vốn là tâm. Tâm như hư không, sở dĩ nói chân pháp thân của Phật ví như hư không không nên cầu riêng, có cầu đều khổ". Ở đây Ngài Hoàng Bá cũng dạy tinh thần vô niệm chân chánh là như vậy, không phải diệt niệm thành không, mà chính ngay cái tâm mà không khởi tâm động niệm theo có không hai bên đối đãi đó chính là tâm Phật, đó là chơn vô niệm. Như vậy không phải là diệt hết niệm hoặc không còn tâm gì hết. Tông chỉ tu hành rõ ràng như vậy, nắm vững tông chỉ này để tu thì bảo đảm con đường vượt thoát sanh tử luân hồi không còn nghi. Không có động niệm khởi theo cảnh thì đâu có bị cảnh dẫn, không bị cảnh dẫn thì tức là thường tự tại, tức là vượt qua cái sanh diệt cho nên hễ vừa động niệm rơi vào hai bên phải tỉnh giác ngay để kéo lại thì sẽ rút ngắn thời gian bất giác mê lầm. Còn nếu cứ theo đó mà tiếp tục thì đi vào trong sanh diệt. Bởi vậy có câu "Nhất ba tài động vạn ba tùy". Một lượn sóng khởi thì muôn vàn lượn sóng nối tiếp. Nếu mình không giác kịp thì vậy đó. Thí dụ khi nhập thất đang ngồi yên chợt nhớ lại khi hồi bé còn đi học. Nếu vừa động niệm như vậy dừng lại ngay thì không sao, nhưng động niệm vậy rồi theo nó thì bao nhiêu cảnh sẽ tiếp, đi học rồi sao, học ở đâu, vui buồn đi chơi v.v.. Nó kéo dài một hơi dẫn đi cả nửa tiếng. Nếu khéo tu hành là phải thường soi trở lại trước khi niệm khởi để mình trở về chỗ trước khi động niệm thì không phải theo niệm mà sanh. Mà không sanh thì không diệt. Phải nắm vững vậy, hễ có sanh là có diệt, chạy đâu cũng không khỏi, dù chạy lên cõi trời phi tưởng phi phi tưởng cũng không khỏi nó luôn. Còn không sanh thì mới không diệt, không phải chạy đâu hết mà cũng khỏi. Nắm vững yếu chỉ đó thì khi mình tu là không lầm. Hãy quán kỹ, hễ cái gì có sanh thì phải có diệt, thì cái đó không phải thật mình nên theo. Còn không sanh thì thì đó mới là chỗ sống của mình. Đó lẽ thật như vậy.

(11) Có vị Tăng khác hỏi:

- Thế nào là nghĩa vô sanh?

Sư đáp:

- Phân biệt các uẩn này tánh nó vốn không tịch, vì không, nên không thể diệt, đây là nghĩa vô sanh.

- Thế nào là lý vô sanh?

- Do việc điều uẩn, mới hiểu Tánh không, Tánh không chẳng thể diệt, ấy là lý vô sanh.

- Thế nào là Phật?

- Tâm vốn là Phật, do đó ngài Huyền Trang nói: “Chỉ liễu ngộ tâm địa nên hiệu là Tổng Trì, ngộ pháp vô sanh gọi là Diệu Giác.”

*


🙏🙏🙏🌹🥀🌷🍀🌷🌸🏵️🌻🌼🍁🌺🍀🌹🥀🌷🌸🏵️

thieu lam tu

Trở về Mục Lục Bài giảng của

TT Nguyên Tạng về Chư Vị Thiền Sư Trung Hoa

🙏🙏🙏🌹🥀🌷🍀🌷🌸🏵️🌻🌼🍁🌺🍀🌹🥀🌷🌸🏵️
facebook

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn