Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   
Bài mới nhất

Thiền Lâm Châu Ky

24/07/201307:46(Xem: 7581)
Thiền Lâm Châu Ky

Thien_Lam_Chau_ky



LỜI GIỚI THIỆU

của Hòa Thượng Thích Huyền-Tôn

với Tập Hán Dịch THIỀN LÂM CHÂU KI (Cơ)

của Thích Nữ Thể Viên.


Kính Chư Độc Giả,

Sư Cô Thiền-Hạnh tự là Thể Viên. Sư-Cô đã Tất Nghiệp Văn Bằng phiên dịch: Trung Tâm Phiên Dịch Hán Nôm Huệ-Quang 2000 – 2003. Và Hán Văn Phật Học Viện Nghiên Cứu PGVN 2004 - 2006.

Tại Bảo-Vương Tự, Sư Cô đã dịch xong các bài NGỮ LỤC của các Thiền Sư qua các đời TỐNG, THANH, NGUYÊN trên pháp tọa THƯỢNG ĐƯỜNG khi các Ngài “Phú Truyền Tâm Pháp” cho, khi hằng ngàn thiền giả hay một hai vị.

Các văn cú Thượng Đường của 13 Thiền Sư đã Đắc Đạo như :

*Ngột Am Phổ Ninh Thiền sư-Đời Nam Tống.

*Hoành Xuyên Như Củng Thiền sư-Đời Nhà Nguyên.

*Cao Phong Nguyên Diệu Thiền sư-Đời Nhà Nguyên.

*Nguyên Sưu Hành Đoan Thiền sư-Đời Nhà Nguyên.

*Đại Phương Hành Hải Thiền sư-Đời Nhà Thanh.

*Thiết Bích Huệ Cơ Thiền sư-Đời Nhà Thanh.

*Thiên Nhiên Hàm Thị Thiền sư-Đời Nhà Thanh.

*Đại Hưu Tịnh Châu Thiền sư-Đời Nhà Thanh.

*Tri Không Học Uẩn Thiền sư-Đời Nhà Thanh.

*Tam Sơn Đăng Lai Thiền sư-Đời Nhà Thanh.

* Cổ Lâm Trí Thiền sư-Đời Nhà Thanh.

* Lữ Nham Hà Thiền sư-Đời Nhà Thanh.

* Thuần Bị Quảng Đức Thiền sư-Đời Nhà Thanh.

Sư Cô thỉnh Tôi duyệt văn, đọc qua bản dịch của Sư Cô và đối chiếu với Hán bản Thiền Lâm Châu Ki. Tôi phải nhìn nhận là nghiêm chỉnh và đã giữ trọn văn phong ẩn bí của Thiền Gia, lối nói thẩm sâu kỳ bí của các Tổ Thiền như đâm thủng núi thiết vi, như sợi tóc chẻ đôi thế giới! Có khi bảng lãng như xóa sạch cả hư không! Có lúc như vo tròn một quả hành tinh rút nhỏ bằng hạt bụi!

Những chữ, câu thật khó, hiểm hóc! Thế mà dịch giả đã viết ra lời dịch như ẩn cổ tượng kim, người đọc tưởng chừng như mình vừa “Chợt Ngộ” cái gì ấy?

Mời quí vị xem qua, để biết các Tổ Thiền đắc pháp rồi, Ngài nói gì? Dạy gì? mà thâm thẩm huyền cơ như vậy. Biết đâu, lại chẳng giúp cho ta “Có chút gì sở ngộ” trong cảnh giới vô tận của Thiền hay sao.

Mùa An Cư Năm PĐS 2632. VL4887. (Mậu-Tý)




hoa_sen (1)

TỰA

Trung Hoa Pháp Sư Thích Duy Minh - Kết Tập.

Úc Châu- Melbourne, Thích Nữ Thể Viên - Việt Dịch.

Pháp môn chỉ thẳng của Thiền Tông, đều bắt nguồn từ “Đức Thế Tôn niêm hoa, tôn giả Ca Diếp mĩm cười,” sự thật ngược dòng lịch sử thì đêm mùng tám tháng chạp, Thế Tôn nhập định đến lúc sao mai mọc, Ngài đại ngộ thành Phật! “ Tất cả pháp không sanh thì trí tuệ sanh, trí tuệ sanh thì các pháp không sanh.” (Bát nhã là tâm thanh tịnh, trí tuệ nhiệm mầu, một niệm hiện tiền, bản lai đầy đủ) Hai câu này bao quát pháp môn đốn và tiệm, hổ tương nhau làm dụng, có thể nói bao quát hết cả năng và sự của việc tu hành! Nhưng điểm chú trọng của Thiền Tông là đại ngộ, họ đều liên tưởng đến tham thoại đầu. Nhưng thoại đầu chỉ chú trọng trước khi niệm chưa sanh; một niệm không sanh (niệm hiện tiền thể tự vô sanh) toàn thể hiện, thức thứ tám (còn gọi là căn bản thức; chơn như hòa hợp, biến hiện căn thân khí giới, chủng tử) tiêu, chơn tâm (phần thanh tịnh của thức thứ tám) hiển hiện. Thoại vĩ là rơi vào đệ nhị niệm, vào hang thức thứ tám, Tam tâm, tứ tướng rối ren, muốn xuất đầu chỉ là uổng công không nhằm vào đâu! Tham thoại đầu, Tổ Sư muốn người tham phải khô hết tâm cuồng vọng, không nên chú cước thánh giải theo phàm tình, gậm nhắm những câu thoại đầu vô ý vị (ba cân gai, que cức khô), ý thức có chỗ không thấu suốt được, lâu ngày như nước đóng băng, bản lai diện mục hiện tiền.

Nhưng, Tổ Sư lập ra tham thoại đầu, chỉ là tùy bệnh cho thuốc, nên chỉ một phương thức dụng công. Đúng ra thì “chơn như” tùy duyên bất biến, sáu căn tùy thời ảnh hiện! Thế Tôn thấy sao mai ngộ đạo, niêm hoa Ca Diếp mĩm cười, cho đến những cơ phong đưa chùy, dựng phất tử, khảy móng tay, dựng gậy, đánh, hét v.v, phải chăng hiển hiện một thoại đầu! Nhiều đại đức luôn quán sáu căn, bảo nhậm mà thấu được! Về nguồn không hai, nhưng trên phương tiện có nhiều pháp môn, không nên chấp nhất định vào một pháp.

Vốn là nhất tinh minh chia thành lục hòa hợp: “ở mắt là thấy, tai là nghe, mũi ngửi mùi, miệng luận bàn” thấu triệt một căn đều có thể vào được đạo. Người xưa chỉ dạy hơi nhiều, ghi nhiều tắc nhằm giúp người mau vào đạo.

Thiền Sư Huyền Sa Sư Bị: có vị Tăng đứng hầu, Sư lấy gậy chỉ điểm trắng dưới đất, hỏi Tăng: “Thấy gì chăng?” Tăng thưa: “Thấy”

Ngài hỏi như thế ba lần tăng đều nói thấy.

Ông cũng thấy, Ta cũng thấy, cớ sao ông không lãnh hội?

Ngày khác, Sư Bị ăn trái cây với Vi Giám Quân, Vi hỏi: “Tại sao hằng ngày ứng dụng mà không biết?”

Sư đưa miếng trái cây lên mời Vi ăn.

Vi ăn trái cây xong hỏi nữa. Sư nói: “Chỉ cái này mà hằng ngày dùng không biết!”

Tăng hỏi Đạo Phố Thùy Long Tuyền Châu Hiệu Hoằng Giáo Đại Sư: “Con mới vào chốn tòng lâm, xin Thầy chỉ dạy pháp tu.”

Sư gõ vào cánh cửa hỏi: “ Trong đó có việc gì chăng?”

- Có.

- Việc trong ấy thế nào?

Sư gõ cánh cửa lần nữa.

Con mới vào tòng lâm, thỉnh Hòa Thượng chỉ đường vào.

Sư im lặng giây lâu, học nhơn lễ bái.

- Ông lễ bái ai?

- Con lễ Hòa Thượng.

- Nếu ông ngộ, thì ông lễ ông, nếu ông không ngộ thì ông lễ Lão Tăng.

Cư sĩ Tế Dung hỏi Thiền Sư Tiệm Tu Duyệt Chiêu Giác Tứ Xuyên: “Đệ tử sống ở đây họ Sử, không biết sau khi chết là họ gì?”

Sư gọi “Tế Dung!” cư sĩ dạ.

- Họ gì!

Bà lão dưới núi bị mất trâu, Bà thỉnh Hòa Thượng Đầu Tử bói thử. Sư gọi Bà! Bà dạ. Sư nói: “ Trâu đó.”

Một người mù cầu xin Thiền Sư Viên Chứng Trạm Nhiên khai thị, Sư nắm tay học trò chỉ: “Đây là ghế! Đây là bàn.” Người mù lễ bái.

Sư nói: “Cả một nhà người không bằng gã mù này.

Pháp môn Thiền không khó không dễ, quý ở điểm trước khi niệm chưa sanh! Người xưa nói: “Nếu đi trên đao kiếm thì nhanh, nếu thấy qua tình thức thì chậm” ( Bàng Công: “Khó, khó, khó! Mười tạ dầu mè thoa lên cây” Long Bà: “Dễ, dễ, dễ! Như ngủ trên gường thò chân xuống đất.”) Thế nên dựng phất tử, đưa gậy, hoàn toàn là chỉ ra tâm thể của đương nhơn! Bát nhã sanh thì tất cả pháp không sanh- soi thấy năm uẩn đều không, vượt qua tất cả khổ ách: Đó gọi là pháp môn hành thâm Bát Nhã Ba La Mật! Dụng công trên tình thức này, gọi là thiển Bát Nhã, không gọi là thâm Bát Nhã.

Ngoài ra, Thiền Sư Đạo Độc Tông Bạo là bậc kỳ túc cuối đời Minh có để lại Ngữ Lục truyền đời, trong Ngữ Lục có bài tựa: “Trong đạo trực chỉ, trình bày lý nhất quán, vén đám mây mờ để cho học nhơn không bị lạc lối.” Hễ nói đạo Phật Tổ, vốn chỉ thẳng tâm người, thấy tánh thành Phật là đích, lấy ngộ làm phép tắc. Hễ nói tâm người tức thị, tức thì không nhọc hạ thủ công phu! Chỉ còn khác nhau ngộ và không ngộ thôi! Nếu ngộ, thì phàm phu và Phật đồng nhất, tức là tâm phàm trở thành tâm Phật, thật không có thay đổi. chưa ngộ thì nghiệp thức mênh mang, không nơi tựa, tức là vào trong biển khổ sanh tử. Bổn pháp chưa từng lây động. Dù cho không kiếp hay hiện tại cũng tạo thành một khối; chúng sanh chư Phật đâu có hai! Xét tận tâm nguyên, chỉ là nhất tâm mà thôi; chỉ một tâm này, không chấp nhận hào ly nào, dù đó là vọng hay chơn! Ngài Đức Sơn nói: “Phật cũng không, pháp cũng không.” “Nếu khắp cả mười phương thế giới còn chấp nhận một pháp một trần để cho ông sanh kiến giải, thì tất cả đều bị rơi vào thiên ma, ngoại đạo, thủy lục chư thần! Mình cũng không phải là Thiện Tri Thức, cũng không có Thiền, Đạo để học.” Đưa ra như vậy thì biết rằng bản tánh không dung nạp một mảy tơ!

Sơ Tổ từ Ấn sang, mật truyền tâm ấn, tâm ấn tâm,(đem tâm truyền tâm), không mở pháp môn, không cho hội theo giải thích, chỉ quý ngay đó lãnh ngộ được! Thậm chí tiếp người: hoặc vào cửa liền đánh, hoặc thọp cổ, hoặc dùng những ngôn từ kỳ quặc, hoặc đá đạp cho đau; hoặc còn bạo ngữ hơn: “Ba cân gai, que cức khô”, đạo chỉ thẳng đó, tất cả là những hành động Thiền vậy! Đối với đạo không biết đâu là hay, hiểu được tâm này, vừa nghe tức tâm là Phật, thì tin ngay, bỏ tâm này thì không thể nương nơi khác! Chợt gặp Đàn Kinh vừa nói liền tỉnh, như rót cam lồ trên đảnh, đề hồ thấm vào tâm. Đời sau lại nghi có đìều gì khác, hoặc tham, hoặc nghiên cứu, hoặc hỏi làm theo, dụng hết tâm thần, nhọc cả tâm lực, lụy cả hình hài! Nghiên cứu Ngũ Gia Tông Phái, và thủ đoạn sau ót của chư Tổ, đến chỗ tột cùng, chín lần chín là 81! Xưa kia dụng công phu rất nhiều, cuối cùng đưa đến ngọn ngành, cũng chẳng có gì xuất sắc.

Qua đó mới biết, ý chỉ trực chỉ vốn không nhiều lời! Tổ Sư lập ra ý chỉ Ngũ Gia Tông phái[1], Thập Trí Đồng chơn [2], Tam Quan [3], Cửu đới [4], bình xướng, chú giải đều là hướng dẫn theo trình độ của người, cho thuốc đúng căn bệnh, hướng dẫn họ tiến lên, bất đắc dĩ mới dùng đến nó! Người sau chưa thấu lý này, chấp có chấp thật, hiểu biết sai lạc; (dụng tâm trên thoại vĩ) nên Tổ Sư mới lập ra “Tham thoại đầu”, để cứu vãng sự suy đồi! Nhưng tham thoại đầu thì đâu cần bỏ những pháp môn trực chỉ khác.

Thân người khó được, Phật pháp khó nghe, người được nghe pháp môn vi diệu này, thì càng khó hơn! Người xưa, thường muốn làm điều dễ làm, trước mặt còn lừa dối, sanh nghi ngờ, hủy báng, cô phụ ân sâu của Phật, của Tổ và bản thân nhiều kiếp trồng căn lành! Pháp môn này bao quát cả các tông phái! Thế nên người xưa ví: vẽ rồng điểm mắt! Pháp môn này hợp tất cả trình độ của nhơn loại; người thông minh thì hiểu sâu, người độn căn thì hiểu cạn. Đại sư Vân Môn: “Ba nhà trong thôn làm thầy bói, bói đông bói tây, bói không được” Một hôm bói được thì kinh thiên động địa! Bói không được, họ trồng xuống cây Kim Cang, vì đó là nhân chính thành Phật. Pháp bình đẳng này, không có cao thấp: “Mê là chúng sanh, ngộ thời thành Phật. Đâu chịu làm phàm phu? Tại sao không đem tâm tham luyến tài sắc, chạy theo danh lợi hạ thủ công phu để phát minh việc đại sự? Thiền Sư Phật Nhãn Long Môn khuyên người nên tiến đạo, phát nguyện tỉnh sâu, luôn luôn nhìn nó, tâm luôn tinh tấn!

Lời giải thích:

Giải sống chung với Trĩ người chê cười !

Cỏ thơm, hôi một đám xông nồng nặc.

Chư nhân giả! Người đạt được thì hòa mình với mọi người, nên ngàn xưa Thánh đức từng khen! Thực tế thì có điểm khác người!

Như hai người chung một thai mẹ, sống chung nhà, học cùng trường một thầy dạy, nói, ăn uống không khác nhau. Một hôm thi chung một đề tài, nhưng người đậu, người rớt. Người đậu thuộc hàng tri thức, người rớt chỉ là người thường. Hai người này không thay đổi nhưng quý tiện khác nhau, nhưng một người đạt được thì địa vị bằng chư thánh, một người mê thì làm phàm phu. Người tuy không khác, nhưng mê ngộ cách biệt. Đại chúng! Há không sợ ư!

Thế nên, Hòa Thượng Hương Lâm nói: “Lão Tăng 20 năm trước, Ta thường thấy một nhóm nguời đều đạt đạo; tôi ngày đêm suy tư: Họ đạt được cái gì? Sao dễ như vậy. Hai mươi năm tôi thường khán, sau đó cũng được như vậy.” Ông xem lại lời cổ đức thật đáng tin. Chúng ta đâu thể ôm cây luống qua ngày tháng! Phải nên thể nhận, về sau cũng phải đạt được.Bậc thiện tri thức chỉ rõ mọi thứ, nào là thí dụ, đều chỉ ra mục đích chính xác tu đạo, và khích lệ người học gắng sức tu hành không nên giải đãi! Trong biển sanh tử nương pháp làm thầy, nương Bát Nhã làm thuyền. Phải tự thắp sáng, thắp sáng lên với chánh pháp, không nên thắp sáng với thứ khác. Phải tự trở về, trở về với chánh pháp.

Trong các pháp lành, Phật khen không nên phóng dật:

Sở thích của mắt là sắc, của tai là tiếng, của mũi là mùi hương, của lưỡi là vị, của thân là xúc chạm, của ý là pháp trần; Niết Bàn lấy không phóng dật làm vị thực. (Kinh Tăng Nhất A Hàm)

Sợ trẻ con thích vui chơi, Phật dùng tâm đại bi chỉ dạy: “Ta như thầy thuốc, biết bệnh cho thuốc, uống hay không, không phải lỗi của thầy thuốc; như người dẫn đường giỏi, nghe chỉ mà không đi, không phải lỗi của người dẫn đường!” (kinh Di Giáo)

Lời dạy tha thiết của Phật như thế, chúng ta không biết cố gắng, khác gì gỗ đá vô tâm! Cần nói thêm: tức là chúng ta không thể xem nhẹ vấn đề sanh tử, nhưng cũng không nên làm nhọc mình quá, phải giải quyết đúng đường. Tức là người học đạo phải có tâm tha thiết với vấn đề sanh tử, không tha thiết dễ bị duyên trần chi phối, hoặc rơi vào vô sự, nhưng chưa đạt được thì quá sợ sanh tử, dễ bị ma phiền não quấy nhiễu, thấy tham thiền học giáo là con đường đáng sợ, vì nghẹn mà bỏ ăn (vì chuyện nhỏ mà bỏ chuyện lớn), không tiến đến đạo Bồ Đề. Thật ra sanh tử chỉ là mê mất tự tâm (chơn tâm không có đến đi), sanh đến, tử đi chỉ là một trường hư mộng đáng sợ! Nay ghi một đoạn để rõ lý này:

Hành giả hỏi thiền sư Tăng Mật Thần Sơn: “Việc sanh tử xin thầy dạy một câu.”

Sư hỏi: “Ông từng sanh, tử chưa?”

- Con không biết.

- Không biết thì chết một phen đi!

Phật là giác! Khi chưa giác ngộ chúng ta phải siêng trồng căn lành, vun bồi dầy phước tuệ, tu pháp môn đốn tiệm, ngày đêm mài mỏng tiêu một phần niệm trần để hiển bày trí tuệ, đạt được ánh sáng xua đuổi màng đêm; nhân duyên đến lý này tự tỏ, như hoa sen nở, như ngủ thức giấc! Thực hành như thế là nhân, đạt được là quả, đây là cách đạt hiệu quả cao nhất.

“Thiền Lâm Châu Cơ” biên tập gián đoạn. Trong quá trình biên tập, thỉnh thoảng thưởng thức pháp hỷ, trước đây tôi từng soạn bài tựa để trình bày thêm, nay biết những lời này chưa đầy đủ, nên bổ túc thêm. Lập luận chưa chính xác, cho nên dẫn những lời khai thị của bậc cổ đức, càng quý báu hơn! Xin lưu ý đến điều này. Việc trong tông môn chẳng phải là chuyện đùa: Người từng trải than “Người biết được pháp lo sợ”; như “Mạc vàng rơi vào mắt cũng bị đau.” Mắt mình chưa sáng, dối trị mắt cho người, thì gặp thất bại lớn! Cho nên chỉ soạn và sưu tập, dù thêm phần cước chú cũng chỉ là thuật lại không có sáng tác, cố gắng làm cho được: chỉ phân tích sâu,cạn, không phạm lỗi thiên về tà, cũng tương ưng với Bát Nhã. Như vậy mới không rơi vào phỉ báng pháp.

PL 2530 (DL 12-1986) Tịnh Thất Viên Minh

Thích Duy Minh.


101. THIỀN SƯ NGỘT AM PHỔ NINH

(1197-1276)

Thiền Sư Phổ Ninh Ngột Am, người Nam Tống, ở Tây Thục (nay là thành đô Tứ Xuyên). Sư xuất gia ở Tương Sơn, buổi đầu Sư học Duy Thức, sau đi phương Nam, tham vấn các bậc Lão Túc chốn Thiền Lâm, đắc pháp với Thiền Sư Sư Phạm Vô Chuẩn Kính Sơn. Sư Phạm chỉ viết tặng Sư hai chữ “Ngột Am”, Sư lấy hai chữ này làm hiệu.

Buổi đầu, Sư Ngột Am ở Kính Sơn, chùa Linh Ẩn, có Sư Thiên Đồng làm đệ nhất tòa, Sư Ngột Am về sau trụ trì chùa Linh Nham Tượng Sơn. Đời Tống vua Lý Tông niên hiêu Cảnh Định năm đầu (1260), Sư đáp lời mời của Đạo Cửu và Pháp Quyến sang Nhật Bản và xiển dương tông phong. Sư ở chùa Bát Đa Thánh Phước, chùa Liêm Xuyên Kiến Trường được chính phủ và dân chúng hoan nghinh. Từ đó, Sư làm Tổ phái Ngột Am Tông Lâm Tế Nhật Bản, năm năm sau Sư mới về nước. Niên hiệu Đoan Tông Cảnh Viêm năm đầu (1276) Sư viên tịch thọ 80 tuổi.

Buổi đầu, Sư ở Thiền Viện Quảng Phước Linh Nham, Sư chỉ ba cánh cửa nói: “Hai cửa mê ngộ, hai đường thánh, phàm;” Sư gạch một đường nói: “Tất cả đã mở cho mọi người rồi! Xin mời tất cả cùng chứng nhập.”

Sư Phạm Vô Chuẩn Kính Sơn trao pháp y đến, Sư đưa pháp y lên bảo đại chúng: “Ở Đại Dửu Lãnh nhấc lên không nổi, tại sao lại ở trong tay Linh Nham, mọi người biết được nguyên nhân chưa? Nếu biết được, thì hiểu được từ xưa đến nay Phật Phật truyền tay, Tổ Tổ truyền nhau, không riêng ai (thiên vị), mực thước có chuẩn, còn ai chưa biết;” Sư đưa pháp y lên nói: “Pháp y này là của Lão Nhơn Viên Chiếu Kính Sơn, Ngài trao đến đây, Sư đắp y vào.

Sư thượng đường dạy: “Trong kinh nói: Lìa tướng ngôn thuyết, lìa tướng văn tự, lìa tướng tâm duyên, hoàn toàn bình đẳng, không có biến đổi.” Sư bảo đại chúng: “ Nói như vậy, con tôm đâu từng ra khỏi đấu! Trong môn hạ nạp tăng còn cách một trùng quan. Cuối cùng việc thế nào?”

Lá sen tròn tròn tợ gương,

Củ ấu nhọn nhọn như dùi.

Gió thổi bông liễu như cầu xoay.

Mưa vả hoa lê như bướm lượn.

Tết Đoan Ngọ, Sư đưa gậy lên dạy chúng: “Cây gậy này không theo phe nào, nó biến khắp chưa từng ẩn, toàn thân không hình tượng!” Sư dựng cây gậy sang bên trái nói: “Quét sạch ổ yêu quái!” Sư dựng gậy bên phải nói: “Phật, ma đều quét sạch!” “Sau khi quét sạch hết thì thế nào?” Sư ném gậy xuống nói: “Khắp nơi đều là đạo không chướng ngại!”

Sư ở chùa Lâm Thiền Bảo Sơn Vân Hoàng, mồng tám tháng chạp, Sư thượng đường (gặp lúc tuyết rơi): “Trước núi chánh giác, trăng sao lấp lánh, mây tuyết dày đặc trên Hoàng sơn. Khắp đất trời xưa nay thường như thế, cớ sao mồng tám tháng chạp chợt ngộ ra. Mọi người hãy nhìn kỹ lại mũi mẹ sanh, không nên đánh mất con mắt của mình. Đừng để mỗi khi gặp lại ngày này làm mê loạn cả chốn Tòng Lâm trong thiên hạ. Xin nói như vậy.”

Đêm đêm sao sáng hiện, ngày ngày hai mắt mở, cớ sao mồng tám tháng chạp, ngạc nhiên than lạ thay? Đưa đến kẻ theo tà, người theo ác, đến nay chỉ còn tiếng chó sủa bên tai.

Vào đời Tống Lý Tông năm canh thân, Sư Sang Nhật, trụ trì chùa Thánh phước, lúc khai sơn nhằm ngày kỵ của pháp sư Thiên Quang, đại chúng thỉnh *Sư thượng đường thuyết pháp. Sư lên tòa, hỏi, đáp xong, nói: “Biển tánh Tỳ Lô, vốn không vuông tròn, lớn, nhỏ; tâm sáng diệu tịnh, không ngại sáng, tối, sắc, không. Như gương bao hàm vạn tượng, như trăng in ngàn sông, từng không có dấu ẩn hiện, đâu phân kia đây? Thế nên ở triều Tống, thì miệng nuốt Tam Thế Phật, khi sang Nhật thì tưng bưng xuân vạn nhà, nơi nơi hanh thông, chốn chốn thấu triệt. Gặp lúc pháp huynh Thánh Phước vân tập bốn phương về đây, hoặc có kẻ phàm, bậc thánh ngồi yên trên Viên Giác diệu trường, thế nên, Sư thuyết Ma Ha Bát Nhã. Nửa hạ trước nói phần đầu Bát Nhã, nửa hạ sau nói phần cuối Bát Nhã. Trước sau nói đốn, nói thường, nói huyên thuyên không ngừng. Chỉ hy vọng mọi người đốn chứng, đốn ngộ, ba tháng an cư không cô phụ bốn ơn. Thế thì ngày khai sơn nhằm lúc húy kỵ pháp sư Hòa Thượng Thiên Quang, tôi giảng dạy cho chúng: nói xem, tôi nói gì đây?”

Sư đánh phất tử vào giường thiền nói: “Trong này phải thấu triệt, đức Thích Ca, Ngài Di Lặc hao hơi, tổn tiếng, Tổ Lâm Tế, Ngài Đức Sơn nhìn lên hư không thưa bạch!

Tuy nhiên nếu không phải Nhậm công tử thì nhọc ba tấc lưỡi .

Năm nhâm tuất , đón Sư về chùa Hưng Quốc Thiền, Kiến Trường, núi Cự Phước. Sáng 16 tháng 10, Chưởng Quốc Tối Minh lên chùa tham bái, Ông hỏi: “Gần đây đệ tử tọa thiền thấu rõ lý phi thường, phi đoạn.”

Sư nói: “Tham thiền là để kiến tánh, nếu thấy tánh thì việc lớn đã xong.”

Tối Minh thưa: “Xin Hòa Thượng dùng phương tiện chỉ dạy cho con.”

Sư dạy: “Thế nhân không có hai đường, thánh nhân không có hai tâm; nếu nhận được tâm thánh nhân, tức là bản nguyên tự tánh của mình.

Tối Minh thưa: “Đệ tử tôn sùng đạo vô tâm.”

Sư nói: “Nếu quả thật vô tâm, dọc thì cùng ba cõi, ngang thời biến khắp mười phương.”

Sư chỉ cây nến nói: Như cây nến lúc chưa đúc thành nến, đó chính là bản địa phong quang, bản lai diện mục của nó; đến khi làm thành nến, đốt lên sáng ngời thanh nhã, xua đi bóng tối, mọi người đều nhìn thấy nó; sau khi cháy hết, ánh sáng không còn, trở lại như ban đầu. Đức Phật ra đời độ người cũng như vậy! Trước khi đức Phật chưa xuất thế, pháp giới thân thanh tịnh chưa từng ẩn hiện; Ngài dùng nguyện lực đại bi thị hiện ra đời thành Phật, theo trình độ thượng, trung, hạ diễn nói ba thừa 12 phần giáo, niêm hoa dạy chúng, để cho đại chúng trời, người, phàm, thánh được minh tâm kiến tánh; sau cùng, Ngài nhập vô dư Niết Bàn. Cũng như cây nến không khác, từ xưa hanh thông đến ngày nay. Nếu thấy được tánh, ngay đây thấy liền!

Sư im lặng giây lâu nói: “Thấy chăng? Tối Minh hiểu rõ! Xum la vạn tượng, trời mây non nước với ta không khác nhau!

Sư dạy: “Trúc xanh mơm mởn đều là chơn như; hoa vàng rậm rợp đều là Bát Nhã! Tối minh đại ngộ ngay lời này, cả thân toát mồ hôi, thưa: “Đệ tử trong suốt 21 năm, luôn mong có được ngày hôm nay, trong một lúc đã được đầy đủ.” Tối Minh cảm động rơi lệ lễ Sư chín lạy.

Sư đứng dậy đến trước Phật đốt hương, ấn chứng cho Tối Minh, và trao pháp y.

Sư chúc mừng: “Thật là khó cho ông đạt được tâm địa! Nên khéo giữ gìn cẩn thận để cho Phật pháp trụ đời lâu.” Ta trao pháp y để nói lên rằng đèn đèn truyền nhau, tiếp nối huệ mạng của Phật, ánh sáng chiếu soi mãi, đời sáng càng thêm sáng. Sư nói kệ truyền pháp:

Ta không có Phật pháp để nói,

Ông cũng vô tâm không sở đắc;

Trong vô tâm không thuyết không đắc,

Thích Ca thấy được phật Nhiên Đăng.

Khai thị cho Long Giác Tạng Chủ: “Long Giác Tạng Chủ ở trong chốn Tòng Lâm đã lâu, chú tâm tham thiền, luôn nhắc nhở mình trong bốn uy nghi nhớ một chữ “vô” mà Lão Tăng từng dạy cho chúng. Vào đêm mồng tám tháng năm qua, đến bốn giờ canh tư, đệ tử hoát nhiên đại ngộ, than: “Diệu quả Bồ Đề đạt được không khó, nhưng khó gặp được bậc Thiện Tri Thức!” Chân bước lên giường biết, tay mặc áo biết rõ ràng, không có vọng tâm. Thân, tâm như như, không còn bỉ, thử, như như thường như như, luôn nhất tâm, vắng bặt các duyên, chỉ có tự kỹ thôi! Tuy như thế, nhưng không biết như vậy là đúng sai? xin Sư từ bi khai thị.

Lão Tăng xem qua thấy nói hay, vui mừng thích thú, hóa ra trong cơm thừa canh cặn cũng có người để tâm vào. Phải nhận ra lối tẻ sai lầm, mới vào đạo được: Thế nên nói thấy đạo mới tu đạo, không thấy đạo làm sao tu. Nhưng cứ chăm bẩm giữ nó, như cầm cây chăn trâu, không cho nó ăn hoa màu của người, chưa chắc là có thích hợp không. Tà, chánh, không tà không chánh, ra đây vào kia, mãi đến đời vị lai, không động niệm, không đổi thay, thì công phu mới thuần thục, mới là chỗ đắc lực. Cũng không được lau chùi quả cầu trong sạch; phải biết lời Nam Tuyền: Gọi như như là đã khác rồi. Chữ vô này, như như lại là như như, nhất thời phải đến cảnh giới thắng diệu mới được! Há không nghe nói: Pháp thân có ba bệnh, hai thứ ánh sáng. Tất cả đều thấu đạt, mới ngồi yên được. Phải biết có một chỗ hướng đến. Phần lớn lời này có điểm lừa người, nếu nhận ra được, thì được ăn gậy thưởng của Lão Tăng.

Khai thị cho Viện Hào Trưởng Lão: “Nguời hoằng dương phật pháp, ở người không phải ở pháp, người truyền bá đạo, không phải đạo hoằng dương người. Đã nói trụ trì khác với chúng tăng, phải luôn thanh tịnh bản thân để làm khuôn phép cho người sau. Gặp duyên độ người cũng phải lượng sức mình, ngại nhất sức mình chưa đủ. Từ xưa đến nay đã có quy củ, nên nhất nhất đều nương vào đó thực hành

Trưởng Lão đã trải qua nhiều năm, vậy mà không ngừng huân tu. Nếu chưa chứng thông đại pháp, cũng nên lùi bước, tự mình chiêm nghiệm sâu để thấu triệt, thì mới xong việc lớn. Nếu chỉ ghi nhớ ngôn cú, tích chứa trong lòng để làm ngã năng, ngã giải, càng làm chướng đạo, đại pháp không tự phát minh, cuối cùng không giúp được việc gì. Như cả ngày làm việc trong Thiền Viện, không biết lúc nào tỏ ngộ. Chỉ theo kỹ cương qua loa, việc vụn vặt bỏ qua một bên, vội vã, lười biếng. Như tăng hỏi Hoà Thượng Vân Môn: “Không khởi một niệm có lỗi không?”

- Lỗi bằng núi tu di!

Ông phải luôn nhớ lời này! Trong 12 giờ không được quên, ngày qua tháng lại, la lên một tiếng, thì có thể thấy được bản tánh sẳn có, mặt mũi xưa nay, hư mà linh, không mà diệu, siêu nhiên vượt thoát, nắm tay Phật Tổ cùng đi ra vào sanh tử, được đại tự tại, há không vĩ đại ư.

Thế Lương Điền hiện tại là Hào Trưởng Lão trụ trì, mùa đông qua Lão Tăng có đến Kiến Trường, trước đó đã gửi thư đến. Cuối xuân, Tôi cũng có gửi mấy lời để giúp cho việc nghiên cứu đạo. Thư viết vắn tắt vậy.

Tự tán:(An Đông Nam trụ trì chùa Chánh Truyền thỉnh tán)

Duyên sanh từ Tây Thục,

Đâu chỉ ở Nhật Bổn.

Mà khắp mười phương cõi,

Ngay đây đều dứt sạch.

Thị giả Hoằng Hải thỉnh tán.

Bèo nỗi trên sông,

Toàn không nhơn giả.

Nắm đấm của Lão,

Phật, Tổ cũng sợ.

Sư ở chùa Kiến Trường Tích Liêm Thương, khi ấy rất được Mạc Phủ Bắc Điều cung kính đến thăm, học chúng đến rất đông. Đời Tống Độ Tông niên hiệu Hàm Thuần năm đầu, Sư không còn sang Nhật nữa, trở về Thiền Viện Sư thượng đường dạy: “Vô tâm đến nước này , có tâm chốn đất Tống. Trong hữu tâm vô tâm, trời đất rộng thênh thang.

Sư đưa gậy lên nói: “Đầu gậy khêu nhật, nguyệt!”

Đại chúng bi thương thỉnh Ngài trở lại, Sư kiên quyết không nhận lời, mọi người tiễn đưa thật xa Sư mới lên thuyền, đoàn người khóc tiễn biệt.

Sư trở về nước trụ trì chùa Bảo Lâm Vụ Châu. Cuối đời Sư dời về chùa Long Tương Giang Tâm Ôn Châu. Sư để lại ba quyển Ngữ Lục truyền đời.

˜]™


102. THIỀN SƯ HOÀNH XUYÊN NHƯ CỦNG

Thiền Sư Hoành Xuyên Như Củng, Sư họ Lâm sống vào niên hiệu Vĩnh Gia, đời Nguyên. Thuở nhỏ Sư không ăn mặn, năm 15 tuổi xuất gia với Sa Môn Lý Phụ, thọ giới cụ túc ở Quảng Từ. Buổi đầu, Sư tham học với Thạch Điền Huân, Si Tuyệt Xung không ngộ nhập được. Sau Sư lên Thái Bạch yết kiến Thiên Tự lễ, đối đáp xong, có tỉnh ngộ, Sư chích lửa vào người để không quên phút giây tỉnh ngộ này. Sư giáo hóa ở Nhạn Sơn Linh Nham, sau chuyển về Năng Nhơn Thụy Nguyên. Nguyên Thế Tổ niên hiệu Chí Nguyên năm thứ 12 được sắc phong ở Dục Vương giáo hóa. Sư kế thừa dòng phái Dương Kỳ, Ưng Am, Sư thuyết pháp không văn vẽ, hoa mỹ, chỉ cần hợp với căn cơ. Sư để lại ba hội Ngữ Lục cho đời.

Ngày 15 tháng 9 niên hiệu Hàm Hanh năm thứ tư được Thiền Tự Linh Nham Nhạn Thang phủ Thụy An thỉnh Ngài 28 nhập tự. Diễn tả cái thất: “Thất này rộng sâu không thể nghĩ lường được, như hư không bao dung cả vạn tượng trong các cảnh giới, không phân chia cảnh tượng nào.”

Sư đưa tập sớ lên nói: “Trước đây tại hội Linh Sơn, Quốc Công Bình Chương được phó chúc. Chư Thượng Tọa phải hội ngộ thấu triệt để cho Phật pháp được cữu trụ!”

*Sư thăng tòa, niêm hương, an tọa, có vị tăng bước ra hỏi: “Muốn đi ngàn dặm, lấy bước đầu làm căn bản, vậy thế nào là bước ban đầu? ”

Sư nói: “ Sai rồi!”

Sư dạy: “Hỏi thoại thì xin dừng! người xưa nói: Hỏi và đáp đều là chuyện đối đãi. Chư Thiền Đức! Ngày nay tứ trọng ơn làm sao trả? Nên biết, tâm ta từ đâu sanh? Biết được điểm sanh, thì biết được chỗ dụng công trong 12 giờ; biết được chỗ dụng công trong 12 giờ, thì biết được chỗ dụng công trong vô lượng kiếp đến nay! Cho nên chư Phật ra đời, chỉ mong chúng ta ngộ được bản tâm, đó là mục đích tối hậu. Nếu hiểu được như vậy thì trả xong ân Phật, không cần làm điều gì. Nếu làm chuyện khác, đó là việc hữu vi, đâu thể đáp được ân vô vi! Kiếp đá còn có ngày hao mòn, nhưng Phật ân không có ngày đền xong.”

*Sư thượng đường, Tăng hỏi: “ Thế nào là ý Tây lai?”

- Nước biển không đông đặc được.

- Học nhơn thực hành thế nào?

- Ông từ đâu đến!

- Làm sao báo được bốn ân, ba cõi?

- Ông đến đây bằng đường nào thì đi về lối đó!

* Sư thượng đường nói: “Chư Hòa Thượng! Hãy nhận bản tánh mình! Đừng nghe lạnh mà tìm ấm, vì nóng mà tìm mát; đừng nên chấp nhận sự tan rã của đất, nước, gió, lửa, một niệm không động là đúng; không nên nhận sự nói năng của Lão Tăng là đúng. Người xưa nói: “Tánh này vốn thanh tịnh, đủ vạn đức, nhưng vì theo duyên nhiễm, tịnh nên có khác nhau. Thế nên chư thánh ngộ được bản tâm thường sống thanh tịnh, thành tựu chánh giác; chúng sanh mê bản tâm luôn sống với nhiễm, nên chìm sâu trong luân hồi. Thể bản tâm không hai.” Sư để gậy xuống, hét.

* Sư thượng đường: “Tướng là sắc thân, tánh là pháp thân. Tất cả thiện, ác đều do pháp thân làm, không phải sắc thân. Pháp thân làm ác, thì sắc thân không sanh vào chốn lành; pháp thân làm lành, thì sắc thân không rơi vào đường dữ. Người phàm chỉ thấy sắc thân, không thấy được pháp thân, không làm bố thí vô trụ tướng, không kính tôn trọng tất cả chúng sanh. Người thấy được pháp thân, thì làm được bố thí vô trụ tướng, tôn trọng chúng sanh, thì tu được hạnh Bát Nhã Ba La Mật, đây mới là tướng chơn thật! Chư đại chúng, hãy quên bốn đại, năm uẩn ra đây gặp Lão Tăng!

* Sư thượng đường: “Địa đại, thủy đại, hỏa đại, phong đại, nếu có ai một niệm không nghi, thì đất không làm chướng ngại; nếu một niệm không luyến ái, thì nước không nhận chìm; một niệm không sân, thì lửa không thiêu đốt, một niệm không buông lung, thì gió không cuốn đi, đạt được như thế chính là đạo nhơn vô y. Đức Phật ra đời từ chỗ vô y. Nếu người ngộ được chữ vô y, thì Phật cũng không cần thành.”

* Sư thượng đường: “Phàm phu và thánh nhơn về bản tánh không khác! Thời tiết nóng phàm phu nói nóng, thánh nhơn đâu thể nói khác được; thời tiết lạnh phàm phu nói lạnh, thánh nhơn cũng nói lạnh, khắp cả nhơn gian ai cũng như vậy, chỉ cần thấy tánh là được. Thấy tánh thành Phật, Phật tức là phàm phu, phàm phu tức là Phật.”

* Sư thượng đường: “Bồ Tát vô biên thân không thấy đảnh tướng của Như Lai. Vừa nói vô biên thì liền khi đó có hạn lượng, làm sao thấy được đảnh tướng của Như Lai! Đảnh tướng Như Lai ở trước mặt mọi người, ly tất cả tướng thấy, thì đảnh tướng uy nghiêm rõ ràng.”

* Sư thượng đường: “Che trời, đỡ đất, mặt trời, mặt trăng chiếu sáng khắp nơi; Tổ Đạt Ma từ Ấn sang, lướt trên sóng nước, con cháu đời sau làm khéo thành vụng.”

* Sư thượng đường: “Chư Hiền Hữu! Ta không bảo ông giữ một pháp như thâu một vi trần, không bảo ông bỏ một pháp như chấp nhận vi trần, không dạy ông thôi dứt như vậy!” Sư xuống tòa.

Một hôm, Sư lấy gậy vạch một đường, nói: “Không được rơi vào đệ nhị thức! Hãy tự do thưởng thức.”

*Sư thượng đường: “Bản lai của các pháp, tướng thường vắng lặng. Mùa xuân cỏ xanh mơn mởn, mùa hạ cây cối sum sê, mùa thu gió vi vu, mùa đông băng thành tảng;” Sư đưa gậy lên nói: “Chư vị, từ sáng đến tối, đi lên đi xuống.”

* Sư thượng đường: “Vừa có hình hài, thì khổ vui liền đến; hình bóng vừa mất, khổ vui nơi nao! Phải thấy được sanh diệt là bản nguyên của chư Phật, là huyển hóa của chúng sanh;” Sư đưa gậy lên nói: “Sáng, tối, sắc, không đều là huyển hóa.”

Sư thượng đường: “Thiên Tử lẫn trong chốn náo nhiệt, ý Tổ Sư trên trăm đầu ngọn cỏ, đều đã chỉ rõ cho các ông rồi! Nếu không lãnh hội, thì đừng như con ễnh ương núp trong hang!” Sư lấy gậy gạch một đường nói: “Thông được một câu thì trăm ngàn câu đều thấu triệt, Tô lô ta ha.”

* Sư thượng đường: “Chư Thượng Tọa! Chuyện không có gì, tại ông khởi nghi! Nghi này từ đâu? Biết được điểm khởi, thì rõ được ba đời chư Phật là ông, Tổ Sư sáu đời là ông, vậy ông là ai?”

Có lúc Sư nói: “Tiếng bảng gọi ông ăn cháo, ăn cơm đi! Tiếng trống gọi ông ăn cháo, ăn cơm đi!”

Một hôm, Sư nghe chư huynh đệ cử xưa, cử nay. Sư hỏi họ: “Phần ông có gì trao đổi không?” Tăng không đáp được. Sư đánh cho một gậy, nói: “Cử xưa, cử nay là ông! Mở miệng không được cũng là ông!”

* Sư thượng đường: “Các pháp không có tướng, mắt thấy sắc đều là hình bóng. Bát- nhã vô tri, nhưng gặp duyên thì chiếu soi. Chỉ dạy thẳng cho ông, nếu ông không ngộ, thì đường thẳng biến thành cong!”

* Sư thượng đường: “Pháp trần đã không, có gì làm chướng ngại mắt ông, cớ sao lại mù, không biết Đông, Tây, không tỏ Nam, Bắc. Chư Thánh không truyền việc này, đừng nên bỏ qua cơ hội!”

Sư khai thị cho Ân Tạng Chủ:

Đạo ở trước mắt không đổi thay,

Vì duyên nên thể có xưa, nay.

Đêm vắng Hoàng Mai truyền y, bát,

Trong bảy trăm người một Lão Lư. (người đắc pháp)

Sư khai thị cho Mạc thị giả:

Tham thiền chỉ cần thấy thông suốt,

Thông suốt thì không còn chướng ngại.

Sáu căn ngày càng thêm sáng tỏ,

Thinh hương vị xúc thường Tam muội.

Sư gửi cho Bảo Tạng Chủ:

Thức trần tiêu rụng hết,

Bản tánh tự sáng tròn,

Động tịnh không sai khác,

Nói năng mãi vẫn còn.

Đến sau qua không khỏi,

Đến trước vẫn ở đây.

Tọa thiền trên phiến đá,

Cội tùng cao xanh xanh.

Thiền nhơn họa chân dung Sư, xin tán:

Không hoại huyền quan người xưa, mà huyền quan tự mất.

Không đập tan hang ổ, mà hang ổ tự tiêu.

Bỏ Y Lang non Thứu, lời Tây Khưu không truyền.

Lý Thế Trân họa chân dung Sư, xin tán:

Ly tứ cú, tuyệt bách phi [5]. (rời bốn câu, vất đi trăm lỗi)

Một hôm Sư dạy chúng: “Năm nay ốm gầy 66 tuổi, ngày ra đi sắp đến, chôn tốt hay thiêu tốt?” Tây Đường Duy Am thưa: “Trước núi còn đám đất hoang.” Sư dạy xếp đá làm tháp. Sư làm bài minh:

Đất có một hang,

Chôn xương khô ta.

Hủ xương thành đất,

Đất sanh vạn vật.

Cột cái hồ lô,

Trên vách Triệu Châu.

Thoát khỏi luân hồi,

Vượt Tam Thế Phật.

Sắp thị tịch, Sư viết lời từ biệt chúng, rồi hóa. Sư thọ 68 tuổi, Tăng lạp 53. Nhằm ngày 28 tháng 3 năm 216 niên hiệu Chí Nguyên.

˜]™


103. THIỀN SƯ CAO PHONG NGUYÊN DIỆU

(1238-1295)

Thiền sư Cao Phong Nguyên Diệu, Sư húy Nguyên Diệu, hiệu Cao Phong. Sư sống vào thời nhà Nguyên, người huyện Ngô Giang, Giang Tô. Sư họ Từ, mẹ họ Chu. Thuở nhỏ, Sư thích ngồi kiết già. Năm 15 tuổi, xin cha, mẹ xuất gia, 16 tuổi thế phát, 17 tuổi thọ giới cụ túc, 18 tuổi học Thiên Thai giáo, 20 tuổi theo ngài Tịnh Từ quyết chí học Thiền ba năm, 22 tuổi yết kiến Đoạn Kiều Luân. Luân dạy tham câu: Sanh từ đâu đến? Chết đi về đâu? Sư đến tham vấn Tuyết Nham Khâm, Ngài bảo tham câu: Con chó không có Phật tánh, còn hỏi: Ai đem thay chết của ông đến đây? Sư vừa cất tiếng thưa, liền bị đánh. Sư dụng công tham câu: “Vạn pháp đều về một, một về đâu?”

Một hôm, Sư ngẫng đầu lên thấy bài tán ngài Ngũ Tổ Diễn: “Trăm năm ba vạn sáu ngàn ngày, tỉnh lại hóa ra là gã này”. Ngay đây, Sư vỡ khối nghi ‘về thay chết !’ Năm ấy, Sư mới 24 tuổi. Từ đó cơ phong Sư cao vút.

Tuyết Nham hỏi Sư: Lúc đang ngủ không mộng tưởng, không thấy, nghe, thì ông chủ ở đâu? Sư không đáp được. Sư quyết chí vào ở Long Tu, lập nguyện: Thà một đời làm kẻ ngu khờ, quyết phải sáng tỏ việc này. Trải qua năm năm, đêm nọ nghe tiếng gối rơi xuống đất của người bạn đồng phòng, Sư hoát nhiên đại ngộ.

Chín năm ở Long Tu, vì thiền hữu khắp nơi vân tụ về, họ vào Tây Thiên thấy động Sư Tử, thất của Sư ở phía Tây động, nhỏ như chiếc thuyền con, trước thất có đề bảng: “Tử Quan”. Bạn thiền tìm đến kết am ở đó, thành viện Sư Tử, thỉnh Sư khai đường. Gặp lúc Tuyết Nham gửi y, phất tử đến, Sư khai pháp vào năm 214 niên hiệu Chí Nguyên. Năm thứ 28, Quan ở Liên Hoa Phong đến xây Đại Giác Thiền Lâm cho Sư, học chúng đến tham thỉnh tấp nập, tăng, tục đến thọ giáo mấy chục ngàn người. Có Ngữ Lục Cao Phong Đại Sư truyền đời. Đại Sư Liên Trì làm bài tựa luôn khen ngợi.

Đầu năm, Sư dạy chúng: “Năm ngoái Sơn Tăng 36 tuổi, năm nay thêm một tuổi nữa, ai cũng biết!” Sư đưa cây gậy lên nói: “Nói xem cây gậy này bao nhiêu tuổi?” Sư gõ vào gường thiền nói: “Đầu năm kính chúc muôn nhà an khang, vạn vật đều mới!”

Rằm tháng Giêng, Sư thượng đường: “Người tham thiền phải là người sắt, đưa tay liền biết. Như tuyết phủ ngàn non, nhưng không che nổi chóp đỉnh, vậy thì làm sao giải quyết?” Sư ném gậy xuống nói: “Thượng Nguyên chính là giữa tháng Giêng!” là ngày húy kỵ Hòa Thượng Tuyết Nham. Sư niêm hương cẩn bạch: “Thầy tịch mới đó mà được 8 năm, Thầy đã ra đi mà diện mục uy nghiêm vẫn còn đó. Đại chúng! Diện mục vẫn còn…” Sư niêm hương: “Chẳng phải cái này ư?” Sư cắm hương nói: “Nhận theo lối cũ vẫn còn xa!”

Giữa hạ, Sư thượng đường dựng phất tử, gọi đại chúng: “Tới đây, bước tới một bước cũng không phải, lùi ra sau một bước cũng không đúng, không làm như vậy cũng không được. Cuối cùng phải làm sao? Không được! Không được!”

* Sư thượng đường: “Biển cả không cá, đất rộng không cỏ, tỷ phú không gạo, đại ngộ không đạo. Nếu người nào thông được bốn điều quan trọng này, chẳng những thấy lông mày của Cao Phong dài hay ngắn, mà còn thấy được lỗ mũi sâu hay cạn. Như mặt trời đỏ rực trên không, muôn biệt ngàn sai đều soi khắp. Tuy nhiên, nhưng gọi là phất tử thì xúc phạm, không gọi đúng tên thì sai, vậy thì phải gọi là cái gì? Kinh thay, kinh thay.

* Sư dạy chúng: “Nếu luận về điều này, không cần huân tu nhiều kiếp, chứa công tích đức, cũng không hỏi đến hiền, ngu hay lợi độn, tu tập lâu hay sơ cơ, chỉ quý như chàng liều mạng, chẳng màng nguy, vong, được, mất, ý chí dũng mãnh khởi đại nghi tình, như Thiện Tài Đồng Tử tham vấn Bà La Môn Thắng Nhiệt, liều mình vào trong đám lửa cháy hừng hực, lúc ấy người pháp đều quên, thức tâm không còn, trái phải mặc nó, mềm cứng không cần, thì liền tỏ ngộ. Không phải ba cân gai của Động Sơn, thì nhất định là que cức khô của Vân Môn. Nếu còn khiếp sợ kinh hãi, lẫn lộn mù mờ, thì chớ nên nói thấy được Cao Phong. Dù cho đánh một trận trong bụng Tổ Đạt Ma, vẫn là chuyện nhỏ uổng công.”

Sư dạy chúng: “Chư huynh đệ 10 năm, 20 năm, cho đến một đời tâm luôn chánh niệm, chỉ nhớ việc này, cũng không thể nói đó là chuyện thông suốt, lỗi ở chỗ nào? Bổn phận nạp tăng hãy chỉ ra đi? Hay là không có linh cốt xưa? Hay là bản chất yếu, ý chí hèn? Hay là bị vùi lấm bụi trần? Hay là rơi vào trầm không trệ tịch? Hay là ác niệm, vọng niệm trong tâm? Hay là chưa đến thời cơ ? Nếu bảo rằng tại thâm căn, hoàn toàn không phải tại trong này. Đã không ở đây thì ở đâu? Chao ôi! Ba cây đòn tay chôn xuống, bảy thước thò lên!” (xét kỷ! Theo tâm hết lối! Đó là như như!)

Sư dạy chúng: “Chư huynh đệ hoặc có người 10 năm, 20 năm đoạn trừ vọng tưởng, tham cứu đến chỗ huyền diệu, không thấy được Phật tánh, thường bị hôn trầm, trạo cử chi phối. Không biết hôn trầm,trạo cử, đương thể chính là Phật tánh! Thương thay người mê không biết, chấp pháp thành bệnh, lấy bệnh trị bệnh, làm cho càng cầu Phật tánh, Phật tánh càng xa, càng gấp càng chậm. Chỉ cần hồi quang tỉnh lại nửa phần, ngay đây biết sai, hoàn toàn thuốc bệnh đều quên, mắt sáng, thông suốt ý chỉ đơn truyền của Tổ Đạt Ma, thấy rõ Phật tánh xưa nay. Nếu kiểm tra lại theo Tây Phong, thì vẫn là chuyện bên bờ sanh tử. Nếu nói một đường hướng thượng, phải biết vẫn còn ở ngoài núi xanh.”

Sư dạy chúng: “Nếu luận về yếu chỉ tham thiền, không nên xem nặng vào bồ đoàn làm công phu, rơi vào trạng thái hôn trầm, tán loạn, khinh an, tịch tĩnh hoàn toàn không hay biết. Chẳng những để thời gian qua suông, mà khó tiêu của cúng dường, một mai mất đi, biết nương tựa vào đâu? Năm xưa Sơn tăng sống trong núi, ngoài hai bữa cháo ra, chưa từng lên bồ đoàn. Từ sáng đến tối đi qua, đi lại, từng bước đều sống trong chánh niệm, không dám sao lãng, như vậy trải qua ba năm, chưa từng có tâm giải đãi. Một hôm chạm phải ngôi nhà mình, hóa ra chưa từng rời ta một bước.

Giải hạ Sư dạy chúng: “Nếu luận về việc này, thì không có tôn, ty, không già, không trẻ, không nam, không nữ, không lợi căn, không độn trí. Thế nên đức Phật ở trước núi chánh giác, vào đêm mồng tám tháng chạp thấy sao mai Ngài ngộ đạo. Ngài than: “Lạ thay! Chúng sanh đều có đức tướng trí tuệ Như Lai.” “Tâm, Phật và chúng sanh không khác nhau.” “Pháp này bình đẳng không có cao thấp.” Đã không khác nhau, cao, thấp. Từ trước Phật, Tổ, xưa nay các bậc Thiện Tri Thức, cho đến chư vị Hòa Thượng trong đời đều có khế ngộ, có chứng đắc, có người mau, kẻ chậm, có khó, có dễ, như vậy là tại sao?”

Như quý vị ở đây, mỗi người đều có gia nghiệp, chợt một ngày nào đó nhìn lại và nhớ ra cội nguồn. Hoặc có người trải qua một năm đạt được, hoặc là một tháng, một ngày, hoặc là trong khoảnh khắc, hoặc có người đã chết cũng chưa đạt được. Sở dĩ khác nhau là vì rời ngôi nhà mình có người gần, người xa, thế nên có sự sai biệt chậm, mau, khó, dễ!

Tuy như vậy, nhưng ở đó có một người, không có gia nghiệp để về, không có thiền đạo để học, không có sanh tử để thoát, không có Niết Bàn để chứng; cả ngày tự tại vô vi, mặc tình tự nhiên. Nếu nhận ra được, thì đức Thích Ca, ngài Di Lặc bưng bình bát với ông, không còn là việc bên ngoài! Nếu không như vậy…… Sư gõ phất tử vào gường thiền hai cái, hét hai tiếng, nói: “Nếu đến các nơi, kỵ nhất là cử lầm!”

Tâm này thanh tịnh vốn nguyên sơ,

Vì chỉ tham cầu sáng hóa mờ.

Chớp mắt sáng ra toàn thể hiện,

Non, sông, đại địa vẫn là mơ.

Sư thượng đường:

Công phu chưa đến chưa thành tựu,

Trình lộ còn xa chớ hững hờ.

Đạt được tâm này luôn tỉnh sáng,

Biển cả thành nương đã sẳn chờ.

Sư thượng đường:

Cuộc sống quý, biết tích phước,

Tham thiền quý, tìm kế ngộ.

Trong cuộc sống ngộ được đạo,

Người nguời thành Phật, thành Tổ.

Ngày xưa, Sư gắng sức tham công án: “Vạn pháp về một, một về nơi nao?” Sư triệt ngộ qua công án này. Nên khi giáo hóa, Sư thường dạy chúng luôn tham: “Vạn pháp về một, một về đâu? Gặp nhau trong lối nhỏ, chấp tay chào! Bước đi siêu việt, Hoàng Hà ba ngàn năm một thoáng trong.”

* Sư thượng đường: “Vạn pháp về một, một về nơi nào?” Sư nhìn cả đại chúng rồi xuống tòa.

Phổ thuyết: “một về đâu, nếu nghi tình dễ phát, vừa khởi liền có, không đợi suy nghĩ, so sánh tác ý mới khởi nghi tình, lâu ngày thành khối, thì không còn tâm tạo tác. Đã không còn tâm tạo tác, thì suy nghĩ liền quên, làm cho các duyên không dừng mà tự dứt, sáu căn không tịnh mà tự tịnh, không dính mảy trần, liền được chứng Vô tâm tam muội. Đến lúc thọ thực, chỉ ăn trong chánh niệm, tay cầm đủa, cầm muổng, không sợ con ba ba trong hủ đi mất. Như vậy mới có kinh nghiệm trong dụng công, quyết không còn gì sai trái. Từ đây lòng tin đã đủ! Từ đây không đổi thay, đứng trên vách cao muôn trượng! Vẽ tới, vẽ lui, vẽ đến lúc con mèo có sừng vằn vện, đường tâm thức dứt, người và pháp đều quên, vừa hạ bút liền thành một con mèo kêu ngao, ngao! Hoá ra khắp nơi đều là truờng tuyển Phật, đều là chính mình!

Phổ thuyết: “Bình thường, Sư dạy mọi người hạ thủ công phu khán công án vạn pháp về một, một về chỗ nào? Khi khán phải nghi tình thật sâu: Vạn pháp ở thế gian đều về một pháp: vậy về chỗ nào? Luôn để tâm vào chỗ đi, đứng, nằm, ngồi, mặc áo, ăn cơm, đại tiện, tiểu tiện, phấn chấn tinh thần dụng công thật nhanh. Nhưng nghi như vậy: một về chỗ nào? Chắc chắn phải tìm rõ ràng. Không được rơi vào chỗ vô sự, không được vọng tưởng; phải miên mật tạo thành một khối, như bị bệnh nặng, ăn cơm không biết vị cơm, uống trà không biết vị trà, như ngây, như dại, không phân biệt được gì cả, thực hiện công phu như vậy, chỉ cần tâm hoa phát sáng, ngộ được bản lai diện mục! Đường sanh tử không nói cũng biết! Phải buông tình niệm thế gian, tâm thật nhẹ nhàn, đạo niệm thâm hậu. Người xưa nói: Từ chỗ lạ chuyển thành quen, từ quen thành lạ. Lúc nhàn rỗi không cần xem kinh giải trí: công phu không được thành một khối, chỉ cần khi hành đạo, tinh thần phải nhanh nhận ra được một rơi vào chỗ nào? Không cần xem kinh; công án là một quyển kinh vô tận đêm ngày thường xem, không nên đầu lại thêm đầu! Nếu thực hiện công phu như vậy, thì Thiên, Long hộ trì cho; đâu cần cầu xin! Nhưng phải dứt hết duyên đời, ít nói chuyện. Người xưa nói: Hai mươi năm không nói chuyện, cớ sao ông không thành Phật! Việc lớn sanh tử, vô thường mau chóng, như người leo núi đều phải cố gắng. Hãy cố gắng lên.

Sư nói kệ:

Quên chốn trần ai ở núi non,

Thân tâm vắng lặng đạo vẫn còn.

Chỉ cần trong tâm sạch thương, ghét,

Không tham thiền cũng là công phu.

Theo Phổ Thuyết trong khai thị của Sư có dạy: Lúc nhàn không cần xem kinh giáo, theo trình độ nói pháp! Nếu cảm thấy không rõ công án, không dụng công được, thì phải nương theo Kinh, Giáo, huân tập văn tự Bát Nhã dần dần thăng tiến, sau rồi Thiền, Giáo đều quên!

Lúc ở Tử Quan, mọi việc Sư đều lo, nên Sư lấy cái vò làm cái chảo, ăn một ngày một bữa. Trong động không có thang để leo lên, nên đệ tử ít khi gặp được Sư. Sư làm bài về ba cái cửa để nghiệm học giả:

  1. Mặt trời lên cao chiếu soi khắp, cớ sao hang này bị đám mây che lại ?
  2. Mọi người đều có bóng, từng bước đều theo nhau, cớ sao đạp lên mà không biết ?
  3. Cả đại địa là hầm lửa, được tam muội gì mà không bị thiêu cháy ?

Không phải là bậc đại căn, chí cả, hiếm ai không nhìn vách núi mà thối lui!

Ngày 27 tháng 11 năm Ất mùi (1295), hóa duyên của Sư đã hết, Sư viết hai điều chính, mọi việc sau này đều di chúc cho Tổ Ung, Minh Sơ. Ngày 1 tháng 12 hôm sau, Sư từ biệt chúng nói: “30 năm, ở Tây Phong vọng đàm Bát Nhã, phạm tội ngập trời. Câu sau cùng không dám phiền người, tự lãnh hội đi! Đại chúng biết rơi vào đâu không?” Sư im lặng giây lâu nói: “Còn sai mảy may, trời, đất cách xa!” Kệ từ biệt:

Đến không vào tử quan,

Đi không ra tử quan.

Rắn sắt chui vào biển,

Nghiêng ngã núi tu di.

Sư an nhiên thị tịch! Bảy ngày sau, mở khám ra, Sư vẫn đoan nghiêm như còn sống. Vâng lời di chúc của Sư, ngày 21 tháng 12 nhập tháp. Sư thọ 58 tuổi, 43 hạ lạp.

Sư nghiêm giữ giới luật, tế hạnh, dung mạo thanh cao, thường ngồi cúi đầu, không hỏi thì làm thinh, nghe nói lỗi người thì cúi đâù càng thấp hơn. Mười mấy năm thành lập được hai đạo tràng, nhưng chưa từng đến đó xem. Sư thường dạy đồ chúng ba giới:

  1. Mở miệng động lưỡi, không ích cho người, chế ngự không nên nói.
  2. Khởi tâm động niệm, không ích cho người, dừng niệm không nên khởi.
  3. Dở chân cất bước, không ích cho người, điều phục đừng nên đi

Bình thường, Sư sống với mọi người luôn lấy từ bi làm đầu. “Hành Trạng” ghi: Khi Sư ở Long Tu, Nhược Quỳnh đốt điệp thờ cúng Thầy, sau đó Quỳnh bị bệnh, Sư nói với Nhược Quỳnh: “Dứt duyên ngay trong lúc bệnh đó mới chính là công phu, túi da hôi thối của ông đều nương vào bản ngã này, cả bệnh và ngã vứt bỏ đi, đừng lưỡng lự nữa.” Hãy trưởng dưỡng bản tâm mà khải ngộ đi. Vì Nhược Quỳnh thèm dấm, nên Sư đi xin từ xa về chỉ có rượu, nên Sư phải đi ngược lại 40 dặm để xin cho Nhược Quỳnh một hớp. Bệnh lâu ngày nên Nhược Quỳnh muốn tắm, vừa cúi xuống thấy bóng mình trong nước nên Quỳnh có tỉnh, vui mừng như thoát được cơn bệnh trầm kha, Quỳnh ghi lại chuyện xưa: “36 năm điên đảo, hôm nay một trận cười vui thích; ngộ được lỗ mũi mẹ sanh, buông ra không có lông diều hâu sắt!” Sư hỏi: “Lỗ mũi mẹ sanh như thế nào?” Quỳnh dựng đứng cây bút. Sư nói: “Nói thế nào là không có lông diều hâu sắt?” Quỳnh, ném bút thị tịch! - pháp thí, tài thí, vô úy thí đều đủ, đúng là bậc Thiện Tri Thức!

˜]™


104. THIỀN SƯ NGUYÊN SƯU HÀNH ĐOAN

(1254-1341)

Thiền Sư Kính Sơn Nguyên Sưu Hành Đoan, Sư họ Hà, ở Lâm Hải, Đài Châu, đời Nguyên. Gia đình theo Nho, mẹ họ Vương, Bà thông Ngũ Kinh. Sư thông minh, không thích ăn mặn. Mẹ dạy Luận Ngữ, Mạnh Tử, Sư thuật lại thông suốt. Nhưng Sư không thích sách đời, năm 12 tuổi, sư xuất gia với Thục Mậu trong dòng tộc, 18 tuổi Sư thọ giới cụ túc. Buổi đầu, Sư tham vấn với Ngài Tạng Sưu Trân, đắc pháp và theo làm thị giả . Tạng Sưu Trân tịch, Sư đến Tịnh Từ nương Thạch Lâm Củng, lại yết kiến Giác Am Chơn, Tuyết Nham Khâm, quý Ngài đều trọng Sư. Niên hiệu Đại Đức Nguyên Thành Tông năm thứ 4, Sư ra giáo hóa ở Hồ Chi, Tư Phước. Sau đó, Sư đến Trung Thiên Trúc, và đến Hàng Chi Linh Ẩn. Niên hiệu Chí Trị Anh Tông năm thứ hai, Sư trụ trì Kính Sơn Hưng Thánh chùa Vạn Thọ, 20 năm Sư không ra khỏi cửa mà học chúng đến tụ tập rất đông! Kính Sơn trung hưng lại Tông phong của Ngài Đại Huệ Tông Cảo từ đây. Người kế thừa có danh, đức, nên Tông phong của Ngài Tông Cảo càng rực rỡ hơn bao giờ. Sư hoằng pháp hơn 30 năm, danh Sư vang đến kinh đô, vua Thành Tông ban hiệu cho Sư [Huệ Văn Chánh Biện Thiền Sư], vua Nhân Tông ban [Phật Nhật Phổ Chiếu], và ba ca sa Kim Lan. Đệ tử xuất chúng của Sư có Ngu Am Trí, Mộng Đường Đàm Ngạc. Sư để lại 8 quyển Ngữ Lục truyền đời, Ngu Tập làm bài tựu.

Ở Tư Phước, đọc sớ xong, Sư chỉ pháp tòa: “Đây là tòa sư tử Phổ Quang Minh Hoa Tạng, tất cả người trong mười phương thế giới đều ngồi trong này, điều đặc biệt càng lên cao chính là vẽ rắn thêm chân!”

*Sư thượng đường, chúng vừa vào, Sư nhìn đại chúng nói: “May thay thái bình không hình tượng, cớ sao thịt lành khoét thành thương tích!” Sư xuống tòa.

*Sư thượng đường: “Nay là mồng một tháng ba, việc của mùa xuân sắp xong, đồng lúa vàng, đám rau xanh, sông nước đầy quanh năm, hòa với gió về, nhiều kiếp đến nay, mảy tơ đâu từng mất! Đáng thương hàng ngu si hồ đồ, vừa rồi còn ồn ào ôm sồm.”

Ngày Niết Bàn, Sư thượng đường đưa gậy lên nói: “Đức Phật Thích Ca hôm nay ở trên đầu gậy Sơn Tăng phóng ra vô lượng ánh sáng báu vi diệu, âm thinh báu vi diệu, Sư sờ ngực bảo đại chúng: Các ông nhìn lại kỹ thân màu vàng rồng đỏ tía của Ta hôm nay còn, mai mất rồi, hãy chiêm ngưỡng đi, để mai này hối hận! Mọi người nếu vững lòng tin, thì cây gậy không uổng công; chưa thoát được, thì Đức Phật Thích Ca nhập Niết Bàn từ lâu!” Sư để gậy xuống.

Kiết hạ, Sư dạy chúng: “Xưa nay, nhiều người nhận sai, còn có một pháp làm chướng ngại ông chăng? Còn có một pháp trói buộc ông chăng? Từ đây đầu ông mọc sừng, không trói buộc mà thành trói buộc, không chướng ngại trở thành chướng ngại, mọi thời, mọi nơi dính lại thành một khối, không được tự do tự tại. Nếu ông là bậc trượng phu một đao cắt đứt làm hai, cả mười phương thế giới là tự kỷ, cả mười phương thế giới là mặt trời sáng chói trên không, cả mười phương thế giới là đạo tràng cấm túc an cư. Ba đời chư Phật, sáu đời Tổ Sư hứng nước sông nào rửa chân? Đâu cần phân chia thời kỳ lập hạn, vẽ đất làm nhà tù, không giây tự trói buộc. Nếu chưa đạt được như vậy, thời kỳ đầu 120 ngày, thời kỳ giữa 100 ngày, thời kỳ cuối 80 ngày, dạy có văn tự rõ ràng, thực hành theo đó.”

Tiểu tham: “Tất cả các pháp thế và xuất thế vốn không có hư và thật, sắc chưa từng nói ta là sắc, thinh, hương, vị, xúc, pháp, danh thân, cú thân đều như vậy. Chỉ vì từ vô lượng kiếp đến nay nghiệp ác của ông sâu dày, nghiệp thiện mỏng bạc, ông bị sắc làm thay đổi rồi, bị thinh làm thay đổi rồi, bị hương, vị,xúc, pháp, danh thân, cú thân thay đổi rồi, ông thấy có chư Phật đáng kính mộ, chúng sanh đáng chán ghét, có thiên đường để mừng, có địa ngục để sợ. Đắm trong danh ngôn cú nghĩa, như tầm kéo kén, không có lối thoát! Đêm nay Sơn Tăng đến đây, nếu còn nói Phật, nói pháp, nói tâm, nói tánh, mở rộng thêm con đường kỳ quặc, dùng ngôn từ xảo thuật, làm sao gặp nhau chốn tuyền đình? Cửa núi Phụng Hoàng phải làm sao đây? Thế là trên danh cú lại thêm danh cú, lợi thì không mà hại càng nặng. Đáng tiếc thời gian không đợi người, mọi người hãy nghiên cứu giáo nghĩa cho kỹ làm một nạp tăng đại ngộ thấu triệt, há không vui cho đời sống sao!”

Sư lại cử: “Nhị Tổ hỏiTổ Đạt Ma: Pháp ấn của chư Phật, con nghe được không?

Tổ nói: Pháp ấn chư Phật không phải đạt được từ người khác.

Huệ Khả thưa: Tâm con chưa an, xin thầy an tâm cho.

Tổ dạy: Đem tâm ra ta an cho.

Huệ Khả thưa: Con tìm tâm không được.

Tổ bảo: Ta đã an tâm cho ông rồi

Sư tụng:

Vạn dặm qua đây có việc gì,

Cớ sao Phật pháp phải truyền trì.

Đêm khuya núi vắng bồ đoàn lạnh,

Các ông cùng hợp, tự biết đi.

*Sư thượng đường: “Ba đời chư Phật hãy để sang một bên, sáu đời Tổ Sư bỏ qua một góc, trong 12 giờ phải biết được chủ nhân ông của nhà mình, tùy nơi làm chủ, chỗ đó đều chơn, ngũ dục, bát phong lay động không được, chớ rơi vào lồng tứ sanh[6]cửu hữu[7], mới có được chút phần tương ưng! Tôi hỏi ông: Mặc áo, ăn cơm, đi đại tiểu tiện, đi, đứng, nằm, ngồi, thấy nghe hiểu biết, hành động nào là chủ nhân ông của ông! Có một số người suy đoán càn trong đệ bát thức , bảo rằng: Hễ gọi thì trả lời, nhưng không thấy hình tướng của nó, chỉ nói bàn đối đáp, một mình sáng rỡ, há không phải “ngã” là chủ nhân ông của chính mình ư? Sai rồi! Những thứ ấy là gốc sanh tử từ vô lượng kiếp đến nay, do nghiệp thức từ vô thỉ kiếp đến nay kết thành một khối si mê, làm cho ông thất điên bát đảo, làm nô dịch cho đau khổ, ông há nhận nó là thật ư? Ngoài những điều này ra, dựa vào cái nào là chủ nhân ông của ông?” Sư gọi to: “Chủ nhân ông, tỉnh, tỉnh đi!” Sư xuống tòa.

*Sư thượng đường: “Giữ gìn muốn tụ mà không tụ, bỏ, muốn nó tan thì không tan, bên tai muốn nghe thì không nghe được, mắt muốn thấy mà không thấy được;” Sư đưa gậy lên nói: “Gốc sanh tử từ vô lượng kiếp đến nay, người ngu gọi là bản lai nhân!”

*Sư thượng đường: “Xuất gia mặc áo cà sa phải thực hành thánh đạo, những chuyện tạp nhàn rỗi đều là nhân sanh tử. Mặc áo ăn cơm là đối đãi, du sơn, ngoạn thủy là đối đãi, Bồ đề, Niết Bàn, chơn như, giải thoát là đối đãi. Cuối cùng nói cái gì là thánh đạo?” Sư dộng phất tử nói: “Bóng nàng đã khuất mây xanh, chàng còn ngơ ngẫn ngồi bên lửa hồng!”

*Sư thượng đường:

Sáng nghe tiếng mõ sừng,

Đêm chuông ngân vọng về,

Mọi người thảy đều nghe,

Chỗ nào không thông suốt.

*Sư thượng đường: “Gió thu mát, đêm thu dài, khách chưa về, nhớ cố hương;” Sư vỗ vào gường thiền nói: “Mình không chịu về, về thì đến liền, ai tranh hơi nước tỏa Ngũ Hồ!”

Sư khai thị cho Thiệu Tàng chủ :

Tâm đạo nhân thẳng như dây đàn, nhưng không có những lỗi nhân ngã, thị phi, thánh phàm, hơn kém, lừa dối, cong vạy, thì vào được tâm thể vô trụ. Xưa nay không nhân ngã, không phàm thánh, không tâm, không Phật, không vật, không thiền, không đạo, không huyền, không diệu, chỉ vì một niệm vọng tâm phân biệt lấy, bỏ rồi mọc lên bao nhiêu sừng trên đầu, trong 12 giờ ông bị vạn cảnh xoay chuyển không được tự do tự tại. Thế nên nói: Tìm trâu phải tìm dấu, học đạo phải vô tâm; dấu trâu vẫn còn đó, vô tâm đạo dễ tầm.”

Khai thị cho Nhiễm Thiền nhân:

Sanh tử nhiều kiếp đến nay, như vòng lửa xoay không lúc nào dừng, như bánh xe múc nước, từ trên cao xuống thấp, từ dưới thấp lên cao. Do vì mê bản tâm, mờ bản tánh, gặp cảnh theo duyên, gặp trần liền chấp, ra nơi này vào nơi khác, không tự biết lỗi thôi!

Thiền nhân Nhiễm ở Thiên Thai, không nhiễm là tên, dứt trần là hiệu. Bởi vì mắt không chỗ nhiễm thì sắc trần dứt, tai không có chỗ để nhiễm thì thinh trần dứt. Một căn đã thông thì các căn cũng vậy; các căn đã thông thì các trần cũng thế; các trần đã như vậy, thì các pháp cũng thế; các pháp như thế, thì nhiều kiếp đến nay bỏ thân thọ thân, ra khỏi thai, vào thai, bốn đại, năm uẩn, 12 xứ, 18 giới, 25 cõi, sum la vạn tượng, sáng, tối, sắc, không, thế và xuất thế không cho một cây kim lọt qua, chẳng phải thời cơ đến mỗi người đều được tự tại, được thọ dụng, được giải thoát, được an lạc. Trong lúc này, sống cũng không được, chết cũng không được, nhiễm cũng không được, tịnh cũng không được, danh như vậy cũng không được, hiệu như vậy cũng không được, bốn đại, năm uẩn, tất cả pháp thế và xuất thế cũng không được, điều này không được cũng không được. Như hư không, thể chẳng phải là các tướng, nhưng không chống các tướng phát huy. Lấy một cọng cỏ làm thân vàng trượng sáu, đem thân vàng trượng sáu làm thành cọng cỏ, bảy dọc, tám ngang, biến hóa thành ngàn vạn, tả xông hữu đột, không làm thì không được, há không phải là bậc anh tài quang minh ư! Cổ đức dạy: “Linh quang chiếu suốt, thoát khỏi căn trần, thể bày chơn thường, không kẹt văn tự. Tâm tánh sáng ngời, vốn tự viên thành, phải bỏ vọng duyên, thì là Phật như như.” Ngoài ra, đâu có trình bày điều gì khác.

Thủ Tọa Hải thỉnh Sư khai thị:

Phục Đà Mật Đa hỏi Phật Đà Nan Đề: “Cha, mẹ không phải người thân của ta, ai là người thân của ta; Chư Phật chẳng phải bậc đạo sư của ta, ai là bậc Đạo Sư tối cao của ta?”

Phật Đà Nan Đề đáp: “Tâm và lời nói là người thân của ông, cha, mẹ không thể so sánh được; việc làm của ông hợp với đạo đó là tâm chư Phật. Tìm cầu Phật tướng bên ngoài, thì khác với ông; muốn biết bản tâm của ông, chẳng hợp cũng chẳng ly.” Tri thức của hai bậc đại sĩ trác tuyệt, xiển dương pháp môn này, như mặt trời trên không chiếu soi khắp thiên hạ không sót nơi nào. Người thông minh sáng một con mắt, một lúc phá tan lưói ái, chỗ cha, mẹ sanh, ra thai, vào thai, bỏ thân, thọ thân từ nhiều khiếp đến nay. Một lúc thoát khỏi niệm được, niệm mất, pháp thành, pháp hoại, nơi tạo sự nghiệp, chốn sa vào lồng bẫy từ nhiều kiếp đến nay. Hoàn toàn tìm không ra dấu vết bốn đại[8]bên trong, bốn tướng[9]bên ngoài, năm tụ[10], 18 giới[11], những danh ngôn cú nghĩa. Khắp nơi, mọi thời, như rồng được nước, như cọp ẩn náu trong rừng, trên đầu một sợi lông hiện cõi Bảo vương, ngồi trên vi trần chuyển bánh xe đại pháp. Mới thật là bậc đại trượng phu không bị pháp thế và xuất thế xoay chuyển!

Vì muốn sáng tỏ việc này, ngài Động Sơn dùng “bất quy”để khuyên người; Hoàng Bá vào đến cửa cung đình không nói một lời đi ra, cũng để trình bày việc này; Lão Lư bán củi nuôi mẹ, Ngài Mục Châu đan giầy cỏ phụng dưỡng mẫu thân, hiển bày những điều ở đời, làm những việc cho mọi người cũng không ngoài ý này. Có khi chấp nhận như vậy, có khi không cho phép như thế; cho phép như vậy hay không cho phép, đều là sự vi diệu báo ân cao cả của đạo Phật Ta! Bị lửa nghiệp thiêu đốt, bị mây mê che phủ, sông ái lúc ra lúc vào, há nói hết ư!

Thủ Tọa Cao An là bậc anh tài trong pháp hội, một hôm cha mất, mẹ già, nói lời từ biệt đi về tây. Nhân đó Ngài cử: Thái Tử Na Tra, lấy xương trả cha, lóc thịt trả mẹ, hiện thân nói pháp cho cha, mẹ. Để trình bày rõ hơn: Xương đã trả cho cha, thịt trả mẹ rồi, vậy gọi thái tử Na Tra là người nào? Hải cung kính thưa: Tạ ơn Hòa Thượng đã chứng minh. Sư viết thơ tặng. Nhằm ngày 9 tháng 7 niên hiệu Bảo Thái Định năm thứ 2

Tán ngài Văn Thù:

Thầy bảy đức Phật là Ngài Văn Thù.

Bóng hiện trăm ngàn, kiếm rơi đã lâu.

Khỉ mò trăng trong nước:

Vầng trăng tròn trong nước,

Ngắm được không vớt được,

Bầy vượn muốn bắt trăng.

Khuấy đục đầm nước lặng.

Viết cho cư sĩ Trần Hoàng Đức Trung:

Bóng trời, người trong ánh không hoa,

Hình lừa, ngựa chớp trong lửa đá.

Bao kiếp rõ ràng xưa đến nay,

Cớ sao vẽ vời nên xanh đỏ?

Thơ tả Ngài Hàn Sơn:

Thầy trăm ngàn chư Phật,

Chỉ một tâm vương này.

Trùm bao mười phương cõi,

Sáng nhiệm mầu không cùng.

Bỏ nó tìm thứ khác,

Ngụy biện nói đạo lý.

Không hủy báng Tông thừa,

Cũng lừa dối chính mình.

Nhà ta có một vật,

Ra vào trong ruộng thân.

Đuổi y y không đi,

Tìm y không gặp Y.

Giúp Y, Y không giàu,

Cướp y, y không nghèo.

Tròn sáng chói vạn tượng,

Như mặt trời trên không.

Tâm là gốc vạn pháp,

Vạn pháp nương tâm có.

Tâm không, vạn pháp không,

Sanh tử không nơi chốn.

Thế gian bao nhiêu người,

Nghe pháp không nhận lãnh.

Cởi lừa lại tìm lừa,

Chạy điên đảo cuồng loạn.

Nhà cỏ ruộng và vườn,

Nam, nữ cùng đoàn tụ.

Hái trái đem mời khách,

Ươm tơ để nạp quan.

Vợ lo chồng tiều tụy,

Mẹ lo con lạnh thân.

Khi một người thân chết,

Gào khóc quanh quan tài.

Sống biết sống là huyễn,

Sống ra khỏi đường sống.

chết biết chết là huyễn,

Thì vào được chỗ chết .

Bậc trí lên Niết Bàn,

Người ngu chịu trói buộc.

Thân vốn Lô Xá Na, [12]

Chỉ tin là đạt được.

Báo anh hãy tham huyền,

Và kịp thời thức tỉnh .

Tâm, Phật đều hư danh,

Phù sanh trong khoảnh khắc.

Chớ đợi vô thường đến,

Xuất giá bệnh nan y.

Chúng sanh bị căn bệnh khác nhau,

Thế nên, Chư Phật cho nhiều thuốc.

Khác cũng chẳng khác, cũng là vọng,

Vọng cùng chơn tận vốn như như.

Việc qua đều là không,

Việc đến vốn chẳng có.

Mời anh nghe tôi nói,

Chớ uống rượu vô minh.

Ngày 4 tháng 8 niên hiệu Chí Chánh năm đầu đời Nguyên (1341), Sư tịch ở thất Kính Sơn. Sư thọ 88 tuổi, hạ lạp 76. Năm ngày trước khi tịch, Sư thị hiện có chút bệnh, hỏi Thị giả: “Thở ra từng đã thôi, hít vào còn chưa bỏ. Cũng đồng các nguồn khổ, người đến người không đến. Như vậy là ai đến? Ai không đến?” Thị giả không đáp được. Sư im lặng giây lâu nói: “Năm ngày sau ” Qua đêm thứ tư, Sư tắm gội, đắp y, từ biệt chúng, ngồi kiết già, viết kệ:

Vốn không sanh diệt,

Đâu có đến đi.

Sông băng phát lửa,

Cây sắt trổ hoa.

Sư buông viết, duỗi một chân thị tịch. Bí thư Trung Thuận Thiếu Lam Hoàng Ôn soạn bài minh trên tháp .

˜]™


105. THIỀN SƯ ĐẠI PHƯƠNG HÀNH HẢI

(TL.1604-1670)

Thiền Sư Đại Phương Hành Hải, Sư sống vào đời Thanh, người huyện Đồng Hương, phủ Gia Hưng (nay là huyện Triết Giang, Đồng Hương) cha họ Tiền, mẹ họ Trầm. Sư sanh vào giờ tị, ngày7 tháng 6 năm Giáp-thìn Vạn Lịch. Thuở nhỏ Sư không khuất phục ai, không thích văn chương. Năm 14, Sư tuổi học cưỡi ngựa, bắn cung, lớn lên muốn đi đánh giặc, làng xóm đều lo sợ cho Sư. Năm 19 tuổi, mỗi khi thấy giết sinh vật, thì đau lòng, nên Sư có ý xuất trần. Năm 20 tuổi cha, mẹ ép hôn, cũng năm này Sư ăn chay tu tịnh độ. Năm 29 tuổi, Sư xem kinh Pháp Bảo Đàn, tinh thần phấn khởi, quyết ý xuất gia. Sư xuất gia với thiền sư Kính Sơn Vô Dị, Sư tham câu “Động chuyển thi vi là cái gì?” Nghi tình đến chỗ mơ hồ không có lối vào. Sư đến tham vấn Hòa Thượng Thiên Đồng Mật Lão, Sư thưa: “Đệ tử không biết tu hành, xin Hòa Thượng từ bi khai thị?”

Hòa thượng nói: “Ta cũng không biết tu hành.”

Sư lễ bái, Hòa Thượng đạp lên đầu, ngay đây Sư hoát nhiên đại ngộ, nói không được. Sư hầu Hoà Thượng Mật Lão ba năm, mới về lại Kính Sơn. Lúc Sư bị bệnh nhẹ, than: thân người vô thường, tranh nhau từng hơi thở. Sư gắng sức tham tìm hiểu rõ “Một hơi thở không trở lại”! Kinh hành đến ngày thứ 13, Sư chạm phải cây cột, bất giác toàn thân an lạc, như thùng lủng đáy. Về sau, Sư yết kiến các bậc tôn túc: Mật Nhỉ, Phí Ẩn, cuối cùng Sư nối pháp Lão Nhân Phù Thạch. Sư nhập thất hai lần, hiểu sâu kinh, luận, trí tuệ cao siêu, thượng đường nói pháp đều đưa ra đại dụng, giống như hương tượng qua sông, cắt đứt các dòng. Sư viên tịch vào ngày 5 tháng 2 năm Canh Tuất (1670) đời Khang Hy. Sư thọ 67 tuổi, 36 hạ lạp. Sáu quyển Ngữ lục truyền lại đời, Ngô Thái Sư Vĩ Nghiệp ở Mai Thôn làm bài tựa.

Tết Nguyên Đán, Sư thượng đường: “Tháng hai thỏ mới về, tháng ba rồng xuất hiện, tiệm cũ mới mở, tuỳ theo mức thâu nhập của gia đình mà tiết kiệm, tất cả đã sẳn có, đâu nhọc chú cước. Mười phương đồng tụ hội, mỗi người đều học vô vi, Sơn tăng chỉ còn cách ngậm miệng đớ lưới, Đại Sư Lâm Tế nhọc hơi nhướng mày, chúc mọi người năm mới an lạc. Hãy nói: “Thế nào là câu không rơi vào năm cũ, mới?” Sư đưa Phất tử lên nói: “Khắp trời thanh bình hoa mai nở , gió xuân bốn bể đều mở mày!”

Đàn việt thỉnh Sư khai thị, Sư dạy: “Đã lên được đất Tam Bảo, phải nghĩ rằng khó lắm mới gặp nhau. Phật là đấng cha lành, Pháp là thuốc cứu bệnh, Tăng là ngọn đèn sua tan bóng tối. Hết thảy người trong đời, mờ mờ mịt mịt, sáu căn, sáu trần, sáu nhập, sáu giặc này bám theo đeo đuổi, không bao giờ buông tha, bị nó lôi vào nhà lửa, trăm năm ba vạn sáu ngàn ngày, nồi kê vừa chín trời bừng sáng. Tóc bạc, răng rụng, lúc nào mà còn hoan ca, thế mới biết nguy ách đuổi kịp bên, hối hận đã muộn. Phải mau niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng, biển nghiệp không bờ, quay đầu là bến.”

Sư dựng phất tử lên nói: “Quán Âm! Quán Âm! Là cửa cho các ông vào lý chơn thật.” Sư hét một tiếng nói: “Chỉ một cái này là thật, còn tất cả thì không phải chơn!”

Cư sĩ thỉnh Sư khai thị, Sư nói: “Sanh tử mau chóng, việc không phải do người, Huỳnh Liên không phải là thuốc đắng, nghiệp thức mênh mang mới thật là cay đắng, ông phải mau nổ lực phản tỉnh, thế nào là đầu mối? Quyến thuộc sẽ có gặp nhau, thắm thoắt thời gian đã qua. Mặt trời rồi sẽ lặn về tây, việc trước mắt làm sao đây? Lánh xa vực thẳm cuộc đời, đừng rơi vào lầm này sang lầm khác- trẻ con khóc là ý gì của Tây lai? Mừng, giận, buồn, vui là cái thích của trần, trần là Tam Muội, trôi giạt đó đây chính là lúc xuất đầu. Hối lỗi trong một sát na, khắp cõi là Tịnh độ! Điều quan trọng không nên nói Phật, ta không có phần, cam chịu trôi nỗi luân hồi.Tu hành như người khắc bản gỗ, hạ dao vào chỗ trống thật chuẩn, phải gia công chánh niệm; như thợ gốm nắn đồ, thêm được một chút thì có được hình dáng đẹp, cầm đùa vuốt ve, có ngày thành tựu. Tội tánh vốn không, vì tà phá chánh. Buông đồ đao xuống-Ôi cha! Ta là một trong số ngàn đức Phật.

Sư trà đạo với chúng cư sĩ xong, một cư sĩ hỏi: “Tham sống sợ chết, đâu được an lạc?” Sư đáp: “Sanh lấy bất sanh làm sanh, nước lạnh cứng thành băng; tử lấy bất tử làm tử, mặt trời rã băng thành nước. Đến cũng là y, đi cũng là y. Đoạn sạch tướng đến đi, nói thử y là ai?” Sư hét một tiếng nói: “Nguyện sạch hết các pháp, nơi nào không tự tại.” Chúng cư sĩ lễ tạ lui ra.

Sư khai thị cho Cung Úy Di:

Diệu tánh viên minh chỗ chưa sanh,

Chưa sanh diện mục rỗng sáng soi.

Nghe khảy móng tay công phu hiện,

Hiển bày mắt chánh của Ma Hê.

Sư cảm tạ đàn tín:

Một hét hiển bày ứng vạn cơ,

Phước tuệ đàn tín sánh tợ trời .

Tiếng tiếng rống gầm, siêu ba cõi ,

Gặp mặt đưa ra thoát ngộ, mê.

Sư khai thị cho Đỗng Nhiên:

Học đạo, phải biết quên nhân ngã,

Nhân, ngã không còn đạo mới thông.

Bổng nhiên xuất hiện gương mặt mẹ,

Vạn vật muôn nơi thảy đều chơn.

Sư dạy cho người sáu Tắc “Hiện thành công án”:

Hiện thành công án người khó hội,

Xưa nay ai biết người ấy biết.

Thấu hiểu việc làm bao thế sự,

Xưa nay từng bước chẳng đổi dời.

Hiện thành công án đảm nhận ngay,

Ngay đây không khó toàn thể hiện.

Sáng tỏ thế gian và xuất thế

Một mình uy nghiêm Bảo hoa vương.

Hiện thành công án không luận bàn,

Cây kiếm núi đao đều đạo tràng.

Nước nóng trong lò không chỗ tránh,

Ai biết đương thể là Kim Cang.

Hiện thành công án dây đàn thẳng ,

Khám phá biết hoa sen trong lửa.

Giống như hạt tuyết rơi lò hồng,

Miệng biển rộng to không thể nói .

Hiện thành công án bày không truyền,

Gặp mặt đương cơ đưa nắm tay.

Đành chịu tâm Phật tha thiết quá,

Dốc hết tâm can nói cho người.

Hiện thành công án vốn vô sanh,

Một đại tạng kinh là giả danh.

Bốn mươi chín năm không nói pháp,

Hoa vừa đưa lên liền tỏ ngộ.

Tụng “Vạn pháp về một”:

Vạn pháp về một, một về đâu,

Rõ ràng ngay đó rỗng thênh thang.

Tâm ấn Tổ Sư ngời nhật,nguyệt,

Rực rỡ càn khôn sáng muôn ngàn.

Tụng “Cây bách trước sân”:

Cây bách trước sân LãoTriệu Châu,

Từ xưa xanh biếc rợp chốn Thiền.

Ngồi tham, tham mãi không người hội,

Chọn lá tìm cành thẳng đến nay.

Cổ bách trước sân xanh xanh thẳm,

Chỉ thẳng thiền nhân ngay đây thôi,

Tâm Phật vô hạn sao tha thiết,

Đôi mắt Bồ Đề trừng đứng lặng.

Tụng về hai con trâu:

Hằng ngày thường tìm một con này.

Chưa biết là ngựa chưa biết trâu.

Vừa quay đầu biết được tin ấy,

Nắm mũi kéo lại thấy mặt nhau.

Từng ngày từng giờ từng khắc quên,

Từng năm từng tháng hiện rõ ràng.

Thanh nhàn tự tại siêu siêu thoát,

Khắp cõi trần ai sáng rỡ ràng.

Tụng cây gậy:

Chống trời chỉ đất một cây này,?

Từ phàm đến thánh thảy không tha.

Thưởng phạt phân minh đúng như vậy,

Phật với chúng sanh không hai tướng.

Giết, tha ngang dọc thảy tự do,

Tự do tự tại không không tướng.

Không tướng trong sáng, tuyệt mảy trần,

Lìa các danh tướng thật an vui.

Tụng về pháp thân:

Bản lai không giả cũng không chân,

Thể lộ chơn thường vốn không thân. (thân thích)

Tiết về tháng chạp hoa mai nở.

Công tử trăm năm không gặp xuân.

Bản lai không vật nào có chơn,

Thật, giả không còn nói gì thân.

Hiệu Thánh, tên Phàm đều không lập,

Đâu đâu cũng là bản lai nhân.

Ngã vốn không, tâm nào có trần,

Trong một vi trần hiện thể chơn.

Rỗng sáng siêu thoát gương mặt thật,

Bản thể rõ ràng không lìa thân.

Sáng ngời không mờ diệu minh tỏ,

Rõ ràng thường biết thật bình an.

Lặng yên trong tịnh không đến đi,

Miên miên mật mật chứng vô sanh.

Kệ ngộ đạo của tú tài Trương Chuyết:

Ánh sáng lặng chiếu khắp hà sa, Phàm thánh hàm linh ở nhà ta.Một niệm không sanh toàn thể hiện, sáu căn vừa động bị mây che. Dẹp bỏ vọng tưởng càng thêm bệnh, hướng đến chơn như cũng là tà. Thuận theo duyên đời luôn tự tại, Niết bàn sanh tử đều không hoa.

Vô biên thật chiếu biến hà sa,

Hữu tình vô tình chung một nhà.

Cửu hữu , tứ sanh đồng một thể,

Sáu thông, Tam muội chẳng gần xa.

Cơ thông hoạt bát quên cao thấp,

Diệu đạo dọc ngang không chánh tà.

Thế xuất thế gian không ngăn ngại,

Chơn như Phật tánh mắt trong hoa.

Sư đưa đuốt lên nói với Thiền sư Trúc Am Diễn: Cầm đuốt Sư vẽ tướng tròn nói: “Như Lai phóng hào quang soi xuống đất, thấy tận cây cờ Hương Hải Diêm Phù. Muốn biết chỗ ánh sáng này, đốt hết vô thượng pháp trung vương”

Sư gọi chúng: “Chư nhân giả! Thấy được ánh sáng này chăng? Nếu thấy được rõ ràng, thì chư Phật giáng sanh ở đây, chư Phật xuất gia chốn này, nơi đây chư Phật thành đạo, chư Phật thuyết pháp lợi sanh nơi này, và chư Phật Niết Bàn cũng ở tại đây, xây vô lượng tháp lợi ích nhân, thiên, trên trời dưới đất thật kỳ lạ, thế xuất thế gian thù thắng nhất! Nếu chưa được, Sơn Tăng chỉ cần cử động nhẹ nét mặt, thì giũ sạch tất cả.

Kính bạch: Đại Lão Hòa Thượng Trúc Am, khi Ngài còn sống cũng uy nghiêm, như mặt trời rực sáng trên không, hiển bày các dụng; thệ nguyện của Ngài cũng rực rỡ huy hoàng, như mặt trăng chói sáng lặn ở Tây Giang, ẩn chứa các pháp lành. Tôi thấy Ngài nói pháp, đánh trống pháp ở lôi môn, rưới cam lồ ở đại địa. Tôi thấy trí tuệ của Ngài như Đại Huệ tái lai, cơ như điện chớp, khi mở được mắt đã qua rồi; biến hóa như qua sông, vừa mở miệng đã rơi vào hai, ba. Tôi thấy hạnh của Ngài như hậu thân Ngài Trí Giả Đại Sư, viết 81 quyển Hoa Nghiêm mới 10 tháng đã xong, tụng kinh Pháp Hoa đến vạn bộ, đủ bảy ngàn thì về Tây. Vĩ đại thay! Vĩ đại thay! Thật là nhãn mục của nhân, thiên không thẹn là con của bậc Thánh, kham làm cháu Đoạn Kiều Luân để cứu vãn cương lĩnh vận mạt, chống đỡ vận suy cuối thu. Một hôm nào cáo biệt thị tịch, an nhiên đi luôn, thế nên người, trời mất hiệu lệnh này, bốn chúng không nơi nương tựa. Tăng tục rơi lệ ở Tây Giang, chim thú kêu thương chốn hoang dã, làm mọi người thương tiếc bi ai.

Chuyện này hãy gác lại: “Thế nào là câu nghĩa lý đầy đủ”

Sư lấy cây đuốt quay một vòng tròn nói: “Vòng lửa sáng rực vừa rồi ở đâu, lấy phong ba nguy hiểm làm bến đậu.” Sư ném đuốt lửa phực cháy.

Khai thị nhiều mà không tỉnh ngộ:

Khối băng vỡ đâm lủng thuyền,

Gió cuốn khắp nơi đều nghiên ngửa.

Mây mê phủ kín ngàn mộng sanh,

Sương che bao phủ vạn kiếp thu.

Đàn bà tóc bạc mau dừng bước,

Namtử điểm sương chóng quay đầu.

Núi tuyết và địa ngục hàn băng,

Tuệ nhật làm tiêu băng khoảnh khắc.

Dạy cho hậu học Chí Hạnh Phẩm:

Đã đến nơi đất Tam Bảo,

Phải nghĩ rằng thật khó gặp.

Trước phải lập chí cao vời,

Sau này đạo tâm mới rộng.

Phải làm mô phạm vạn đời,

Kham làm tiêu bản ngàn sau.

Từng giờ ý khí hòa đồng,

Từng khắc tâm tịnh thênh thang.

Hành sự hết sức cẩn thận,

Không nên thô tháo lỗ mảng.

Thông đạt làm chủ tùy nơi,

Không nên kết thành phe đảng.

Giải niêm tháo chốt cho người,

Không được rơi vào cạm bẫy.

Nhân duyên tự có Long, Thiên

Không nên miễn cưỡng qua loa.

Theo ta một lối hành trì,

Trời, người tấc nhiên kính ngưỡng.

Đến ngày quả chín tỏa hương,

Về sau hưởng được an lạc.

˜]™


106. THIỀN SƯ THIẾT BÍCH HUỆ CƠ

(1603-1668)

Thiền Sư Huệ Cơ Thiết Bích Khánh Trung, Sư húy là Huệ Cơ, sống vào đời nhà Thanh. Người huyện Doanh Sơn, Thục Bắc (Huyện Doanh Sơn Tứ Xuyên), họ La, Sư nối pháp Thiền Sư Quảng Chân Suy Vạn Tụ Vân, là cháu đời thứ 15 của Ngài Đại Huệ Tông Cảo. Sư mới sanh ra dung mạo khôi vĩ, khí cốt phi phàm, ba tuổi Sư theo mẹ qua sông, thấy bóng mình dưới nước, Sư hỏi mẹ: “Bóng này từ đâu đến?”

Mẹ nói: “Bóng con soi dưới nước.”

Sư hỏi: “Con từ đâu đến?”

Mẹ không đáp được, bà biết khó giữ con mình ở đời. Năm 8 tuổi, cha mất, Sư theo mẹ trì trai. Cũng năm này, Sư vào trường làng học, Sư thông minh dĩnh ngộ, không nhờ sự giáo huấn của Thầy. Năm 19 tuổi, được gặp một dị tăng báo cho biết nhiều nơi phát thuốc, gọi Sư đến bảo: “Mặt trời Phật sắp lặn, tại sao ông còn mê luyến thế gian? Đức Phật Thích Ca 19 tuổi vượt thành, nay ông đã đến giờ.” Sư nghe lời dạy phát tâm xuất gia. Năm sau, Sư trốn đến huyện Đại Trúc, gặp Thiện Sĩ Diêu Quân, Sư xây thất giữa hai hàng tùng, nhập thất ba năm nơi này, thân tâm thanh thản. Năm 23 tuổi, Sư đến yết kiến Thiền Sư Quảng Chơn, Suy Vạn, Tụ Vân, Sư dụng công lâu mà không ngộ nhập. Một ngày kia cầu xin Ngài Suy Vạn khai thị, Suy Vạn lão nhơn dạy: “Sao không tham một cái: chỉ cái này là đúng!” Sư thưa: “Chỉ cái này đâu cần tham cái gì?” Ngài Suy Vạn nói: “Tha ông 30 gậy!” Sư vâng lời vào liêu làm thị giả. Từ đây đạo nghiệp tiến bộ, đạo đức càng sâu dày, chúng đều vui vẻ với Sư. Về sau, Sư nói với thư ký Tùng: “Lão tăng ngày trước làm thị giả bên Hòa Thượng, cho rằng làm thị giả nhiều chuyện vặt, khó hạ thủ công phu. Đâu biết Lão nhơn có nhiều thủ thuật, bên đông không khảo ông, thì bên tây bảo ông ghi chép. Đến nay nhớ lại những lúc Thầy gọi, có rất nhiều cách chỉ điểm, những điêù đó chiêm nghiệm qua như rót nước, dâng trà.” Đến năm 33 tuổi, Ngài Suy Vạn mới ấn khả, bảo Tôi làm đệ nhất tòa. Sau đó, Tôi tiếp tục trụ trì chùa Tụ Vân, Trung Châu, Phong Đô Địa Tạng Viện, chùa Ngâm Ông Bồi Châu, chùa Thạch Trụ Tam Giáo, Lương Sơn Cánh Trung Thiền Tự v.v. Sư để lại 20 quyển Ngữ lục truyền đời như, Thượng đường, Phổ thuyết, Tiểu tham, Trà thoại, Vấn đáp, Tiên Sách Ngữ, Phật sự, Thi, Kệ, Ca, Minh, dùng văn tự để hiển bày vô văn tự, trình bày một trước tác hướng thượng.

Ở Phong Đô Địa Tạng Viện, Sư chỉ Sơn Môn nói: “Người xưa vào Thiền Viện, hở một tý là đưa ra một chữ Môn, ngày Ta đến viện Khánh Trung, chẳng kiêng nễ gì, chỉ cần gót chân chạm đất, thì theo Ta bước vào!

Đến điện Phật, Sư nói: “Uy nghiêm rực rỡ, quang minh lỗi lạc, lễ bái cũng được; uy hùng sáng chói, chánh trực uy nghiêm, không lạy cũng chẳng sao. Hôm nay Địa Tạng mới đến, lễ đúng? Hay không lễ là đúng?” Sư im lặng giây lâu, nói: “Lễ thì cung kính tất cả; không lễ mỗi người tự tôn trọng.”

Đến Tam Giáo đường, Sư cử: “Ngài Phó Đại Sĩ, đầu đội mão Đạo, thân mặc Ca Sa, chân mang hài Nho vào yết kiến vua Lương Võ Đế.

Vua hỏi: “Đại sĩ tu theo Đạo giáo chăng?”

Đại Sĩ đưa Ca Sa lên.

Vua nói: “Đại Sĩ tu theo đạo Phật chăng?”

Đại Sĩ đứng một chân.

Vua nói: “Đại Sĩ theo Nho chăng?”

Đại Sĩ chỉ tay lên mão.

Sư nói: “Phó Đại Sĩ này dụng tâm không hay, làm cho tâm Phật Thiên Tử phân tán nhiều. Nếu là Khánh Trung thì không như vậy: gọi Đạo cũng được, bảo Nho cũng chẳng sao, gọi Thích cũng thế.”

Xem tạng kinh, Sư thượng đường, nhìn khắp đại chúng nói: “Pháp này ở địa vị của pháp;” Sư im lặng giây lâu nói: “Thấy chăng? Các ông là Kinh sư, Luật sư, Luận sư mỗi người tự bàn luận nhau, không liên quan gì đến Sơn Tăng.

Phật đản, Sư thượng đường: “Hoàng oanh hót, chim gáy kêu, cây xanh bên bờ, hoa trắng trên bãi cát. Hoa trắng trên bãi cát nghe tiếng Đỗ Quyên, nước chảy trên núi róc rách không ngừng. Chợt đản sanh Thái tử Tấc Đạt Đa, tay chỉ trời, chỉ đất tạo tác nhiều, vừa đứng dậy, trố mắt nhìn. Hãy nói Ngài nhìn cái gì? Há không nghe nói: Mọi việc từ nơi sanh mà có, con người vội vàng trong chỗ tĩnh lặng.”

Ngày Phật thành đạo, Sư thượng đường hét một tiếng nói: “Sao sáng đầy trời! Có ai hay biết chăng?” Sư im lặng giây lâu nói: “Như trời rộng, đất dày, mặt trời , mặt trăng chiếu sáng, như biển dung nạp tất cả, như hư không bao dung hết, như người, như vật, như tục, như tăng, như như bất động, như có, như không” Sư hét một tiếng nói: “Rạng đông chưa thấy rõ người, đến lúc trời sáng cũng vậy.”

* Sư thượng đường: “Trời cao chừ chân cao, đất dầy chừ chân dầy, biển sâu chừ chân cũng dài, hư không lớn chừ chân cũng to - chỉ có gậy tre vượt qua tất cả;” Sư đưa cây gậy lên nói: “Ta hôm nay, đi trai tăng nhà thí chủ !”

Tăng hỏi: “Quan Âm, Văn Thù, Phổ Hiền tam môn là ý chỉ thế nào?

Sư chỉ cây nhang nói: “Đây là một cửa”

Tăng hỏi: “Một chữ Phật của Triệu Châu, con không thích nghe. Là ý chỉ gì?

Sư nói: “Hai chữ Phật của Triệu châu ta cũng không muốn nghe.”

Tăng hỏi: “Kiết hạ ba tuần đã qua, cúi xin Hòa Thượng từ bi khai thị gì?” Sư gác ngang đôi đủa lên chén!

Trà thoại: “Mở mắt nhìn, cầm đủa lên, há miệng cắn, bưng một mâm đầy- những hành động ấy có cô phụ các ông đâu?” Sư im lặng giây lâu nói: “Ta về phương trượng, các ông về thiền đường, chúng ta gặp nhau trên dòng sông thu.”

Trà thoại: “Mặc áo, ăn cơm, đi, đứng, nằm, ngồi, đón khách vào, tiễn khách đi, khiêng nước, bửa củi, có điểm nào mà không chỉ rõ! Đâu phải uống trà mới là đạo? Thế nên nói: Khắp nơi đều có mặt, nhìn lại từng hành động cúi, ngước đều ở trong đó. Chỉ là không cho luận bàn, không cho suy nghĩ; suy nghĩ, đắn đo đã sai rồi!

Không nghe xưa kia nhị vị Thượng Tọa đến thăm Ngài Triệu Châu, ngài Triệu châu hỏi: “Từng đến đây chưa?”

Thượng Tọa thưa: “Chưa đến.”

Triệu Châu bảo: “Uống trà đi!”

Ngài Triệu Châu hỏi vị Thượng Tọa thứ hai: “Từng đến đây chưa?”

Tăng thưa: “Đến rồi.”

Triệu Châu bảo: “Uống trà đi!”

Lúc đó Viện chủ hỏi: “Chưa đến Triệu Châu cũng bảo uống trà, mà còn đến Triệu Châu rồi, cũng bảo uống trà là sao?”

Triệu Châu gọi: “Viện Chủ”

Viện chủ dạ. Triệu Châu bảo: “Uống trà đi!”

Ông xem Ngài đâu có gì lạ? Cũng không có gì thiếu sót ? Nếu lãnh hội được, mới biết : Người gỗ đầu đội cỏ, miệng không nói một lời.

Phổ thuyết: “Há miệng thần khí mất, động lưỡi thị phi sanh”. Tuy nói thế, nhưng có thể hiểu được. Lúc này chỉ nghe trong trai đường luận bàn huyên thuyên, nhưng môn hạ của Khánh Trung thì cho bàn luận, nhưng không biết các ông luận bàn điều gì? Cũng phải biết cách bàn luận! Nếu không biết cách luận bàn, thì lên đơn thấy có công phu, xuống đơn thì không có;trong Thiền đường có dụng công, ra ngoài thiền đường thì không; ở chỗ vắng thì có công phu, nơi ồn náo thì không có- Thế thì làm sao thấu được Na Già Định?

Người xưa tỉnh ngộ, không hẳn là tu thoại đầu, có người ngộ qua vẫy tay, có người nghe khúc bi thương lãnh hội, có người đi giữa đường ngay đó chợt tỏ, có người nghe một lời nói ngộ tuổi còn trẻ, có người đến già vẫn còn đi hành khước, có người xem kinh, ngửi hương thơm, thấy hoa đào nở, nghe tiếng sỏi chạm phải thân tre minh tâm ngộ đạo. Dù không thể đưa ra chứng minh hết được, ông xem những lão cổ chùy này[13], đâu từng thấy họ: Nhắm mắt mở mắt nhìn, hết ngồi lại đi vội vàng, nói ấp úng, lấy gì làm gương mẫu? Thế nên nói: Xô người ngã trên đất bằng, giết chết người trong tử thủy. Mặt trời trốn trong ngọn lửa không được, những điều đó ví như bệnh nặng, không trói chân người thì cũng sỏ mũi người, thắt ngang bụng người, vui vui buồn buồn, mười năm đến hai mươi năm, nếu không gặp môi trường đào tạo tốt, qua thử thách để được sáng mắt, thì ai có thể vượt ra được? Lại trở thành thiền như cây Hoàng Dương.[14]

Thế nên trong môi trường rèn luyện không cần lớn hay nhỏ, tiêu tan hết không màng mau hay chậm, miễn là quen trong môi trường đào tạo, thì làm sao khối sắc cứng không thành thép được? Há không thấy ngài Đại Huệ, buổi đầu mở trường tuyển Phật, hơn 50 người mà ngộ đạo chỉ có 13 người! Tức là lời của giáo gia khảy móng tay vượt qua A-tăng- kỳ- kiếp, không cần trải qua thức ấm sạch. Đâu phải là nặn một con rắn chết, treo lên cây Xuân chèo thuyền để xác định ngày tháng, đó là việc làm ngu xuẩn không được gì?

Nhưng hôm nay trong ngoài tự viện, hơn 300 người, ngày đêm hạ thủ công phu, Sơn Tăng không hài lòng chư huynh đệ bị hôn trầm, tán loạn, vô ký, linh linh, tịch tịch chi phối, thế nên Lão Tăng mở phương tiện dạy các ông: Lúc đi, đứng biết chân đặt trên đất, lúc nằm ngồi biết mình tựa ghế, nằm gường, lúc ăn biết nhai từng hạt gạo, lúc mặc áo phải nhớ bản thân, lúc rửa mặt phải chạm lỗ mũi, lúc đại tiện, tiểu tiện phải nhớ cởi quần. Như bắt cá láo nháo trong lờ , không cẩn thận sơ suất, chưa biết hang ven biển nơi nào, thì tới tận đáy bắt nó không được. Nếu người đánh cá lâu năm, bốn phương là nhà, không còn suy tư gì khác, cuồn cuộn chỗ cạn sâu, mấy phen trải qua thuyền lướt trên sóng, mới bắt được cá, đem ra chợ bán, thật là vui sướng.

Phu nhân Trần Phác Tố ở Viên Phủ qua đời, thỉnh Sư thuyết linh, Sư lấy gậy chỉ cây nhang nói: “Nén hương này, an định linh hồn, chết rồi sanh lại, mạng thọ vô lượng, mãi thoát sanh tử!”

Sư chỉ ngọn nến nói: “Ngọn nến này chiếu sáng khắp trời đất, thấy cả xưa lẫn nay, soi thấu chỗ thâm cùng sua đi bao đen tối! Đạo nhân phải ngộ nơi đây, thì sanh tức là vô sanh, diệt vốn chẳng diệt. Ghé tai đây, Lão tăng nói điều này. Vài điều hỏi đạo nhơn mấy năm trước còn nhớ: “ Gần đây đạo nhơn có tham thiền, niệm Phật không?”

Đạo nhơn thưa: “Hòa Thượng đến Thạch Bảo bao giờ.”

Sư nói: “Có điều gì lạ không?”

Đạo nhơn thưa: “Ngày mai đi chợ.”

Qua hai chuyển ngữ này, tuy bình thường, nhưng đủ diệu nghĩa thâm sâu. Đến khi duyên sanh hết, thì ý sanh thân của đạo nhơn lễ biệt Lão tăng, Lão Tăng mới đến như vậy, Đạo nhơn lại đi như thế . Đạo nhơn nếu chứng nhận thọ dụng được đoạn phong quan này, thì trăm vạn ức đời sanh chưa từng sanh, trăm vạn ức đời tử chưa từng tử. Đi thì đi không phải đi thật, đến có đến không phải thật đến, thấy thể chất bảo là hình hài chẳng phải là có, bật dấu ẩn tích chẳng phải là không. Chư vị không nghe: Lúc tánh nghe rỗng lặng nhiệm mầu không gì sánh, tư, tu đốn nhập Tam Ma Địa, lực vô duyên từ hợp với trình độ chúng sanh, trăng có sáng tỏ ngàn khe suối. Được như vậy một trăng hiện ngàn sông, thì có thể cùng với Trí tuệ của ngài Văn Thù, Hạnh của ngài Phổ Hiền, Từ Bi của Bồ Tát Quán Thế Âm, Nguyện lực của ngài Đại Thế Chí, Hạnh Năng Nhơn của chư Phật, siêu việt của chư Tổ nắm tay cùng đi. Không hai không có chia thành hai, không khác vì không đoạn củ, ứng thân theo loài, thần thông tự tại trong chốn trời người. Hoặc hiện thân lớn, hoặc hiện thân nhỏ, hoặc thân tôn quý, hoặc thân Tỳ Kheo, phân thân vô lượng, độ khắp chúng sanh. Đầy đủ vô lượng vô biên trang nghiêm không thể luận bàn, được thọ dụng vô lượng vô biên không thể nói được, thành tựu Phật sự vô lượng vô biên không thể diễn tả , chứng vô lượng vô biên đạo quả, không ngôn từ nào trình bày được- có thấy chăng? Kệ rằng:

Đạo nhơn Phác Tố,

Lòng tin vững bền,

Một niệm muôn năm,

Kim Cang vô trụ.

Sư đưa gậy lên: “Hãy ghi nhớ! Ghi nhớ”

Tiên Sách Ngữ (Tắc 14)

Người học đạo thời nay, ít ai chịu khắc phục bản thân, lỗi là thích buông lung, không muốn cực nhọc, vất vả, trọng hình thức, thích ăn ngon, mặt đẹp, vun bồi nhân ngã, siêng phím luận. Suy cho cùng, đều là không biết nhân quả, không lĩnh hội được trí hạnh, không tha thiết đến vấn đề sanh tử. Tôi ngại rằng quý vị thọ suông, không chỉ vô ích, mà còn tổn. Đáng thương thay!

Người tham thiền học đạo: Quý ở chỗ cam chịu thanh bần, lấy tu chứng làm vui, chịu khó gánh vác. Không thanh bần không tu chứng, mà muốn được, thành phần này hiếm thấy. không tu chứng không chịu khó gánh vác, thuộc hạng chán nản. Không gánh vác không cam khổ, có tu chứng, thì rơi vào vội vàng. Mấy ai học hiểu được như vậy. Còn như tịnh giới là giới của thiền, chánh định là gốc của thiền, diệu huệ là dụng của thiền- Tam học được trọn vẹn, đạo ở nơi đây vậy.

Có người nói: Thiền là bậc đại căn khí mới tham được, chi bằng chúng ta niệm Phật, xem kinh, trì chú thật chí thành. Thường niệm Phật và hành như vậy ba năm, năm năm, mười năm, hai mươi năm, thì tâm này cũng có thể gọi đó là tham thiền! Chỉ sợ làm theo qua loa, như thuyền không bánh lái, sóng phủ lên thuyền, thấy nó nhưng làm sao cầm lái?

Gia công nhiều tổn sự lãnh ngộ, phù thủng không lợi cho mập; đốn ngộ tiệm tu, ngày ngày kiếp kiếp tô bồi nhau. Nếu chịu gieo chủng tử trong nghiệp vô lậu, đâu chỉ không mất thân người, khi họ sanh vào kiếp khác xoay đầu lại, đâu đâu cũng được thuận lợi.

Người có bốn điều sai về bản thân: Bản thân mình không làm nỗi, lại khuyên người không nên làm, đây là lỗi người xưa che giấu bản ngã của mình. Thân tâm mình không nghiêm túc, hay tìm sơ hở của người học đạo, đây là cản trở điều hay và che điều xấu của mình. Có người vừa nghe bậc thiện tri thức xuất hiện, vội đến trình một bài kệ, dâng một bài thơ, trước mặt hỏi mấy câu, thật ra bản thân mình mờ mịt đen tối! Đến khắp nơi khoát lác một cân bán thành hai: đây là cầu danh cho bản thân. Có những người lòng tin vững, thi hành nghiêm túc, biết thì một nhưng hiểu được một nửa, tìm chốn vắng ẩn thân không muốn gặp ai: đây là thái quá cho bản thân.

Phàm làm tăng không thích học giáo, tham thiền, vẫn còn ham khoa cử, mà xem nhẹ thi thơ, trọng ngoại điển không chịu nghiên cứu tự tánh, miệt mài theo loại sự tích xấu, lại không thi đậu, trong khoa cử không giỏi, vẫn làm người tầm thường; tự tánh không thông, không tránh khỏi mang lông kéo cày.

Thầy biết được đệ tử, đệ tử không sao biết được Thầy. Người học phải có mắt trạch pháp. Thời tượng pháp có nhiều quyến thuộc của ma trà trộn trong thiền giáo phá hoại chánh pháp. Tha hồ bàn thiền, nói giáo theo tâm mình; nếu người không có giới hạnh, thì nhất định không có hạt giống chánh của Phật, Tổ.

Người học lấy tâm mình làm tâm người, thì việc gì không xong; học đạo bằng tâm yêu thích, đạo nào không thành. Ở đời nhiều người ngu luôn xem trọng tài, sắc; đạo rất hữu ích cho người, kiến tánh là tốt. Người học phải gạn bỏ điều sai trái, thì sau mới được lợi ích.

Hạ thủ công phu đạt được chút chút, phải kiểm xem lại bản thân đã vơi được bao nhiêu điều phiền não? Tập khí tâm hành so với Cổ đức như thế nào? Kỵ nhất đã làm nhiều điều thô lỗ, khoát lác lắm lời, bậc thức giả cười cho.

Người tham thiền phải tin có đường ngộ. Nhưng chỗ ngộ này chỉ có đương sự mới biết, nói cho người, họ cũng không hiểu, nhưng không dấu được người đã ngộ. Có những người hạ thủ công phu, ngồi bồ đoàn chưa nóng, thì đã bị hôn trầm và vọng tưởng, bỗng chốc vô tri vô thức, tỉnh lại thì nói ta thấy Bồ-tát, thấy Phật, thấy hào quang, thấy đủ cảnh giới, cho là ngộ đạo: không biết đó là bị vọng tưởng lôi đi! Nếu người ngộ đạo, thì ngộ liền gậy của Lâm Tế, Cao Đình ngộ qua sự vẫy tay cách sông, Trạm Đường nghe hàng xóm đọc sách gương mẫu của bậc thầy mà ngộ đạo, lại thấy được cái gì? Đã lâu mà chưa đạt được, thì bọn tà dễ xen vào.

Có những người tham thiền chấp vào vọng tưởng mau hết, thanh tịnh bản nhiên, biết rõ không một vật, rồi cho trạng thái ấy là ngộ, còn dẫn câu ‘bản lai vô nhất vật’ của Lục Tổ để chứng minh cho sự dụng công của mình. Thường an tâm vào trạng thái vô sự, không chịu khởi nghi tình, không cầu thăng tiến. Trạng thái này đâu khác rơi vào chấp không của ngoại đạo, Vô Tưởng của thiên nhơn! Há không biết rằng thanh tịnh bản nhiên chính là mực thước tối cao của giáo thừa, chẳng phải ý chỉ niêm hoa biệt truyền. Có người còn dẫn lời Tổ Sư để ấn chứng cho nhau, như vậy họ chỉ biết thanh tịnh vắng lặng, nhưng không biết thanh tịnh bản nhiên.

Cửa tham thiền đốn ngộ có ba: Tín ngộ, Giải ngộ và chứng ngộ. Tín, hiểu và an lạc trong phương pháp ấy, chứng ngộ thì an lạc miên trường.

Người học ở trong chỗ đông người phải vô sự, đừng nên tạo tác. Vô sự thì trí tuệ sanh, phiền não mất. Tạo tác thì phước duyên tiêu, vô minh lớn mạnh. Vô minh phát triển thì nhơn ngã cạnh tranh. Trí tuệ sanh thì đạo đức cao dày. Cho đến người cầu học với bậc Thiện tri thức, có duyên thì ở không duyên thì ra đi; khi đi không oán trách, lúc ở đủ lễ. Đây là khuôn phép xưa nay.

Giáo hóa độ người, mình gặp phải hoàn cảnh thuận hay nghịch đều xem là phương tiện cả, hoặc khen hay chê đều là giúp đỡ họ. Độ người không nên trắc nghiệm bằng cơ tâm, đều xem họ là hạt giống trí linh miêu mới đạt được sự thù thắng.

Kệ, Minh, Ngâm: (năm tắc)

Viết:

Thân trong rỗng ngoài cao sáu tấc,

Đầu bạc khăn đen diệu có thần.

Thấu cổ thông kim ai không biết,

Từng đợt sóng củ rồi sóng mới.

Luận về mệnh:

Vô vị chân nhân theo thân này,

Ra vào trước mặt có ai hay,

Thái hư vốn bằng tuổi thọ y,

Tính kỷ quân tử là canh thân.

Bài minh tâm tánh:

Rõ ràng là có, không thấy không nghe.

Tràn mắt đầy tai, không sắc không thinh.

Ở không chỗ trụ, danh vô định danh.

Danh trụ vô định, tâm tánh nào chơn.

Nhỏ tuy biến khắp, lớn nào dung kim.

Ẩn an vách sắt, chẳng phải sơn tăng.

Bài minh yết ma:

Yết Ma sám tội, Tổ Phật đồng phong.

Chưa dứt phan duyên, nhơn ngã tranh hùng.

Chấp có chấp không, chấp tĩnh chấp lặng.

Niệm lự xen nhau, tâm thức công kích.

Theo lời quên gốc, hợp lý mờ tông.

Không thấy lão bệnh, không thương người ngu.

Không xét lỗi mình, không siêng giúp người.

Không chứng nói chứng, không nơi dung thân.

Mê mờ nhân quả, nói làm trái nhau.

Nghiệp tánh như vậy, không đạt thật ngã.

Thật tâm phát lồ, hạt tuyết trong lò.

Đã không trong ngoài, đâu có bên trong.

Ngâm hư không:

Hư chừ hư chừ thênh thang,

Không chừ không chừ khéo ẩn.

Không thấy lỗi chừ tâm rộng,

Lìa tâm thức chừ dài lâu.

Trời đất nương chừ che chở,

Sông biển nương chừ mênh mông.

Trời, trăng bên nhau chừ sáng ngời,

Xưa nay chuyển chừ truyền mãi.

Núi cao ngất chừ không ngại,

Nước vỗ mạnh chừ sao ngăn.

vạn tượng dung chừ nhà cửa,

Chim thú về chừ quê hương.

Sấm chớp vang chừ tiêu tan,

Nước lửa xa chừ khó hại.

Người ngu trốn chừ đâu được,

Bậc trí mong chừ chưa có.

Thần như thị chừ giải thoát,

Thân như thị chừ đạo tỏ

Tâm như thị chừ đạt đạo,

Ý như thị chừ nước Phật.

ngậm máu phun chừ tự nhơ,

cầm lửa đốt chừ tự hại.

Tất cả diệt chừ không hoại,

Thể diệu viên chừ đều sáng.

Cùng chúng ta chừ tiếp nhận,

Tôi chừ trình bày tỏ rõ.

Tháng 8 niên hiệu Khang Hy năm thứ bảy (1668), Sư bệnh nhẹ, ngày 21 tháng 9, Sư di chúc mọi việc, từ biệt chúng: “Đến đi là chuyện thường tình như ngày và đêm, qua lại không ngừng, chẳng có gì lạ. Ta thấy thế gian tánh vốn giải thoát và đều là giải thoát. Niết bàn sanh tử như không hoa, phàm phu không biết nên bị trói buộc. Các ông phải siêng năng tinh tấn, cẩn thận chớ buông lung.” Sư ngồi an nhiên thị tịch.

Sư làm hóa chủ 32 năm, 47 hạ lạp, thọ 66 tuổi. Đệ tử nối pháp có Tam Sơn Đăng Lai và 18 người.


107. THIÊN NHIÊN HÀM THỊ(1608-1685)

Thiền sư Thiên Nhiên Hàm Thị, pháp danh Hàm Thị, pháp tự Lệ Trung, biệt hiệu là Thiên Nhiên. Sư họ Tăng ở Việt Chi Phiên Ngung, sống vào thời nhà Thanh. Sư sáu tuổi đã đi học, một hôm thấy mình từ trên không rơi xuống, không có chỗ bám, Sư khóc òa về nhà và ngủ thật say, bị như vậy hai lần. Năm 13 tuổi Sư dự định chú giải Chu Dịch, nên hỏi Thục Sư về thuyết Thái cực, Thục Sư giải thích theo văn tự, Sư nói: “Giải thích như vậy chỉ trên danh tự; tính rốt ráo của Thái cực là gì? Hơn nửa lúc trời, đất chưa hình thành, Thái Cực có từ đâu? Trời đất hình thành Thái Cực còn tồn tại chăng?” Thục Sư không giải đáp được. Sư nghiên cứu cùng tột và phát minh điều này từ thuở nhỏ. Sư có chí xuất trần rất sớm, thích ngồi tĩnh lặng nghiên cứu kinh Viên Giác, Truyền Đăng Lục, nhiều lần xin phụ thân học Phật pháp, phụ thân bảo: “Con muốn xuất gia, đợi đến lúc thành danh thực hiện được sở học cũng chưa muộn.” Năm 26 tuổi, niên hiệu Sùng Trinh, Quý dậu, Sư thi đỗ trường Hương. Năm sau Sư đến Kiết Châu, nằm dưỡng bệnh ở chùa Kim Ngưu, Thầy thuốc trị không lành, Sư ngồi cầu nguyện mười phương chư Phật: “Nếu qua khỏi bệnh , con nhất tâm học đạo, từ đây vì người không mong cầu danh lợi.” Đêm ấy thấy dị mộng, bệnh chóng lành. Sau khi về nhà, Sư đoạn dục, trường trai, tham cứu càng tha thiết, hai tháng áo không mở đai, hơi ngộ được huyền chỉ. Mùa đông năm Bính Tý Sư yết kiến Tông Bảo Đạo Độc tại Hoàng Nham, qua lại chào nhau, duyên kim cải tâm đầu. Năm Kỹ Mão, Hòa Thượng Đạo Độc dời về Dương Quy Tông, Sư đến xin xuất gia. 30 năm, Sư nguyện không ra khỏi núi. Năm thứ 15 niên hiệu Sùng Trinh, Sư khai pháp ở Quảng Châu Ha Lâm, từ đây về sau Sư trụ trì Lôi Phong Hải Tràng, Hoa Thủ Giới Am, Lô Sơn Thê Hiền, Thiều Châu Đơn Hà. Sư với thiền sư Thiên Sơn Hàm Khả đều là hàng đệ tử nối pháp Tông Bảo Đạo Độc đời thứ 34 Tông Tào Động. Hàm Khả giáo hóa ở Thẩm Dương, Sư thì ở Giang Hữu, Việt Đông, hai bậc đại sĩ mỗi người hành hóa một phương, bấy giờ là điểm cho các nạp tăng hướng về.

Niên hiệu Sùng Trinh năm Nhâm ngọ, ở Quảng Châu Ha Lâm, Sư thượng đường, niêm hương, chúc Thánh, hỏi đáp xong, Sư dạy: “Sơn Tăng được chư đại cư sĩ, bậc kỳ đức thỉnh trụ trì viện này, hôm nay làm lễ kiết hạ cho chư huynh đệ, đây là việc bất đắc dĩ, gắng làm theo nghi thức, mong chư huynh thận trọng chớ bỏ qua cơ hội” Sư dựng phất tử nói:

Đại chúng có hội chăng? Nếu vào được đường này thì không còn hổ thẹn! Xưa kia Lục Tổ nhận được y bát Hoàng Mai, 16 năm ẩn trong đám thợ săn, nhớ thời tiết sắp đến, mới qua chốn này. Ngày kia, Tổ đi bên thiền đường gặp hai vị tăng đang tranh luận, người nói gió động, kẻ nói phướng động, chư huynh đệ! Quý vị xem hai vị tăng này tranh luận, cái nào là thiên nhiên, cái nào là diệu dụng, chính lúc ấy, còn thêm bớt, suy nghĩ gì khác được chăng? Mình và người đều chịu sự chi phối xung quang mà không biết, thế nên, Lục Tổ bất đắc dĩ mới nói với họ: “Không phải gió động, không phải phướn động.” Dù nắm vững đường đi, vững vàng như Ngưu Đầu : Thật ra cũng là đất bằng dậy sóng, nếu thật cách lớp da có máu, thì vừa nghe liền tỉnh, đã hổ thẹn lâu rồi ! Đâu đợi Lục Tổ nói: “Tâm nhơn giả động!” Dù đã nói rõ và chỉ những điểm đơn giản về sau, vẫn là thêm cán vào bát! Như vậy nếu khám phá được, chẳng những Tổ Sư nhiều đời không lừa ông được. Đương thời trong 49 năm, đức Phật nói xuôi, nói ngược cũng không lừa được ông, còn không có tin này, đây là việc bất đắc dĩ, mới đưa cành hoa sen trong trăm vạn người trời : Đã là tiết lộ khá nhiều! Huống nữa còn nói: “Như Lai có chánh pháp nhãn tạng, Niết Bàn diệu tâm truyền lại cho Tôn giả Ma Ha Ca Diếp.” Rồi lấy làm lạ, con cháu đời sau đua nhau nhận ngón tay là mặt trăng; nếu là người thông minh, chắc chắn không theo nhóm người đó. Vì sao như vậy? Vì trở về cội gốc thì không có việc như thế, cũng không có nói như vậy. Hôm nay, Sơn tăng nói rõ cho quý vị, đây là chuyện bất đắc dĩ, theo tà bỏ chánh. Nếu có Thiền Tăng nào thông minh lanh lợi, thộp ngực nắm lại hỏi cho đớ lưỡi! Thì Sơn Tăng cũng phải chấp nhận thôi. Ngộ chăng? Hội chăng? Nếu không, thì cùng Sơn Tăng quay lại!” Sư hét: “Hôm nay là ngày kiết hạ, đại chúng hãy trân trọng.” Sư xuống tòa.

*Sư thượng đường, đưa trúc bề lên nói: “Có gì để chỉ dạy! chỉ vì ông không chịu nhận thôi, phải biết rằng nó có từ lúc chưa lập địa! Chẳng phải bị môn đệ Ngài Ca Diếp làm mai một.

Tiểu tham, Sư cử: “Bá Trượng nói: Sáng ngời rực rỡ, thoát khỏi căn trần, thể bày thường chơn, không vướng văn tự, tâm tánh thanh tịnh, vốn đã thành tựu, chỉ lìa vọng duyên, tức như như Phật.” Sư đưa phất tử nói: “Đại Sư Bá Trượng đến rồi! Quý vị có thấy chăng? Quý vị không nên nghe ngôn từ của Đại Sư, và bảo đã hội, đã hiểu. Gặp Đại Sư đã bỏ lỡ cơ hội rồi!” Sư buông Phất tử, im lặng giây lâu nói: “Vừa rồi nói quá nhiều, vậy nên thực hành từ điểm nào! Ngồi lâu mỏi mệt, chi bằng giải tán.

Sư thượng đường: “Thế Tôn niêm hoa chỉ là một vở kịch hài, nhiều đời chư Tổ đưa chùy, dựng Phất tử, nói ngược, nói xuôi chỉ là một bức tranh tuyệt hảo; may cho Ta không theo khuôn sáo cũ như thế.” Sư về phương trượng.

Sư thượng đường, cử: “Cổ Đức hỏi tăng: Tại sao ông không xem kinh?”

Tăng thưa: “Con không biết chữ.”

Cổ Đức nói: “Sao ông không hỏi mọi người? Tăng chấp tay thưa:”

- Chữ gì? Cổ Đức không đáp.

Sư bảo: “Ông thấy vị Cổ Đức này khắp nơi đều khuyên người xem kinh, và hỏi chữ, rõ ràng một chữ Bát Ngài cũng không biết!” Sơn Tăng cũng có một chữ muốn hỏi quý vị; Sư đưa nắm tay lên nói: “Quý vị biết chăng? Biết thì viết không cần chọn bút, chấm một chấm là Hoàng đình.”

Tiểu tham, Sư dẫn lời Bồ Tát Long Thọ: “Nếu người không thấy Bát nhã, thì bị trói buộc, nếu người thấy Bát nhã cũng bị trói buộc. Nếu người thấy Bát nhã thì được giải thoát, nếu không thấy Bát nhã cũng được giải thoát. Điều này hiếm có, thật xứng đáng là bậc Đại danh, như vật huyển hóa, thấy mà không phải thấy.” Sư nói: “Đại chúng! Biết Bát nhã chăng?” Sư đưa Phất tử lên nói: “Sao không ngộ trước khi chưa cử! Tuy như vậy, Lục Tổ không phải là họ Lư.”

Phật Đản, Sư thượng đường: “Thế nhân có hai tưởng: Một là Thế đế lưu bố; hai điên đảotưởng. Chư Thánh có thế đế lưu bố mà không có tưởng điên đảo. Theo dòng đời, nên Ta nói năm nay Lão tăng 61 tuổi, hôm nay là ngày 14 tháng 10. Hết thảy các ông đều theo dòng đời đến mừng Phật Đản với Lão Tăng, Ta cũng theo thế sự nhận sự cúng dường lễ lạy. Lão Tăng với các ông ở trong thế đế: Có đệ nhất nghĩa đế chăng? Nếu có thế đế mà không đạt được đệ nhất nghĩa đế đó là pháp phàm phu; nếu bỏ thế đế còn có đệ nhất nghĩa đế, đó là pháp Thanh Văn; nếu đạt được đệ nhất nghĩa đế trong thế đế, đó là pháp Bồ Tát; nếu đạt được ngay, thì không phải thế đế, cũng không phải đệ nhất nghĩa đế, mặc tình cho tâm sở nghĩ, tùy duyên lập tông, không còn thị phi, nhưng đều biết được thị phi, đó là pháp của Như Lai- còn nhà của Nạp Tăng Ta thì thế nào?” Sư dộng gậy xuống nói: “Đại chúng hội chăng? Lão tăng 61 năm về trước chỉ đến như thế, thì hôm nay cũng chỉ như thế, tận mé vị lai cũng chỉ như thế. Nếu ở trong đây còn lờ mờ, thì có thể cùng với Tứ Thánh, Lục Phàm[15]đồng vào biển Vô lượng thọ của Lão Tăng! Trước mặt cũng không có quý vị, ở đây cũng không có Lão Tăng, những điều gọi là mắt thấy, tai nghe, miệng nói không biết là ai: Nhưng Phật sự lại chu toàn, pháp âm vang khắp nơi- Thử nói xem là người cảnh giới nào?” “Non xanh chót vót muôn đời, nước biếc chảy lờ đờ muôn thuở.”

Tiểu tham: “Xưa nay thanh tịnh, tạm mượn từ gọi là hồi quang, nên mới rơi vào suy lường không trúng” Sư dộng gậy xuống nói: “Nếu hiểu như vậy thì không đúng rồi!” Sư dộng gậy xuống nói: “Phải thế ấy mới được!”

Tiểu tham, Sư dạy: “Phật pháp ngay trong đi, đứng, nằm, ngồi, trong lúc uống trà, ăn cơm, đại tiện, tiểu tiện, đón khách, tiếp khách; khởi tâm động niệm thì đã qua rồi không đúng- người xưa nói thế, bạn phải hội ngay đó. Nếu ngay đó ông hội được trong những hành động, cái gì khởi tâm động niệm? Còn có gì gọi là đúng hay sai! Đã không còn đúng và sai, thì còn gì an bài? Xem ra đã bỏ lỡ cơ hội rồi, phải trở lại từ đầu thôi! Các ông phải mở to mắt mới được.”

*Tiểu tham: “Việc này không phải để quý vị suy nghĩ suy lường! Thế gian thật kỳ ảo , như lầu đài ảo hóa trên biển-hang sâu, đầm lớn, thần long, nanh hổ, kỳ cầm, quái thú, quỷ mỵ lúc ẩn lúc hiện, nơi này loài người chưa từng qua, theo sách vở diễn tả vừa thoáng nghĩ liền hiện. Tức là như Pháp giới hải của chư Phật, Bồ Tát; Tất cả trời, Phạm, lục đạo, chư thánh phàm; cúng dường hương vân, hoa vân, bảo y vân, tán thán, ca ngợi; giáo hóa chúng sanh tiếng vang khắp nơi, đầy cả hư không, kiếp số bất khả thuyết, bất khả thuyết không có ngày dừng, hiện nhiều thần biến, cũng có những nơi con người chưa từng biết: trong kinh nói, vừa nghĩ đến là hiện ngay. Nhưng việc ngộ bản tâm thì suy nghĩ không đến được, các bậc Thiện tri thức nói đó là ba cân gai, cưa đứt quả cân, cắt đứt lý giải, dẹp sạch tình thức. vừa khởi ý há không phải là suy nghĩ ư? Đã rơi vào suy tư, nằm mơ còn chưa thấy! Dù không phải chỗ để cho suy nghĩ, nhưng không phải là lông rùa, sừng thỏ: nẫy giờ nói quá nhiều, không thể chịu được! Mùa hạ này, quý vị phân biệt rõ thử xem!”

Tiểu tham, Sư dạy: “Trên không mặt trời đỏ rực, biết để mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý vào nơi nào! Chỉ cần căn, trần gặp nhau, khởi phân biệt thì theo tập khí hiện hành liền: đến lúc nào các ông mới dừng đây! Sao không dùng một đao cắt thức thứ tám để an trụ vào Môn Đại Tổng Trì, tiếp duyên xúc cảnh như cảnh trong gương: cảnh không mượn gương mà hiện rõ, gương cũng không nhờ ảnh mà tròn sáng thêm. Như Ma ni châu ngũ sắc, thể của Ma Ni không phải năm màu, năm màu cũng không mờ đi viên Ma Ni châu, cũng đâu đợi tẩy sạch năm màu sắc Ma Ni châu mới hiện. Đây là cảnh giới của Bồ tát Văn Thù, Ngài Phổ Hiền, chỉ có ai chứng mới biết được. Về mặt lý thì thông suốt 12 phần Giáo, nhưng sự vẫn còn chưa tỏ một phần. Phần lớn người xưa trong mười năm, đầu đêm, giữa đêm, cuối đêm mới hơi giống. Hàng hậu học sơ cơ không cẩn thận.”

Kiết hạ, Sư phổ thuyết:

Tuổi trẻ qua mau, như ngựa chạy, mạng người vô thường, như nước chảy trên núi. Từ ngày kiết hạ đến nay, thoáng qua đã hơn 70 ngày, Lão tăng bị bệnh, đã lâu không gặp đại chúng, hôm nay nói rõ cho Đại chúng vì một nhơn duyên lớn. Kinh Pháp Hoa: “Chư Phật Thế Tôn xuất thế chỉ vì một việc lớn.” Cớ sao nói chư Phật chỉ một nhơn duyên lớn xuất hiện ở đời? Chư Phật muốn chúng sanh mở được tri kiến Phật, để cho nhân loại được thanh tịnh nên Ngài xuất thế; muốn dạy cho chúng sanh tri kiến Phật nên Ngài ra đời; muốn cho chúng sanh ngộ tri kiến Phật; muốn cho chúng sanh vào được tri kiến Phật nên Ngài xuất hiện ở đời.

Đại chúng! Tri kiến Phật là gì? Như quý vị vừa nghe tiếng trống trên pháp đường, đều chấp tay chào, lắng nghe Lão Tăng nói pháp, làm những hành động đó há chẳng phải là thể hiện tri kiến của quý vị ư? Trong mỗi chúng sanh đều có đủ tri kiến Phật, đâu cần phải khai? Chính vì chúng sanh sẳn có tri kiến Phật, không thể tự mở, không tự trình bày, không ngộ được, không tự vào được; hằng ngày tri kiến Phật bị mắt theo sắc, sắc trần làm chướng ngại; tai theo tiếng bị thinh trần làm ngăn ngại, mũi ngửi mùi bị hương trần làm ngại; lưỡi nếm vị bị vị trần làm ngại; thân xúc chạm bị xúc trần làm ngại; ý bị tất cả pháp trần làm chướng ngại.

Đại chúng căn trần vô tri, chỉ có tâm thức phân biệt. Kinh Phật Đảnh: “Căn trần đồng một cội nguồn, trói mở không hai, thức tánh hư vọng như hoa đốm trong hư không.” Lục Tổ đại sư cũng dạy: “Sắc loại vốn có đạo lý của nó, mỗi thứ không ngại nhau.” Chỉ vì chúng sanh ngay đây chưa từng biết tri kiến Phật của mình, đương nhiên không thể an trụ hàng phục, nên vọng sanh phân biệt trên trần cảnh. Đã sanh phân biệt thì có yêu, ghét, hình thành thương, ghét thì có thủ, xã: Đời đời kiếp kiếp phải chịu luân hồi. Thì Phật cũng không giúp ta nhận được Phật tánh qua sáu căn. Vì sao? Vì chúng sanh đắm trong mê quá lâu, dù trước mắt vật và ngã cũng không tỏ được, bị lay động trước trần cảnh. Thế nên Đức Phật nói sáu trần là không, là khổ đều do thức tâm chiêu cảm tích tụ: Làm cho bản tâm biết khổ, đoạn tập, chứng diệt, tu đạo; đó là một Phật thừa, chúng sanh không biết đó là phương tiện ngộ nhận là thật, nên tri kiến phật thành tri kiến Thanh Văn. Nói 12 nhân duyên, nói do nhân duyên sanh ra pháp, cái này có thì cái kia có, làm cho bản tánh lìa trần thanh tịnh; cũng chỉ là một Phật thừa, chúng sanh không biết ngộ nhận phương tiện là thật, tri kiến Phật thành tri kiến Bích Chi Phật. Phật nói sáu pháp Ba La Mật, chúng sanh có tâm xan tham nên Bồ Tát đem Bố thí độ; vì chúng sanh có tâm dâm dật, nên Bồ Tát đem trì giới độ; vì chúng sanh có sân tâm, nên Bồ Tát đem pháp nhẫn nhục để độ; chúng sanh giải đãi, nên Bồ Tát dùng pháp tinh tấn để độ; chúng sanh tán loạn, Bồ Tát dùng Thiền định độ, chúng sanh ngu si, Bồ Tát dùng trí tuệ. Tất cả phương tiện ấy cũng chỉ là một Phật thừa thôi! Chúng sanh không biết ngộ nhận phương tiện là thật, trong tri kiến Phật cho là tri kiến Bồ Tát

Đại chúng! Ai cũng biết rằng, mình, người, trời, Thinh Văn, Duyên Giác, Bồ Tát đều không phải là người thứ hai, không phải là pháp thứ hai, nhưng trong phương tiện, dù là trồng duyên thật nhỏ, liền thành chủng tánh! Đâu phải chỉ có Thanh Văn Duyên Giác, Bồ Tát, mà ngay tất cả ngoại đạo Trung, Ấn cũng đều có Phật Tánh, khác nhau chỉ vì tu tập sai, nên trở thành tà kiến. Không thấy mấy Luận sư đã lập “Buổi đầu mê mờ sau biết, biết rồi sanh ra ngã và tâm.” Giác và tâm này cũng không phải hai, chỉ vì không thông suốt được bản nguyên tự tánh tịch diệt chơn thật, không có thỉ, chung, cũng không có ồn náo, tịch lặng; lầm nhận những duyên lự trước mặt cho là có sanh, diệt, phân chia từng niệm đều về không để dứt thấy, nghe, cuối cùng cho gốc sanh ra từ bản thể tự nhiên rồi trở về lại. Như cõi này Lão Tử cũng nói: “Có một tinh thần ở trong bao la thâm sâu ấy, trong cái lặng lẽ thăm thẳm ấy có một tinh thần.” Đây là tinh vật, thì kia là giác tâm; đây gọi là lặng lẽ, bao la thâm sâu, thì gọi là khởi đầu vô tận. Tóm lại, không thể thấy được, chỉ là biết lặng lẽ thanh tịnh để mình nương tựa, cuối cùng đi đến đoạn diệt. Như Trang Tử cùng phái của Lão Tử, người đương thời đều hâm mộ sự nghị luận xuất cách và văn chương trác tuyệt của Ông; đây là một Thế luận nghiêm túc, Phật đạo không chấp nhận lối thế trí này, vì nó làm chướng ngại chánh tri kiến. Mười mấy năm trước, có một Trưởng Lão đề xướng lên một tông môn: “Chỉ thấy Nho môn Khổng Tử phân tích ngã và pháp là Nho Đồng Bồ Tát, để so sánh với nhau. Họ không biết Bồ Tát có một Minh quyền và Hiển quyền.”

Minh quyền: Nó tiềm ẩn trong trấu, rác, vì chúng sanh lấy dục làm gốc, cho nên phải tùy thời lập giáo. Bồ Tát thì ẩn bên trong, hiện bên ngoài. Vì có những điều như thế; mà chỉ phương tiện cho là thật, vậy chọn pháp nào? Nếu tùy thời lập giáo, lập tông, lừa dối người, trọng thời và can: Tâm này, hạnh này, hạng người này phải biết điều đó.

Lão Tăng từng nói: Người Thủ tọa phải thấu suốt được cội nguồn của pháp mới biện biệt được Tà, Chánh, rồi tham cứu luận bàn Quyền, Thật. Cho đến việc lập tâm cũng phải chánh đại, những điều đạo nhơn làm phải thoát khỏi danh và lợi, còn có mưu đồ sao? Trên tiếp nối đạo Tổ, dưới làm gương mẫu cho đời sau, há bắt đầu từ đây! Gần đây, Tôi thấy trong nhà Thiền nói mình kiến tánh, minh tâm, cũng chỉ là biết được bài học về giác: Bỏ đi những thinh sắc ấy như mặc bộ đồ vải mục vào trong bụi cây gai, thì không còn gì! Vừa mới có chút tỉnh giác thì đã đưa ra: Tức là tìm kiếm trong cõi vô sanh, thì đâu phải là cứu cánh? Kiến thức như thế, đâu khác ngoại đạo!

Còn có những hạng người chuốc họa hơn nữa, cho tất cả niệm không phải là vọng tưởng, tất cả cảnh không phải trần, rồi dẫn lời kinh bảo rằng tham, sân, si là Giới, Định, Tuệ. Thưa đại chúng! Lời trực chỉ Viên Giác này, phải là bậc tinh thông thấu triệt được Đại Tổng Trì mới nhìn thấu được. Kinh Pháp Hoa nói: “Phật đã thành tựu được pháp khó hiểu hy hữu thứ nhất, chỉ có Phật và chư Phật mới nghiên cứu cùng tận thật tướng các pháp. Nên Ngài nói: “ Các pháp tướng như thị, tánh như thị, thể như thị, tác như thị, lực như thị, nhân như thị, duyên như thị, quả như thị, báo như thị, trước sau hoàn toàn đều như vậy.”

Thưa đại chúng! Tất cả pháp thiện, pháp ác, pháp thánh, pháp phàm đều có thật tướng, các ông nếu ngộ được thật tướng, giới định, huệ còn không có, huống nữa là tham, sân, si. Sở dĩ, người xưa nói tham, sân,si là giới, định, tuệ vì muốn mọi người dứt sạch Thánh Phàm, thủ xả chóng quên. dạy người nói tham, sân, si là Giới, Định, Tuệ, chỉ là thuận theo tâm phàm tình, ý buông lung sanh diệt. Kinh Lăng Già nói: “Tánh đã nhiễm dâm, nộ, si rồi, sau đó mãi nhớ nghĩ về dâm, nộ,si bản chất không còn thanh tịnh.” Rõ ràng là có nhân dị sắc, thì đâu thể không tạo ra nhân, quả dị sắc? Đức Như Lai nói người ấy thật đáng thương!

Đại chúng! việc này rất chính xác, rất hiện thực! Tại các ông nhất thời chưa nhận ra; còn suy nghĩ để đảm nhận, thì bỏ qua cơ hội rồi! Các ông không nghe Đổng Thượng Giới Tổ của Ta, khi từ biệt ngài Vân Nham nói: “Sau này có người hỏi, bảo rằng Ta còn cách xa với chơn Sư chăng? Dạy ông trả lời như thế sao?”

Vân Nham lặng im giây lâu. Thưa đại chúng! Ngộ chăng? Lão Tăng nói ngang thì trùm khắp mười phương, dọc thì tận đến ba cõi, trong sự im lặng giây lâu đều bao hàm tất cả lý, tất cả sự, hữu tình, vô tình, thị pháp, phi pháp của thế xuất thế gian. Mắt định tỉnh, không giao động! Các ông xem ngài Vân Nham còn nói: “Như vậy là đúng!” Cũng là tâm Phật, cũng là một hình thức thăm dò. Quả nhiên Giới Tổ còn nghi Vân Nham nói: “Đảm nhận một việc, phải thật cẩn thận.” Về sau, khi qua sông thấy bóng mình dưới nước, Giới Tổ làm kệ: “Y nay chính là Ta, Ta nay không phải Y.” Thưa đại chúng! Phải rõ được tin của hai câu này, tức là các ông vừa nghe tiếng trống đánh thì lên giảng đường, chấp tay chào nhau, rồi nghe Sơn Tăng thuyết pháp, liền xu hướng theo là sai rồi! Thông suốt được chăng?

Các ông không thấy khi ngài Đức Sơn thượng đường nói: “Đêm nay không trả lời, ai hỏi thì ăn 30 gậy!” Sự thật là đã nói hết rồi, chỉ còn chấp tay chào! Tăng vừa bước ra, Đức Sơn đánh, thật là sung sướng! Tăng thưa: “Con chưa hỏi, sao Hòa Thượng đánh con?” Đức Sơn bắt được giặc, không chịu tra hỏi, mà còn bảo ông ta nạp những tang vật khác, nên Đức Sơn hỏi: “Ông là người phương nào?” Tăng thưa: “Người Tân La” Đức Sơn nói: “Phải cho ông ăn 30 gậy, khi chưa xuống thuyền!” Lúc ấy, nếu vị tăng này ngộ được cũng trễ tám khắc rồi, huống nữa tâm còn chưa yên.

Ngài Nam Nhạc nói: “Việc này như trâu kéo xe, nếu xe không chạy, nên đánh xe hay đánh trâu?” Lời này như ngàn mũi dao từ đỉnh núi phóng thẳng vào mặt, hoàn toàn sống chết đều ở trong ấy. Tâm Mã Tổ đã chín mùi, khi cơ duyên đến, như thùng lủng đáy! Sau này, ngài Đại Huệ nói: “Người thời nay đều bảo, tâm dụ cho trâu, pháp dụ cho xe, không thể bỏ pháp, chỉ thanh lọc tâm, thật là an lạc không liên quan gì!” Lại là Đại Huệ tâm Phật, còn cho họ một phen gạn sạch tâm để dứt sạch mọi trần cảnh, mới kham tiếp nối Tông phong.

Tuy như thế, cũng chỉ làm thầy thuốc cho ngựa chết! Lão Tăng nói, từ Phật đến Tổ các bậc Thiện Tri Thức trong đời nói nhiều nhưng ít lời, hoặc thâm sâu, hoặc mầu nhiệm: hoặc dứt sạch hết cũng chưa từng nói chấp nhận một chút việc! Các ông có tin được chăng? Nếu hôm nay Lão Tăng quá lo lắng, thì có vị tăng nào thông minh bước ra xô ngã gường thiền, lôi ra trước hiên đánh một trận thật đau, cũng không trách họ được! Có chăng? Thử bước ra hạ thủ xem?” Sư im lặng giây lâu: “Nếu không có, thì Lão Tăng đứng dậy đi ra.” Sư hét một tiếng: “Tự thú khỏi tra hỏi!” Sư dộng gậy xuống tòa.

Trà thoại: “Bây giờ, việc này không thể cho qua, các ông phải nghiên cứu tìm xét lại, thì mới thấy được sâu xa huyền diệu. Nếu hôm nay, đại chúng biết uống trà, thì các ông uống ngon, các ông uống không ngon, cốc trà lạnh này là cốc trà nóng kia, những gì là thiên chơn linh diệu! Hỏi rõ hơn: “Phật là thế nào?” “Thế nào là ý Tổ sư từ Tây sang?” Thì có rất nhiều cơ hội lãnh ngộ và chỉ dạy quá nhiều. Nói thử chỉ dạy qua điểm nào? Người xưa nói: “Phật pháp hiện hữu qua những hành động hằng ngày, đón khách, tiễn khách, đại tiện, tiểu tiện; chỉ như vậy qua suông thì không đúng!” Tuy nhiên như thế, phải sáng mắt mới được. Nếu ông chưa mở được mắt, tuy toàn thể là cảnh giới Phật, nhưng cũng là cảnh giới chúng sanh. Nếu ông sáng được mắt, dù hằng ngày sống với chúng sanh, nhưng đều là diệu dụng của Phật. Thế nên nói: “Biết một chữ, các môn đều diệu.” Nhưng còn nói: “Biết được một chữ các môn đều họa.” Các ông phân tích thế nào cho đúng? Đêm nay chùa Hoa Thủ Lâm tổ chức phổ trà cho Tân thủ tọa, thỉnh Sơn Tăng đến trà thoại. Vừa nói mấy câu, nói xem các ông có biết không?” Sư im lặng giây lâu dựng phất tử nói: “Đại chúng! có biết bao nhiêu người trong này lãnh hội. Đại chúng! Phật pháp không phải lý này; nếu không phải lý này, cuối cùng thế nào là đúng?” Sư quơ Phất tử một vòng nói: “Trân trọng.

Trà thoại, Sư nói: “Đạo, không thể nói trình bày được, huyền, không thể vào bằng tâm. Thế nên từ trước các bậc tiên triết thể nhận bằng vô tâm, chưa kể đến thân hành. Lão Tăng từ khi gặp Tiên Sư đạt được vị thiền này, thì vào thâm sơn cùng cốc nổ lực thực hành đạo ấy, nào ngờ chưa đủ nhân duyên, về sau phải trụ Phá Viện ba năm, năm năm, lúc ở Phá Viện ba, năm năm, còn qua lại hai, ba mươi năm. Mười năm ở Đạm Giám Tự, Lão Tăng sáng tỏ ý này, từng tìm nhân duyên ở Lư Sơn, Tam Ngô Thế, nhiều lần không thành, nay nghĩ ra, mới biết nhân duyên hợp ở đây. Đã ở Giám Tự hợp với thân, tâm, còn làm những chức sự lớn, nhỏ tại chùa như: phó chùa, trực tuế, trang đầu, lần lượt phát triển cũng hợp với thân, tâm, khoảng năm năm đã trở thành một Thiền Viện. Tuy là sơ tâm của Lão Tăng, cũng là nhờ nguyện lực của nhiều người hợp giúp, đều là túc duyên. Lão Tăng hôm nay đến đây cử chức sự, tiệc trà với đại chúng, không thể im lặng.” Sư nâng chung trà lên nói: “Đại chúng ở trong núi phải rõ được cái này!”

Sư lại nói: “Ăn cơm được, hớp trà được, đó là việc sinh sống của Ta và Ông. Ăn rồi, uống rồi tiếp tục cày bừa, gánh nước tưới rau, dù là nó cao, thấp, lồi, lõm, làm thành một thửa ruộng, lại đắp lên thành bờ ruộng. Đang lúc làm như vậy, Phật cũng không thấy ông được! Nếu người có đủ mắt, chôn trong đó ba ngày, ba tháng, chắc chắn thân chứng được điền địa. Chính vì sơ tâm học ít, nên nhất nhất phải thực hành theo, không cho phép sai lạc mảy may , lâu ngày tự nhiên chạm phải.

Đại chúng! Bổn phận các ông sẳn có, không phải tạo ra, chỉ vì hiện giờ tạm thời lạc vào lối tẻ. Nếu ông còn tâm phan duyên theo tình trần,vừa vào chốn Tam bảo, thân buông hết, vai gánh vác, Lão Tăng không dạy ông cầu thiền học đạo. Đại chúng! Chính ông là thiền, chính ông là đạo, thì ông còn cầu cái gì? Học cái gì? Nếu ông còn khởi tâm cầu thiền, học đạo, giống như ra được chum tương, lại chui vào hủ dưa muối. Xưa kia Phật, Tổ có ngôn cú, dạy ông không còn ngôn cú, không phải bảo ông tạo cảnh trí trong ngôn cú. Nếu ông tạo cảnh trí trong ngôn cú, và dính cứng vào cảnh duyên sâu nặng, có gì khác đâu? Hoàn toàn không được giải thoát, còn gì là thô, tế ? Hôm nay nói tâm, nói tánh, nói huyền, nói diệu đều là cứng miệng: ông còn suy tính trong chỗ cứng miệng, chẳng phải muốn đi về phía đông mà hướng về phía Tây ư ? Người xưa nói: “Học Phật cũng là dùng tâm tạp loạn, huống nữa làm những việc khác?”

Đại chúng! Người đời có hai sự chướng nặng. Hằng ngày bước chân xuống gường, đi ra, đi vào, hoặc thô, hoặc tế đều là cảnh duyên, vui, buồn, được, mất, nếu ông chấp nhận và thuận theo những điều đó, thì bị nó xoay chuyển; nếu ông không tùy thuận, thì có nhiều điều trở ngại, đó là sự chướng. Vừa thoáng nhìn đã trở về chính mình, giữ vững trong chánh vị của mình, nếu không được tự tại, đó gọi là lý chướng. Chợt tỉnh giác, trở về từng niệm hằng ngày, tất cả nơi, tất cả chỗ trong hằng ngày,mọi việc đều rõ, tất cả đều tỏ, lý sự mới không ngại. Phải biết trâu hiện, ngựa ẩn, chỉ đông thành tây, gọi vàng thành trắng, đến được chỗ này, nếu không biết chuyển hóa, người xưa bảo là mồ hôi đẩm áo, thật khó thoát khỏi. Chi bằng Ta và ông ăn thật no, gánh vác hết, lên đỉnh đông, xuống đỉnh tây, thì gần gủi hơn! Chỉ vì ông không chịu nhận!

Đại chúng! Việc thế nhân dễ làm, chỉ cần mình có tâm. Hiện nay mình sống trong non xanh nước biếc, cùng Thầy bạn tốt hội tụ nhau, có Bồ-tát xây dựng Phật điện cho ông, lo lương thực, thành tựu tất cả, trong lúc này ông đã bỏ qua cơ hội: ông còn định đi đâu? Sao không chịu nhân lúc còn khỏe mạnh, khi đắp y, lúc thọ thực dứt mọi duyên lự, tích tụ nhiều tháng, lâu năm tự nhiên mình thầm nhận ra. Lão Tăng đều muốn lợi ích cho ông, ông hãy tiến tới, một đời là xong, há không vui sướng sao. Có hài lòng chăng? Ngồi lâu.

Đêm trừ tịch, Sư Phổ thuyết : “Tối nay là đêm Trừ tịch, là ngày cuối năm. Trừ: Người xưa ví ngày này là ngày chết của con người. Hết một đời người, gọi đó là chết. Thế nên nói: “Đến ngày 30 tháng chạp rồi.” Một năm tính từ ngày mồng một tháng giêng cho đến đêm Trừ tịch. Một năm này có, không, được, mất, đến đêm Trừ tịch chuyển sang ngày mai, qua đêm này là việc của sang năm. Con người khi sinh ra đến lúc chết, những thiện, ác, khổ, vui đời này, đến ngày chết đều chuyển giao cho đời sau, qua ngày là việc đời thứ hai. Người xưa còn nói: “Đến ngày 30 tháng chạp, làm sao ông cử động?” Ngay khi nói Ta và ông chưa đến ngày chết, thì tất cả thiện, ác vẫn còn chuyển hóa được. Bây giờ phải nên gắng sức: không nên để đến lúc lâm chung mờ mịt. Nếu lúc chết trong trạng thái buồn bực, thì không làm chủ được. Ra khỏi buồn phiền vào thân Trung ấm, Hậu ấm. Đã cách ấm thì như mê mộng; như người đời này không nhớ được việc đời trước, thì ông làm sao sắp xếp?

Tất cả chúng sanh gặp được bạn lành, thì sự hiểu biết lương thiện, phần lớn khởi tâm yêu mến, lo sợ trên cảnh thuận, nghịch mà mình hiểu biết trong cuộc sống, chuyển điều lành đến đời sau. Đời sau gặp bạn xấu, thì sự hiểu biết xấu làm phai mờ dần tâm lương thiện ngày trước: đó là điều thiện không còn. Thế thì làm ác dẫn đến gặp bạn xấu, phát sinh thương ghét. Nếu gặp người tốt, một khi nghe những đều có liên quan về nhân quả, hồi đầu thì hướng đến con đường thánh. Đây đều là sự thấy nghe, hay biết trong cuộc sống hiện tại, không như đời khác khó nắm bắt được.

Đại chúng! Sao không nhân lúc còn sức lực, chỉ cần ông tiêu trừ hết, một niệm tỉnh giác. Niệm tỉnh giác này, không chỉ làm tiêu hết nghiệp duyên một đời, mà nghiệp duyên sanh tử từ vô thỉ kiếp đến nay đều tiêu như băng gặp nước sôi. Đại chúng! Một đời như thế thì ngàn đời, vạn đời cũng vậy, tất cả đều do mê vọng tạo nên tất cả tội lỗi. Mình mê, lại gặp tất cả trần duyên, rồi sanh thêm hoặc nghiệp, nó như mộng, huyễn hoàn toàn không được. Tuy nó là huyễn, nhưng mê vọng mãi theo bên ta, không tự mất, chờ duyên sanh khởi. Nếu gặp được duyên bạn lành, thì bỗng nhiên tỉnh giác. Niệm tỉnh giác này, có sức mạnh làm tiêu được nghiệp nhân Ba Tăng kỳ. Không nên mê vọng theo điên đảo, không đạt được chơn thật.

Đại chúng! Tuy hết sức cảnh giác như vậy, nhưng cơ hội đến còn bị thối thất, ông thử nói lỗi ở chỗ nào? Vì ông chưa thấu triệt được căn nguyên, thế nên tâm không quyết định được. Đại chúng! Thế nào là căn nguyên? Làm sao thấu triệt được căn nguyên? Việc này không khó cũng không dễ! Đêm nay Lão Tăng khai mở Bảo Tạng, tin mọi người đều nhận được, không nhất định phải mười năm, năm năm. Nếu ông lanh lợi, tiến thẳng tới, Lão Tăng xem chỗ đứng của ông không hiểu việc!

Đại chúng! Nếu các ông, hiện giờ gặp lạnh, thì ông biết đi mặc áo, đói thì biết ăn cho no, được người khen thì mừng, bị người chê thì phiền não. Trình bày một đoạn sinh hoạt linh diệu này, không phải Tôi có ông không có. Ba đời chư Phật, lịch đại Tổ Sư, các bậc Thiện tri thức xưa nay, cũng chưa từng hơn ông tí nào! Trước giờ tại ông chưa từng biết nó, vì tâm linh diệu hướng ngoại sanh yêu, ghét trên cảnh duyên, tự trói buộc. Ngày nay nếu chịu trở về, nhận được ngay trong cảm giác biết lạnh, biết nóng, biết tốt, xấu, không bảo ông phải đợi chờ! Tâm này chính là ông. Xưa nay đời đời kiếp kiếp ở trong Lục đạo, Tam đồ có ngàn loại hoặc nghiệp, muôn lối thăng trầm, đến hôm nay vẫn còn! Ông và Lão tăng biết nóng, biết lạnh, biết tốt, xấu giống nhau với chư Phật cũng không khác, ông phải thừa đương, thể nhận ngay đây. Ông phải sáng tỏ tâm linh diệu này, xưa nay vốn không dính mắc với tất cả cảnh giới, tất cả cảnh giới không vùi lấp được ông, và tất cả cảnh giới càng không lay chuyển được. Ông đã thấu triệt được cội nguồn rồi, thì lập vững tâm quyết định trên căn nguyên này.

Đại chúng! Tâm quyết định này, làm sao thiết lập? Ông đã biết căn nguyên này không làm bạn với tất cả trần cảnh: ngày nay ông đã thuận theo căn nguyên này, nhất định không giao thiệp với tất cả trần cảnh! Ông đã biết căn nguyên không bị tất cả cảnh giới chôn vùi, không bị tất cả cảnh giới làm lay động! Điều này hoàn toàn đúng. Người xưa nói: “Có đầu không đuôi, hoàn toàn không quý trọng.” Là lý này vậy. Ngài Đạt Ma nói: “Hành, giải giống nhau, thì gọi là Tổ.” Hiểu được mười phần thì thực hành mười phần. Hành được mười phần mới hiểu được mười phần. Gọi là Thỉ giác hợp lại thành bản giác, Bản, Thỉ hợp nhất không có xưa và nay. Không đồng với hấp tấp phải chịu ương họa!

Đại chúng! Hôm nay ông nói thiền, khác ở điểm nào? Ông thường nói và hiểu được thông suốt nguồn tâm này không liên quan gì đến trần cảnh, không bị tất cả trần làm chôn vùi để rồi trôi nổi theo sáu trần. Nói thì nói được, nhưng trước cảnh vẫn bị mê hoặc và theo cảnh tạo nghiệp. Đã còn hoặc nghiệp thì khó tránh khỏi khổ đau trói buộc. Đại chúng! Hạng người này, họ mê mệt trên sáu trần, chưa từng biết hổ thẹn, còn nói: “Ta dù sống trong lục dục thức tình, nhưng không để mất đi bản tánh nguyên sơ, sáu trần không lay động ta được.” Nói thì đúng: “Như hiện nay ở thế nhân, người tạo nghiệp cũng không liên quan đến bản tâm này, tất cả nghiệp duyên đều nằm trọn, và xoay vầng trong ấy, chỉ có điều không sống được với nó. Tất cả nghiệp duyên của chúng sanh như mộng, huyễn. Nhân đã như mộng, huyễn, thì quả cũng như thế. Tuy nhân quả như mộng, huyễn, nếu không trở về sáng tỏ được nguồn chơn, một phen dứt khoát mọi điên đảo, thì Câu sanh vô thỉ này vẫn còn tiếp tục hoạt động. Sự hiểu, biết rỗng tuếch của ông cũng là mộng, huyễn, thì làm sao địch nổi với Câu-sanh từ vô thỉ, đó là điều đạo lực không thắng nổi nghiệp lực! Những điều này mà cũng nói gánh vác xứ mạng Như Lai, há không hổ thẹn sao.

Đại chúng! Lịch đại Tổ sư và các bậc thiện tri thức xưa nay, chẳng những chỉ có sở trường, mà còn muốn thấu triệt được nguồn tâm nên không làm bạn với muôn pháp, luôn sống với bản tâm, nhất định không dong ruổi theo sáu trần. Thông được bản tâm, không bị tình trần vùi lấp, không bị nó xoay chuyển, ngay đó trở về chính mình, không bị sáu trần lôi kéo. Tất cả sinh hoạt hằng ngày, vốn đã như thế. Có ai hỏi: “Thế nào là Phật?” Thì đáp: “Ba cân gai.” Hay “Ý Tổ sư từ Ấn sang” đáp: “Cây bách trước sân.” Nhờ thấu đạt được bản tâm nên có được khuôn mẫu như thế! Bây giờ, người nghe nói Ba cân gai, cây bách trước sân, họ vội tạo ra một cách hội không thể suy lường, hoặc hội theo sẳn có, hoặc hội tất cả, đều là hội, hoặc hội toàn thân. Ông thử nói kiến thức như vậy, cũng thấu triệt được chăng? Đã không liễu triệt, gặp duyên trần mới biết động chân, máy tay! Từ đây mới biết mình và Phật pháp chia thành hai.

Chư huynh đệ một khi đi hành khước phải có tuệ nhãn! Gặp nơi chơn thật chớ bỏ lỡ cơ hội, Thầy, bạn chơn thật khó gặp, môi trường tốt cũng khó. Hôm nay, chúng tụ tập tại đây, phải hết sức cố gắng! Lão Tăng không cần ông tham thiền gì, không cần ông học đạo gì, chỉ dạy ông ngay đó biết ấm, lạnh, tốt, xấu đến thẳng bản tâm, lãnh ngộ ngay! Ông thử thể nghiệm xem: Từ vô thỉ đến nay, chỉ có tâm linh diệu chịu luân hồi sanh tử, chưa từng dừng. Cái biết lạnh, ấm, tốt, xấu của ông chưa từng chạy theo tất cả trần cảnh. Đã lãnh ngộ được, thì sống với nó, nhất định không còn làm bạn với muôn pháp. Cái biết lạnh, ấm, tốt, xấu hoàn toàn không bị sáu trần che mờ, và làm lay động, ông phải sống với bản tâm, không cho trần cảnh bao phủ và lay chuyển theo. Lãnh ngộ được nguồn tâm này, chẳng những giải thoát được sanh tử một đời, ngay cả sanh tử từ vô lượng kiếp một lúc thảy đều thoát. Điều quan trọng nhất, ông nên xây dựng pháp môn của tổ tông trong biển luân hồi sanh tử từ vô lượng kiếp bằng tâm liễu sanh thoát tử nhiều kiếp, mở vô số cửa phương tiện cho tất cả chúng sanh, như trăng trong nước, như bóng trong gương, không ẩn, không hiện, không nhiễm, không tạp, vào ba cõi, sáu đường làm nhân giải thoát cho chúng sanh, không tạo nhân sanh, nương nguyện lực, không theo nghiệp lực. Nếu ông không giải thoát, thì làm sao giải thoát cho người. Tình mê chưa dứt, thì không tự tại trong ba cõi. Chớ lớn tiếng lừa Lão Tăng không được đâu. Lão Tăng chỉ dạy ông lập tâm quyết định trên căn nguyên; chỉ nuôi dưỡng tâm này thì mọi việc đều thành tựu. Thì tâm này vào trong sanh tử thành lập pháp giới Hoa Nghiêm.

Đại chúng! Ông thử nghiệm Thập tín tâm của Bồ-tát Hoa Nghiêm, ông hãy nói tin cái gì? Cũng chỉ là tin thấu triệt nguồn tâm, thì lập tâm quyết định trên nguồn tâm, vào ngay Trụ vị. Kinh nói: “Phật tử trụ vào Địa này, chính là nơi thọ dụng của Phật. Phật tử thường đi, đứng, nằm, ngồi trong chánh định.” Thế nên Thập trụ sơ tâm thì bằng với Phật, hoàn toàn không còn giai cấp. Ông hãy nói cái gì không có giai cấp? Mười phương ba đời tất cả Như Lai đều sinh hoạt chỉ trong căn nguyên này, đều vào tất cả pháp giới làm những Phật sự giống nhau. Nếu vào được Trụ vị, liền khởi Hạnh, hướng vào sự bằng lý; trở lại lý, sự và lý dung thông nhau, từng buớc rõ ràng. Nếu vào Thập địa, từ sơ địa đến Thập địa, bi, trí hổ tương nhau, đem việc tự lợi hoàn thành việc lợi tha; dung thông chỗ tự lợi bằng việc lợi tha. Đến Thập nhất địa, chỉ có bi không trí, thẳng đến thành Phật. Sau này, tất cả hạnh nguyện đều xuất phát bằng bi, mười phương ba đời tất cả pháp giới không có thánh, phàm, không mình, không người, không có dài ra cũng không có thâu vào, đều là nơi hạnh nguyện của ngài Phổ Hiền, cũng là chốn xã thân của Bồ-tát Phổ Hiền.

Ông nói, đến được chỗ này vang cả đất trời, không phải nhờ thần thông biến hóa, cũng không phải pháp nhĩ như thị, hóa ra chỉ là Ta với ông, ngay hiện tại này tiến thẳng vào căn nguyên, không còn chuyện gì nữa! Đến được chơn thật này, chẳng phải cảnh giới Hoa Nghiêm đạt được, cũng chẳng phải là bi, trí nào, cũng chẳng phải là cảnh giới Thập Địa, cũng chẳng phải quả Hạnh, Hướng mà đạt được, không có trụ và bất trụ, không có triệt và bất triệt, quyết định không quyết định, cũng không nên nói việc như thế, cũng không nghe những lời như thế. Đại chúng! Đêm nay là đêm trừ tịch, mỗi người hãy ngồi trong chánh niệm, nghe chuông điểm, ông chào năm mới. Chỉ có một câu. Sư dựng gậy lên nói: “Không được động đến cái này!” Sư gõ một cái.

Sư dạy chúng:

Chân lý thâm sâu, Cõi lý thâm sâu,

Không lối truy cầu,

Đại trí sẳn có,

Xoay đầu là đây.

Hết thảy Tam muội,

Uổng công tìm cầu,

Động chuyển thi vi,

Vốn không năng,sở.

Năng sở đã hết ,

Thủ xả từ đâu ?

Một màu bình thường,

Nói, suy khôn lường.

Trên sánh ngàn thánh,

Dưới hợp quần sanh,

Nhiều kiếp đến nay,

Vẫn như bây giờ.

Đêm khuyến tu:

*Đầu đêm:Vạn duyên đã dứt, dè dặt chớ truy tìm, tâm này chưa dừng, luân hồi sao thôi.

Đại đức! Gậm đinh, nhấm sắt, an nhẫn trong ấy, thỉnh thoảng gật đầu, mới biết lạnh, nóng.

*Giữa đêm:Buột niệm, quán không, còn nhiều vọng tưởng tán loạn. Huống nữa còn giải đãi, bỏ lỡ nhiều cơ hội tốt.

Đại đức! Ngồi dứt mười phương, một niệm muôn năm, thoáng qua biết sai, toàn thân chánh niệm.

*Cuối đêm:Ngồi chờ chuông thức, tỉnh lặng sáng tỏ, niệm sau không nối , ngay đó viên minh.

Đại đức! Từ sanh đến tử, ngoài bản tâm này thì không còn cái khác, chớ theo duyên ngoài mọc thêm nhánh nhóc.

Bài minh về Minh xích:

Một tiếng sét vang, ngẫng nhìn không kịp.

Đập vỡ đầu lâu, kinh động Di Lặc.

Vịnh Trúc bề:

Đỉnh Lôi Phong cử trúc bề, có duyên ngay đó tỏ lối về.

Bối trần tình tuyệt nói cùng ai, không mời tự đến còn nghi gì.

Chao ôi, là cái gì ?

Bài minh bên vách trái trên thất:

Thị tịch rồi, người sau thương nhớ Ta.

Viên tịch rồi, ai tiếp nối Tổ tiên.

Không còn người cao đức,

Mặc ai ghét ai thương !

Pháp nghi của tứ chúng, không mờ, không nhạt.

Thâm tâm kiên nhẫn, thấu đời vị lai.

Bài minh vách phải:

Trong không hệ niệm, ngoài không thêm cảnh.

Một bình, một bát. một gậy, một nón.

Muốn đi thì đi, muốn ở thì ở.

Không thẹn người xưa, không lừa con cháu.

Chớ có vẽ vời, để hại mai sau.

Năm thứ 24 niên hiệu Khang Hy, đời nhà Thanh, Sư vào núi dưỡng bệnh ở Lôi Phong, có dạy: “Đầu gường thôi hỏi mùa hoa cúc”. Sang thu, Sư viết kệ từ biệt chúng, thị tịch. Sư thọ 78 tuổi, hạ lạp 47. Sư có để lại Ngữ lục truyền đời và mấy ngôi chùa, sớ giải kinh Kim Cang, kinh Lăng Già, kinh Lăng Nghiêm, Mai Tuyết thi, và truyện đời nhiều sách truyện.

˜]™


108. THIỀN SƯ ĐẠI HƯU TỊNH CHÂU

(1613-1656)

Thiền sư Đại Hưu Tịnh Châu, Sư sống vào thời Thanh, ở Phủ Dương Châu, Thái Châu (một huyện lớn ở Giang Tô) Sư họ Chu ở Hoa Gia Trang. Cha mất sớm, Sư kết hôn lúc 15 tuổi, tuy kết hôn nhưng nghiêm ngặt giữ mình không nhiễm. Sư thích gặp cao tăng, luôn bên cạnh quý Ngài. Mỗi lần thấy người chết, sư rất sợ, than: Hình hài còn đó, thoáng chốc đã đi đâu? Suy nghĩ điều đó đến như ngây dại. Năm 22 tuổi, Sư xuất gia với Hòa Thượng Việt Môn, thọ cụ túc với Ngài Thiên Đồng. Buổi đầu Sư tham vấn với Hòa Thượng Mật Vân, vừa gặp Ngài Thiên Đồng, Sư quỳ thưa: “Đệ tử từ xa đến đây chỉ mong Ngài giải quyết vấn đề sanh tử cho con.” Ngài Thiên Đồng đánh, nói: “Tuổi còn nhỏ có chuyện gì mà sanh với tử!” Sư tham cứu đã lâu mà chưa ngộ, bị bệnh mấy lần suýt chết, bạn đồng tu khuyên Sư nên tinh tấn chí thành sám hối. Sư vâng theo lời khuyên đắp y thực hiện ba năm, lưng không bén chiếu. Nhưng một hôm, đầu canh năm đốt hương lễ Đại Bi Quán Thế Âm, còn đốt ngón tay làm hương để sám hối những tội oan khiên từ trước. Từ đây có tỉnh. Trải qua tham vấn các bậc kỳ túc như: Ngài Nhĩ Mật, Ngài Túc Vân, Ngài Thạch Kỳ. Về sau Sư đắc pháp với Thiền sư Tượng Điền Tức Niệm, là đời thứ 35 Tông Tào Động. Ngài trụ trì sáu ngôi chùa: Tào Khê Nam Hoa, Huề Lý Bạch Liên, Hồ Châu Mật Ấn. Có 12 quyển Ngữ Lục truyền ở đời. Ngài viên tịch vào năm thứ 13 niên hiệu Thuận Trị, thọ 42 tuổi.

Tết Nguyên Đán, Sư thượng đường, niêm hương xong, nói: “Trăm năm ba vạn sáu ngàn ngày, chỉ có sáng nay là ngày tốt nhất!”

Kiết hạ, Sư thượng đường: niêm hương, Sư xướng: “Khói hương này tỏa ngát khắp pháp giới! Hương đốt trong lư, dâng lên cúng dường Hòa Thượng Tượng Điền Tức Niệm để báo đáp thâm ân pháp nhũ!” Sư nói: “Hằng năm vào ngày này, kiết hạ tại đây, chỉ vì đúng với thời cơ tốt, cây gậy bằng đồng trắng tựa vách, cây trúc Bề cán sơn màu đen.” Sư ném cây gậy nói: “Cái gì mà ghê thế!” Sư quát to: “Không được động đến!”

Sư thượng đường, Tăng hỏi: “Thanh tịnh bản nhiên, nghiệp từ đâu đến?”

Sư gian thẳng hai tay nói: “Thanh tịnh bản nhiên, nghiệp từ đâu đến?” Sư nói: “Nếu hỏi đáp như vậy, ngay đây ngộ được, không rơi vào ý tưởng, thanh tịnh bản nhiên, nghiệp làm sao đến được! Nhưng thanh tịnh không được, Thiện Tài khảy móng tay gặp Di Lặc.” Sư xuống tòa.

Sư thượng đường: “Không bàn Phật pháp, không luận Thiền, chiều tối mưa liên miên, trăng non đã lên, ngộ được ý chỉ chính trong ấy, mọi người ăn rồi lại ngủ thiếp. Chợt có người đến đòi tiền cơm lấy đâu trả? Không nghe Duy Na nói: “Chúng Pháp Diên Long Tượng đang quán Đệ Nhất Nghĩa.” Ông là chúng Long Tượng chăng? Nếu là chúng Long Tượng, Đệ Nhất Nghĩa làm sao quán? Nếu nói chỗ Duy Na bạch chùy là Đệ Nhất Nghĩa, thị giả đưa phất tử là Đệ Nhất Nghĩa, người đánh trống, thỉnh chuông là Đệ Nhất Nghĩa, hương đăng đốt bạch lạp, thắp hương là Đệ Nhất Nghĩa, chỗ người trông coi Tam môn Phật điện là Đệ Nhất Nghĩa, người nói, người nghe là Đệ Nhất Nghĩa--Nếu hiểu như vậy, thì chỉ thành một kẻ theo sắc trần, theo thinh trần, hoàn toàn không có liên quan gì với Đệ Nhất Nghĩa!

Nếu ông thích hợp với việc này, khi bên trong không giữ chặt cái biết, bên ngoài không lập cái thấy, thế pháp và Phật pháp gánh một gánh, nhưng đói thì ăn cơm, lạnh thì mặc áo, không còn mảy hệ niệm trong tâm, tự nhiên mở miệng nói đúng, cất bước đạp nhằm phải nó. Hãy nói đạp trúng cái gì? Sáng nay trời chợt mưa liên miên, ngày mai trời tạnh bàn luận lại. Sư xuống tòa.

Sư đến chùa Phổ Huệ ở Nam Kinh, đại chúng thỉnh Sư thuyết pháp, Sư nói: “Đại biện thì không bằng ấp úng, đại xảo thì không bằng ngu dốt, đại trí thì không bằng ngu si, đại âm thì không bằng im lặng. Người đời không chịu lùi bước nhìn lại, chỉ tiến về phía trước, làm hỏng nhiều việc! Biện sĩ lưỡi hỏng, văn nhân bút hư, tất cả những người giỏi về thế sự đều bị việc đời làm hỏng. Nếu chịu lùi bước chiêm nghiệm, buông bỏ hết khả năng hiểu biết ấy, như đứa trẻ sơ sinh, đem khí hỗn độn làm vãn hồi giữa trời và đất. Khi trời đất chưa phân chia, trước đó đã có lý này, lý này trùm cả trời đất! Nếu chưa ngộ được lý này, nên quán sát nó bằng tuệ nhãn, lâu ngày tự ngộ ra. Trân trọng.”

Đêm nọ, chúng đi kinh hành, Sư duỗi chân ra cản đường, nói: “Nói, nói xem!” Chúng không nói được. Sư nói: “Ta và các ông ai cũng có hai chân, tại sao không ngộ!”

Sư dạy cho thiền nhân: “Người học Thiền càng đông, thì Thiền bệnh càng lắm, Tông Cảnh nói rõ đều đó. Nói sơ về thiền bệnh thời nay: “Hoặc có người ngã mạn tự cao khinh người; hoặc có người tâm thức tán loạn, học khẩu đầu Thiền[16], hoặc có người tâm luôn vọng động; hoặc có người tâm không chơn chánh, lập thân không đúng mà học Thánh đạo; hoặc có người bụng rỗng, lòng không, hy vọng Thầy truyền thừa, mưu cầu phô trương hư danh”. Thiền bệnh rất nhiều không sao nói hết, mong bậc trí biết sai thì bỏ. Ngày kia cùng hòa chung với ánh sáng đạo Tổ, đâu thể lường được.”

Dạy cho Thạch Lâm tham thoại đầu:

Nhà của đạo nhân không được duyên theo một vật, mới giống chí khí của nạp tăng! Nếu chấp vào Phật thì bị Phật làm chướng ngại, nương vào Tổ thì bị Tổ làm chướng ngại, cho đến chấp vào Thiền đạo cũng bị thiền đạo làm chướng ngại. Thế nên nói: “Trên không ngưỡng vọng, dưới dứt bản thân. Phật, Tổ, Thiền, Đạo còn không cho lưu tâm, huống nữa là khư khư kinh doanh của cải, tài lợi ư?” Người xuất gia là người vô sự, làm trái lại là đa sự, lụy đến thân, tâm: Sơn Tăng nay nói với ông: Một bầu nước, một cây gậy, mặc chiếc áo vá tự tại, có khi tha phương như chim bay trên trời, có khi trà trộn trong chốn hồng trần, được như thế không thỏa thích sao?

Tiên sư Tượng Điền nói: “Việc thế sự hãy buông hết, mảy niệm theo nó thì không có ngày dừng.” Đây là lời thành thật vậy!

Chỉ dạy Khổng Văn trong sách Cảo cư sĩ :

Hôm qua sau khi phó chúc cho ông, mọi người trong Thiền đường ai cũng than thở, có khoảng năm, sáu người khóc; mới thấy được huệ mạng của Phật, Tổ có ích lợi cho Nhân, Thiên ngay lúc này. Sơn Tăng ở Mật Ấn được nửa năm, nơi đây rất hợp với tâm ta; thế nên Ta thường than thở, nếu như Ta ra giáo hóa độ sanh có lợi ích gì chăng! Tăng tục đều bàng hoàng, hơn ngàn người từ lâu đã trông mong, chỉ ngại là không có phát triển rộng. May thay được nơi an lạc, tâm Ta an. Thế nên truyền trao huệ mạng Phật, Tổ cũng là pháp môn muôn hạnh.

Nhưng cư gia an lạc với đạo, điều đó không phải dễ! Đâu đâu cũng phải nhận ra tinh thể, như minh châu bị vùi trong bùn, nhưng không bị nhiễm. Chỗ không bị ô nhiễm, cũng là thiên biến vạn hóa, ở trong trần cảnh, nhưng không bị cảnh chi phối: tức là người an nhàn vượt ngoài thế sự. Quá trình thực hiện này, từ ngàn xưa chư Thánh cũng vậy, nay Sơn Tăng cũng thế, thì ông cũng vậy thôi. Đó gọi là “dĩ tâm ấn tâm”, truyền huệ mạng Phật khắp cả mọi người!

Dù lược nói đủ như thế, cũng không thể trình bày hết tính chất được, nhưng lại sợ hàng Trung, Hạ thối chí, thì không lợi ích cho người! Sơn Tăng cũng đem cao để vào thấp, gồng mình miệng nuốt cả mặt trời, mặt trăng, mắt nhìn khắp cả khí tượng càn khôn, vì sao? Bậc Thiện Tri Thức như trời che, đất chở, mưa gió đúng mùa, làm cho cây cỏ đượm nhuần tốt tươi để ích lợi cho ba hạng thượng, trung,hạ, thì mới gọi là bậc Điều Ngự trượng phu. Bậc trượng phu xem thiên hạ như con đỏ, chúng sanh đói như ta đói, họ khổ như ta khổ, họ trôi nỗi trong ác thú, xem như ta không khác; như thế gọi là bậc đại từ, đại bi cứu vớt chúng sanh. Hôm nay, có một phần tử tỉnh được phần nào, sau này nương vào lời ta dạy, khởi lòng từ bi cứu độ quần mê: Nếu họ hợp với lễ nghi thế pháp, thì thuyết pháp độ họ bằng lễ nghi thế pháp. Nếu họ hợp với thuyết pháp bằng trình độ học rộng, hiểu biết sâu, biệt tài giỏi thì hiện hình thức ấy độ họ. Nếu người hợp với hình thức thấp hèn, thì sẽ hiện hình thức như thế độ họ. Như vậy thì lợi ích được ba hạng, thượng, trung, hạ, thì ít thích hợp với tâm ta.

Về sau không lâu, Sư chợt than: “Ta quán xét tâm của chúng sanh, có thêm phần giao cảm tâm bi, để tăng thêm pháp hỷ, lúc này nên trân trọng.”

Sư trả lời 100 câu hỏi: (nay ghi 12 câu)

Hỏi: Hỏi Phật, đáp Phật, hỏi Tổ, đáp Tổ; không hỏi Phật, không hỏi Tổ, trả lời cái gì?

Đáp: Thỉnh Hòa Thượng cử lại xem!

Hỏi: Không ứng dụng như thế thì thế nào, một mình vào thẳng: Nói thế nào là lý vào?

Đáp: Không đánh nhau thì thái bình.

Hỏi: Người xưa nói biết được việc này thì dừng, là ý gì: Nhận được như xưa đúng không?

Đáp: Trời xanh cũng phải ăn gậy.

Hỏi: Nói được cũng đánh, nói không được cũng đánh; nếu như lúc ấy không cho thì thế nào?

Đáp: Hễ nói là đánh: Con xúc phạm đến tôn nhan.

Hỏi: Đức dày không đức, đạo rộng không đường, giàu sang không gạo,đất mênh mông không cỏ, hãy nói người nào ở địa vị Sư?

Đáp: Đáng cho một gậy!

Hỏi: Dựng pháp tràng, mở cửa pháp, việc tốt của Tông Môn Ta chẳng thà đừng nên lập: Nói xem có lỗi gì?

Đáp: Một làn sóng dậy, muôn làn sóng nổi theo

Hỏi: Sáng tâm vượt qua được nhiều kiếp, sức anh hùng phá được trùng vi: nói gì: Quá rõ ràng, sở đắc trở nên chậm?

Đáp: Có thái bình khi tướng quân đến, không cho tướng quân hưởng thái bình.

Hỏi: Ở mắt gọi là thấy, ở tai gọi là nghe, ở tay nắm bắt, ở chân chạy nhảy: nhận như vậy có lỗi không?

Đáp: Hằng sống với nó (bản tâm) thì không hỏi, còn hỏi là biết còn cách xa.

Hỏi: Chọn lá tìm cành thì không hỏi: dứt sạch cội nguồn việc ấy thế nào?

Đáp: Quanh co rồi!

Hỏi: Phổ Huệ Vân Hưng hỏi 200 câu, Phổ Hiền đáp lưu loát 2000 câu, nói xem: người hỏi, người đáp đến từ đâu?

Đáp: Sư hét!

Hỏi: Nháy mắt đã trải qua ngàn vạn kiếp, nhướng mày còn cách vạn trùng quan; làm sao dứt sạch được?

Đáp: Chưa mở miệng.

Hỏi: Pháp không ở trong, ngoài, chặn giữa, chưa biết nó ở chỗ nào?

Đáp: Sư khảy móng tay nói: ở đây!

Giới tử thỉnh Sư phổ thuyết, Sư chỉ tay nói:

Tứ sanh, lục đạo đều không rõ việc này, cho nên tranh danh đoạt lợi! Điều đó chính vì một niệm chưa giác, nên vô minh bất giác sanh Tam tế. Chợt khởi lên thành cảnh giới, hiện hữu trong lục căn, gọi là cảnh giới được sinh trưởng bằng lục thô — đây là bàn luận cực tắc của giáo gia. Tham cứu của Tông môn, trừ sạch căn bản vô minh, ông phải thấu triệt! Nếu thấy được thông suốt, nắn đất thành vàng, chỉ thẳng Tam tế, lục thô[17]không được, thì chỉ mới khỏi được khổ địa ngục Tam đồ.

Thế nên nói: Được thân người như đất trên đại địa, số người làm Tăng như đất trong móng tay. Làm Tăng như đất đại địa, số người tham Thiền như đất trong móng tay. Người tham Thiền như đại địa, số người ngộ đạo vào độ sanh như đất trong móng tay. Huống nữa là sanh vào trung tâm văn hóa (chỉ cho có Phật pháp, nếu không thì biên địa), sáu căn đầy đủ, đây là điều khó khăn nhất vậy! Mọi người không thể bỏ qua. Nên Phật, Tổ bất đắc dĩ mới xây dựng Tùng lâm, lập nội quy, dạy tham Thiền, nói Luật nghi, chẳng qua là để thanh lọc tập khí người đương thời; cho đến việc truyền y, phó pháp, truyền là truyền việc này, trao là trao việc ấy, ngộ đạo, thành thánh là thành việc đó. Ngộ được việc này (bản tâm) mới thoát khỏi luân hồi trong sáu đường! Nếu khởi một niệm sân, tranh chấp tiếp nối, thì chịu quả báo cọp, sói, rắn độc. Không nghe chuyện vua Ba Tư Nặc thỉnh đức Phật cúng dường thọ trai, đức Phật chỉ đàn kiến nói: Đàn kiến này làm thân kiến trải qua bảy đức Phật, đến nay vẫn chưa thoát được.” Nên biết rằng một khi mất thân người, muôn kiếp khó gặp lại — Há là lời nói suông ư! Phật, Tổ xuất hiện, là bậc đại từ, đại bi, đâu phải bị nghiệp báo lôi kéo, đâu có ai thay được quý Ngài!

Bây giờ, lòng người thay đổi, vui, giận bất thường, tâm gian dối, xảo trá, nghiệp dày, tập khí lắm, dễ hấp thụ thời thế lắm đổi thay, chung sức diệt trừ có dừng nổi ư? Nhưng một ngày có muôn người chết, muôn người sống, vì tâm nghiệp chưa sạch. Nếu một người thanh tịnh, thì nhiều người thanh tịnh; độ được một chúng sanh, thì sẽ độ được chúng sanh trong đại địa; điều quan trọng, hễ một người tạo nghiệp, thì sẽ làm cho mọi người trên thế giới này tạo nghiệp. Người xưa dạy phải ngăn ngừa khi chưa nẩy mầm, Thiền sư Thiên Nham nói: “Người xuất gia phải thực hành bốn điều: Một tham Thiền, hai trì Giới, ba làm Phước, bốn Lễ, Tụng.” Nhưng, người thời nay chỉ nói hay. Bây giờ thời mạt pháp, đức hạnh của một vị Tăng thì sút kém, người muốn tham, cứu chí thành thì hiếm có vậy! Tham không tha thiết, thì cách đạo càng xa. Người xuất gia phải làm những điều khó làm, nhẫn những điều khó nhẫn, đó là bản hoài của người hành đạo; nếu muốn mưu tính cuộc sống an nhàn tạm bợ, luống trôi qua ngày, củi không bửa một cây, rau không hái một cọng, không nghĩ đến việc khó khổ lao nhọc của kẻ nông phu, chẳng màng nhìn lại chính mình, thật, không còn gì để than thở!

Không nghe ngài Đại Huệ nói: “Gần đây, có ba hạng Tăng: Bậc thượng thì Tọa Thiền tập định, hạng trung ngậm bút làm Thi, hạng hạ dụm đầu nhà bếp bàn chuyện ăn uống.” Đó là đạo ư! Nếu tu như vậy, uổng công cha, mẹ sanh ra thân ông, uổng công bạn bè bồi đắp ý chí cho ông, nhọc Thầy tổ thế phát, trời, đất che chở cho ông nên người, sẽ không cô phụ bốn ân ư? Thế nên Sơn Tăng nói điều này rất kỷ, ông hãy cẩn trọng giữ mình, để khỏi rơi vào Tam đồ! Huống nữa việc này, ai ai cũng sẳn đầy đủ, mọi người đều có, há để luống qua thời gian! Nếu một niệm tinh tấn, sáng tỏ đạo nhãn, thì trên báo đáp tứ trọng ân, dưới cứu khổ ba đường, xứng đáng nhận người cúng dường, thì người tại gia mới được phước, sám tội, mới không hổ thẹn. Nếu không cố gắng hành trì, thì đời sau mang lông, đội sừng, dù Ta có lòng đại từ, đại bi cũng không thể thay thế được!

Gần đây có nhiều người Pháp chủ, như mật Ấn Ta ít nói Thiền! Chỉ nói cho bậc Thiện Tri Thức, đều thực hành thực tiễn, đang đem đạo này để thức tỉnh người dân, đâu thể trọng sự học vào tai ra miệng? Thời nay làm thầy người không thể làm theo pháp thức, nuông chìu học trò thì không thể làm đúng pháp thức, đều bắt nguồn không dẹp được nhân, ngã, vọng sanh hơn kém, đâu thể làm thầy cho trời, người ư!

Hôm nay giới tử thỉnh phổ thuyết, không ngờ nói nhiều như vậy, vì ông hàng sơ cơ học muộn, phải rõ tà,chánh, biết phải, trái, không thể hướng về hướng Nam nhận là Thiện tri thức! Lý do một người đi trước sai, nhiều người đi sau làm theo, cứ tiếp nhau nghe nhàm tai, không thể trở về được. Sơn Tăng nói rõ việc lớn sanh tử cho ông, không phải chuyện đùa! Ông phải nổ lực siêng năng, chớ để luống qua ngày. Trên đã nói, hành trì cũng nơi này, răng dạy cũng nơi này, có mắt cũng trong này, thoát sanh tử, biết được đạo nghiệp cũng ở trong này.

Sư triệu tập chúng dạy:

Đời này không độ thân này, đợi đến đời nào?

Sư giảng rộng về Giới:

Đại chúng! Đêm nay Yết Ma, ngày mai nói giới, về tội, thân có ba, miệng có bốn, những lầm lỗi từ trước, một khi phát lồ sám hối thảy đều tiêu sạch như tuyết, thế nên nói: “Tội tánh vốn không do tâm tạo, tâm nếu sạch rồi, tội cũng không. Tâm không, tội diệt cả hai không, thế ấy mới là chơn sám hối.” Nếu tâm không thì pháp không, pháp không thì nhơn không, nhơn và pháp đều không, thì thấy được cái gì? Hiểu được điều này, thì giới thể châu viên, xưa nay tự tại, chơn tâm thầm biến khắp. Nếu chưa được, người xưa nói: “Chấp vào tướng trì giới được phước sanh Thiên, cũng như ngửa mặt lên trời bắn tên. Sức phóng lên hết, tên rơi xuống, chuốt lấy điều không như ý trong kiếp lai sinh. Khác hẳn Vô Vi Thật Tướng Môn, tiến vào thẳng đất Như Lai.”

Có những hàng ngoại đạo, nghe nói thế, họ cũng nói Vô-vi, là không làm! Thời mạt pháp, cách xa bậc hiền Thánh, như vượt qua bên chân trời, người vô trí phân tích nghe ù cả tai, mờ luôn mắt. Còn nói lăng nhăng: Vô-vi là việc gì cũng làm, buông lung hành dâm, nộ, si, tha hồ sát hại, cũng gọi là vô quái ngại. Tội quá, tội quá! Sơn Tăng không can dự vào thế đế, xa chốn bụi trần, huyên náo, trong lòng cũng chưa có một niệm lìa xa, miệng nói không cần phải suy nghĩ nhưng vẫn thích hợp. Từ sáng đến tối, tìm không được một mảy tướng sanh, tướng diệt, đem ra không được thì càng không được, càng không ngại ứng dụng khác nhau. Thế ấy gọi là Vô-vi, đó mới chính là làm tất cả mọi việc!

Sơn Tăng đã nói rõ cho mọi người, phải nên bỏ vọng về chơn! Quy y Phật, Phật là thể giác tự tánh; quy y pháp, pháp là nhất niệm tâm thanh tịnh; quy y Tăng, Tăng là chơn thể tự tánh. Tâm mình thọ trì như vậy, không vướng vào duyên ngoài, thì không quy y tà ma ngoại đạo. Ngoại đạo: Ngoài tâm ra còn có pháp trần, đó là ngoại đạo. Hoặc thấy ánh sáng, thấy mưa hoa cúng dường, thấy Phật, Bồ-tát, tràng phan, bảo cái, đồng tử đến nghinh đón, những hình ảnh ấy đều là ngoại đạo, quyến thuộc của ma vương. Thấy họ ở trong chánh giáo, bị đẩy ra ngoài vòng pháp hải, mãi mãi không nghe được tên Phật pháp. Vì sao? Vì họ phỉ báng Đại Bát Nhã!

Vậy cuối cùng thế nào là đúng? Ta muốn ông chơn chánh, không nên theo tà; cần ông phải, không muốn ông sai; cần ông tiến tới, không muốn ông lùi. Xưa kia có vị Tăng hỏi Sơn Tăng: “Thế nào là việc hướng thượng?” Sơn Tăng đáp: “Đừng lùi bước.” Nói thì như thế, nhưng mọi việc vẫn tự nhiên. Đại chúng! Đạo pháp cao siêu không nghe được, Thiện Tri Thức khó gặp, hiện tại bình yên, không nên để ngày tháng trôi qua. Đời này hãy cố gắng liễu triệt, chớ để nhiều kiếp chịu ương báo!” Sư xuống tòa.

Lập hai bài tựa phổ thuyết:

Tăng hỏi: “Tham Thiền học đạo để liễu sanh, thoát tử, nói xem sanh tử làm sao liễu?”

Sư nói: “Xưa nay không dính một mảy may, thỏng tay tự tại thật bình thường.”

Tăng hỏi tiếp: “Thế nào là việc bình thường?”

Sư đáp: “Thầm nhận đi.”

Tăng giậm chân thưa: “Phải chăng là cái này?”

Sư cười nói: “Vẫn còn nghi.” Sư nói:

Tham Thiền quý ở điểm liễu sanh tử, Tăng hỏi làm sao liễu? Sơn Tăng phải chỉ rõ cho ông biết được cội nguồn sanh tử, thì mới liễu được—Ngã mạn cống cao là sanh tử, nhơn ngã thị, phi là sanh tử, tham, sân, si, ái là sanh tử, hiện tại bị nghiệp lực che mờ trí tuệ sẳn có của mình, trong tâm vọng tưởng rối ren không giây nào dừng an tịnh là sanh tử. Nhưng buông hết những căn bệnh này, trong 26 giờ, rỗng rang không làm bạn với muôn pháp, chợt tỉnh không chút bóng trần, thênh thang như chim lượn trên không, thoát khỏi trần lao, vốn sáng ngời tự nhiên thông đạt. Nếu còn một mảy may chưa sạch, thì ngày nào đó ăn gậy sắt trong tay lão Diêm, đừng bảo rằng Lão Tăng không nhắc nhở. Từ trước đã nói như thế, điều đó chẳng phải ở mình sau này cũng chẳng phải ở người. Nếu mình không chơn chánh mà muốn người chơn chánh, thì không có điều đó.

Ngày xưa chư Tổ muốn gạn bỏ căn nghiệp: bụng rỗng lòng không, tự cao tự đại, bị trôi lăn trong sanh tử, nên Ngài mới dựng pháp tràng, lập ra quy củ. Khổ nỗi, các ông gặp bậc Thiện-tri-thức nhiều, xem nhẹ; không mở được chánh nhãn, không biết được lỗ mũi chỗ nào, bên đông không ở, lại chạy sang tây, không chịu tịnh tâm thưa hỏi, dong ruổi một đời, bạc đầu cũng không xong, thật đáng thương thay!

Thời nay, tâm người bạc bẽo, ác nghiệt, gió nghiệp lôi kéo. Xưa kia, Sơn Tăng đi hành khước, vừa vào phương trượng, không dám buông lung, tâm cung kính thưa: Con tham cứu như thế, thấy được như vậy, và thọ dụng cũng như thế, mong Ngài nhận xét, có đúng không? Nếu đúng thì con thực hành như thế. Nếu không đúng, thì con phải dụng tâm thế nào để thấu triệt.

Hòa Thượng Mật Nhĩ vẫy tay Ta, cười vang. Ta tham cứu đến ba năm, mới đạt được vô ngại trong hiện tại, bàn luận vô ngại. Ba năm không mặc áo mỏng, năm năm không mặc tiểu y, không như người thời nay mặc áo dài tha thước, đội mũ rộng rành, vung tay làm đại lão. Sơn Tăng thấy các ông ngang nhiên, chỉ ngại rằng chạm đến bờ sanh tử hoàn toàn không biết cách ứng dụng. Cha, mẹ sanh thân ông, Thầy bạn hun đúc ý chí cho ông, tại sao phải cam chịu làm hạng thấp hèn? Ông không ngộ được cũng có nguyên nhân, ông thọ hay yểu cũng có lý do, ông ngu si cũng có duyên cớ. Cho đến bạc phước, thiếu đức thảy đều có nguyên nhân của nó!

Buổi đầu, Sơn Tăng ở Bạch Liên, người Lãnh đạo không hoàn hảo, ngày nay phải cử người hiền tài, đạo đức thâm hậu. Như sự hưng thịnh một quốc gia, phải có người phò tá trung lương. Tòng Lâm hưng thịnh, hoàn toàn đều nhờ vào người lãnh đạo. Người lãnh đạo hết lòng với đại chúng, thì chúng được an, hòa. Đại chúng an, thì Sơn Tăng cũng an. Sơn Tăng an, thì chúng cũng an tâm hành đạo. Hưng thạnh đạo Tổ Sư từ đây mới thành tựu. Thì quy tắc nhà Thiền được vững vàng, phải biết đúng thời tiết. Lúc mới xuất gia, làm hết việc khó khổ, còn phải uyên thâm lý đạo, xem kỷ di ngôn. Đường lý thông, giới luật tường, sau đó mới tham thiền. Nếu có sở ngộ thì mong bậc Thiện-tri-thức nhận xét. Còn tin vào khả năng của mình để thêm chí khí. Học vấn, chí khí, Thiên tư, phước báo, bốn điều này không thể thiếu một. Nếu có chí khí mà học vấn không thông, thì có thể thực hành. Nếu không có bốn điều kiện ấy, thì chi bằng cất một am tranh, nắm vững gốc tu hành, sau này không ngại hàng trí thức cười chê. Nếu giả trang Thiền tướng, trá hiện uy nghi để mong người khác cúng dường, chỉ sợ lạc đà cắn què chân, cả hai không ích gì. Nếu sở ngộ của ông sâu vững, tự nhiên làn sóng cũng lớn, dụng phát ra như thủy triều dâng, ngăn chặn không nổi!

Sư im lặng giây lâu, hét một tiếng nói: “Trăm ngàn dòng sông đều chảy về đó!” Sư xuống tòa.

Hộ Pháp thỉnh Sư phổ thuyết:

Bây giờ thời mạt pháp, người phần nhiều trí tuệ cạn, có người nói được thực hành không được, có người thực hành được nói không thông, có người nói và làm đều được.

Nếu người nói được hành không được: Miệng nói điều gì cũng đúng, gót chân khó bỏ qua một mảy trần.

Nếu người thực hành được nói không được: Dù không còn vướng mảy trần, nhưng không nói được pháp vi diệu.

Nếu người nói và làm không được: Người không có mắt, cứ đi men theo vách, chợt rơi vào hầm sâu.

Nếu người nói và làm tương ưng: Người này nói được pháp nhiệm mầu, không còn vướng một mảy trần.

Thế nên Tổ Sư Đạt Ma nói: “Sau này, người nói đạo nhiều, người hành đạo thì ít.” Bây giờ phải có một người sáng mắt để hướng dẫn người sau, đó là điều khó. Nếu xem Ngữ Lục, học chuyển ngữ, dẫn kệ, làm tụng, đem những lời tương tợ làm thầy người, chỉ ngại rằng chân ông còn bị xiềng xích! Trong lúc giao tiếp gặp phải thuận, nghịch vẫn còn đỏ mặt, tía tai. Đây là hạng người vào đạo theo lối văn tự, sức tu chưa đủ. Chẳng phải lỗi ở điểm nói được, hành không được ư! Từ đây một niệm biết sai, tự nhìn lại, gặp cảnh buông không nỗi, thì nên trưởng dưỡng thánh thai, lâu ngày được như vậy, thì nhất định lúc nào đó sẽ được tự tại! Nếu tự dối mình không chịu ăn năng, chỉ nhận được phần rỗng tuếch, lừa mình, dối người, cả ngày khoa trương. Nếu gặp bậc Tông Sư ngộ đạo, vẫy tay cho ông hai cái, thì ông đã thấp tha thấp thỏm! Người ngộ đạo thầm khám phá không chịu nỗi ông, thì chư thiên quỷ thần cũng không chịu nỗi ông. Đã không thông đạo mà hoằng đạo, chẳng phải tự dối mình ư!

Nếu người hành được nói được, hằng ngày chuyển biến khắp nơi, hiện hình theo loài: ở trời làm trời, ở người làm người, ở trong tứ sanh, lục đạo, chưa từng động niệm.

Nếu người nói và làm không được: ở trong chốn Tòng Lâm, vào trong chúng, gần bậc Thiện tri thức, xem như cha mẹ, từng bước không rời, phát tâm kiên cố hành Bồ-tát hạnh, thì được phước, tâm thông, lúc nào cũng nghe pháp lạc, không sợ con Ba ba trong hủ bò mất.

Sơn Tăng không thích làm thầy người, vì nhận thấy Phật pháp suy đồi, đạo Tổ suy vong; bậc trượng phu trong đời, xuất thân hành đạo, được trời che, đất chở, mưa pháp ban đều, cây cỏ thảy đều thụ hưởng. Nếu ta có ý thâu an, tham cầu danh, thì sẽ bị Phật Tổ quở trách. Hiện tại pháp nhãn chưa sáng, không nên xem căn cơ để hướng dẫn, một khi lẫn lộn, đông tây không tỏ, nam bắc không thông, chỉ muốn hoằng đạo làm thiện tri thức, hiêu hiêu không biết hổ thẹn, dựng cờ ngã mạn, ba nhà trong thôn, khinh thần chê quỷ: lợi nhỏ cũng không có, việc lớn cũng chẳng thành, muốn mau mà hóa ra chậm, phải trừ gốc bệnh kiêu căng, thì sau này mới thoát được tội khiên chiêu cảm. Nếu không vậy, chẳng những mình lầm mà người cũng vậy. Không cẩn thẩn ư.”

Sinh nhật Sư, Tri sự thỉnh phổ thuyết:

Cái này, ai cũng có sẳn, mỗi người đều có! Vì bị vô minh che lấp, nên người thực hành đến đây thảy đều lờ mờ. Thưa đại chúng, có người chẳng ngại đường xa ngàn dặm đến đây, có người trăm dặm đến đây, vì điều gì? Vì ai cũng muốn giải quyết sanh tử, thành tựu đạo nghiệp, ra khỏi kiếp luân hồi! Nhưng ra khỏi luân hồi rất khó, thật ra cũng rất dễ! Nếu còn một chút niệm tình ái, trong tâm chưa tiêu, thì bị tình ái xoay chuyển, không thoát được luân hồi, thì đó là sanh tử, cho nên rất khó. Nếu biết được, vượt qua được, thì ra khỏi luân hồi, đó là dễ. Như vậy dễ đạt được, bị chê cũng như vậy,được khen cũng như thế, nếu có thể tất cả đều như vậy thì vô minh, phiền não cũng không liên quan đến ông, tham, sân,si ái cũng không liên quan gì đến ông, sanh tử luân hồi cũng vậy—thì hiển nhiên là bên ngoài, cơ bản làm Phật, tác Tổ, dễ như trở bàn tay! Những việc sau này, mặc áo, ăn cơm cũng bình thường, đi, đứng, nằm, ngồi cũng bình thường, gọi đó là người đạt đạo. Đời đời kiếp kiếp ở trong Phật pháp, ra vào sanh tử, làm bậc Thiện Tri Thức độ khắp chúng sanh bằng tâm bi nguyện: Thì biết lời này của Sơn Tăng không ngoa vậy. Nếu không, thì bị tham, sân, si, ái, vô minh, phiền não làm nhiễm động, rơi vào luân hồi, vào trong sáu đường, đời đời trong đường khổ, kiếp kiếp khốn đốn.

Một lần nữa, nói cho ông cách hành đạo! Người đời sống trong cảnh ngũ trược, trồi lên, lặn xuống, nếu trong tâm vọng tưởng rối ren, chưa đạt được lý chơn thật, gọi là điên đảo; trong tâm còn tí hoặc chưa trừ, gặp tướng thô sáu trần bên ngoài, còn chướng ngại, bị trói buộc một chút cảnh hiện tại, như thế gọi là điên đảo. Muốn không còn điên đảo, thì trong tâm không còn thấy có căn, thân, khí thế giới, cảnh bên ngoài không thấy có sơn, hà, đại địa, cứ như thế mà đi.

Nói cho ông thêm một thí dụ! Nếu bảo rằng trên thế gian nào là cỏ, cây, núi, sông, tiếng róc rách khe suối, tùng thẳng, bách cong, người ngựa tấp nập, muông màu muôn vẻ làm chướng ngại tâm ông: ông muốn quét sạch hết tất cả hình tượng trong ba ngàn đại thiên thế giới để ông thành đạo. Nếu không thì núi, sông, tùng ngay, bách cong, người, ngựa tấp nập, muôn màu, muôn vẻ đều dính theo ông. Nhưng hiện tại không thể làm như vậy, lý đã rõ như thế. Nếu ở trên mọi việc ông đạt được vô sự, thì thấy sắc, nghe tiếng không cần phải như đui, điếc.

Lời này nói ra cho đối cơ, nếu ông không còn bị sắc, tướng làm chướng ngại, thì khái niệm“Hiện tại” lẽ ra cũng không còn tồn tại, Phật cũng không làm, chúng sanh cũng không tạo, rỗng rang thênh thang, thoát khỏi “Nhị biên” Buông hết nghĩa là: “Chính con người này!” Sư xuống tòa.

Sư sắp viên tịch, bảo thị giả đánh bản hộp chúng, chúng vân tập, Sư dạy: “Hôm nay, Ta đi xa, đại chúng có ai biết được chỗ Ta sắp đến chăng? Chúng im lặng, Sư nghiêm mặt hét: “Ở trong này!” Sư ngồi kiết già thị tịch.

˜]™


109. THIỀN SƯ TRI KHÔNG HỌC UẨN

(1613-1689)

Thiền Sư Tri Không Học Uẩn: Sư sống vào đời Thanh. Người huyện Đại Lý Vân Nam, Cha họ Vương, Mẹ họ Đóa. Năm Sư 14 tuổi, cha đưa Sư đến chùa Khê Túc Tịch Quang, xuất gia với Hòa Thượng Thượng Hòa. Sư thường lo buồn đạo nghiệp chưa thành, tham câu “Vạn pháp về một, một về đâu? Đã lâu không ngộ nhập. Gặp tọa chủ Hòa Thượng Lượng Như, theo Ngài nghe giảng các kinh như: Pháp Hoa, Lăng Nghiêm, Viên Giác, đối với việc học tuy có chút tiến bộ, thâu thập qua tai nghe, miệng nói, luôn nỗ lực tham câu: không phải tâm, không phải Phật, không phải vật, gian khổ qua mười hai, mười ba năm không có chỗ vào. Đến năm 36 tuổi, Sư nhập thất lễ Vạn Phật Danh Kinh, đến quyển thứ ba mới chợt tỉnh, miệng tụng hai chữ Nam Mô, chợt thân tâm nghe nhẹ nhàn, trong ngoài sáng tỏ như mặt trăng tròn. Sư lại đến tham vấn Ngài Thủy Mục Vô Trụ. Vô Trụ bảo Sư làm Thủ Tọa, sau đó Sư vào Cửu Đài Sơn nhập thất, về sau Sư nối pháp Hòa Thượng Mật Hạnh Nhẫn, Sư trụ trì chùa Phước Thành ở phủ Sở Hùng, chùa Đại Phương Quảng Cửu Đài Sơn.

Tháng 3 niên hiệu Khang Hy năm thứ 9, Sư truyền giới cho chúng ở Thủy Mục Đại Tự, Sư thăng tòa, đập Thủ Xích nói: “Xưa nay một đường rõ ràng, ba cõi viên thông đại đạo tràng, đánh, hét, hiển bày, không liên quan khí cụ, mở toan đỉnh nhãn dứt luận bàn!” Sư còn nói: “Non nước đẹp là nơi xuất hiện Phật, Tổ, Điền là tên núi của chúng ta, truyền vang sáu đời, tiếp nối cả năm Tông phái, nhân kiệt địa linh, địa linh nhân kiệt, nó vốn thanh tịnh, uyên thâm sáng tỏ, trụ cột tiêu biểu, độ khắp mọi người, từng ở tòa này, cõi này, chỗ này, xiển dương rộng tông phong huyền diệu, truyền sáng ngời đạo của Tổ Sư. Nếu luận một chữ đạo, chư Đại Lão kia chẳng phải là trước, ngày nay Sơn Tăng chẳng phải là sau, Đại chúng có hội được đạo này chăng? Đạo này vốn không lời, điểm cư xử tức chơn, không rời chỗ tầm thường hằng ngày! Hội thì che trời trùm đất, không có xưa nay, gánh nước chẻ củi đều là thần thông diệu dụng; không ngộ thì lạy Phật tụng kinh đều thành nghiệp thức mênh mang, không có điểm tựa! Hôm nay, Đại chúng ở chỗ Sơn Tăng cầu thọ tâm giới pháp, nên biết tức tâm là giới, giới tức là tâm, tâm giới không hai, muôn điều lành từ đây sanh.” Sư dọng gậy nói: “Chư Phật quá khứ đã thành tựu từ cửa này, hiện tại chư Bồ-tát mỗi Ngài đều nhập viên minh, tương lai người tu học phải nương vào pháp này!” Sư niêm hương thuyết giới.

Sư thượng đường, đưa gậy lên nói: “Chỉ cái này! Nhiều đời Tổ Sư thay nhau chỉ dạy, Tổ Sư trong thiên hạ khắp nơi đều bảo giữ gìn, chỉ cần mọi người nhận được cái này. Nếu nhận được cái này, thì đâu đâu cũng đồng một Tông phong, sống chết tự tại. Nói xem cái này là gì?” Sư ném gậy xuống nói: “Trong này ngộ được! Ngõ hầu không phụ các bậc Tông Sư từ trước, cũng không mất đi chính mình. Nhận được chăng? Nếu chưa nhận được, ngày mai nói rõ lại cho các ông.” Sư xuống tòa.

Tiểu tham: “Ngày nay cũng không cần ông và mọi người hướng đến cao, thấp, Tông thừa, Giáo thừa, Bách Gia Chư Tử, Ngạn ngữ, Tục ngữ , chỉ cần mọi người nhận được tự tâm! Thế nào là tâm của các người? Các người có căn thân chính là nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý; Khí giới: sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp. Tận hư không, khắp pháp giới, trên chư Phật, dưới côn trùng đều có chủng tử này, từ xưa đến nay chưa từng biến đổi: gọi “Nó ” là Pháp Giới thường trụ. Đã gọi “Nó” là Pháp Giới thường trụ, thì mọi người đi, đứng, nằm, ngồi, nam, nữ ăn uống, đều ở trong đó; đã ở trong đó, thì ra, vào, cúi, ngước, hơi thở ra vào, thành tựu được nhiều điều, xét kỹ tâm của quý vị, điều quan trọng không được mê mờ! Nếu nhất thời còn mê, mà thành Phật, thành Tiên, thì ở trong ba cõi sáu đường vẫn không được tự tại; Nếu không mê thì thành Phật, thành Tiên, ở trong ba cõi, sáu đường như rồng được nước, như cọp nhờ núi. Thế nên gọi là pháp trụ, pháp vị, tướng thế gian thường trụ!” Sư cầm gậy dộng một cái, nói: “Nói xem cái này là pháp thường trụ hay là pháp không thường trụ? Tối kỵ nhất, gặp người chớ cử (đưa ra) lầm.”

Sư dạy chúng: “Thế nào là tri? Thế nào là hội? Thức vô minh của phàm phu tức là trí bất động của thánh nhân, chỉ vì phàm phu không biết. Bất động trí của thánh nhân, tức là thức vô minh của phàm phu, chỉ vì thánh nhân không biết. Thánh nhân nếu biết, tức là phàm phu; phàm phu nếu biết tức đồng với thánh nhân. Chúng huynh đệ đã từng nhận qua như vậy một lần chưa? Nếu đã thể nhận một lần, thì không cần nương một tí công lực nào, ngay đây tham học là xong việc; Nếu không được như vậy, thì hiện tại hoát nhiên đại ngộ, siêu thoát sáng ngời, cao vòi vọi! Ai là thánh nhân ai là phàm phu, hoàn toàn không còn đối đãi nữa, nhận ra ngôi nhà trân bảo! Tuy nhiên, vẫn không phải là cách giải quyết của nạp Tăng! Há không nghe: Gậy trắng khi quơ không luận Phật Tổ, bình thường lướt nhẹ trên băng tuyết.”

Sư chỉ dạy thiền nhân khế ngộ ngay:

Người xưa nói: “Nếu không có lượng của trời đất , thì đâu có phôi thai thánh.” Thế nên người học đạo phải có tâm lượng rộng lớn, mở rộng tấm lòng, thường ở một mình vắng vẻ, trên đỉnh cao chót vót, tất cả nhân quả thánh, phàm không ràng buộc được, tất cả thị, phi, được, mất không lay động được, tất cả Phật Tổ oán thân không gần được.Về sau vương lên bằng cơ dụng này, chỉ rõ lối mê, hướng dẫn chúng sanh, như rồng được nước, như cọp tựa sơn, mới gọi là chọn người kế vị chốn Tòng Lâm, con cháu chính Tông. Tiếp nối dòng thánh, tháo gỡ cho người, trời. Nếu không, thì được, mất, lo buồn cứ đấu tranh với nhau, bên ngoài tình phàm lượng thánh mãi khuynh đoạt nhau, không tham cứu được chơn thật, không ích gì cho thầy bạn, trải qua nhiều năm tháng, huân tập thành thói quen, không hay biết làm thầy theo dòng đời, đâu có ích gì cho đạo lý!

Mùa hạ đến, thiền nhân tham vấn Lão Tăng, không đi quanh co, dường như đi theo lối mòn của Lão Tăng. Ngày nay đến nơi khác, Lão Tăng nghĩ không có cái gì để tặng, chỉ còn một lời tha thiết hãy nghi nhớ, có biết chăng: Khế ngộ đi!

Khai thị cho Thiền nhân Chiếu ở Viễn sơn:

Mở mắt cũng rõ, bước đi cũng tỏ, mở miệng cũng rõ, khởi niệm cũng biết. Một năm có 300 ngày, một ngày có 12 tiếng, lúc nào cũng chạm phải nó, rõ ràng, không thiếu không dư. Như thế mới biết không dây tự trói; huống nữa bao la bát ngát, mênh mông bãng lãng! Người thông minh dừng ngay lời đối đãi, liền hỏi tại sao lại như thế, vả một cái cho rụng răng!

Khai thị cho Tông Dĩnh Thủ Phác:

Phật pháp: Không rời những hành vi hiện tại hằng ngày, nếu bỏ những hành vi hiện tại hằng ngày, thì nơi nào có Phật pháp! Như chúng ta hiện nay mặc áo, ăn cơm, thấp hương, tắt đèn, đi tụng kinh, lạy Phật, lên bồ đoàn ngồi thiền, ghi nhớ từng lời từng câu trong sách, gọi đó là tham học: Như thế đến năm con lừa cũng chẳng dính gián gì!

Thiện tri thức giáo hóa, chỉ ra điểm này trong cuộc sống hằng ngày, ngoài ra không có gì khác. Không nghe, xưa kia, thị giả của Thiền Sư Ô Khòa lúc từ giả, để đi nơi khác học đạo. Ngài Ô Khòa nói: “Nếu là Phật pháp, Ta cũng có một chút.” Thị Giả thưa: “Thỉnh Thầy chỉ dạy” Ngài Ô Khòa lấy sợi lông trên áo thổi! Thị giả đại ngộ, không đi hành khước nữa. Ông xem thổi sợi lông là ý chỉ gì? Phải ra sức tham cứu, phải một phen đập vỡ, mới biết hiện thành tất cả! mới không phụ sự giáo huấn của Lão Tăng.”

Khai thị cho đại chúng tại bản đường: (ghi thành ba tắc)

Lạnh thì mặc áo, nóng thì quạt,

Khát thì uống nước, đói ăn cơm.

Lông mày chữ bát, mũi xuôi xuống,

Sáng sớm mặt trời mọc phương đông.

Thời xưa cổ nhơn cơ xuất cách,

Thời nay người đương trông bình thường.

Đốt hương rửa bát đem bình đến,

Trực ngộ trở về chốn chơn thường.

Lễ Phật tụng kinh nghiệp thức mờ,

Bắt đầu buông hết còn ngại chi?

Phải biết lông mày ngang trên mắt,

Nhận được toàn thân là đạo tràng.

Khai thị về Tông chỉ yên lặng:

Tám thức thể tròn sáng,

Gọi là Như Lai Tạng.

Rõ rồi chẳng có chi,

Đó là chơn như tánh.

Lượng sánh bằng hư không,

Rỗng sáng đại viên cảnh.

Lục, Thất đều sanh diệt,

Ngủ căn không phân biệt.

Không tin nên phản văn,

Lúc nghe lìa phân biệt.

Vốn đã lìa sanh diệt,

Rỗng không chỉ tịch diệt.

Tịch diệt lục (lục dục), thất[18](thất tình) dừng

Thoát thể trong sáng thông,

Thấu triệt tức vô ngã,

Đại thiên cùng thiền duyệt.

Một hai ba bốn năm sáu bảy,

Bảy sáu năm bốn ba hai một.

Thức trí, trí thức thường tịch quang,

Đại viên cảnh trông đen tợ sơn.

Tiễn đưa thiền nhân đến Giang Nam thỉnh Tạng:

Nhà ta xa ở cuối chân trời,

Đi đến Giang Nam trải ngàn khơi.

Ba Tạng linh văn lớn tợ núi,

Năm đèn huệ mạng một sợi treo.

Động đình xa tít trời non nước

Nước Kiềm thâm thẳm giáp Vân Nam.

Nguyện đem thân này phụng trần sát.

Ngại gì hưng thạnh Tổ Sư Thiền.

Tháng năm, niên hiệu Khang Hy, năm thứ 28, Sư sắp tịch triệu tập đại chúng dạy: “Khai sơn hẻo lánh, Phật pháp không người, các ông phải như nước hòa với bùn, hiệp lực siêng năng cẩn thận, đừng để thị, phi, tốt, xấu chi phối, mọi việc như ta lúc còn sống, như vậy mới là hiếu thảo. Hậu sự Ta không nên tổ chức lớn, làm những bài văn ca tụng rỗng. Mọi người hãy cố gắng chánh niệm, không nên nói nhiều.” Đệ tử Thông Thiệu hỏi: “Xưa nay Hòa Thượng nói thiền, nói đạo, mắng Phật, quở Tổ, những lúc như vậy là thế nào?” Sư nghiêm mặt hét! Thiệu lễ bái, Sư tát một cái, Thiệu định hỏi, Sư đứng một chân tịch. Dung mạo vẫn đoan nghiêm như còn sống.

Sư thọ 77 tuổi, hạ lạp 65. Sáu chiếu chỉ đều ngưỡng vọng đức của Sư, Sư nối pháp khai đường hơn 30 năm.

˜]™
110. THIỀN SƯ TAM SƠN ĐĂNG
LAI

(1614-1685)

Thiền Sư Tam Sơn Đăng lai: Sư sống vào thời Thanh, ở Thục Chi Chấp Giang (Huyện Tứ Xuyên Chấp Giang) Mẹ họ Tằng, thuở nhỏ Sư học Nho, thích đọc sách Phật và xem Ngữ Lục của bậc Tiên đức, gặp những câu vô ý vị, Sư vui mãi không ngừng. Vì song thân lánh nạn, nên đến trung niên Sư mới xuất gia. Sư đến tham vấn Ngài Khánh Trung Thiết Bích và kể lại quá trình dụng công: “Quần áo vá trăm mảnh tả tơi không biết lạnh, rau muối qua ngày chẳng cầu no, bịt tai vùi đầu cố nhẫn vạn trạng. Khổ tham hai tháng không có lối vào, ban đầu mắt mở to không dám nhắm, bị hôn trầm, Sư khởi thoại đầu cũng quên, lâu ngày thoại đầu hiện thành rồi mất luôn phương hướng, về sau trong lòng hoang mang, ngồi không được, đi không yên, ngủ không xong, ăn không trôi, uống không được, mê mờ mấy lần muốn chết.” Từ ngày 26, mùa đông năm Mậu Tý nhập thất, đến đêm 26, năm Kỷ sửu cùng với bạn đồng tu xem Ngữ Lục của Thượng Tọa Đình, Sư cách bàn thò đầu thấy Tôn Giả Nghiêm Dương hỏi Ngài Triệu Châu: “Một vật lúc không đem đến được là thế nào?” Sư nói: “Buông hết là xong!”

Bất giác cơ thể đều nhẹ nhàn, toàn thân khinh an. Sư đến yết kiến Khánh Trung, Ngài Khánh Trung không cho đó là sở ngộ sâu, Sư càng hạ thủ nhiều hơn, mới được truyền pháp trao y. Sư trụ trì chùa Trung Châu Sùng Thánh, và Thiền Viện Quỳ Châu Vân Dương Đàm Hoa.

Sư thượng đường, niêm hương xong, Duy Na bạch chùy, Sư ném gậy xuống nói: “Chớ bảo không nói!” Sư xuống tòa.

Sư thượng đường: “Sông nước cuồn cuộn, dòng sông mênh mông, gió lây trúc biếc, mặt trời chiếu soi bờ dương—xúc cảnh quán chưa thông, rõ ràng không dung hợp!” Sư dộng gậy nói: “Chớ đem lá vàng làm tiền vàng—con mèo có nghề bắt chuột!

Sư thượng đường, hét một tiếng nói: “Nếu nói đúng, thì đã không đúng rồi; Nếu nói không đúng thì cái này là sai. Nạp tăng không nên suy nghĩ nhiều, đại dụng rõ ràng không tránh né!” Sư lại hét một tiếng nữa.

Khai thị cho cư sĩ Chu Quý Thạch: “Tông ta không có ý chỉ khác, nhưng cắt thẳng cội nguồn, mắt vừa thoáng nhìn qua hiển hiện khắp nơi, vật vật đều tỏ. Như có vị Tăng hỏi Ngài Triệu Châu: “Thế nào là ý Tổ Sư từ Tây sang? Ngài Triệu Châu nói: Cây bách trước sân—Là đạo lý gì.

Cư sĩ Tạc thưa: “Nơi khác hợp lý, một điều kiện chỉ là một điều kiện.” Trong đây hội được, một nơi đủ thì các nơi cũng vậy—Há chẳng phải chỗ dứt sạch cội nguồn là nơi sáng mắt!

Sư còn dạy: “Thấy được mặt thật xưa nay, rõ ràng vốn không quý, không tiện, không bần, không phú, không hỷ, không nộ, không tử, không sanh.” Chỉ vài lời này, có thể thấy được, nói được vậy!

Nhưng lúc nào cũng phải bảo nhậm, niệm niệm gìn giữ, đạt đến chỗ sạch hết mọi suy nghĩ phân biệt, được tự tại, được thọ dụng , thi vi vận chuyển, ra vào co duỗi, mặc tình trôi nổi đều được--Bốn chữ bảo nhậm gìn giữ này một lúc đều quên hết, thì có gì không đều, sai trái, chướng ngại, việc lớn sanh tử không thành công ư—Cây trúc bề cũng là cái này, Thế Tôn niêm hoa cũng là cái này, Ngài Thiên Long đưa ngón tay cũng là cái này, Lão Tăng nói cả ngày cũng nói cái này, chỗ thấy của cư sĩ gần đây cũng thấy cái này. Cái này thế nào mà ghê vậy--.”

Tiểu tham: “Nếu luận về bổn phận đã rõ, thì mặc áo, ăn cơm, tiếp khách, đón khách, không chỗ nào không hiện thành công án! Các ông thừa đương ngay trong chỗ hiện thành đó, quá đủ rồi; đợi đến lúc nhướng mày, chớp mắt, nói nên lời đã qua lâu rồi! Sơn Tăng nhân ngày lễ kỵ Ngài Khánh Trung, đến nỗi phải tùy thuận lắm lời! Ngày trước, Ta có trắc nghiệm một vị Tăng: “Lễ là ai?” Tăng thưa: “Mắt kém.”, chỉ một chữ kém cỏi này, đầy đủ cả nghĩa thâm diệu! Ba đời chư Phật từ chỗ kém cỏi này phóng quang, lịch Đại Tổ Sư từ chỗ kém cỏi này nắm lỗ mũi vặn, các bậc Tri thức trong thiên hạ từ chỗ vụng này khởi lên lòng từ bi, Sơn Tăng cũng từ chỗ vụng về này hòa bùn với nước, hiện tại cư sĩ Tễ Quan cũng từ chỗ vụng về này nhìn rõ được tình đời—khám phá được, từ đây lao ngục công danh, phú quý không nhốt được họ; khám phá được, từ đây ruộng vườn nhà cửa không mê hoặc được họ; khám phá được, từ đây vợ, con ân ái không trói buộc được họ; khám phá được, từ đây thị phi phiền não không nhiễu loạn được họ. Được tất cả cái chỗ không được, mặc áo, ăn cơm, mặc tình hăng hái, tiếp khách, đón khách, hăng hái nhậm vận, không nhọc một tý khí lực, không cần suy tư, bản tánh thiên chơn nguyên vẹn một bản lai diện mục, chơn tục không hai, giỏi, dở không phân, công án hiện thành chín mùi ở đây! Tựu trung còn có một câu, nên nhớ rằng đã rõ khi chưa ra khỏi phương trượng , cư sĩ vừa nếm được thiền duyệt một phen no đầy, hãy quên hết đi! Đại chúng mỗi người hãy về thiền đường, chớ đứng lâu mỏi mệt.”

Tiểu tham: “Nếu nói về việc đại sự này, thân tâm luôn thanh tịnh, nếu còn một chút vướng mắc dưới gót chân, thì trăm kiếp ngàn đời không có một ngày ngộ được diệu lý. Vì sao? Vì chúng sanh từ nhiều kiếp đến nay, bị vọng tưởng tình duyên làm trầm mê, bị xiềng xích trong biển sanh tử, khi sanh khi tử, không có ngày nghỉ. Thế nên mỗi bậc Tông Sư xuất hiện, kể có trăm phương ngàn cách đưa tay tiếp độ. Ông nói xem họ có mưu kế gì? Huynh đệ thân mến! Nên nhớ rằng bậc Thiện Tri Thức khó gặp, pháp hội khó gặp, ngồi mãi trên sàng tòa, ở trên điện thanh tịnh, nước dâng đến tay, cơm đưa tận miệng, không chịu tận tâm buông hết, tham cứu hết mình, chẳng những cô phụ thời giờ, lấy gì đền đáp công khó nhọc của tín thí, người làm tháo mồ hôi hột! Đúng thì đúng, tham thiền phải có niềm tin, nhưng tin có sâu, cạn; tham thiền phải thấy được, nhưng thấy phải đúng. Tin sâu thì dù khó khăn mấy không nản chí, thấy được chơn thật thì không ngại; không ngại tý nào thì trong ngoài viên minh, bền bỉ bất khuất trước sau một lòng. Nhảy qua khỏi sào huyệt đoạn, thường, phá tan đầu đường sanh tử, trên không có Phật đạo để thành, dưới không có chúng sanh để độ, vững vàng siêu nhiên, cuộc sống an nhàn, mới gọi là xong việc phàm phu, người xuất sắc. Nếu chưa được, thì ăn cơm uống trà kỵ nhất là nuốt luôn đầu lưỡi.

Kệ hướng thuợng:

Đói lại ăn cơm, mệt ngủ liền,

Núi thời cỡi ngựa, nước đi thuyền.

Mắt có hai con, tai hai lỗ,

Mũi thì xuôi xuống, tóc ngưỡng thiên.

Khai thị cho Ngô cư sĩ “Kệ lồng đèn”

Ánh sáng, sáng soi khắp mười phương,

Ý muốn bao che, che khó lường.

Trong đây một điểm nhìn cho kỹ,

Lồng đèn có miệng nói sao đương.

Dán kệ chúc thọ cư sĩ Thiền duyệt:

Hạt lựu tháng tư ánh như châu,

Cảnh vật sinh tươi nhuộm sắc màu.

Dù cho hiến dâng đào thánh quả,

Sao bằng thiền duyệt chứng vô sanh.

Khai thị cho cư sĩ Bảo Thiện:

Thấy khắp nơi ngộ tất cả chỗ,

Ngộ tất cả như không ngộ gì.

Nhận được không ngộ, không tất cả,

Lư hương sơn tợ miệng hồ lư.

Nghe tiếng gà gáy làm kệ:

Gà gáy đêm khuya trong cõi sầu,

Ngập ngừng tiếng gáy, thấp rồi cao.

Tiếc thay lắm kẻ say sưa ngủ,

Mịt mờ trong giấc ngủ mê say.

Kẻ si mấy độ ngồi mãi miết,

Trường tuyển Phật trông chờ mỏi mắt,

Gà cất tiếng gáy trời dần sáng,

Mộng hồn theo dấu ai lôi kéo.

Trăm (108) tiếng chuông vàng cũng thế thôi,

Chuông vang khắp xứ gà vẫn gáy!

Chuông đỗ vào tai người mộng sợ,

Gọi chẳng quay đầu biết nói sao !?

Thạch long ngâm: (Lục thập thủ)

Ta ở thất Cao Lương,

Đến nay đã ba năm.

Có khi nhìn núi xanh,

Có lúc ngắm mây mù.

Cảnh sắc núi mây đâu từng đổi.

Rừng sâu hẻo lánh, nước chảy phát thinh âm.

Mắt phượng ngươi rồng, từ xưa đến nay không có người tài gìn giữ.

Xuân cày cấy, hạ làm cỏ, mùa thu gặt hái, mùa đông cất, hiện thành công án chớ suy tư. Nếu suy nghĩ , hiện tại đã qua rồi, chỗ nào để nhận ra.

Hoặc giải thích, hoặc huấn từ, những điều như thế ý nghĩa thế nào?

Nói cho biết! Hóa ra chính là ý Tổ Sư.

Bậc đại nhân, tuổi Ất tỵ, chưa biết sống , làm sao biết chết? Quên hết là xong, vẫn làm lại từ đầu.

Phật không muốn nghe, Tổ không chịu làm, bảo rằng những điều này là trói buộc, vậy theo chỗ nào, văn tự đâu để gậm nhắm suông.

Không thuyết pháp, không luận thiền, miệng treo trên vách, mũi thấu trời. Vạn vạn ngàn ngàn, chớ đem nắm đấm dọa trẻ con.

Không niệm Phật, không tọa thiền, đói ăn, mệt ngủ. Chỉ cái này, đâu cần lập công khóa.

Liễu thì liễu, xưa nay một việc ít người biết, ngẫng đầu nhìn, trời gần sáng, trăng trong sáng vằng vặc.

Sáng sớm nào là việc, súc miệng, rửa tay, thấp hương, chí tâm lễ Di Đà. Cười ha hả, ngôi nhà bao la Ta bà ha.

Diễn thuyết Phật sự:

Từng nghe: Ngài Đạt Ma từ Ấn sang chỉ thẳng đại ý đơn truyền, Thiện Tài từ phương nam đến chỉ nói hướng tới huyền quan. Lộ trình xa cách mười vạn dặm, chẳng ngại sự khó nhọc này; non nước mờ mịt trăm do thành, không sao diễn tả nỗi sự xa xôi ấy. Đều là tháo đinh nhổ chốt, thế nên mới quến sình ủng nước! Ngày nay nhướng lông mày đã mở rộng nhãn giới, nhìn khắp đại địa, nhìn thấu suốt những loài chúng sanh. Không tỉnh giác trong thinh sắc, bị nó lừa đến mê; căn tiếp xúc trần phải có tri giác, mới đẩy lùi được hôn mê. Nếu phát khởi được lòng tin, thì thấy được bản lai diện mục, không hồng không trắng mà có mặt khắp nơi, tức huyễn tức chơn lúc nào cũng chạm trán. Nhấc chân hạ gót đều là đạo tràng Phổ Hiền; khắp nơi đều là cảnh giới Tỳ Lô. Đâu cũng có ta là ta, chừ Phật là Phật, nếu biết thánh không phải thánh, phàm cũng chằng phải phàm.

Tại sao họ còn chấp vọng mê chơn, vì chưa tỏ được ý chỉ minh tâm kiến tánh, biển sanh tử lúc ẩn lúc hiện, không có ngày ra, như con rối giật dây qua lại, hoàn toàn chìm đắm lạc lối. Đều bị vô minh kết chặt, huống nữa bị ân ái kéo lôi, dùng hết cơ quan, chiến thắng trên đầu ruồi, sừng ốc; trò đùa hư dối, tấn công trong cánh tay sâu, gan chuột. Hoặc vì lợi lộc mà mong cầu, hay vì công danh mà tham luyến. Hoặc nhất thời buông lung khẩu ý, hại vật thương tổn sinh linh; hoặc kết oan nghiệp ngàn đời, tổn người lợi mình. Nước ái dục sâu tợ giang hà, núi nhân ngã cao như khưu nhạc. Loài tạo tội, giống tích khiên, không thể nói hết, khó mà nêu ra từng mục.

Than ôi! Há không biết vạn hóa đều không, vạn duyên đều huyển, cuối cùng hóa ra một trường đại mộng! Bắt chước múa may như giống khỉ, hằng ngày như trâu, ngựa kéo xe, kim dùi không thông, than ôi gọi khó quay đầu! Không nương sức từ bi của Tam Bảo, ai là điểm tựa cho chúng sanh! Thế nên mở phương tiện, độ người , ban bố nhân duyên tối thắng,báo đáp ân đức. Từ một ngày, hai ngày cho đến mười mấy ngày, dựng pháp hội vô giá, cứu vớt kẻ cô khổ. Từ nơi này, nơi khác cho đến khắp nơi, vì muốn thanh tịnh thân tâm, sạch trừ cấu uế--những công đức này, có chứng minh chăng?

Sư vẽ một vòng tròn nói:

Đạt được đại viên cảnh trong chốn phàm tình! Chư nhân giả! Họ sẽ bảo rằng đốt chiên đàn, dâng đá, uống nước, cúng hoa đều là phàm tình sao? Sai rồi! Nếu nói trí Thánh, hào quang Phật, thần thông, thiên nhãn là viên cảnh chăng? Lầm rồi! Hiểu được hai chữ lầm này, thì trời, người đồng nhất, Phật và chúng sanh giống nhau, tội phước đều không, Thánh, phàm không ngăn cách. Chúng sanh trong tâm chư Phật, hiện hiện thành thành; chúng sanh trong tâm chư Phật, an nhiên tự tại.

Vốn không có chư Phật, cũng không có chúng sanh, chỉ vì tâm này không an, nên nói có tội để sám hối. Xưa kia Nhị Tổ Thần Quang cầu Sơ Tổ an tâm cho, Sơ Tổ bảo: “Đem tâm ra Ta an cho.” Nhị Tổ thưa: “Con tìm tâm không được.” Sơ Tổ bảo: “Ta đã an tâm cho ông rồi.” Tam Tổ Tăng Sáng cầu Nhị Tổ sám tội cho. Nhị Tổ bảo: “ Đem tội ra Ta sám cho” Tăng Sáng thưa: “Con tìm tội không được.” Nhị Tổ nói: “Ta đã sám tội cho ông rồi.” Nhìn rõ điểm này, cái gì là tâm, cái gì là tội? Cái gì là Phật, cái gì là chúng sanh? Chỉ thuộc pháp hữu vi, đều là chuyện thừa!

Tuy như vậy, nhưng trong bối cảnh ngày đó thì đúng, đến hôm nay thì không được rồi! Chư hiền giả há không nghe: Thật tế lý địa không nhận một mảy trần; trước cửa Phật sự không bỏ một pháp. Không bỏ một pháp, mà các pháp được viên thông; Không nhận một trần, mà trần trần vào khắp. Lấy một cọng cỏ tạo thành thân vàng trượng sáu; đem thân vàng trượng sáu làm thành một cọng cỏ. Dựng lập cũng do ta, phá tan cũng do ta. Kể ra như vậy, cuối cùng xây dựng cái gì? Dẹp trừ cái gì? Câu rốt sau, hãy nghe tuyên bày.

Sư viên tịch vào năm thứ 24, đời Khang Hy (1685) thọ 72 tuổi. Thuở nhỏ Sư đã nghiên cứu sâu về nội, ngoại điển, đã rõ được tâm, giáo hóa độ sanh, chơn tục không ngại. Sư để lại nhiều Ngữ Lục. Xuất bản ba quyển “Ngũ Gia Tông Chỉ Toát Yếu”, trình bày rõ về Tông phong của Ngũ Gia, để trùng hưng lại chốn Tòng Lâm.

Sư là cháu dòng chính nối pháp đời thứ 16 của Ngài Đại Huệ Tông Cảo, đệ tử tái truyền của Ngài Tụ Vân Suy Vạn. (Tụ Vân Suy Vạn—Khánh Trung Thiết Bích—Tam Sơn Đăng Lai)

˜]™
111. THIỀN SƯ CỔ
LÂM TRÍ - (1623-1695)

Thiền Sư Cổ Lâm Trí ở Phụng Thiên Bát Nhã, đời Thanh, Sư họ Chu, ở Hồ Quảng Trường Sa. Mồ côi từ thuở nhỏ, trôi giạt khắp nơi. Năm sáu tuổi, Sư đến núi Nga Mi xuất gia, hầu thiền sư Tam Minh mười mấy năm, nhiều lần vào thất trình bị ăn gậy, sau nhân bị đánh cả bó cây vào bắp chân, thì Sư tỉnh. Năm 20 tuổi Sư thọ giới cụ túc, từng đi tham vấn các nơi, sau cùng ngộ qua lời Ngài Đức Sơn thọ ký riêng cho Tung Duệ. Sư trụ trì các chùa: Phụng Thiên Bát Nhã, Liêu Dương Kiến Ninh, Như Lai.

Lý Quảng Tịch, thỉnh Sư thượng đường, Sư đưa gậy lên nói: “Đại chúng thấy chăng? Ai cũng có mắt, nhất định đều thấy!” Sư hét một tiếng nói: “Nghe chăng? Mọi người đều có tai, chắc chắn nghe được!” “Nghe, thấy rõ ràng là cái gì nghe, thấy--nếu chuyển thân được trong này, thấy suốt được, thì một mình dạo trong cõi thênh thang, nắm trọn quyền năng, ban khởi lòng từ bi, xiển dương Phật, Tổ. Nếu không được như vậy, thì Tam điều chuyên hạ thất xích đơn tiền[19], ngồi thiền mở to mắt nhìn, nhiếu mày lại tham cho kỹ đi. Bỗng nhiên chạm phải tin tức, không ngờ bằng với cây gậy đánh của Sơn Tăng.” Sư dộng gậy nói: “Đời này nỗ lực nhận được, nếu không vạn kiếp khó có được cơ hội!”

Lý Cơ Tầng, thỉnh Sư thượng đường: “Phật thuyết tất cả pháp để độ tất cả tâm; Ta không có tất cả tâm, đâu cần tất cả pháp. Đã không có tâm lại không có pháp;” Sư dựng Phất tử nói: “Tin tức này từ đâu đến? Đại chúng có biết cái này chăng? Chư Phật chưa ra đời, Tổ Sư từ Tây chưa sang, cái này chưa từng giảm chút nào; chư Phật xuất hiện, Tổ sư từ Tây sang cái này cũng chưa từng thêm. Từ xưa đến nay, nó không sanh không diệt, che trời phủ đất, thông cả thinh, sắc. Không thể ví dụ được, không thể nói được hai chữ Bất- thức của Ngài Đạt Ma, Vô-đắc của Thế Tôn. Bây giờ đại chúng làm sao thấu hiểu? Phải là người như thế, mới hiểu được việc như thế! Nếu chưa được như vậy: chặt cần câu trồng lại cây tre, không kể công trình miễn được thì thôi.”

Sư dộng gậy nói: “Thần công đã thấu ba ngàn cõi, tính kỹ vượt qua ức vạn niên.”

Sư Huệ Kiến trụ trì chùa Thanh Phong, thỉnh Sư Phổ thuyết, Sư dựng phất tử nói: “Nếu bàn về cái này, xưa nay đã có, có gì mà mê với ngộ, đâu cần tu chứng! Chỉ vì người thời nay, từ xưa đến nay nghiệp thức sâu dày, mê mất tự kỷ, chấp vào hữu vi, nhận hư vọng làm căn bản, mê chơn tánh nên vào vòng ái. Bị nhân, ngã, chúng sanh trôi vào vòng luân hồi sanh tử, không biết phản tỉnh. Làm nhọc tiên Thánh bất đắc dĩ lập ra phương tiện, nào là cấm túc, điều tâm. Thế nên vì người ở trong một sự, một vật, phát sanh nhiều tri kiến, chịu nhiều quả báo. Thế nên dạy cho người trong một lời, một câu, ngồi dứt tất cả tri kiến, tham ngược tham xuôi một câu thoại đầu, tham đến tột cùng mới thôi, tự nhiên cùng thì biến, biến thì thông, phá sạch hang ổ vô minh, thoát ra khỏi cửa phàm, thánh, đoạn dứt luân hồi sanh tử.”

Thế nào là luân hồi sanh tử? Trước phải rõ những sinh hoạt hằng ngày, chỗ nào phát sanh sanh tử luân hồi? Chỗ nào không phát sanh sinh tử luân hồi? Phát hiện chỗ nào thì cắt đứt ngay, đừng để nó tiếp tục.

Tôi nay hỏi ông, đêm qua lúc ngủ say một niệm không sanh, không có sanh tử luân hồi; sáng nay thức dậy lúc tâm chưa có duyên trần, tỉnh lặng rõ ràng, không có luân hồi sanh tử; nói cười với người tâm không dính mắt, không có luân hồi sanh tử; mơ hồ tán loạn không trụ vào tam tế, không có luân hồi sanh tử.

Thí như đem lư đồng đến: Còn tình phàm thánh giải, thì có luân hồi trong sáu đường! Vì sao? Vì khởi tâm ưa thích, không chấp nhận nó, tranh nhau, cho đến người chết, đem lư đồng đi, đây là rơi vào địa ngục; hoặc nghĩ đến đói, khát, ngụy kế lừa gạt, đây là rơi vào đường quỷ; hoặc tham lam trộm cướp, chuyển họ đến làm súc sanh; hoặc có uy thế chiếm đoạt, bỏ thân nguời, sau đó làm A-tu-la; hoặc ban lư cho bạn lành, vì nhân nghĩa nên sanh vào làm người; hoặc dùng nó cúng Phật, thì được phước báo sanh lên trời—thì sanh sanh tử tử, tử tử sanh sanh, đi qua trở lại, ba cõi chín loài, vô cùng vô tận, từ cái lư này ra—đây là tình phàm.

Thế nào là thánh giải? Hoặc có người tham học, thấy cái lư liền nói: “Cái lư là bản tánh của ta. Mắt của ta thấy được, cái lư này có biến hoại, tánh thấy của ta không biến hoại, thì không rơi vào luân hồi.” Ni ngoại đạo cho rằng cái lư có sanh diệt, cái thấy không có sanh diệt! Nửa sanh nửa diệt, nửa cái thấy không sanh diệt vậy. Hoặc nói: “Cái lư có từ vi trần, là bản tánh thần ngã của ta, tuy là rỗng không tức là có.” Đây là Thường kiến của ngoại đạo, chấp có vậy. Hoặc nói: “Vạn vật vô thường, đều trở về biến hoại, cái lư hoại không còn, người chết trở về không.” Đây là đoạn kiến của ngoại đạo, chấp nó là không vậy. Hoặc nói: “Tánh lư vốn không có, không có tức là lư.” Cũng có cũng không: Đây là Kiều loạn ngoại đạo. Hoặc nói: “Cái lư có là không, cái không này cũng không.” Đây là không kiến của ngoại đạo. Vì chấp vào một cái không biến đổi, ngoài tâm có pháp, nói sơ có bốn thứ, nói đủ có 96 thứ, chấp một thứ trong bốn thứ, thì rơi vào ngoại đạo.

Hoặc nhân cái lư, nỗ lực tham, ngồi thấy thân tâm thế giới với cái lư đều rỗng không, rõ ràng không một pháp, cho trạng thái này là sở đắc, đây là sắc uẩn ma; hoặc thấy cái lư, nhất định đúng như pháp đã nói, nó biến hóa không cùng, gọi nó là Sát thuyết, trần thuyết, vô tình thuyết, cũng là sắc uẩn ma. Sắc không trước làm uẩn, đây là sắc hữu vi uẩn. Hoặc thấy các cảnh giới trước, sanh tâm lãnh nhận liền, đây là thọ uẩn ma; hoặc thích cảnh nhập vào tâm, không thể quên được vị trí, tà tưởng liền sanh, đây là tưởng uẩn ma; hoặc vì tưởng chấp vào tà, không có thầy hướng dẫn vào đường chánh, hiện hành thành niệm, đây là hành uẩn ma; hoặc chấp nhận những tình huống trên cho là Phật pháp, đây là thức uẩn ma. Một ấm ma sanh thì ngũ ấm ma xuất hiện, đều chấp vào bản lai diện mục, chủ nhân ông, niệm Phật là ai – cũng là thoại đầu, phải xét kỹ bản tánh diệu tâm, cho nên phải dùng tưởng xuyên qua bụng, bao trùm toàn thân ngũ uẩn, không thể rời tâm, ý thức để tham, vượt ra ngoài phàm thánh, chấp trên sự là lạc vào uẩn giới. Nói lược có năm, nói rộng ra có ngàn vạn, đâu phải chỉ 50 ngũ ấm ma.

Nói về điều này, trước đây, Tiên Huynh từng trải qua ma cảnh, thỉnh Huynh nói rõ cho đại chúng biết về sự hốc hiểm của việc này, để tiến thẳng đến mục tiêu. Hôm nay trụ trì chùa Thanh Phong thiết cúng, Lão Tăng phải nói, vì nghĩ các ông mới tham cứu, sợ rơi vào loại này, nên phải nói rõ.

Nếu đoạn được mé trước mé sau, thân tâm thế giới rỗng rang thênh thang, mãi mãi không tái sanh lại; có khi trừ sạch hết tất cả pháp trần, còn gì gọi là huyền yếu[20], gậy hét[21], quân thần[22], chủ khách[23], một vị càn tịnh, không không điền địa không không nguyệt, tìm công phu gì ngay chỗ kéo lỗ mũi vậy—đây là khí phận Thanh Văn. Nếu không rơi vào thấy này, thấy cái lư vô minh khởi lên, chúng sanh không biết vô minh khởi, cho nên có luân hồi. Nay thấy vô minh vốn không, thì không còn khổ não Lão, tử; đây là bước đầu Duyên Sanh Tánh không của đại thừa. Dính vào vui sống trong cảnh Vô Xứ, nên không vào được Đại Thừa đạo, đó gọi là Duyên Giác. Hơn nữa, thấy cái lư do vi trần nên có, lân hư làm nhân, thủy điều, phong luyện, tâm thức, hư không, thấy nó duyên với nhau, hòa hợp lại thành, tạm gọi là cái lư; đã biết do các duyên tụ hợp sanh ra, thì cái lư này không hoại, các duyên không đến với nhau, mà tự tánh không có cái lư. Duyên tức là không, không tức là duyên, cả hai không thể quay thành một khối, phân, hợp không được, thế nên nói tướng không của các pháp, không thể nói sanh, không thể nói diệt, thấy được phi cấu của cái lư, thấy phi tịnh của tánh. Cái lư này ở phàm không giảm cái tánh của nó, ở thánh không thêm tánh của nó—đây là Địa Tiền Bồ Tát Thiền. Tiến lên nữa, vì duyên sanh, chưa đạt được tánh không, vì tánh không, duyên sanh không đạt được, hai đầu đều đoạn—đây là Nhập Địa Thiền. Trước là Song chiếu, đây là Song giá. Trên là Bồ-tát chánh thiền. Từ đây vượt qua Thập Pháp Giới, đến thẳng tột đỉnh, không còn chỗ để tiến lên, không còn chỗ hạ thủ, mới là Như Lai Thiền.

Tổ Sư Thiền xuất phát từ Như Lai Thiền, đã vượt ra ngoài khuôn sáo cũ. Thế nên nói: Một câu rốt sau, mới đến được lao quan[24]. Không thấy Ngài Hương Nghiêm nghe tiếng sỏi va vào gốc tre đại ngộ, nói: “Một tiếng chạm phải quên sở tri, lại không cần phải thêm tu trì, nhướng mày bày đường xưa, không rơi vào cơ chết. Khắp nơi không tung tích, uy nghi ngoài thinh sắc, người đạt đạo các nơi, đều nói cơ thượng thuợng.” Ngài Ngưỡng Sơn nghe tin này qua khám nghiệm, Ngài ép buộc Hương Nghiêm vào thế bí, Hương Nghiêm thưa: “Năm ngoái nghèo chưa phải là nghèo, năm nay nghèo mới thật là nghèo. Năm ngoái nghèo không có đất cắm dùi, năm nay nghèo, dùi cũng không có.” Ngài Ngưỡng Sơn nói: “Chấp nhận ông ngộ Như Lai Thiền, Tổ Sư Thiền chưa từng mộng qua.” Hương Nghiêm thưa: “Con còn một cơ, nháy mắt đã gặp được Y. Nếu không ngộ, đừng gọi con là Sa Di.” Nguỡng Sơn nói: “Sư đệ đã ngộ được Tổ Sư Thiền.”

Sư nói: “Tổ Sư, Như Lai hãy gác lại;” Sư chỉ cái lư hỏi: “Hôm nay tôi hỏi các ông, đây là cái gì? Nếu nói lư đồng, thì mắc kẹt; không nói lư đồng, thì không được; hoặc nói đúng hay không đúng, đều sai lạc rồi; nếu không nói, thì rơi vào trống không; nếu treo miệng lên vách, thì rơi vào sanh tử; nếu bỏ đi thì không phải cảnh thượng cơ, chỉ giống Trường Trảo Phạm Chí. Sáu đường sanh tử này, bốn phương, trên, dưới bao vây ông: Ông làm sao thoát được? Ở trong này tìm kế sống, mở toan sáu đường sanh tử, thoát khỏi phàm thánh, thì những điều nói trên đây đều tiêu tan, không còn mảy may làm chướng ngại ông! Gọi là: vài tiếng khánh thanh ngoài thị, phi, một kẻ an nhàn chốn thiên địa! Hãy nói có người như thế không?”

Sư hất đỗ cái lư xuống tòa.

Sư thấy một vị Tăng xem kinh, Sư hỏi: “Ông xem kinh gì?” Tăng thưa: “Kinh Kim Cang.” Sư hỏi: “Kinh đó ai nói? Ai xem?” Tăng không đáp được, Sư dạy một bài kệ:

Xem kinh không biết người xem kinh,

Nhọc mình phân biệt nhọc nhãn thần.

Nếu không muốn mệt thần và mắt,

Nhận biết rõ ràng chơn kinh này.

Có vị Tăng nhạy miệng, một hôm hỏi: “Phật nói, ma nói, là một hay là hai? Sư vả vào miệng Tăng nói: “Nói xem: là một hay là hai?” Tăng suy nghĩ, Sư đánh. Sư nói kệ:

Vừa mở miệng hỏi,

Bị vả một cái.

Lò lửa hừng hực,

Há cho là giả.

Lửa tàn rỗng không,

Mới biết đạo nhã.

Sớm biết Xà Lê,

Đâu nhận nai là ngựa.

Dạy chúng bốn bài:

Tổ Đạt Ma khi đến phương này,

Không chút Phật pháp để luận bàn.

Nhiều lần tìm ta ý an tâm,

Thịt lành sao khoét thành thương tích.

Mây nước gặp nhau Bát Nhã đường,

Cớ sao ngu dốt dứt thương lường.

Chớ dùng thủ đoạn chống sanh tử,

Quật sát (Tổ) Lão Hồ lướt sóng xa.

Một đèn thắp nối trăm đèn sáng

Há là như thế cũng nên làm.

Lông thổi đao bén nắm trong tay,

Lúc quơ khắp cõi sạch trần ai.

Hổ thẹn hư danh nêu khắp chốn,

Đến nay không biết văn chương cổ.

Một cây gậy trắng truyền tâm ấn,

Mặc cho thời thế bảo ngắn, dài.

Ca về thị, phi: (Tăng tục ưa nói thị phi, Sư làm bài ca để cảnh tỉnh họ)

Kẻ thị phi, kẻ thị phi, vì sao bị nó khổ hiềm nhau,

Chỉ thấy miệng tròn, không ngờ lưỡi nát,

Một lời nói quấy của thế gian,

Muôn kiếp khốn nguy trong thành sắt.

Ba tấc lưỡi này, chớ xem thường,

Xúc động lòng người khó vượt qua,

Ngu nhân sao khỏi không chìm đắm,

Hiền triết còn bị kế hảm giam.

Đồng phòng cầm mâu chung làm phản,

Cửa nhà thanh tịnh sanh ma loạn,

Hàng Phật tử chánh tín quy y,

Không nên tranh nhau, lời xét xử .

Phải dừng hết, mỗi người tự quán,

Nên biết vạn pháp đều như huyển,

Giữ mình không động trước bát phong,

Tứ đại mặc nó phân ly tán.

Bản tính xiển đề quen ngỗ nghịch,

Tâm mình mê muội khoe tài năng,

Mê, cho nên nghiệp tợ như biển,

Rơi vào nghiệp, tội cao như núi.

Sói lang nghịch ngợm nhiều vô số,

Phật dạy tội này vô gián ngục,

Không phải Thiên Nhơn Sư không cứu,

Do vì vô phương cứu vớt nỗi.

Phải chi biết lỗi, hối cải liền,

Tìm cách gian xảo để làm gì.

Nên ta đùa nó, nó đùa ta,

Lưới nghiệp xoay vầng qua lại mãi.

Từ nay về sau dứt sai ngoa,

Linh đài sáng suốt thể an hòa,

Luôn giữ niệm thiện như nước chảy,

Ngấm vào ruộng tốt lợi ích nhiều.

Nơi động tịnh xin chớ dần dà,

Tinh cần trao dồi kỹ thiện tâm,

Khải phát tiến thẳng ‘quan lệ tử’ (điểm vi diệu của thiền cơ),

Lẫn quẫn trong vòng ngôn ngữ,

Thiện Thệ vốn đâu phải là Phật,

Ba Tuần cũng chẳng phải là ma.

Phen này vỗ tay cười ha hả,

Địa ngục, Thiên đàng chốn an vui.

Đêm 16, năm thứ 34 (1695) đời Khang Hy, Sư ngồi kiết già thị tịch, hôm sau tỉnh dậy như bình thường. Ngày 30 tháng 3, Sư viết thư mời cố nhơn và từ biệt, chỉ dạy việc xây tháp và trà tỳ. Tăng, tục thấy Sư quyết từ biệt khó thỉnh lưu lại đời, khóc than thỉnh Sư chỉ dạy, Sư nói: “Các ông giống thế nhân, Ta há chết thật ư? Ta thường gặp gỡ các ông. Các ông nên giữ tâm thanh tịnh, làm việc lành, nhất định sẽ vãng sanh Tây Phương; giữ tâm xấu, làm việc xấu, chắc chắn rơi vào tam đồ. Biết rõ buông hết, đâu cần ta nói nhiều!” Khuya Sư về phương trượng viết kệ, ngồi an nhiên thị tịch. Sư thọ 73 tuổi, 67 tuổi hạ. Sư để lại sáu quyển Ngữ Lục truyền đời.

˜]™


112. THIỀN SƯ LỮ NHAM

Thiền Sư Lữ Nham hà, Sư sống vào thời Thanh giữa niên hiệu Khang Hy, Sư hoằng pháp ở Am Long Tuyền Hồ Châu, Ô Sơn, Điều Thành Sư Tử Lâm, An Kiết Châu Long Sơn Đông Thiền Tự. Cuộc sống đời thường của Sư không rõ, Sư đắc pháp với Thiền Sư Bản Thăng ở Thiên Ngạn, Sư là đệ tử Mật Vân Tam Truyền. (Mật Vân Ngộ--Thiên Đồng--Thiên Ngạc Thăng--Lữ Nham Hà)

Nhận lời thỉnh, Sư về trụ trì An Kiết Châu Long Sơn Đông Thiền Tự, Pháp ngữ:

Tam Môn: Đại đạo rõ ràng, ngàn thánh đồng hành, vào được cửa này, chớ chấp tri giải.

Hộ Pháp sớ: Hai ngàn năm trước, trên núi Linh Sơn Đức Phật Thích Ca phó chúc Pháp Tạng cho Quốc Vương, đại thần, phật tử đạo hữu, dạy họ truyền bá khắp nơi—(Niêm sớ:) những điều này khế hợp với điều đã viết!

Pháp tòa, khắp nơi là Bảo Hoa Vương, đi đứng nằm ngồi đều sống trong đó, tại sao thực hành theo khuôn sáo cũ? Lại truyền trao như thế--tuy vậy, nhưng ngôi nhà xưa mỗi lần qua một lần mới!

Sư dạy chúng: “Thẹn mình đức mỏng, phước bạc, vùi lấp từ lâu không nhớ năm nào, bất chợt Phù Thiên từ ngoài đến, không biết từ đâu xuất hiện trước người. Thế nên nói: Muốn biết nghĩa Phật tánh, phải xem thời tiết, nhân duyên. Sơn tăng khi ẩn dật ở Thành Hoàng, nhập thất như ngây, dại, vừa được nhóm phật tử Đài Hàn ở An Kiết Châu, mời đến Đông Thiền cổ sát. Nhưng, Sư từ chối không được, nên phải thuận theo nhân duyên, chỉ còn cách đem những điều của Tổ tông ngày trước ra ứng dụng không cùng, chữ bát đã mở, chỉ dạy cho đại chúng hiện tại! Chẳng những biết được nguồn, đạt được gốc, miễn là chánh nhãn lưu thông— ” Sư đưa gậy lên bảo chúng rằng : “ Ủy thác chăng? Nếu trong đây thấy thông được, thì đâu cần bên Phước Thành Hoàng mới thấy được Ngài Văn Thù, mở cửa lầu các mới tham kiến Ngài Từ Thị! Ngay đây như trời che đất chở, như mặt trời chiếu khắp, như gió thổi khắp nơi, phơi bày rõ khắp nơi trên mọi vật, thị hiện khắp cõi.” Sư đưa gậy lên nói: “Xem! Xem! Cây gậy hóa rồng rồi! Gặp lúc gió, mưa phải là ngày này, làm gió làm mưa thấm đượm cả càn khôn.” Sư chống gậy xuống tòa.

Sư dạy chúng: “Mùa xuân trời quang đãng, chim xuân hót, núi xuân trùng điệp, nước xuân tràn trề, mỗi mỗi đều hanh thông, rõ ràng trăm vòng, ngàn lớp, nghìn trùng, tâm ấn không điêu khắc, diệu môn không diễn thuyết, chỉ vì các ông không chăm mắt thấy và tai nghe. Vì sao? Vừa có mảy may tức là trần!”

Sư dạy chúng: “Không phải tâm, không phải vật— ” Sư đưa hai tay ra nói : “ Xòe, nắm hai bàn tay mọi người đều thấy, vậy rõ ràng nó là cái gì!” Sư im lặng giây lâu nói: “Người nhận tiếng vang trong không nhiều vô số, thật khó truyền được Thái cổ âm!” Sư xuống tòa.

Sư dạy chúng: “Như Lai Niết Bàn tâm, Tổ Sư chánh pháp nhãn, thảy đều bày rõ ràng, tỏ rõ không tránh kỵ, chỉ cần mỗi người hồi quang, ông tự nhìn thật rõ, có thể chứng được vô sanh, vượt khỏi phương tiện. Không nghe Hòa thượng Thủy Lạo tham vấn Mã Tổ, hỏi đại ý Phật pháp là gì? Bị Mã Tổ thọp ngực đạp té nhào, Thủy Lạo hoát nhiên đại ngộ, đứng dậy cười hả hả thưa: “Trăm ngàn pháp môn, vô lượng diệu nghĩa, biết được cội nguồn trên đầu một mảy tơ!” Chư huynh đệ! Nếu như vậy há không vui sướng sao! Tuy như vậy, vẫn còn vướng trong lộ trình! Không kẹt trong lộ trình một câu làm sao nói?” “Phải là đài bảo giám sáng như mặt trời, luôn rỗng sáng dứt thị phi.”

Sư dạy chúng: “Pháp pháp đều sẳn có trong mình, điều quan trọng chớ sanh vui, chán, tùy thời đúng lúc mặc áo, nói gì là vạn năm một niệm!” Sư hét một tiếng.

Trung thu Sư dạy chúng: “Trăng tâm tròn vòi vọi, tánh thiên sáng ngời ngời, không đảng không thiên, sáng rỗng tự chiếu, cúng dường, tu hành, phủi áo ra đi, đều là chuyện vòng vo bên ngoài!”

Dạy chúng Sư cử: “Tiên Thánh nói: Ở có phá có, tại không phá không, nhị huyễn đã trừ, trung đạo không lập.” Sư nói: “Tiên Thánh nói thế này, đúng là thân mang nhiều bần hận ! Sơn tăng thì không như vậy: Có thì đồng với có, không thì đồng với không, mặc cho thức tánh vận hành, gặp cảnh đều chơn.” Sư hét một tiếng, nói: “Thò đầu nhìn ngoài trời, đều là một đám người!”

Sư dạy chúng cử: “Cổ đức nói: Cả ngày quẹt lửa thắp hương, không biết thân là đạo tràng. Sư còn nói: cả ngày thắp hương quẹt lửa, không biết đó là đạo tràng chơn thật. Sư còn nói: cả ngày thắp hương quẹt lửa, không biết thắp hương quẹt lửa.” Sư nói: “Cả ngày thắp hương quẹt lửa, thì là quẹt lửa thắp hương!”

Dạy chúng Sư cử: “Vĩnh Minh Đại Sĩ nói: Có thiền có tịnh độ, giống như cọp mọc sừng, hiện đời làm thầy người, tương lai thành Phật, thành Tổ. Có thiền không tịnh độ, mười người lạc đường hết chín, âm cảnh chợt hiện ra, thấy ông theo cảnh đi. Không thiền có tịnh độ, vạn người tu vạn người thành, được gặp Phật Di Đà lo gì không khai ngộ. không thiền không tịnh độ, gường sắt và cột đồng, trăm kiếp và ngàn đời, không một người nương theo.” Sư dạy: Ngài Vĩnh Minh dạy cho người như thế, thật giống bẻ khúc cây cong làm ngay, bên cạnh không có một ai; Sơn Tăng thì không như thế: Có thiền có tịnh độ, thường thấy vững chắc và kiên cố; có thiền không tịnh độ, giống như rơi vào chỗ đọa tột đỉnh; không thiền có tịnh độ, mến thuyền đâu thể qua sông; không thiền không tịnh độ, chánh thể hiện rõ ràng.” Sư dựng gậy xuống nói: “Một đạp hai cánh cửa lớn mở toan, còn phải bước lên đầu sào.” Sư hét một tiếng.

Thuật Sĩ hỏi: “Hơi thở ra không vào, sau cùng an thân lập mạng nơi nào?” Sư đáp: “Thử bói một quẻ xem?” Thuật Sĩ không nói được, Sư nói: “Đã bảo rằng âm, dương có chuẩn, xưa nay nghiệp thức mênh mang!”

Tăng xem kinh Pháp Hoa, hỏi: “Một tiểu kiếp là thời gian bao nhiêu?” Sư khẩy móng tay nói: “Hội chăng?” Tăng mờ mịt, Sư nói: “Chỉ biết việc đời qua trước mắt, bất chợt tóc đã điểm sương!”

Để lại cho đời: (bốn tắc)

Sư hỏi chúng: “Ai cũng có bóng, từng bước không rời, vì sao đạp lên bóng mà không biết?” Chúng trả lời không đúng, Sư đáp: “ Từ cửa vào không phải của báu trong nhà.”

Sư hỏi chúng: “Trong kinh dạy: Những gì có thân đều là bất tịnh, vậy 32 tướng của Như Lai thì sao?” Chúng trả lời không được, Sư nói: “Làm nhiễm ô pháp thân ta.”

Một hôm, Sư cử: “Cổ đức nói: Một niệm không theo các duyên, chứng được cảnh giới nhà mình.” Sư nói: “Các bậc cổ đức có thói quen nắm đầu rắn chết, không biết thoát ngay hiện tại! Sơn Tăng thì không như vậy: Dù cho niệm niệm theo duyên, cũng không rời khỏi cảnh giới nhà mình.” Sư nhìn toàn chúng nói: “Thế nào là cảnh giới nhà mình?” Ngưỡng thưa: “Gãi đúng chỗ ngứa.” Sư nói: “Tha ông 30 gậy!” chúng tranh nhau hạ ngữ, Sư đều không chấp nhận. Sư nói: “Nghịch thì sân, thuận thì vui.”

Sư hỏi chúng: “Lìa tâm ý thức tham, dứt sở học phàm thánh: Như vậy lìa tâm ý thức làm sao tham?” Tự thưa: “Con không dám khởi những tiểu tiếc.” Triệu thưa: “Vốn lành lặng chớ khoét thành thương tích.” Hề thưa: “Bát sành cớ sao thêm cán.” Sư nói: “Hãy thoát ra những khuôn mẫu, đừng lắm lời.” Sư nói: “Như người không tay đi quyền!”

Kệ tụng: (sáu tắc)

Ngu Sơn Kim Thủy Nhã cư sĩ có tác phẩm: “Vãn Niên Duy Hảo Tĩnh”, đem hỏi Sư. Sư nói: “Không rõ được huyền chỉ, nhọc công niệm tĩnh. Sư dạy Cư Sĩ bằng kệ.

Quên cơ đâu cần ẩn thâm sơn,

Tâm nếu không thì thân tự nhàn.

Hiện tại hết sạch các niệm niệm,

Nhọc nhằn chi đóng cửa sáu căn.

Bồ đề sẳn giống đừng tìm nữa,

Phiền não không căn chớ vọng trừ.

Tịnh Danh nhiều lời từng nói rõ,

Na già chỉ ở trong nói cười.

Tịnh độ:

Mây ngang miệng hang núi rỗng lặng,

Hoa rơi ven suối hương dã thủy,

Muốn biết chơn diện mục Di Đà,

Rõ ràng khắp nơi chưa từng ẩn.

Tuyết Di Lặc:

Nhơn duyên thị hiện thật lạ kỳ,

Khắp nơi vân giữ dứt điểm trần,

Thế giới thân tâm thành một khối,

Long Hoa đâu cần đợi tương lai.

Lò hồng luyện mãi lộ chơn dung,

Kinh luân đầy bụng ai sánh kịp,

Muốn biết thanh quang động thiên địa,

Nên biết bên trong toàn rỗng không.

Ngũ dục kệ:

Tài--Hoặc đi hoặc ngồi bộc bạch một mình,

Bao lần trước gió ngắm trăng ngâm,

Xếp tay gối đầu vui chính mình,

Biết chi nhân thế có vàng rồng.

Sắc--Xem kỹ hình hài đều bất tịnh,

Chấp chi bao khởi sầu đong,

Bao điều tốt, xấu đều là cảnh,

Biết cảnh do tâm, thời tự tại.

Danh--Trốn danh hà tất giống Sào, Do,

Chia theo Tam bình lưỡng mãn thôi,

Lặng xem thế sự duy mình được,

Không biết chính nó là bạn hữu.

Thực--Một niệm không mong các tưởng tận,

Đói đến chỉ biết mùi rau dại,

Có khi độc bộ lên thềm không,

Chỉ thấy kiến vội vã lăng xăng.

Thùy—Tùy thời phong kiệm dứt theo duyên,

Được thân tâm yên ổn ngày nhàn,

Chăn phủ kín đầu duỗi chân ngủ,

Nguyện đêm mộng lành dạo nhân gian.

Nhất Phật cư:

Trong cõi chơn tịnh vừa khởi niệm,

Trời, người từ đây nhọc phân chia,

Nếu ngay đây tỏ được đầu mối,

Lục hợp đều chung một cõi Phật.

Ngẫu ngôn: (năm tắc)

Một: Bệnh từ nghiệp sanh,nghiệp do hoặc khởi, hoặc nương vào bất giác, bất giác nương vào tâm. Tâm mình nếu sáng, dù bệnh như không có bệnh. Tâm mình không sáng, mênh mang trong nghiệp thức, dù cho mạnh như lực sĩ, cũng bệnh thật nhiều. Đây là tìm liều thuốc hay chảy về nguồn.

Hai: Công danh phú quý, thinh sắc tài lợi đều vô thường; diệu tịnh minh tâm, vốn là tự tánh chơn thường. Ai cũng theo vô thường bỏ chơn thường, có ai chịu bỏ vô thường theo chơn thường đâu! Chính điểm mê, mình theo vật nên nói chúng sanh điên đảo.

Ba: Nghiệp theo quả báo hết, quả báo theo thời tiêu, khổ vui nương nhau, đâu có liên quan gì đến việc của ta. Thế nên nói: Đâu ngờ tự tánh vốn không dao động.

Bốn: Tiếng Phạn gọi là Phật Đà, Trung Hoa gọi là giác. Giác tức là không mê, không mê thì hằng ngày thích hợp với duyên, niệm niệm không bị thinh sắc chuyển, niệm niệm không bị thấy nghe làm mê hoặc, thì cõi này gọi người niệm Phật là người xong việc, thì cõi Ta Bà là Cực Lạc. Nếu không được như thế, thì hôm nay năm ngàn, sáng mai một vạn, rơi vào việc mệt nhọc, danh suông vậy! Tổ Sư nói: “Tụng suông nhưng chú tâm vào tiếng, sáng được tâm gọi là Bồ Tát.” Người tụng kinh, niệm Phật, phải thể nhận được ý này.

Năm: Có một cư sĩ đem kinh lăng Nghiêm ra hỏi: Con nghi câu “Hư không tiêu hết”---, Sư nói: “Điều này có gì nghi! Kinh nói: “Mê mờ là rỗng không.” Sư nói: “Mê vọng còn gọi là hư không.” Nên biết hư không là sự mê muội của tâm mình. Tâm mình nếu sáng, thì mê muội đều tiêu, thế nên nói: “Trở về nguồn chơn, hư không tiêu hết vậy!” Cư Sĩ hoát nhiên đại ngộ.

Thiền giả đến Dục Vương lễ xá lợi cầu xin Sư chỉ dạy:

Sư cử “Thế Tôn đem sắc Ma ni châu hỏi Ngủ Phương Thiên Vương: Châu này làm bằng màu gì? Bấy giờ Ngủ Thiên Vương mỗi người nói màu sắc khác nhau. Thế Tôn dấu hạt châu, đưa tay lên hỏi: Châu này làm bằng màu gì? Thiên Vương thưa: Tay Đức Thế Tôn không có châu, thì màu sắc ở đâu? Thế Tôn dạy: Tại sao ông điên đảo thế! Ta đem thế châu hỏi ông, ông gắng sức nói là màu xanh, vàng, đỏ, trắng, Ta đem chơn châu hỏi ông, thì đều nói không biết. Bấy giờ Ngủ Thiên Vương đều ngộ đạo.”

Sư dạy: “Nếu ở trong đây sáng được hai mắt, chưa đến Dục Vương, thì đã thấy xá lợi của Đúc Phật rồi! Nếu chưa được như vậy, cho dù đích thân đến đó thành tâm, cúng dường, cung kính, lễ bái thấy được màu hồng, trắng, thấy lớn, thấy nhỏ, thấy Phật, thấy ánh sáng, hoặc thấy, hoặc không thấy. Ngay đây thấu triệt cội nguồn, thì biết được chỗ đến kia, Đức Thích Ca tức là thượng tọa, Thượng tọa tức là Thích Ca, không hai không phân chia, không khác không đoạn dứt. Nếu tình còn kia đây, vọng sanh thấy khác nhau, như vậy là theo chúng sanh tâm, làm theo nghiệp thôi; phải thấy Phật chính là thân Xá lợi, thì mua hài cỏ đi hành khước mới được!

Chỉ thẳng về nguồn:

Ba cõi không có pháp khác, chỉ nương vào nhất tâm mà có, biết tâm không có điểm tựa, thấy được thật tướng của các pháp. Thế nên nói: “Lý theo sự biến, nghiệp mượn duyên sanh, sự lý dung thông, trở về thường hợp với đạo.” Sư còn nói: “Nương bản giác nên có bất giác, nhờ bất giác mà có thỉ giác. Ngoài tâm không có pháp, ngoài pháp không có tâm, tâm và pháp cả hai đều quên, bản, thỉ không hai, gọi đó là cứu cánh giác.”

Vốn là nhất tâm thanh tịnh, thể không có thánh, phàm, tu chứng, không thuộc mê, ngộ, nhân quả, không thể nghĩ bàn, ly tướng, lìa danh, dứt bặc đối đãi, không trụ không nương. Nhưng chơn như không giữ tự tánh, mà tùy duyên, bất chợt trong tâm thanh tịnh khởi một niệm, theo cảnh sanh tình, theo tình tạo nghiệp, theo nghiệp chịu quả báo, chết đây sanh kia, luân hồi trong sáu đường không dừng. Đây gọi là nương Bản giác nên có Thỉ giác.

Nếu gặp bậc Thiện tri thức khai thị: Biết thân là huyễn, ngộ đời là vô thường, sanh, lão, bênh, tử các thứ khổ thiêu đốt lẫn nhau. Liền sanh nhàm chán, lập đại nguyện, mau bỏ ân ái sâu nặng thế gian, phát đạo tâm vô thượng xuất thế dứt bỏ vạn duyên, chỉ giữ chánh niệm, không luận động tịnh an nhàn, không câu nệ khổ vui thuận nghịch, tâm tâm không gián đoạn, cứ nhớ như thế, chợt tâm hoa khai sáng, thấy được bản lai diện mục. Đây là nương Bất giác mà có Thỉ giác vậy.

-Đến đây phải cầu bậc Tông tượng có bản lĩnh, thi hành thủ thuật vững vàng vượt ngoài khuôn sáo, khải phát tiến lên khỏi sự trói buộc, quét sạch thánh giải tình phàm, đập vỡ hai chỗ lao quan, đảo ngược khuôn sáo Phật, Tổ, chỉ còn một con đường sống, không vin theo nhánh nhóc xưa. Đây mới gọi là cứu cánh giác.

Tổ tổ truyền nhau, Phật Phật trao truyền, chỉ một sự thật này, còn có điều thứ hai thì không phải chơn. Việc này ai cũng sẳn có, ngay đây rõ chơn về nguồn, thì thế và xuất thế, hoàn toàn không hàm chứa ý gì khác.

˜]™


113. THIỀN SƯ THUẦN BỊ QUẢNG ĐỨC.

Thiền Sư Thuần Bị Quảng Đức, Sư sống vào thời Thanh, ở Thục Đông Phong Đô (huyện Tứ Xuyên Phong Đô), họ Lý. Sư mất cha mẹ lúc mới lên sáu, bẩm tánh nhân từ, huệ căn sâu nhiều đời, xuất gia với Đại sư Huyễn Trụ, tham vấn ngộ đạo với Thượng Tọa Nhĩ Độc Thái. Sư trụ trì hai Thiền Viện, Huỳnh Lăng Nguyệt Giáp,Tỷ Quy Đại Từ, Sư có Ngữ Lục để lại cho đời, Đạo Long Bác Đạt có bài tán Sư: “ Nói hợp với Phật, hạnh hợp với Tổ, nay căn cứ vào trụ xứ và hành trạng của Ngài thảy đều rỗng suốt ngời sáng, đề xướng không ngại, bao trùm tám cõi, dung thông vạn hữu, khảy móng tay là kinh, lắc tay là pháp, cũng thật là hiếm thấy trên đời vậy.” Khen Ngài là bảo tràng sáng ngời trong thời mạt pháp.

Sư thượng đường: “Sáng ngời rõ ràng, rỗng suốt huyền diệu, xét kỹ cái không thinh, không mùi nó thênh thang vô biên, sưu tầm triệt để không một vật, còn có phật pháp nào truyền cho ông. Tuy nhiên, chỉ được gặp một nêu hai, buông hai ném ba, lập ngôn ngữ trong chỗ vô ngôn, tạo tướng trong chốn vô tướng— ” Sư dựng gậy lên bảo đại chúng: “Hội chăng? Nếu vật, ngã lẫn lộn không làm ngăn ngại, thì khắp nơi đều là thân Phật!”

Sư thượng đường: “Nếu không được như vậy, thì ông phụ đương cơ, nếu chỉ như thế, thì còn cô phụ núi rừng. Chỉ còn ở trong cảnh như vậy mà không như vậy, không như thế mà lại như thế …” Sư dựng phất tử nói: “Vốn là viên thành không khiếm khuyết, chỉ vì suy nghĩ bước ngập ngừng, ngay đây đảm nhận đi, mắt vừa sáng bao quát cả thập hư.”

Truyền chơn thật, Sư thượng đường phất phất tử nói: “Bốn đại vốn không, năm uẩn không có, dù có đỏ, xanh cũng không có chỗ để tay! Thế nên việc này sâu xa lặng lẽ, vi diệu thâm mật, dứt bặt danh tướng, không có lỗ mũi để nắm, không có mắt để nhìn, ma bên ngoài đâu thể thấy. Nắm, thả, thâu, buông, rõ ràng không đầu mối, nghe, thấy, hiểu, biết, dứt bặt không nương tựa. Chẳng những Tử Vân Phạm Công, dù cho Ngô Đạo Tử, Trương Tăng Giao đến đây cũng không có chỗ hạ bút! Còn xuất đầu lộ diện ở cửa thứ hai, mặc cho y vẽ nhợt nhạt vài đường, để lại đời sau. Tuy như thế, chỉ truyền được sắc thân ta, khó truyền được pháp thân. Vì sao vậy? Diệu trạm viên minh tướng sắc không, xem y điểm nào gọi là khuôn mẫu.

Sư thượng đường: “Chơn không tịch lặng, không mùi, không thinh, một tánh viên minh, không thiếu không dư, tại sao mọi người không thể ngay đây đảm nhận? Chớ đem những học giải suông, vùi lấp tâm Phật,Tổ!

Tiểu tham: “Nếu luận về việc này, mọi người sẳn có! Đã ai cũng sẳn có, tại sao còn nói: bá tánh hằng ngày không biết nó? Vì sao? Bởi vì mọi người từ xưa đến nay mê chơn theo vọng, nhận chìm việc này vào trong ngũ dục, thất tình trong thấy sắc, nghe tiếng, từ đời này đến đời khác, từ kiếp này đến kiếp khác, tiêm nhiễm quá lâu, không thể tẩy sạch. Thế nên chư Phật ta ra đời, Tổ tổ từ Ấn sang đều vì việc này. Nhưng việc này không ở nơi khác, nó hiện hữu trong những chỗ ăn cơm, mặc áo, đón khách, tiếp khách, qua lại, cúi, ngước, đại tiện, tiểu tiện, gánh nước, bửa củi; cho đến thở ra, hít vào, động, tĩnh từ sáng đến tối. Chư nhân giả! Nhưng những chỗ qua lại, cúi, ngước hãy mở mắt to ra nhìn lại xem: ăn cơm, mặc áo, đón khách, tiếp khách, gánh nước, bửa củi, cho đến thở ra hít vào này vật gì ở bên trong cổ vũ cho những hành động ấy? Ai ở trong đó đùa vậy? Ai làm cho con người ta thất điên, bát đảo, lúc hiện, lúc ẩn? Nếu nhận được chơn, được định trong đó, đừng để cho y tạo tác mảy may, dao động một tơ tốc. Về sau, đi thì cùng đi, ở thì cùng ở, ngồi thì cùng ngồi, nằm thì cùng nằm, một là tất cả, tất cả là một, đến được nơi này thì có thể ngồi trong vi trần chuyển đại pháp luân, ở trên một đầu lông hiện cõi Bảo Vương. Tuy nhiên, vẫn còn ở trong việc hướng thượng của nạp Tăng! Nói xem thế nào là việc hướng thượng của nạp Tăng?” Sư nói: “Nửa đêm trăng lặn sương đầy trời, ai cùng đầm trong soi bóng lạnh.”

Kiết hạ tiểu tham: “Được ở pháp vị đã nhiều năm, cuối cùng chưa từng thốt một lời, không phải không có lời, mà tại vì nói không được, nghe rồi chán nản thành lỗi. Vì sao? Bởi vì việc này rất huyền rất diệu, không có lỗ mũi nên không nắm được, thế nên bậc trung, hạ tin một nửa, nói và làm còn khiếm khuyết, cho dù càng biết càng ngu, phần nhiều chuyển thành mê muội.

Không nghe một chuyện cổ đức (Pháp Quan triều Lương), biết qua loa ba thừa 12 phần giáo, nhưng không trì giới luật, một bậc Tôn túc hỏi: “Tại sao không trì giới?” Pháp Quan thưa: “Không giới mà có giới, không trì mà trì giới.” Liền bị quả báo làm thân trâu. Một hôm kéo xe qua vũng lầy đi khó khăn, Bậc Tôn túc đến bên cạnh gọi: “Pháp Quan!” Trâu liền ngẫng đầu lên nhìn, Tôn túc nói: “Sao không nói kéo mà như không kéo?” Trâu tự biết, rơi lệ lăn ra chết. Thế nên Thế Tôn nói: Ta thà không thuyết pháp cũng là lý do này vậy.

Khai thị cho Cư sĩ trở về nguồn tông:

Cổ Đức dạy: “Việc này không ở trong, không ở ngoài, không ở giữa.” Thử hỏi Cư Sĩ: đã không ở trong, ngoài, giữa, vậy nó ở đâu? Trong 26 giờ, chỗ mặc áo ăn cơm, nhìn lại mình, động tĩnh này, hay là ở trong chỗ qua lại chăng? Hay ở ngoài? Ở chặn giữa? Mỗi hành động cử chỉ hãy nhìn kỷ lại! Nếu nhận ra được, cùng Phật hít thở chung một lỗ mũi, cùng chư Tổ bước đi! Nếu chưa đạt được: còn mảy may sai, trời đất cách nhau nghìn trùng!” Sai lầm.

Khai thị cho thiền nhơn khởi nghi thì ngộ:

Nhưng việc này, thoát thể hiện thành, tuyệt đối không nhầm lẫn, hoàn toàn không che dấu! Chỉ vì không chịu phấn chấn dũng mãnh, khởi đại nghi tình, dẹp bỏ văn chương sách vỡ nghiên cứu, thật không ngờ trong văn chương sách vỡ không có; còn duyên vào chỗ miệng lưỡi thảo luận, thật không ngờ nơi đó cũng không; lên non xuống biển, viếng nam sang bắc cầu xin, thật không ngờ núi nam biển bắc không có; nhìn chăm chăm vào nghi tình, tận cùng trong núi đen hang quỷ, đâu ngờ trong núi đen hang quỷ cũng không có. Tất cả nơi đều không có, thử nói xem nơi nào mà ghê vậy! Nếu có, thì thấy ở đâu! Hãy tham đi.”

Khai thị cho Hoằng Huyền đạo nhơn:

Đi khắp non nước, tham vấn hết cả các bậc Thiện tri thức đều là muốn sáng tỏ điều này! Gót chân ông phóng quang chạm đất, trên đảnh môn sáng cổ ngời kim. Tại vì ông không biết; cất buớc liền đi, mở miệng nói ngay, không khác với chư Phật, chư Tổ! Đâu cần đến các nơi tha thiết cầu xin như vậy! Trân trọng.”

Đi khắp non nước, tham vấn hết cả các bậc Thiện tri thức đều là muốn sáng tỏ điều này! Gót chân ông phóng quang chạm đất, trên đảnh môn sáng cổ ngời kim. Tại vì ông không biết; cất buớc liền đi, mở miệng nói ngay, không khác với chư Phật, chư Tổ! Đâu cần đến các nơi tha thiết cầu xin như vậy! Trân trọng.”

Khai thị cho Tự Khánh Thiền nhơn:

Việc xuất gia, không phải việc ngoài để nói cho ai, đều là việc lớn sanh tử, vô thường mau chóng, rất sợ luân hồi trong sáu đường, không có ngày xong. Thế nên chúng ta cát ái từ thân, bỏ nhà theo chí hướng khác, chỉ muốn thoát ly sanh tử, chứng thánh siêu phàm. Không ngại vượt suối băng đèo, ngao du sơn hải. Điều quan trọng phải gần bậc Tông Sư sáng mắt, cầu xin thoại đầu chính xác. Hoặc ở hang động, hoặc ở tịnh thất, một mình xa vắng, ngồi thẳng lưng, núi cao vòi vọi, vách đứng muôn trượng. Chính những lúc như vậy, Phật đến cũng không nghinh tiếp, ma đến cũng không nhìn, chỉ thuần một điều, mắt nhìn trừng trừng, nhìn tỏ bên trong, nhìn sự máy động, tĩnh, vui, buồn này, là tin tức gì? Là quan cảnh gì? Cứ nghiền ngẫm như vậy, không màn năm tháng, không kể xuân, thu. Một phen hoát nhiên triệt ngộ rõ ràng vận dụng thông suốt không chướng ngại; bấy giờ non sông biển cả , không ra ngoài nắm tay của ông.”

Khai thị Thiền nhơn đối diện chính mình:

Ngồi thẳng như vách tường,

Thản nhiên qua vạn lự.

Mặc ấm lạnh bên trong,

Tự nó mất hay còn.

Chớ trụ ở ngoan không,

Chớ chui vào nước chết

Cần sống đời rỗng suốt

Như mặt trời trên không.

Khai thị cho cư sĩ Quân Lượng:

Xưa nay việc này quá nhiều lời,

Trân trọng khuyên anh chớ nói nhiều. (đo lường kỹ)

Khải phát cao lên đỉnh đạo thiền,

Đại thiên đâu chẳng hiện ra rõ ràng.

Khai thị cho Thiền giả được minh tâm:

Chớ nói thấy tánh mới thành Phật,

Đạo Ta minh tâm không thành Phật.

Có Phật thành thời chung có hoại,

Không nơi thành Phật chỗ ấy trường sanh.

Tặng thiền nhơn phá chấp có:

Đã phá không chừ lại phá có,

Có, không không lập mới vững vàng.

Nói rõ với anh một câu nầy

Chớ bỏ Thiền cơ vừa thoáng đến.

Dạy cho thiền nhơn phá bạch:

Tài sắc tráng lệ thật lạ kỳ,

Phá đen cũng bằng như phá trắng.

Hai đầu dứt hết ở giữa không,

Hét lên một tiếng nối dòng Tông.

Vượn Hú Giữa Dòng Sâu :

Một lá trôi trong vạn sóng dồi !

Mở toan ba nẻo thoát luân hồi .

Núi vượn đáy sâu, Bà tâm khổ,

Mãi hú liên hồi chẳng chịu thôi.

Sư nối pháp, -Ngài Nhĩ Độc Thái, đời thứ 34 dòng Lâm Tế. Mật Vân Ngộ là đệ tử truyền đời thứ tư. (Mật Vân Ngộ - Phá Sơn Minh - Mai Thọ Tướng - Nhĩ Độc Thái - Thuần Bị Đức)


  • Từ trang 11-141 gồm có 10 Bậc Thiền-Sư :
  • 11 - 17: 101. Thiền sư Ngột Am Phổ Ninh (1197-1276)
  • 18 - 24: 102. Thiền su Hoành Xuyên Như Củng
  • 25 - 33: 103. Thiền su Cao Phong Nguyên Diệu (1238-1295)
  • 34 - 44: 104. Thiền Sư Nguyên Sưu Hành Đoan. Thọ 87.
  • Đời Nguyên, AL:Giáp dần-Tân Tị. VL4133-4220. (TL.1254-1341)
  • 45-54: 105. Thiền Sư Đại Phương Hành Hải. Thọ 66.
  • Đời Thanh, Giáp thìn – Canh tuất. VL,4483 – 4549. (TL.1604 – 1670)
  • 55-67: 106. Thiền Sư Thiết Bích Huệ Cơ, Thọ 65.
  • Đời Thanh, Quí Mão - Mậu Thân. VL.4482-4547. (TL.1603-1668).
  • 68-87: 107. Thiền Sư Thiên Nhiên Hàm Thị, Thọ 77.
  • Đời Thanh, Mậu thân-Ất sửu. VL.4487-4564. (TL.1668-1685).
  • 85-103: 108. Thiền Sư Đại Hưu Tịnh Châu
  • 104-109: 109. Thiền Sư Tri Không Học Uẩn
  • 110-117: 110. Thiền Sư Tam Sơn Đăng Lai
  • 118-127: 111. Thiền Sư Cổ Lâm Tri
  • 128-136: 112. Thiền Sư Lữ Nham Hà
  • 137-142: 113. Thiền Sư Thuần Bị Quảng Đức

www.quangduc.com



[1]Ngũ gia tông phái: Sách gồm các truyện ký, ngữ lục về các thiền sư của Ngũ Gia Thiền Tông (Quy Ngưỡng, Lâm Tế, Tào Động, Vân Môn và Pháp Nhãn). Sách này hiện nay không còn.

[2]Thập Trí Đồng Chơn: Là phương pháp dẫn dắt người học , thiền sư Phần Dương Thiện Chiêu lập ra, Đồng nhất chất trí, đồng đại sự trí, tổng đồng tham trí, đồng chân trí trí, đồng biến phổ trí, đồng cụ túc trí, đồng đắc thất trí, đồng sanh sát trí, đồng âm hống trí, đồng đắc thập trí. (trong Vạn Tục 113, 420 TS Thiện Chiêu dạy chúng)

[3]Hoàng Long Tam quan: 1. Mọi người đều có chỗ sanh ra, vậy quê quán của Thượng Tọa ở đâu? (sinh duyên)

2. Tay tôi sao giống tay Phật? (Phật thủ)

3. Chân tôi sao giống chân lừa? (Lư cước)

[4]Cửu đới: 1. Phật chính pháp nhãn tạng đới. 2. Phật pháp tạng đới. 3. Lý quán đới. 4. Sự quán đới. 5. Lý sự tung hoành đới. 6. Khuất khúc thùy đới. 7. Diệu hiệp kiêm đới. 8. Kim châm song tỏa đới. 9. Bình hoài thường thật đới. Theo Phù Sơn Pháp Diễn.

[5]Tứ cú bách phi: Bốn câu và trăm phủ định thường dùng trong kinh điển Phật giáo.

Bốn câu: “Hữu, vô, vừa hữu vừa vô, chẳng phải hữu chẳng phải vô” hoặc chỉ cho bốn câu khẳng định, phủ định, một phần khẳng định, một phần phủ định, cả hai đều phủ định” để làm hình thức phán đoán các luận nghị nói chung. Trong thiền lâm thường chỉ cho Tứ liệu giản của ngài Lâm Tế:

  1. Đoạt nhân bất đoạt cảnh.
  2. Đoạt cảnh bất đoạt nhân.
  3. Nhân cảnh cộng đoạt.
  4. Nhân cảnh cộng bất đoạt.

Ngoài ra, Duy Ma kinh Huyền Sớ cho rằng có hơn 10 thuyết khác nhau về tứ cú.

Bách phi chỉ cho sự phủ định hoàn toàn, như kinh Đại Bát Niết Bàn nói Niết Bàn của Như Lai là: phi hữu, phi vô, phi hữu vi, phi vô

Phi hữu lậu, phi vô lậu, cho đến phi quá khứ, phi vị lai, phi hiện tại…cho nên biết Tứ cú Bách phi đều là những khái niệm giả danh được thiết lập y cứ vào lập trường của tất cả sự phán đoán và luận nghị, nhưng tông chỉ của Phật giáo vượt ra ngoài khái niệm giả danh này.

[6]Tứ sanh: Noãn sinh, Thai sinh, Thấp sinh, Hóa sinh.

[7]Cửu hữu: 1. Dục giới ngũ địa. 2. Li sinh hỷ lạc địa. 3.Định ly sinh lạc địa. 4. Ly hỷ diệu lạc địa. 5. Xả niệm thanh tịnh địa. 6. Không vô biên xứ địa. 7. Thức vô biên xứ địa. 8. Vô sở hữu xứ địa. 9. Phi tưởng phi phi tưởng xứ địa.

[8]Bốn đại: Địa đại, thủy đại, hỏa đại, phong đại.

[9]Bốn tướng: Sanh, trụ, dị, diệt.

[10]Năm tụ: Sắc uẩn, thọ uẩn, tưởng uẩn, hành uẩn, thức, uẩn.

[11]Mười tám giới: Sáu căn, sáu trần, sáu thức.

[12]Lô Xá Na: Cg: Tì-lô-giá-na, Lưu-xá-na, là Báo thân hoặc pháp thân của Phật.

[13]Lão cổ chùy, Cg: Cổ chùy thiền: Cái dùi được trui già, chỉ Lão Thiền Sư có cơ phong sắc bén.

[14]Hoàng Dương Mộc Thiền: Thiền pháp như cây Hoàng Dương. Lời quở mắng kẻ độn căn tham thiền hoài mà không tỏ ngộ. Tục bảo rằng cây Hoàng Dương lớn lên rất chậm, nếu gặp năm nhuận thì thân bị co rút lại 3 cm.

[15]Tứ thánh, Lục phàm: Bốn bậc Thánh, Thanh văn, Duyên giác, Bồ-tát và Phật. Tứ thánh là các bậc Thánh của bốn giới trên trong thập giới, các vị này đã lìa phiền não, đoạn dứt khổ luân hồi. còn các chúng sanh mê trong sáu đường thì gọi là Lục phàm. cả hai gọi chung là Tứ thánh, Lục phàm.

[16]Khẩu đầu thiền: Thiền ở đầu môi, không có công phu tu hành thực sự. Theo Thái Căn Đàm, Thiền chỉ nói suông mà không thực hành là Khẩu đầu thiền.

[17]Tam tế lục thô: Ba tướng tế và sáu tướng thô đây là 9 tướng căn bản của tất cả vọng pháp, do căn bản vô minh sanh khởi. Từ ngữ này xuất xứ từ Luân Đại Thừa Khởi Tín. Tam tế: 1. Vô minh nghiệp tướng. 2. Năng kiến tướng. 3. Cảnh giới tướng.

Lục thô: 1. Trí tướng. 2.Tương tục tướng. 3. Chấp thủ tướng. 4. Kế danh tự tướng. 5. Khởi nghiệp tướng. 6. Nghiệp hệ khổ tướng.

[18]Lục dục: Sắc dục, hình mạo dục, oai nghi dục, ngôn ngữ âm thanh dục, tế hoạt dục và nhân tướng dục hoặc chỉ cho nhãn dục.

Thất tình: Mừng, giận, buồn, sợ, thương, ghét, muốn.

[19]Tam điều chuyên hạ thất xích đơn tiền: Chiếc gường thiền trong tăng đường. chiếc gường này rộng ba thước (thước tàu), tương ứng với ba miếng rui trên mái nhà, nên gọi là “Tam điều chuyên hạ”; chiều dài gường 6 thước, dày 1 thước, cộng chung lại là 7 thước, gọi là “Thất xích đơn tiền”. Tuỳ theo độ dài khác nhau mà gọi là Lục xích đơn, Ngũ xích đơn.

Tắc 25 Bích Nham Lục ghi: “Nếu những người ấy thấy được thì là bạn đồng tham với am chủ Liên Hoa Phong. Nếu không được như thế thì tam điều chuyên hạ thất xích đơn truyền, thử tham kỹ đi!”

[20]Tam huyền tam yếu: Ba huyền môn và ba yếu tố dùng để tiếp người học của thiền sư Lâm Tế Nghĩa Huyền, nhằm kích thích hành giả phát khởi nghi tình. Tam huyền: 1. Thể trung huyền. 2. Cú trung huyền. 3. Huyền trung huyền.

Theo ngài Phần Dương Thiện Chiêu thì trong ba huyền môn nói trên, mỗi huyền môn lại có ba yếu tố quan trọng gọi là Tam yếu:

- Trong lời nói không có phân biệt tạo tác.

- Nghìn thánh vào thẳng chỗ huyền áo.

- Đường ngôn ngữ dứt.

Theo ngài Lâm Tế, trong một câu phải đủ ba huyền môn, mỗi huyền môn phải đủ Tam yếu. có huyền có thật, có chiếu có dụng,

[21]Gậy hét: Cách tiếp hóa đệ tử của Tổ Sư Thiền tông. Bậc thầy giỏi trong nhà thiền, khi tiếp dẫn người học thường dùng tiếng hét hoặc dùng gậy đánh để dứt hẳn suy nghĩ hư vọng của họ, hay nhằm khảo nghiệm chỗ ngộ của họ.

[22]Ngũ vị quân thần: Thiền pháp được trình bày thành hệ thống để tiếp dẫn người học của Tông Tào Động, do Ngài Động Sơn Lương Giới và Ngài Bản Tịch chế ra. 1. Quân là chính vị, thuộc không giới, xưa nay không một vật.

2. Thần là thiên vị, thuộc sắc giới, có muôn hình tượng.

3. Thần tướng quân là thiên trung chính, bỏ sự vào lý.

4. Quân thị thần là chính trung thiên, trái lý theo sự.

5. Quân thần đạo hợp, là kiêm đới ngữ, thầm ứng các duyên, không phi nhiễm phi tịnh, phi chính phi thiên, hết sức huyền diệu.

[23]Chủ khách: Tông Lâm Tế thị cơ ứng cơ, tiếp dẫn người học, chủ ý biện minh chủ với khách. Đại thể chủ chỉ cho Thiền sư đắc đạo, khách chỉ cho kẻ hậu học tham thiền, hoặc người chưa sáng tỏ thiền ý.

[24]Lao quan: Cửa ải kiên cố khó vượt qua, dụ cho cảnh giới hướng thượng không thể dùng sự suy nghĩ phân biệt mà đạt đến được.

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn