Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   
Bài mới nhất

Chương 3: Chốn Hoàng Cung

22/05/201311:49(Xem: 3982)
Chương 3: Chốn Hoàng Cung
Chuyện Tình Liên Hoa Hòa Thượng


Chương 3: Chốn Hoàng Cung

Sa Môn Thích Như Điển
Nguồn: Sa Môn Thích Như Điển


Vượt qua khỏi đèo Hải Vân, Thầy trò Ngài Thiệt Thành - Liễu Đạt phải gặp nhiều khó khăn hơn là đèo Rù Rì hay đèo Cù Mông ởđoạn đường đã trải qua. Vì lẽđèo nầy cao lắm, tiếp xúc với mây và nằm sát tận biển; nên địa thế rất hiểm trở. Đây cũng là địa đầu giới tuyến của Đạo Quảng Nam và là ranh giới cách bên nầy với bên kia của những vị vua Chiêm Thành kể từ thế kỷ thứ 13, 14.

Kinh Đô Phú Xuân được vua Gia Long cho xây dựng từ năm 1802 đến 1805, trong 3 năm ấy tốn rất nhiều nhân lực và vật lực. Một số công trình chính như: Ngọ Môn, Phú Vân Lâu, Thái Hòa Điện và những dãy nhà khác của các nha môn đã hoàn thành cùng với nội cung; nhưng một số công trình khác như chùa viện trong hoàng thành, khu giải trí cho vương tôn công tử, khu tham học v.v... chưa được hoàn chỉnh. Lẽ ra Thiền Sư Thiệt Thành - Liễu Đạt phải đến chùa Linh Mụ trước để lễ Phật và tham quan; nhưng vì ra đi từ miền Nam do chiếu chỉ của vua Gia Long; nên Ngài phải đến cung điện Phú Xuân trước. Khi Ngài đến đây, Thiền Sư Thiệt Thành -Liễu Đạt liên tưởng đến cố cung của Trung Quốc do một tù binh Việt Nam thuởấy (1400) bị quân Minh xâm chiếm nước ta, bắt về làm tù binh và chính người nầy; tên là Nguyễn An đã vẽ nên bản đồ xây dựng bằng gỗ cho cung điện nầy cho vua Minh Thái Tổ vậy. Tại cố cung của Trung Quốc, riêng phần nội cung có đến 999 phòng cho nhà vua ngự duyệt; nhưng ở Hoàng cung của vua Gia Long lại không được thế.
Có lẽ vua Trung Quốc, là Thiên Tử nên chỉ thua có Vua Trời. Còn Vua Đại Việt là vua của chư hầu; nên phải làm Hoàng cung nhỏ bé hơn Trung Hoa là điều phải tự hiểu. Cũng có thể có một lý do tế nhị khác là sau khi chiến tranh giặc giã với Tây Sơn và quân Thanh khi sang xâm chiếm nước ta vào cuối thế kỷ thứ 18 đã làm cho kinh thành Thăng Long đổ nát và dân tình chán ngấy cảnh giết chóc lầm than; nên vua quan Gia Long Nguyễn Ánh không muốn tốn thêm nhiều xương máu của con dân để xây dựng ngai vàng cho mình nữa; nên đã cho xây Hoàng cung tương đối rất khiêm nhường.

Hoàng cung triều Nguyễn nằm bên cạnh bờ sông Hương thơ mộng. Chung quanh có đắp lũy xây thành để phòng ngừa quân địch tấn công và bên trong tuy nhỏ bé hơn Tử Cấm Thành của Trung Quốc nhưng cũng đủ sân chầu và Đại Điện cũng như hậu cung để vua quan khi lâm triều có nơi bàn bạc quốc sự. Sau khi xong việc nhà vua lại lui về hậu cung.

Khi Thiền Sư Thiệt Thành - Liễu Đạt đến đây cũng đã được Bộ Lễ nghinh tiếp và chờ ngày lâm triều. Khi gặp nhà vua, Thiền Sư không phải vái chào quỳ lạy như những cận thần khác. Vì kể từ thời Huệ Viễn Hòa Thượng bên Trung Hoa vào thế kỷ thứ 4 trởđi, chư Tăng được miễn lệ không lạy quân vương. Do vậy mà Việt Nam chúng ta cũng ảnh hưởng. Thông thường người xuất gia chỉ lạy Phật và các vị Bồ Tát. Riêng cha mẹ chỉ lạy tạ thâm ân trước khi thế phát xuất gia. Sau đó, khi đã thọ giới của Phật rồi thì không còn bái lạy quân vương và cha mẹ nữa. Mặc dầu chữ Hiếu là một trong 4 trọng ân của người xuất gia; nhưng không vì thế mà phải qụy lụy trước một đấng quân vương như vậy.

Nguyễn Vương đã trở lại Phú Xuân vào năm 1801 và từ khi lên ngôi Hoàng Đế năm 1802 đến năm 1817, nhà vua chưa từng gặp lại Hòa Thượng Thiệt Thành ¬Liễu Đạt lần nào; nên nhớ nhau nhiều lắm; nhất là khi đêm về, bên tai mình Hoàng Hậu và cung phi vẫn luôn thúc giục là thỉnh cầu cho được Hòa Thượng Liễu Đạt về cung để dạy đạo cho họ. Nhưng ngặt nỗi chùa Linh Mụ đang có Tăng Cang. Đó là Ngài TổẤn - Mật Hoằng; vốn cũng người miền Nam (1735-1835). Mãi đến năm 1817 Hòa Thượng Mật Hoằng được cử qua trụ trì chùa Quốc Ân thì Thiền Sư Thiệt Thành - Liễu Đạt năm 1817 mới được nhà vua chính thức phong chức Tăng Cang và trụ trì chùa Linh Mụ.

Sau khi ra mắt vua Gia Long và các quan chức ở các bộ khác nhau tại điện Thái Hòa xong, Hòa Thượng Thiệt Thành - Liễu Đạt được đặc biệt vào nội cung để viếng thăm Thái Hậu, Hoàng Hậu, Hoàng Cô cũng như các Công chúa; nhất là Thái Trưởng Công Chúa Long Thành cũng như nhiều vương tôn khác còn quen nhau khi ở chùa Từ Ân và chùa Khải Tường tại Gia Định kể từ trước khi Quang Trung lên ngôi (1785) và sau khi Quang Trung băng hà (1789). Rồi từ những năm Nguyễn Vương trung hưng (1789-1801); hình ảnh 2 ngôi chùa nầy vẫn không xa lạ gì đối với gia đình Hoàng tộc họ Nguyễn nầy mà trong lúc ấy Ngài Thiệt Thành - Liễu Đạt vốn là Thủ Tọa của chùa Từ Ân và sau đó trụ trì chùa Khải Tường nữa.

Đến năm 1817 thì Hoàng Tử Đảm đã được 26 tuổi rồi. Cái tuổi trưởng thành và sắp được ngôi vua, do Gia Long trao lại; nên càng chững chạc hơn. Nhất là khi sinh ra tại chùa Khải Tường vào năm 1791, Thiền Sư Liễu Đạt lúc ấy trụ trì đã chăm sóc cho mình như là một vị Thầy tinh thần không hơn không kém.

Đường xa vạn dặm với 3 mảnh Tăng bào đã không làm nản lòng người Tăng Sĩ từ Nam ra Bắc; nhưng khi gặp lại Hoàng Hậu, Hoàng Cô và các Công chúa tại hậu cung sau hơn 15 năm xa cách, khiến cho Ngài Thiệt Thành - Liễu Đạt có một chút gì đó khựng lại khi nhớ nghĩ về lời tiên đoán của Thầy mình là Thiền Sư Linh Nhạc - Phật Ý và của Lão Bà trên chặng đường ra kinh lúc trước. Trong hoàng cung; nơi đại điện hay nơi khách phòng, lúc nào cũng làm cho Thiền Sư suy nghĩ bông lung. Nhưng điều thực tế là Thiền Sư phải tìm hiểu về ngôi quốc tự mà mình sẽ đảm nhận trong vài ngày nữa sắp tới đây cũng không kém phần quan trọng.

Đứng về phương diện truyền thuyết thì có quá nhiều câu chuyện về chùa nầy, mà một trong nhiều câu chuyện có thể khả dĩ chấp nhận được, đó là câu chuyện như sau:

Trước khi Chúa Nguyễn Hoàng vào trấn nhậm tại Thuận Hóa thì nhà chúa đã hỏi ý kiến của Cụ Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm. Lúc ấy Cụ Trạng đang xem đàn kiến đang bò trên hòn non bộ thì Cụ Trạng quay qua người đại diện của Chúa Nguyễn Hoàng, phán rằng:

“Hoành Sơn nhất đái
Vạn đại dung thân”

Nghĩa:
“Một dãy núi Hoàng (Liên Sơn)
Vạn đời ở được”

Như vậy với câu nầy của Cụ Trạng, chúa Nguyễn xem như là một câu sấm ký; nên ông ta mới cùng bầu đàn thê tử xuôi Nam. Khi đến gần đồi Hà Khê, chúa Nguyễn Hoàng đã cho dừng binh và vào một đêm trăng hạ tuần của mùa thu năm 1599; trong khi mơ màng, chúa thấy hình dáng một Cụ Bà từ cõi nào xa xăm hiện đến, Cụ Bà bảo rằng:

“Nếu nhà Chúa muốn lập nghiệp thì ngày mai thức dậy hãy đốt một nén nhang; khi nào đi hết nén nhang kia; chính là nơi đáng lập Kinh Đô vậy”.

Thức dậy Chúa kể lại cho những người hầu cận nghe và ai cũng cho đó là điềm lành; nên Chúa đã cầu nguyện và đốt nhang cũng như khấn vái và ra lệnh triệt quân.

Khi cây nhang tàn hết; chính là kinh đô Thuận Hóa ngày nay và đồi Hà Khê nơi Cụ Bà hiện ra đó đến năm 1601 Chúa Nguyễn Hoàng cho dựng một ngôi chùa đặt tên là Linh Mụ, dân chúng hay gọi chùa nầy là chùa Thiên Mụ. Vì lẽ chỉ cho Mụ già từ cõi trời mới có thể mách bảo được cho Chúa như vậy.

Riêng về chánh sử, theo Đại Nam Thực Lục Tiền Biên các sử gia nhà Nguyễn chép rằng:

“Chúa Tiên (Nguyễn Hoàng) sau 8 năm ởĐông Đô xung khắc với họ Trịnh (Chúa Trịnh Tùng), nhân đem quân dẹp loạn, cùng tướng sĩ binh thuyền chạy thẳng vào Thuận Hóa (năm Canh Tý – 1600).

“Năm sau Tân Sửu (1601) nhân dạo xem hình thể núi sông, thấy ở vùng đồng bằng xã Hà Khê, huyện Hương Trà, có một ngọn đồi cao nổi lên, có hình dáng như con rồng quay đầu nhìn lại, phía trước trông ra sông dài (sông Hương); phía sau có hồ lớn, cảnh trí rất đẹp. Nhân hỏi các người địa phương, mọi người đều nói ngọn đồi nầy linh lắm. Người ta đồn rằng: Xưa có Bà Lão áo đỏ quần xanh, ngồi trên đồi nầy nói rằng: Sẽ có vị Chân Chúa đến lập chùa ở nơi đây, kết tụ linh khí thiêng để bền long mạch. Nói xong, bà biến mất. Do đó, thời bấy giờ, người ta gọi đây là núi Thiên Mụ. Chúa Nguyễn Hoàng cho đất ấy có khí thiêng, bèn lập chùa, gọi tên là Chùa Thiên Mụ”.

Như vậy so ra với truyền thuyết và chánh sử cũng không có gì sai khác những điểm chính mấy. Đó là đồi núi thiêng liêng, do Mụ Bà mách bảo. Để nhớơn ấy Chúa Nguyễn Hoàng đã cho lập nên chùa nầy. Nếu kể từ năm 1601 đến năm 1817 là hơn 200 năm lịch sử của 9 đời Chúa và một đời vua đầu đời của nhà Nguyễn niên hiệu Hoằng Định; ngôi chùa lịch sử nầy đã là nơi cho bao nhiêu kẻđã quy về. Nhất là vào những năm cuối thế kỷ thứ 17; tại chùa nầy đã được mở ra những giới đàn lớn để Ngài Thạch Liêm và Ngài Nguyên Thiều truyền giới xuất gia cho hàng ngàn người và ngay cả Thiên Túng Đạo Nhơn; tức là Chúa Nguyễn Phúc Chu cũng thọ Bồ Tát giới tại gia ởđây. Quả là một ngôi chùa lịch sử.

Chùa Thiên Mụ được Chúa Nguyễn Hoàng cho xây dựng từ năm 1601. Từ năm 1601 đến năm 1684 không thấy có sự truyền thừa rõ rệt. Có lẽ thời gian nầy chùa do vua xây; nên các quan trông coi, làm giám tự; chỉ có lễ lộc gì lớn mới thỉnh cầu chư Tăng đến chủ trì các khóa lễ; nên không cử trụ trì. Cũng có thuyết nói rằng trong thời gian hơn 80 năm ấy các Thiền Sư Thiền Phái Trúc Lâm trụ trì như Ngài Viên Cảnh -Đại Thâm; Viên Khoan - Lục Hồ; Ngài Minh Châu–Hương Hải Thiền Sư (1628¬1725). Thiền Sư Hương Hải là một vị Thầy nổi tiếng và được tôn xưng là Tổ Cầu; Ngài đào tạo rất nhiều đệ tử vŕ Pháp tôn.

Năm 1682 Thiền Sư Hương Hải và các đệ tử bỏ ra Đàng Ngoài. Có lẽ vì bị Chúa Nguyễn ởĐàng Trong nghi ngờ; nên Ngài không tiếp tục ở lại Quảng Nam nữa. Tương truyền rằng Ngài đến Cù Lao Chàm ở ngoài biển cửa Đại; cách xa phố Hội An chừng 30 cây số; lập am tranh để tu hành; tránh cả Vua Lê Chúa Trịnh Đàng Ngoài và cả Chúa Nguyễn Đàng Trong nữa. Nhưng nơi am tranh được gọi là chùa Hải Tạng sau nầy đó, Minh Châu Hương Hải Thiền Sưđã quá nổi bậc trong số Tăng Lữ thời bấy giớ tại Quảng Nam và Thuận Hóa; nên các Chúa Nguyễn đã mời Ngài ra Huế để trụ trì chùa Thiên Mụ chăng? Ngài có hai câu đối rất thoát tục như sau:

“Nhạn quá trường không,
ảnh trầm hàn thủy
Nhạn vô lưu tích chi ý,
thủy vô lưu ảnh chi tâm”.

Nghĩa:
“Nhạn bay qua rồi,
ảnh chìm dưới nước
Nhạn chẳng có ý lưu dấu lại;
nước kia cũng chẳng có tâm để giữ hình ảnh kia”.

Chỉ có những vị Thiền Sư thoát tục mới có thể chứng thực được những điều ấy. Vì lẽ, bất cứ cái gì như đúng, sai; phải, trái; được, mất; hơn, thua; thị, phi; còn, mất v.v... dưới con mắt Thiền Sư Ngộ Đạo, đều không có một vật gì đáng ghi vào tâm cả.

Tuy nhiên từ năm 1684 đến năm 1804 thì có sự truyền thừa rõ rệt. Đó là các đời Trụ Trì như sau:

1601 – 1684 khuyết danh
1684 – 1694 Tổ Sư Nguyên Thiều – Siêu Bạch (1648-1728)
1695 – 1696 Hòa Thượng Thạch Liêm
1696 – 1702 Thiền Sư Hưng Triệt
1702 – 1725 Thiền Sư Hưng Triệt (?)
1725 – 1739 Thiền Sư Minh Giác - Kỳ Phương (1682-1744)
1739 - 1748 Thiền Sư Triệt Kiến - Liễu Triệt (1702¬1764)
1748 – 1786 Thiền Sư Tế Trí - Hữu Phỉ (? – 1794)
1786 – 1802 Chùa bị tàn phá bởi quân Tây Sơn
1803 – 1804 Trùng tu

Sau khi trùng tu lại Chùa Thiên Mụ; Chúa Nguyễn đã cho thỉnh trụ trì và cử chức Tăng Cang cũng như cấp cho giới đao, độ điệp. Đây có lẽ vua Gia Long nhại theo phong tục Phật Giáo của Thái Lan; chứ trước đó thì Phật Giáo Việt Nam không có chức Tăng Cang mà ngay cả Trung Hoa cũng vậy. Thời ấy Nguyễn Vương có ảnh hưởng Phật Giáo Nam Phương nhiều hơn là Bắc Phương. Cho nên việc phong Tăng Cang không phải là phong tục của Phật Việt. Vị Tăng Cang đầu tiên trụ trì chùa Thiên Mụ thuởấy là Ngài TổẤn - Mật Hoằng (1735-1835). Ngài nầy nguyên là trụ trì chùa Đại Giác tại Đồng Nai. Sau khi Nguyễn Vương lên ngôi vào năm 1802; đến năm 1804, khi đã trùng tu ngôi chùa Thiên Mụ, nhà Vua đã cho mời Ngài TổẤn-Mật Hoằng về Kinh Đô để đảm nhiệm việc trụ trì chùa Thiên Mụ với chức vị Tăng Cang để lo cho Tăng Chúng trong kinh thành và tụng kinh, thuyết pháp cho Hoàng Gia.

Ngài là người xuất thân tại huyện Phù Cát, Qui Nhơn (Bình Định ngày nay). Năm 1749 Ngài 15 tuổi, từ bỏ Qui Nhơn vào Gia Định đến tu học tại chùa Đại Giác ở Đồng Nai, thị trấn Biên Hòa. Năm Quý Tỵ 1773 Ngài Mật Hoằng đến thọ giới Tỳ Kheo với Hòa Thượng Phật Ý-Linh Nhạc ở chùa Từ Ân, xã Tân Khai, huyện Tân Bình, dinh Phiên Trấn (sau nầy gọi là Quận 3 Sài Gòn). Ngài Mật Hoằng tu hành cẩn mật, giới luật tinh nghiêm, đã trở thành một vị Tăng tài đức rất sớm.

Sau đó Ngài Mật Hoằng được Hòa Thượng Linh Nhạc-Phật Ý cử về trụ trì chùa Đại Giác ở Biên Hòa. Theo sách “Phật Tổ sự tích tiết yếu” do Pháp Sư Trí Thông biên soạn; lúc ấy Ngài đang ở chùa Từ Ân và làm Phó trụ trì chùa Khải Tường viết rằng: Niên hiệu Gia Long thứ 3 (1804) Vua sắc chỉ cung thỉnh Hòa Thượng Mật Hoằng ở chùa Đại Giác Biên Hòa về Kinh Đô để sắc phong chức Tăng Cang và trụ trì chùa Thiên Mụ. Tính ra năm ấy Ngài Mật Hoằng đã 70 tuổi và Ngài sống thọ đến 100 tuổi; cho nên vào năm 1817 vua Gia Long đã thay đổi trụ trì và mời Ngài Thiệt Thành-Liễu Đạt (Liên Hoa Hòa Thượng) từ chùa Khải Tường ra đây để thay thế và Ngài TổẤn-Mật Hoằng về chùa Quốc Ân để trụ trì cũng như sống tại đó cho đến ngày viên tịch.

Đứng trước cảnh chùa, tháp uy nghi hùng vĩ như vậy Thiền Sư Thiệt Thành-Liễu Đạt phải ôn cố tri tân mới mong góp được một chút gì đó cho Chúa, cho đất nước; cho Dân Tộc và Đạo Pháp; nên Thiền Sưđã tìm dò mọi sử liệu để biết thêm về ngôi chùa mà mình sắp gánh vác nhiệm vụ trụ trì. Đây là một số chi tiết khác.

Năm 1696, Hòa Thượng Thạch Liêm Thích Đại Sáng về lại Trung Quốc và Ngài ở luôn tại đó cho đến ngày viên tịch, không trở lại An Nam nữa; nhưng đệ tử của Ngài là Chúa Nguyễn Phước Chu, tức Cư Sĩ Hưng Long, biệt hiệu là Đại Túng vẫn nhiệt thành hộ trì Phật Giáo Đàng Trong.

Năm Canh Dần 1710 nhân dịp lễ Phật Đản, chúa Nguyễn Phúc Chu cho đúc Đại Hồng Chung ở chùa Thiên Mụ. Sách Đại Nam Thực Lục Tiền Biên ghi: “Năm Canh Dần, tháng 4 đúc chuông Thiên Mụ nặng 3285 cân. Chúa thân làm bài minh, khắc vào chuông”.

Đại Hồng Chung nầy cao 2,60m, đường kính rộng 1,20m, nặng 2010kg. Phía trên chuông khắc 8 chữ Thọ theo lối chữ Triện, khoảng giữa chuông chia làm 4 ô, khắc bài minh của Chúa, phần ngoài bài minh có chạm nổi hình rồng và mây. Phía dưới chạm hình bát quái. Bài minh viết như sau:

“Quốc Chúa Đại Việt Nguyễn Phước Chu (Châu) nối dòng Tào Động Chánh Tông, đời thứ 30, pháp danh Hưng Long, đúc Đại Hồng Chung, cân nặng 3285 cân, tôn trí ở chùa Thiên Mụ để cung phụng Tam Bảo, chú nguyện mưa thuận gió hòa, quốc thái dân an, chúng sanh trong pháp giới đều thành đại viên chủng trí”.

Năm Vĩnh Thạnh thứ 6, ngày Phật Đản tháng 4 năm Canh Dần.

Mặc dầu là Chúa, ngự trị một cõi biên thùy ở phía Nam, có quyền uy tột đỉnh; nhưng Chúa không lấy niên hiệu riêng của mình, mà vẫn lấy niên hiệu Vĩnh Thạnh của Vua Lê ởĐàng Ngoài để tránh sự dòm ngó của những người có tâm nghi ngờở phía Bắc. Có như vậy các Chúa Nguyễn mới rảnh tay đối phó nhiều mặt, trong khi Đàng Trong vẫn còn cần nhiều thời gian để bình định và chiêu hiền đãi sĩ.

Tiếng chuông Thiên Mụ có lẽ vang vọng từ thuởấy (1710) cho đến khi Ngài Thiệt Thành-Liễu Đạt đến không còn nữa. Vì từ 1785-1789 khi Quang Trung trị vì đã cho phá chùa, nấu tượng và Đại Hồng Chung thành đồng để đúc súng chống quân Thanh; nên vào năm 1817 Ngài đến đây không còn nghe vang vọng âm thanh của tiếng chuông và câu hò xứ Huế nữa.

Gió đưa cành trúc la đà
Tiếng chuông Thiên Mụ canh gà Thọ Xương.

Đối diện với chùa Linh Mụ bên nầy bờ sông Hương là làng Thọ Xương. Cứ mỗi khi gà Thọ Xương cất lên tiếng gáy là hồi chuông Thiên Mụ cũng đã vang rền trong hư không huyền ảo ấy. Chuông nặng 2010 kg, quả là một quả chuông lịch sử.

Năm Giáp Ngọ 1714 Chúa Nguyễn Phước Chu cho trùng tu lại chùa Thiên Mụ. Theo sách Đại Nam Thực Lục Tiền Biên ghi rằng:

Năm Giáp Ngọ mùa Hạ, tháng 6 trùng tu chùa Thiên Mụ, Chúa sai Chưởng cơ Tống Đức Đại đổng lý công việc.

Cách bài trí từ cổng chùa vào là điện thờ Thiên Vương, điện Ngọc Hoàng, điện Phật, giảng đường, lầu chứa Kinh, hai bên là lầu chuông và lầu trống, Điện thờ 10 vị Diêm Vương, Vân Thủy Đường (nhà khách), Tri Vị Đường (nhà trai), Thiền Đường, Điện Đại Bi, Điện Dược Sư, nhà Tăng, phòng Tăng... có đến vài mươi sở.

Sau chùa, trong vườn Tỳ Da có nhà Phương Trượng... cũng đến vài mươi sở. Tất cả đều vàng biếc rực rỡ, làm mất một năm mới xong.

Chúa thân làm bài văn bia ghi sự tích rồi sai người sang nhà Thanh thỉnh Đại Tạng Kinh và Luật Luận hơn ngàn bộ về đặt tại chùa.

Trước chùa, trên bờ sông Hương có lập đài câu cá, Chúa thường ngự đến chơi”.

Chùa Thiên Mụ dưới thời Nguyễn Phúc Chu là như thế, nhưng trải qua hơn 100 năm biến thiên lịch sử, nhất là những vị Chúa về sau không còn tin tưởng Phật Giáo nhiều, cũng như quân của nhà Trịnh đánh chiếm Phú Xuân, rồi quân Tây Sơn tàn phá chùa chiền; cho nên dẫu cho Vua Gia Long có cho trùng tu lại từ năm 1802 đến 1804 rồi sau đó trong 14 năm làm Tăng Cang trụ trì chùa Linh Mụ Ngài Hòa Thượng TổẤn-Mật Hoằng chắc không thể nào khôi phục lại ngôi cổ tự nguy nga ấy giống như dưới thời Chúa Nguyễn Phúc Chu được.

Năm 1725 Chúa Nguyễn Phúc Chu mất; con là Nguyễn Phước Trú lên ngôi (1725-1738). Năm 1738 Chúa Nguyễn Phước Trú mất; Chúa Nguyễn Phước Khoát lên ngôi. Vào cuối đời Chúa Võ Vương (1738-1765) triều đình Chúa Nguyễn ở Phú Xuân suy yếu. Quốc Phó Trương Phúc Loan chuyên quyền, triều đình rối loạn, dân chúng cơ hàn.

Năm 1765 Chúa Võ Vương mất, Thế tử Nguyễn Phước Thuần mới 12 tuổi được tôn lên ngôi Chúa. Nhân đó Quốc Phó Trương Phúc Loan thao túng triều chính.

Năm 1771 trong khi quân Xiêm đánh chiếm Hà Tiên, ba anh em Tây Sơn nổi lên chống Chúa Nguyễn ở Tây Sơn phủ Qui Nhơn (Bình Định).

Năm Quý Tỵ 1773 quân Tây Sơn chiếm được phủ Qui Nhơn, sau đó tiến chiếm Quảng Ngãi và tiến quân ra đánh Quảng Nam. Chúa Nguyễn phải dồn hết quân lực để chống lại quân Tây Sơn ở Quảng Nam; nên quân lính còn lại phòng thủ kinh đô Phú Xuân rất yếu.

Lợi dụng tình thế rối loạn của Chúa Nguyễn; Chúa Trịnh Sâm sai Việp Quận Công Hoàng Ngũ Phúc đem quân vượt sông Linh Giang (sông Gianh) tiến vào xâm chiến Đàng Trong vào năm Giáp Ngọ (1774).

Ngày 31.1.1775 Chúa Nguyễn Phước Thuần bỏ kinh thành Phú Xuân, dùng thuyền chạy vào Gia Định và quân Trịnh Đàng Ngoài đã chính thức chiếm đóng đô thành Phú Xuân của Chúa Nguyễn...

Đến ngày 13 tháng 6 năm 1801 tức ngày mùng 3 tháng 5 năm Tân Dậu binh thuyền của Chúa Nguyễn Phước Ánh lại tiến vào Phú Xuân để ngày mùng 1 tháng 5 năm Nhâm Tuất (1802) Nguyễn Vương Nguyễn Phước Ánh lên ngôi vua, thống nhất sơn hà, lấy hiệu là Vua Gia Long.

Nhìn lại dòng đời xuôi ngược và lịch sử bẻ bàng của dân tộc vào cuối thế kỷ thứ 18 ai trong chúng ta cũng phải chạnh lòng cho cố quốc. Chỉ một dải giang sơn nhỏ bé trên tấm bản đồ của thế giới mà có đến 3, 4 thế lực tranh giành. Ở miền Bắc (Đàng Ngoài) các Chúa Trịnh có ý phò Vua Lê để chuyên quyền sinh sát, rồi tiến chiếm Phú Xuân (Đàng Trong) khi Chúa Nguyễn phải lo đối phó với quân Tây Sơn tại Quảng Nam. Quang Trung thắng trận lên làm Vua từ năm 1785 đến 1789, chỉ trong vòng 4 năm ngắn ngủi của cuộc đời, 3 anh em ông đã chẳng làm được gì, ngoại trừ việc đại phá quân Thanh vào năm 1789. Rồi ông cũng chết và Chúa Nguyễn lại trở về để dấy lại binh nghiệp và mở mang bờ cõi từ Nam ra Bắc, thống nhất sơn hà. Sông Gianh không còn là địa phận chia đôi đất nước nữa.

Tuy các Chúa có công rất lớn trong việc mở mang bờ cõi và xây dựng những chùa chiền và các vị Thiền Sư thuởấy cũng là những bậc chơn Tăng lỗi lạc, cả đạo hạnh lẫn khả năng lãnh đạo quần chúng; nhưng đúng là: “gặp thời thế, thế thời phải thế” chứ biết làm sao hơn; khi mà lịch sửđã chẳng thuận theo lòng người.

Ngài Thiệt Thành-Liễu Đạt tu học tại chùa Đại Giác ở Đồng Nai; nơi có Công chúa thứ 3 của Vua Gia Long là Nguyễn Phước Ngọc Anh tu tại đây và Ngài cũng là người tôn Thiền Sư Linh Nhạc-Phật Ý làm Thầy, cũng rất khó xử khi đã bước chân đến chốn Hoàng cung nầy; nơi tranh bá đồ vương và cũng là nơi có nhiều hệ lụy; nhưng biết làm sao hơn khi Hoàng Hậu, Hoàng Phi và các Công chúa yêu cầu, cũng như Vua Gia Long đã sắc phong chức Tăng Cang thì không có lý do gì để thối thoát việc quy kinh. Nếu trái lại, chắc chắn vua sẽ buồn và nơi nội cung chắc cũng có nhiều người mong đợi.

Bây giờ với tư cách là Tăng Cang, Ngài Liễu Đạt vừa lo nhiệm vụ là Trụ Trì chùa Linh Mụ và một nhiệm vụ khác thiêng liêng hơn là “truyền đăng tục diệm”. Nghĩa là phải làm sao cho ánh sáng chơn lý nhiệm mầu của chư Phật và chư Tổ vẫn luôn sáng tỏa trên trần gian nầy. Bây giờ trên đầu và 2 vai của Ngài có nhiều bổn phận. Vừa phải làm sao cho nhà Vua và triều đình tin tưởng. Mặt khác đối với quần chúng, tín đồ ở chốn Thần Kinh, Ngài phải quan tâm hướng dẫn về đời sống tâm linh nữa. Kẻo không được như vậy thì sẽ mang tiếng là chỉ biết chùa của vua, còn chúng sanh chung quanh mình thì mặc kệ. Đồng thời trong nội tự; tuy bây giờ vào năm 1817 chùa Linh Mụ không nhiều lầu ngang dãy dọc như thời Chúa Nguyễn Phúc Chu cách đó 100 năm về trước nữa; nhưng vẫn là một Đại Tự của chốn kinh kỳ, là tai mắt của triều đình, của bá quan văn võ; nên những Tăng nhân được chọn vào đây, phải là những người thực tu, thực học. Suy nghĩ như vậy rồi, Ngài Liễu Đạt cắt đặt các công việc và các chức vụ trong chùa như sau:

Thầy Thủ Tọa hay Tri Sự là một vị có nhiều khả năng và có thể thay thế vị Trụ Trì khi hữu sự, kể cả mặt đối nội và đối ngoại.

Thầy Hương Đăng lo cho Chánh điện, Thầy lo cho Di Lặc Điện, Thầy lo cho lễ bái đường, Thầy lo cho Điện Tứ Thiên Vương, Thầy lo cho Điện Quan Âm và Địa Tạng. Vì là chùa lớn và dãy nhà nầy cách dãy nhà khác rất xa; nên mỗi nơi phải có một vị chăm lo như vậy.

Thầy Tri Khách lo tiếp rước khách thập phương. Dĩ nhiên phần tiếp Vua quan, Hoàng Hậu, Thứ Phi đã có Ngài Thiệt Thành-Liễu Đạt đích thân tiếp đón; nhưng nếu là khách thập phương đến chùa lễ bái hằng ngày phải có một vị Thầy tri khách thật là đặc biệt. Nghĩa là đủ mọi phương diện, phải linh hoạt cũng như bặt thiệp trong sự giao tế.

Thầy Tri Tạng chuyên lo những thư từ giao tiếp với Hoàng Gia và gìn giữ Pháp Bảo nơi Tàng Kinh Các của chùa. Đại Tạng Kinh chúa Nguyễn Phúc Chu cho thỉnh từ Trung Hoa về tôn trí tại đây không còn nữa; nhưng Đại Tạng Kinh khác đã được vua Gia Long thỉnh về sau lần trùng tu chùa năm 1803 vẫn còn đây. Thầy Tri Tạng phải giỏi chữ Hán và chữ Quốc Ngữ. Có như thế mới có thể quán xuyến công việc của Tàng Kinh Các được. Vị nầy có thể là một vịđã từ quan, ở tuổi trung niên lại càng hay biết mấy.

Thầy Tri Viên phải nhiều Thầy, chứ một Thầy không thể lo xuể cho bao nhiêu mẫu vườn chùa với cây cảnh như thế. Ngày xưa vốn chưa có phương pháp chạy máy để cho nước tự chảy vào gốc cây, mà mỗi ngày người tri viên phải lo vun, xới chăm sóc từng cây kiểng một cũng như rau quả của vườn chùa. Mặc dầu Linh Mụ tự là chùa của triều đình, những Sư Sãi ởđây được cấp lương bổng hằng tháng; nhưng của triều đình cũng là của tín thí. Nếu không có tiền sưu thuế của dân thì triều đình cũng khó mà tồn tại được. Do vậy tại chùa Thiên Mụ lúc bấy giờ vẫn ứng dụng đời sống nông Thiền và tinh thần của Ngài Bách Trượng là: “một ngày không làm, một ngày không ăn”.

Tri Khố là vị Thầy lo quản thủ công việc bếp núc của nhà chùa. Mỗi ngày Tăng Chúng dùng sáng bao nhiêu người, dùng trưa bao nhiêu người và có bao nhiêu vị không dùng tối v.v... Tất cả vị Thầy Tri Khố đều phải rõ. Đó là chưa kể những ngày Sóc Vọng vào mồng một, rằm; có rất nhiều Vương Tôn, Công Tử và khách thập phương đến chùa tham dự lễ, viếng cảnh rồi dùng cơm.

Ngoài ra còn những lễ kỵ của chùa, giỗ những bậc Tổ Sư tiền bối và những bà con của những gia đình tộc Nguyễn Vương nữa. Chỉ những chừng ấy việc thôi là vị Thầy Tri Khố cũng đủ mệt lả người, mỗi khi nhớ đến công việc của mình rồi.

Tri Chúng là vị Thầy quản hết tất cả Chúng Tăng trong chùa. Vị nầy phải công tâm; không được thương riêng ai và cũng không được ghét riêng người nào. Nếu có, Chúng Tăng sẽ không phục. Lúc ấy sẽ khó lòng mà dẫn Chúng được.

Trên Chánh điện lại còn vị Duy Na và Duyệt Chúng nữa để lo chuông mõ, kinh kệ hằng ngày và mỗi khi có lễ lộc của chùa. Trống, linh, tang, khánh, bảo chúng, chuông, mõ v.v... là những pháp khí của Thiền Môn, quyết không để cho lơ là và thiếu sót. Vì đây vốn là một ngôi chùa linh thiêng đã dựng xây từ thời Chúa Nguyễn Hoàng mới vào Nam dựng nước từ năm 1601.

Nơi Phương Trượng Đường cũng như các liêu Đông, Tây hai dãy hành lang rộng và dài vời vợi ấy phải cần có những Thị Giả biết ý Phương Trượng và Chúng Tăng, thì mới mong “Thiền Môn hưng thịnh và hải chúng an hòa được”. Nhớ lại ngày xưa khi Đức Phật còn tại thế; chính Ngài đã tác ý muốn chọn thị giả. Đã có nhiều vị Tăng cao lạp trưởng muốn cận kề Ngài; nhưng Ngài tỏ ý chưa thuận. Sau đó Ngài Mục Kiền Liên phải dùng thiền định mới rõ sâu được ý của Đức Phật là Ngài muốn chọn Ngài A Nan làm thị giả. Cuối cùng thì Ngài A Nan đã đưa ra những điều kiện sau đây để được làm Thị Giả cho Đức Phật.

Việc đầu tiên là Ngài A Nan không dùng thức ăn và y áo đã dùng rồi của Đức Phật. Điều nầy chắc Ngài A Nan lo xa. Vì lẽ có nhiều kẻ tị hiềm, so đo, hơn thiệt.

Điều tiếp theo là bất cứ là ai, từ Vua Chúa đến công hầu khanh tướng; nếu ai muốn gặp Phật, phải gặp Ngài A Nan trước.

Điều thứ ba là những kinh điển mà Đức Phật đã nói những nơi nào Ngài A Nan lúc chưa xuất gia cũng như nơi cung trời hay cung rồng, xin Đức Phật từ bi tuyên thuyết lại một lần nữa.

Cả ba điều nầy Đức Phật đã đồng ý và Ngài A Nan chỉ làm Thị Giả cho Đức Phật khoảng 30 năm cuối của đời Ngài. Nghĩa là lúc ấy Đức Phật đã 50 tuổi.

Theo kinh Đại Bát Niết Bàn, quyển thứ 40, người làm Thị Giả phải có 8 điều kiện như sau:

Thứ nhất là tín căn kiên cố. Đó là niềm tin vững chắc vào giáo pháp và vào Thầy mình.
Thứ hai là kỳ tâm chất trực. Nghĩa là tâm ý ngay thẳng, không dua nịnh.
Thứ ba là thân vô bịnh khổ. Thân không có bệnh tật để có thì giờ lo hầu Thầy mình.
Thứ tư là thường cần tinh tấn. Nghĩa là siêng năng, tinh tấn, chẳng biếng lười.
Thứ năm là niệm tâm cụ túc; nghĩa là tâm niệm đầy đủ.
Thứ sáu là tâm bất kiêu mạn. Tâm không kiêu căng, ngạo mạn.
Thứ bảy là thành tựu định huệ. Nghĩa là người Thị Giả phải thành tựu được định và huệ.
Thứ tám là điều kiện cuối cùng “cụ túc tòng văn sinh huệ”. Nghĩa là đầy đủ khả năng nghe pháp và sinh ra trí huệ.

So ra làm Thị Giả được gần Thầy, không phải là việc dễ dàng chút nào. Cho nên xưa nay trong Thiền Môn đều có câu nói rằng: “Đệ tử tầm sư dị; Sư tầm đệ tử nan” là vậy. Ý nói rằng: Học trò tìm đến vị Thầy thì dễ; còn người Thầy đi tìm người học trò đầy đủ 8 điều kiện trên, nó không đơn giản chút nào cả.

Sau khi đã sắp đặt mọi chức vụ trong, ngoài chùa rồi, Ngài Thiệt Thành-Liễu Đạt mới nghĩ đến việc thỉnh mời Giáo Thọ cho Tăng Chúng của chùa. Đầu tiên Ngài nghĩ ngay đến Ngài TổẤn-Mật Hoằng. Mặc dầu năm ấy (1817) Ngài đã 83 tuổi rồi; nhưng vì lệnh Vua, Ngài thôi chức Tăng Cang chùa Linh Mụ về làm trụ trì chùa Quốc Ân cho đến năm 1835 mới thoát hóa. Đây là việc tế nhị nên chính Ngài Thiệt Thành-Liễu Đạt phải thân chinh đến chùa Quốc Ân để cung thỉnh Ngài làm Giáo Thọ cho Tăng Chúng Linh Mụ tự. Đầu tiên Ngài TổẤn-Mật Hoằng có ý khước từ vì tuổi già, sức yếu; nhưng qua bao nhiêu lần cầu khẩn của Ngài Thiệt Thành-Liễu Đạt, Ngài đã nhận lời.

Điều ấy cũng quá dễ hiểu; vì không có ai có đầy đủ kinh nghiệm sống tại chùa Sắc Tứ của Vua ban và làm chức Tăng Cang trụ trì từ năm 1804 đến năm 1817 như Ngài. Suốt hơn 13 năm như thế Thiền Sư TổẤn-Mật Hoằng có thể trao lại cả kinh nghiệm đời mình cho Ngài Thiệt Thành-Liễu Đạt học hỏi; chứ không phải chỉ có cho Tăng Chúng chùa Linh Mụ mà thôi. Đây là một cái phước của Ngài Liễu Đạt, đã được Ngài TổẤn nhận lời.

Thời ấy các vị Thầy được cử làm Tăng Cang phải có một sốđiều kiện như sau:

-Đã được cấp Độ Điệp và Giới Đao.

Tu hành chơn chánh, giữ giới luật tinh nghiêm.

Thuộc và hiểu biết kinh điển

-Ngoài ra còn phải am tường khoa phạm.

Một Tăng Cang được miễn tất cả các sưu dịch, thuế khóa, được cấp phát lương hằng tháng để chi độ. Ngoài ra còn được triều đình cấp phát pháp phục để khi thừa hành pháp sự cho được trang nghiêm và để phân biệt với các vị Sư thường trong dân giả.

“Giới Đao tiếng Phạn gọi là Satraka. Tiếng Pali là Satthaka. Cũng gọi là đao tử. Con dao nhỏ hình bán nguyệt dùng để cắt móng tay, cạo tóc hoặc cắt vải để may vá quần áo. Là một trong 18 vật thường dùng của một vị Tỳ Kheo.

Bởi vì Đức Phật cấm không được chặt, đốn tất cả cỏ cây; cho nên con dao mà vị Tỳ Kheo dùng được gọi là Giới Đao”. (trích Phật Quang Đại TựĐiển, trang 1999).

Còn “Độ Điệp là giấy chứng minh do nhà nước cấp cho những người xuất gia làm Tăng tại Trung Quốc và Nhật Bản thời xưa”.

Ở Trung Quốc vào thời đại Bắc Ngụy đã có chế độ nầy rồi. Vào năm Khai Nguyên thứ 17 (729) đời nhà Đường, Vua ban lệnh cho Tăng Ni trong nước 3 năm làm sổ sách một lần.

Năm Thiên Bảo thứ 6 (747) Vua hạ chiếu cho Tăng Ni trong nước lệ thuộc vào “Lưỡng Nhai công đức sứ” và do Ty Thượng Thư Tỉnh từ Bộ cấp phát giấy tờ gọi là Từ BộĐiệp. Tăng Ni có Từ BộĐiệp thì miễn sưu dịch.

Năm Đại Trung thứ 10 (856) đời Vua Tuyên Tông, những người thọ giới bắt đầu được triều đình cấp chứng minh thư, gọi là Giới Điệp. Những Tăng Sĩ không có Độ Điệp gọi là Tư Độ Tăng và không được nhà nước thừa nhận. Mãi đến đời nhà Thanh, việc cấp Độ Điệp mới chấm dứt. Đến thời Dân Quốc trởđi thì do Giáo Hội Phật Giáo Trung Quốc cấp phát trở lại; nhưng là cấp Giới Điệp chứ không phải là Độ Điệp.

Theo nguyên tắc chung, những người trúng cách thi Kinh (trước khi được độ phải qua một kỳ thi đọc kinh hoặc giải thích kinh luận) mới được cấp phát Độ Điệp, nhưng trong thực tế khó tránh khỏi tệ nạn “đặc ân”, “nộp tiền” ... (trích Phật Quang Đại TựĐiển, trang 1788).

Như vậy Giới Đao và Độ Điệp được cấp phát trong thời Vua Gia Long, Minh Mạng, Thiệu Trị v.v... là những sáng kiến của vua tôi nhà Nguyễn; trong khi tại Trung Hoa, kể từ thời nhà Thanh (1640) đã không còn cấp Giới Đao và Độ Điệp cho Tăng Ni nữa. Đây có lẽ cũng là hình thức triều đình muốn tuyển lựa Tăng tài; trong khi Giáo Hội Phật Giáo vào thuởấy chưa hình thành rõ rệt.

Điều thứ hai để được làm vị Tăng Cang là phải: Tu hành chân chính, giữ giới luật tinh nghiêm. Ởđây riêng hoàn cảnh của Ngài Thiệt Thành-Liễu Đạt có lẽ trải qua 2 yếu tố chính sau đây mà được tiến cử về Kinh.

Yếu tố thứ nhất là qua lời giới thiệu của Ngài TổẤn¬Mật Hoằng giữ chức Tăng Cang đầu tiên tại chùa Linh Mụ từ năm 1804 đến năm 1817. Vì Ngài là người Trụ Trì chùa Đại Giác ở Biên Hòa, trước khi về Kinh lãnh chức Trụ Trì chùa Linh Mụ, Ngài hiểu rõ Ngài Thiệt Thành-Liễu Đạt hơn ai hết về tư cách cũng như giữ gìn giới luật khi còn làm Thủ Tọa tại chùa Từ Ân và Trụ Trì chùa Khải Tường ở Sài Gòn.

Thứ hai là do các Hoàng Hậu, Hoàng Phi, Công Chúa của Vua Gia Long tiến cử. Trong khi Ngài Thiệt Thành-Liễu Đạt (Liên Hoa Hòa Thượng) trú trì chùa Khải Tường từ năm 1786 đến năm 1801. Trong thời gian nầy các mệnh phụ phu nhân của Triều Nguyễn Trung Hưng được Thiền Sư Liễu Đạt giảng Pháp và cho Quy Y Tam Bảo nữa. Do đó những vị nầy chắc chắn có thiện cảm với Ngài; nên đã tâu lên với Vua Gia Long và được chuẩn ý.

Điều vô cùng quan trọng là chính Vua Gia Long phải khâm phục Ngài Liễu Đạt, thì việc tấn phong Tăng Cang mới thành sự thực. Cả một nội cung ở chùa Khải Tường trong thời gian dài đăng đẳng ấy, mà Thiền Sư Liễu Đạt đã chẳng phạm phải một lỗi nhỏ nào với phái nữ; chứng tỏ rằng Ngài Thiệt Thành-Liễu Đạt phải là người gìn giữ giới luật chân chính và tinh nghiêm.

Điểm tiếp theo của một vị Tăng Cang là phải hiểu biết kinh điển. Đây là một phạm trù quá rộng; nhưng khi những vị khảo hạch điểm qua 12 bộ kinh căn bản của giáo nghĩa Đại Thừa mà không thông, thì chắc rằng chức Tăng Cang vẫn còn ngoài tầm tay với. Vị nào có giỏi kinh điển, giáo pháp gì thì giỏi; nhưng nếu khi giảng pháp, dầu hay ho đến đâu đi chăng nữa, mà không hợp với Tam Pháp Ấn (vô thường, không và vô ngã); hay Tứ Pháp Ấn (vô thường, khổ, không và vô ngã) thì giáo lý ấy không phải là giáo lý của Đức Phật đã truyền dạy.

Ngoài ra còn phải am tường những khoa phạm nữa. Đây là những khoa nghi tán tụng, lễ bái; cầu an, cầu siêu, rước vong, chẩn tế cô hồn, bạt độ siêu tiến những hương linh v.v... Ngày xưa trong dân gian có câu:

“Con Vua thì lại làm vua


Con Sãi ở chùa phải quét lá đa”.

Trong khi quét lá đa phải lo tập luyện 2 thời công phu sáng tối. Ngoài ra còn phải tập tán tụng nữa. Một vị Thầy mà chỉ tụng kinh suông thì gọi là vị Thầy không rành rẽ khoa nghi. Đây có thể nói là những vấn đề căn bản của Thiền Môn. Bất cứ chú Tiểu nào ở chùa cũng phải học khi còn để chỏm.

Hai bộ pháp phục mà nhà Vua cấp cho vị Tăng Cang gồm:

Một y Cà Sa
Một áo hậu 5 màu (trụ trì: áo hậu chỉ có 2 màu)
Một mão Quan Âm
Một mão Tỳ Lư có hình 5 vị Phật
Một bộ Thiền cụ
Một đôi giày (đôi hia)
Một đôi dép.

Đây là ân sủng của bậc quân vương ban tặng cho những vị Tăng đã trải qua các kỳ khảo hạch. Như chúng ta biết, khi Đức Phật còn tại thế, một hôm Ngài đứng trên núi nhìn xuống những thửa ruộng có từng khoanh nhỏ, Ngài mới nảy ra ý định cho Tăng Chúng mang những chiếc y màu hoại sắc và gồm nhiều mảnh chắp vá lại với nhau để đắp trong nhiều trường hợp khác nhau. Ba y chính. Đó là y thượng, y trung và y hạ. Thượng y là y đắp lên trên người. Y trung là y mặc vào sát người và y hạ là y mặc phía dưới. Nhưng 3 loại y nầy cũng chia ra làm nhiều bậc khác nhau là: Y ngũ, y thất và y cửu. Nghĩa là y có 5 điều, 7 điều và 9 điều. Những y nầy cũng chia ra làm 3 loại thượng, trung, hạ. Thượng y gồm 25, 23 và 21 điều. Trung y gồm 19, 17 và 15 điều. Hạ y gồm 13, 11 và y 9 điều.

Y 25 điều có 3 đường dài một đường ngắn. Ba đường dài tượng trưng cho ruộng phước điền; một đường ngắn tượng trưng cho những kiết sử vẫn còn tồn tại nơi một vị Tỳ Kheo. Nếu đem 4 điều nầy nhân với 25 đường dài của y thành ra 100 mảnh vải chắp vá lại. Đây gọi là y bá nạp.

Tuy nhiên thời Phật thì có người cúng y làm bằng vàng cho Ngài mà Ngài không mặc. Y ấy hiện vẫn được Ngài Ma Ha Ca Diếp đang giữ tại núi Kê Túc trong khi nhập Diệt Tận Định. Ngài Ca Diếp chờ cho Đức Phật Di Lặc ra đời, sau thời kỳ Long Hoa thứ 3, khi Ngài Di Lặc đến đây, Ngài Ca Diếp sẽ dùng thần lực bay lên hư không, dâng y vàng cho Ngài Di Lặc, rồi dùng lửa Tam Muội hỏa thiêu thân mình, xá lợi rơi xuống lại cõi trần và hạnh nguyện của Ngài Ca Diếp đã mãn.

Về sau khi Đạo Phật được truyền qua Trung Hoa, Đại Hàn, Việt Nam và Nhật Bản... mỗi nơi chư Tăng, Ni đắp y hậu khác nhau, không giống như thời Phật chế. Có lẽ vì theo phong thổ của từng địa phương, phải đắp sao cho điều hòa với thời tiết chung quanh mình sinh sống là được. Sau nầy khi y áo được vào chốn Hoàng cung của các nước trên thì được biến thể thành màu tím, màu lam, màu vàng, màu kim tuyến... Tùy theo Bộ Lễ đề nghị để hợp với chốn Hoàng cung. Cho nên thỉnh thoảng chúng ta vẫn thấy trong Đại Tạng Kinh chép rằng: “Sắc Tử Sa Môn... phụng chiếu dịch”. Nghĩa là vị Sa Môn ấy được ban y màu tím và phụng mệnh chiếu chỉ của nhà Vua để dịch kinh”.

Áo hậu 5 màu là áo đặc biệt của Vua Gia Long ban cho Ngài TổẤn-Mật Hoằng làm đệ nhất Tăng Cang và Trụ Trì chùa Linh Mụ. Nay đến Ngài Thiệt Thành-Liễu Đạt cũng không ra ngoài thông lệấy. Nguyên thủy ở các nước Nam Phương Phật Giáo không có những chiếc áo nầy. Vì chư Tăng các nước nầy chỉ đắp y và vai mặt lúc nào cũng để trần, nhằm tỏ lòng cung kính đến những bậc đức trọng bên trên. Rồi một lúc nào đó, khi các vị Sư sang truyền giáo tại Trung Hoa; có lẽ là vào thời nhà Hán Vũ Đế bên ấy. Nhà Vua thấy chư Tăng vào cung mà ăn mặc hơi hở hang nơi cánh tay; nên cho thay chiếc áo hậu cho chư Tăng mặc, để các Hoàng Hậu, Hoàng Phi đỡ loạn tâm khi nghe chư Tăng thuyết pháp trong cung nội.

Mão Quan Âm thường được các vị Hòa Thuợng đội khi chứng minh những Đại Lễ lớn tại chùa hay các nơi trang trọng khác.

Mũ Tỳ Lô trên đó có 5 vị Phật ngựở 5 hướng. Mũ nầy hay đội khi chẩn tế cô hồn. Người ta thường gọi là Mũ Địa Tạng.

Ngoài ra nhà Vua còn ban cho một bộ thiền cụ gồm bồđoàn, tọa cụ và có thể là thiền trượng nữa. Đây là những đồ cần dùng cho một Thiền Sư khi thăng tòa thuyết pháp hay hành thiền, độ chúng.

Một đôi giày để đi chung với y áo, mão đã được Vua ban. Còn một đôi dép để đi tại chùa hay ra đường mỗi khi cần đến. Mỗi thứ như trên gồm 2 bộ để thay đổi với nhau. Đồng thời các vị Tăng Cang trong triều nhà Nguyễn mỗi tháng còn nhận được 2 quan tiền và một giạ gạo của Vua ban. Nếu là Trụ Trì thì được một quan rưỡi và Tăng Chúng trong chùa thì được một quan 25 tiền. Số tiền ấy đối với một người xuất gia tại chùa của các Vua, quan xây dựng là một số tiền không nhỏ thuở bấy giờ.

Đây là nội dung căn bản của một Độ Điệp mà Thiền Sư Tánh Thiên-Nhất Định (1784-1847) thời ấy đã nhận được từ triều đình.

“Bộ Lễ tuân theo Dụ cấp Độ Điệp: Xét rằng nhà chùa bày dạy tất cả cốt ở từ bi, đạo giác ngộ muốn mở trí người vốn phải thanh tịnh. Bông cây Ưu Đàm, kinh lá bối mầu nhiệm vô cùng, thuyền từ là phương tiện tạo phước duyên vô lượng, muốn mở rộng tìm sâu bí quyết đều là cách huyền diệu để khai thông bạt độ.

Xét xem cửa Phật Pháp ánh sáng tươi đẹp, chiếu khắp cả mười phương thế giới để đưa những kẻ lầm đường qua bờ giác, để nhờ phước điền của Tam Bảo, chỉ có cách được độ đời, hiểu rõ được sự chơn thật, thấy được tánh, rõ được tâm để thành chánh quả.

Muốn truyền pháp, quay về làng Bát Nhã, trao bình bát, cẩm y, núp bóng ở gốc bồ đề, rửa sạch được lục trần nhờ nước Đức, suốt được cảm thông nhờ tâm hương, giữ ngũ giới, thờ Tam Quy, mới ngộ được và ấn chứng được chốn Kỳ Viên. Nhóm cả lục thông, nhóm tứ đại, vượt qua bên pháp giới để cho thân và trí mở rộng, sắc tướng sáng suốt, gương báu chốn liên đài thường sáng, được tròn quả phúc. Tượng vàng tưới khắp, tắm gội duyên lành, thế mới thuyết giải được sự sâu kín ở chốn thiền lâm mà nêu cao sự thường hằng ở cửa Phật.

Nay Hoàng Thượng ta, ngay thẳng công bình, nhóm điều phước đức, cầu được sống lâu; nên tu nhân tích đức, lại còn cầu cho thần dân trong ngoài đều được hưởng phước thừa, một lòng thành kính, tu phước góp đức, thật là công đức vô lượng như cát sông.

Lại có Dụ dạy dỗ rõ ràng: Lâu nay, các Tăng Sĩ đến Kinh Đô, Bộ phải xét ai là người chơn tu, giữđúng giới luật, am tường khoa phạm, thời cấp một Độ Điệp để được yên tâm tu trì, hầu chứng được đạo Thiền, còn như đi lính, thuế thân thảy đều miễn hết.

Xét được ở chùa Báo Quốc thuộc làng Phú Xuân, huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên, có một vị Tăng là Nguyễn Nhứt Định, xét thực giữ gìn giới luật, kinh kệ thuộc làu, đáng cấp một Độ Điệp và một Giới Đao để Thầy trụ trì tạo chùa ấy. Nhưng phải giữđúng nề nếp tu hành chân chính, còn các thứ thuế thân, binh nhiêu, sai phái các việc vụn vặt thảy đều tha.

Nếu sau khi nhận Điệp rồi mà nợ trần chưa dứt sạch, nghiệp chướng vẫn còn, có tỳ tích xấu, các quan lại hay dân quân bắt được, giải giao ngay cho quan chiếu luật trừng trị, bắt phải về tục, thâu lại Độ Điệp để Bộ tiêu hủy.

Hỡi ơi! Tịnh cảnh mùi hương thơm phức, hương giới định huệ nhiệm mầu. Mây lành mưa hoa rưới khắp đầy hết, ao rồng tràn ngập.

Lịnh của Vua, pháp của Phật đồng như nhau. Nay điệp cấp: Tăng Sĩ Nguyễn Nhứt Định, pháp danh Tánh Thiên ở chùa Báo Quốc, phủ Thừa Thiên (Thầy là người ở làng Trung Kiên, huyện Hải Lăng, phủ Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị).

Ngày 12 tháng 8 năm Minh Mạng thứ 11 (1830). (Đây là bản dịch của Hòa Thượng Thích Khế Chơn - Lịch sử Phật Giáo Đàng Trong của Nguyễn Hiền Đức, trang 242).

Kể ra khi Vua Gia Long mới lên ngôi, lo thống nhất sơn hà và xây dựng cơ đồ của nghiệp đế. Ở những năm đầu của thế kỷ thứ 19 ấy đã cắt cử Ngài TổẤn-Mật Hoắng làm trụ trì và ở ngôi vị Tăng Cang từ năm 1804 đến năm 1816. Sau đó Thiền Sư Thiệt Thành-Liễu Đạt (tức Liên Hoa Hòa Thượng) cũng được Vua Gia Long cử trụ trì chùa Linh Mụ. Chắc chắn cũng có cấp cho Giới Đao và Độ Điệp; nhưng mãi đến năm Minh Mạng thứ 11 (1830) nhà Vua tổ chức lễ “Tứ tuần đại khánh” (lễ mừng nhân dịp 40 tuổi) ở chùa Báo Quốc thì mới có văn thư sắc chỉ cấp Độ Điệp cho Ngài Tánh Thiên-Nhất Định rõ ràng và ngay cả việc phong là Liên Hoa Hòa Thuợng cũng do Vua Minh Mạng phong cho Thiền Sư Thiệt Thành-Liễu Đạt; chứ không phải là Vua Gia Long. Thiền Sư Thiệt Thành-Liễu Đạt làm Tăng Cang và Trụ Trì chùa Linh Mụ từ năm 1817-1823. Đây là buổi giao thời giữa 2 triều đại của Vua Gia Long và Vua Minh Mạng; nên về sau nầy Vua Minh Mạng rõ biết tư cách của Hòa Thượng Liễu Đạt và cả Vua cha của mình; hoặc giả mến tài đức của Ngài nên mới phong cho Đạo Hiệu như vậy.

Năm 1816 Hòa Thượng Đạo Minh-Phổ Tịnh viên tịch ở chùa Thiên Thọ. Đệ tử của Ngài Phổ Tịnh là Thiền Sư Tánh Thiên - Nhứt Định đang trụ trì chùa Thiên Thai Thuyền Tôn được cử kế thế trụ trì chùa Thiên Thọ. Giới hạnh của Thiền Sư Tánh Thiên-Nhứt Định được vua quan và hoàng gia cùng nội cung nhà Nguyễn thời đó mến mộ và kính phục. Ngay cả Thái Hậu Hiếu Khương (mẹ của Gia Long) cũng rất cảm phục sự hiếu đễ của Thiền Sư đối với mẹ già của mình. Ngài Tánh Thiên-Nhứt Định sinh năm 1784 và viên tịch năm 1847. Trong thời gian nầy ở Kinh đô Thuận Hóa không ai là không kính phục Ngài. Kể cả giới Thiền Lâm cũng kính nể Thiền Sư Nhứt Định.

Lược qua bản dịch của Hòa Thượng Khế Chơn về Độ Điệp của Thiền Sư Nhứt Định mà Vua Minh Mạng đã cấp vào năm 1830; chúng ta thấy có những điểm chính yếu như sau:

Điểm qua nội dung của Độ Điệp phải nói rằng đây là một lối văn biền ngẩu, pha lẫn mệnh lệnh rất hay. Có thể do một Thiền Sư nào đó được yêu cầu viết như thế. Hai là trong Bộ Lễđã có người nào đó đi xuất gia rồi ra đời; nay học theo Nho giáo mới có khả năng viết được nội dung của Độ Điệp như vậy.

Đầu tiên là tán thán giáo lý từ bi, giải thoát của nhà Phật; kế tiếp là nói về ân sủng của nhà Vua. Chính nhà Vua cũng muốn để phước về sau nên mới ban thưởng cho người có công với Đạo. Kế tiếp là phạt; nếu người ấy không tiếp tục con đường tu hành nữa. Cuối cùng là nêu danh tánh người được nhận Độ Điệp cũng như ngày tháng và nơi cấp.

Thời của Ngài Thiệt Thành-Liễu Đạt cũng cùng thời với Ngài Tánh Thiên-Nhứt Định; nhưng năm 1817 có lẽ là năm đơn giản hơn về nghi lễ; nên hình thức không rườm rà như thời Minh Mạng thứ 11 (1830); lúc ấy nhà Vua đã 40 tuổi và có lẽ nhân lúc thái hòa cũng nhưđã trải qua thời kỳ xây dựng cung thành rồi; nên nhà Vua và các Bộ mới có thì giờ để đi sâu vào công việc nội trị của triều đình; trong đó có liên quan về vấn đề Tôn Giáo; nhất là các ngôi chùa do Hoàng Tộc xây dựng và cử Tăng Sĩ đến trụ trì.

Sau khi an định mọi việc tại chùa Linh Mụ rồi. Ngài Thiệt Thành-Liễu Đạt nhận được một chiếu chỉ của vua ban xuống nội dung như sau:

“Nay mọi việc đã ổn định nơi Quốc Tự Linh Mụ, Trẫm mong muốn Thiền Sư Thiệt Thành-Liễu Đạt đang trụ trì bổn tự, kiêm nhiệm việc thuyết pháp cho nội cung của Trẫm. Đây là tấm lòng thành của các cung nhân của Trẫm và ngay cả Trẫm cũng có ý mong đợi như vậy”.

Gia Long năm thứ 15 (1817) Tiết Mạnh Xuân, ngày tốt.

Nhận được “chiếu chỉ” của vua lần nầy Thiền Sư Thiệt Thành-Liễu Đạt càng lo lắng thêm hơn. Vì lẽ tại Kinh Đô không thiếu người tài giỏi, đức hạnh; nhưng vì Vua Gia Long tánh đa nghi nên mới tứ ân riêng cho mình cũng như cho chư Tăng miền Nam như thế. Càng nghĩ Ngài càng không vui; nhưng biết sao hơn. Vì đây là “Sắc Lệnh” của vua ban. Ai dám cãi lệnh trong lúc nầy.

Ngồi nơi Phương Trượng đường của chùa Linh Mụ, Thiền Sư Thiệt Thành-Liễu Đạt thảo một thư bằng tiếng Việt để dâng lên Vua Gia Long như sau:

“Phương Trượng đường ngày... tháng... năm 1817

Muôn tâu Thánh Thượng

Nhận được chiếu chỉ của Thánh Hoàng, bần Tăng nầy thay vì hớn hở mừng vui, lại sanh tâm lo lắng. Do những duyên cớ như sau:

Trách nhiệm Tăng Cang và Trụ Trì Linh Mụ tựđã là một trách nhiệm quá nặng nề đối với bần Tăng rồi. Nay Hoàng Thượng còn ban ân cho thêm việc thuyết giảng trong nội cung, quả là “lực bất tòng tâm”; nhưng biết nói sao hơn nữa. Vì Thánh Thượng và nội cung đã có hảo ý như vậy.

Điều bần Tăng lo ngại là nhiều người sẽ dị nghị. Tại sao Thánh Thượng quá ưu đãi những Tăng Sĩ thuộc vùng Sài Gòn Gia Định mà không lưu tâm đến những bậc cao Tăng Thạc đức đương thời ở chốn Kinh Kỳ nầy. Đó là nỗi lo thứ hai của bần Tăng vậy.

Theo lệnh Bệ Hạ mỗi tháng bần Tăng giảng kinh thuyết pháp tại nội cung đến 8 lần. Vậy bần Tăng xin chọn những ngày trai giới để đến Hoàng Cung như các ngày 14, rằm; ba mươi, mồng một; mồng tám, hai mươi ba và ngày 24 cũng như 28 theo âm lịch. Nhưng xin cho bần Tăng trở về lại chốn Già Lam sau khi đã thuyết giảng Phật Pháp tại cung nội.

Những kinh điển căn bản, bần Tăng đã giảng rõ cho cung nhơn ở Gia Định rồi. Bây giờởđây bần Tăng thiết nghĩ sẽ giảng về kinh nhơn vương hộ quốc, kinh Thắng Man để cung nhơn có thể rõ hơn về việc nhập thế của Đạo Phật. Cuối cùng là bộ kinh Kim Cương Bát Nhã Ba La Mật, bần Tăng sẽ cố gắng giảng giải tỏ tường.

Kính nguyện Thánh Hoàng gia ân chiếu giám.

Khải bạch.

Trụ Trì Thiên Mụ Quốc Tự

Sa Môn Thiệt Thành - Liễu Đạt.

Xem xong thư được đệ trình qua Bộ Lễ, Vua Gia Long rất vừa lòng. Vì lẽ Thiền Sưđã chấp thuận lời Dụ của Vua và sự mong cầu của Cung Nội. Từ Thái Hậu cho đến Hoàng Hậu, các Công Chúa và ngay cả Thái Tử Đảm; năm 1817 cũng đã 26 tuổi rồi; nên ai ai cũng mong gặp lại Thiền Sư Thiệt Thành-Liễu Đạt trong những giờ nghe pháp.

Đây là lần đầu tiên giảng pháp tại Hoàng Cung triều Nguyễn; nên Ngài Thiệt Thành-Liễu Đạt đã chọn “Kinh Thắng Man” để giảng cho Nội Cung của Vua Gia Long. Hôm đó vào ngày mồng một tháng sáu năm 1817. Thiền Sư bắt đầu.

Vâng lệnh của Hoàng Thượng, bần Tăng Liễu Đạt đến cung son nầy. Trước là vấn an Thánh Thượng. Kính chúc Thánh Hoàng sống lâu trăm tuổi. Kính chúc Thái Hậu, Hoàng Hậu và các Công Chúa là những bậc mẫu nghi của thiên hạ và là chỗ nương tựa cho muôn dân được vạn sự kiết tường.

Kể từ khi chiếc nhung y của Nguyễn Vương đã thấm bụi đường xa và chiến thắng được nội thù, Ngài lên ngôi Hoàng Đế. Đây là nỗi vui khó tả của bần Tăng cùng quốc dân trăm họ; nhưng kể từ năm 1802 đến nay (1817) bần Tăng chưa đủ duyên lành để gặp lại Hoàng gia. Nay do Thánh Thượng gia ân mà bần Tăng nầy được về trụ trì Quốc Tự Linh Mụ, lại thêm cái phước lớn là được diện kiến Hoàng Triều cũng như dùng giáo pháp của Đức Phật để làm thăng hoa trong cuộc sống; nên đây là lý do chính để lâm triều và được đặc ân của Thánh Thượng để đến hậu cung nầy, gặp gỡ chư vị.

Hoàng Thái Hậu Hiếu Khương tỏ bày trước:

Kính bạch Ngài!

Thật là một vinh hạnh cho Hoàng gia. Trong lúc lâm nguy, trên đường bôn tẩu, tìm cái sống, trốn cái chết ở Sài Gòn Gia Định trong những năm Tây Sơn và ngay cả sau khi về quê nhà để chuẩn bị dựng lại cơ nghiệp của Tiền Nhân, Hoàng Nhi (ý Thái Hậu ám chỉ Vua Gia Long) cũng đã cùng thê triền tử phược nương náu ở cửa chùa Khải Tường; nơi Ngài đương kim Trụ Trì, đã phải chịu bao gian lao khổ nhọc, bao cay đắng của tình đời; nhưng Ngài chẳng hé môi than thở. Lại đến lúc Hoàng Tôn (tức Vua Minh Mạng) sau nầy cũng mở mắt chào đời tại chùa Khải Tường vào năm 1791. Tất cả đều do một tay Ngài lo lắng sắp đặt. Ơn ấy Hậu nầy chẳng bao giờ quên được

Hoàng Hậu, vợ Vua Gia Long, tiếp lời:

Đúng như Mẫu Hậu đã quan hoài. Thật ra trong những cơn thập tử nhất sinh ấy mà không có mái chùa Từ Ân, Khải Tường và Đại Giác chở che thì cả cung nhơn nhà Nguyễn giờđây đâu còn nữa. Thật là Đức Phật từ bi và Ngài, chính Ngài mới đích danh là một vị Bồ Tát, vì đời quên mình và nguyện thay thế cho chúng sanh, thọ bao nhiêu khổ nạn, như trong Kinh Đại Bát Nhân Giác, Đức Phật đã dạy.

Hoàng Cô (em ruột Vua Gia Long) muốn yên lặng ngay từ đầu; nhưng gặp lại người xưa, trong lòng của Hoàng Cô như trỗi dậy một nỗi niềm khó tả, nửa như trách móc, nửa như van nài. Đoạn Hoàng Cô mở lời:

Kể ra thì ơn nghĩa đã vẹn toàn. Nhà Chúa sau khi lên ngôi Vua đã không quên sót một người nào đã cứu mạng khi lâm nguy trên đường bôn tẩu; nhưng sao ta cảm thấy như kẻ thi ân hay vô tình trước những nghĩa cử cao đẹp của Hoàng Triều và lơ là nơi trách nhiệm...

Hoàng Cô mới nói đến lời đó đã bị Hoàng Thái Hậu Hiếu Khương và Hoàng Hậu chận lời. Bảo Hoàng Tử Nguyễn Phước Đảm lên chào Đại Sư. Lần lượt những Công Chúa và Cung Phi đã ra mắt nhân ngày gặp gỡ đầu tiên ấy.

Kế tiếp Thiền Sư Liễu Đạt lên tiếng:

Bần Tăng nầy xin nhận tất cả những lời trách móc, hay ngay cả sự khen chê. Vì lẽ “tất cả chỉ là những hiện tượng”. Vì được thì khen, mất thì chê. Đó là chuyện thường tình của nhân thế lâu nay là vậy; nhưng bần Tăng nầy vốn tu Thiền và hành trì theo Pháp môn niệm Phật; nên tất cả mọi ý niệm đều dẫn về không. Có như thế tâm nầy mới tự tại được.

Hôm nay bần Tăng muốn gởi đền chư vị những mẩu chuyện năm xưa, khi Đức Phật còn tại thế. Chuyện kể rằng:

“Thắng Man Phu Nhân là con gái của Vua Ba Tư Nặc ở nước Xá Vệ thuộc về miền Trung nước Ấn Độ. Mẹ của bà là Phu Nhân Mạt Lợi. Bà là người rất thông minh, mẫn tiệp, là vợ của Vua Hữu Xứng nước A Du Xà (Ayodhyà). Do ảnh hưởng của cha mẹ; nên bà quy y Phật rất sớm. Kính lễ tán thán Đức Như Lai và được thọ ký thành Phật trong tương lai, hiệu là Phổ Quang Như Lai.

Bà từng được Phật lực gia bị tuyên thuyết kinh Thắng Man Sư Tử Hống Nhất Thừa Đại Phương Tiện Phương Quảng. Sau bà lại nói Pháp Đại Thừa cho vua Hữu Xứng nghe và cùng với vua hợp lực giáo hóa dân chúng ở trong nước ...”

Các Thái Tử và Công Chúa, kể cả Thái Hậu và Hoàng Hậu khi nghe xong câu chuyện nầy rồi, tự nghĩ đến thân mình đã làm gì cho Phật Giáo và có thể làm gì cho Đạo Phật tại xứ Đại Việt nầy để nối bước Thắng Man Phu Nhân của xứẤn Độ ngày ấy chăng?

Một Công Chúa dang tay lên hỏi:

Bạch Ngài! Nếu vậy, người nữ cũng có khả năng thành Phật chăng?

-Thưa vâng. Vì tất cả chúng sanh đều có Phật tánh. Đức Phật đã từng dạy như vậy. Ngài Liễu Đạt trả lời.

Một Công Chúa khác tiếp lời:

Bà Thắng Man Phu Nhân nhờ cha mẹ là Vua Ba Tư Nặc cùng Hoàng Hậu Mạt Lợi kết duyên với Tam Bảo sớm nên đã biết xử thế và giúp chồng mình là Vua Hữu Xứng dùng tinh thần Phật dạy để cai trị muôn dân. Vậy đất nước chúng ta có thểứng dụng điều ấy được chăng?

-Dĩ nhiên là được. Hoàng Thái Hậu trả lời thế cho Thiền Sư Liễu Đạt. Nhưng liệu trong triều ca. Vì Phụ Hoàng con vốn tin Phật từ thuở nhỏ; nhưng cai trị dân nước thì hướng theo Nho gia; còn Phật Pháp dường như...

Hoàng Thái Hậu Hiếu Khương chưa hết lời thì Hoàng Hậu Thuận Thiên tiếp:

- Kính tâu Mẫu Hậu! Theo con nghĩ: Phật, Nho hay Lão. Tam Giáo ấy vẫn quy về một mà thôi. Tất cả đều muốn cho con người tránh dữ làm lành và cái nhơn từ phước đức vẫn là điều căn bản vậy.

Hòa Thượng Thiệt Thành-Liễu Đạt nói tiếp:

Thật ra ý kiến của chư vị không có ai sai cả, mà cũng chưa có ý nào đúng hẳn với giáo lý Trung Đạo của Phật Giáo Đại Thừa. Vì lẽ trong cái nầy có cái kia, trong cái kia lại có cái nầy. Đó cũng là pháp nhơn duyên sanh của Phật Giáo.

Con của Vua Gia Long tức là Thái Trưởng Công Chúa Long Thành, người đã từng quy y với Thiền Sư Liễu Đạt-Thiệt Thành, thủ tọa chùa Từ Ân năm xưa; nay gặp lại, Công Chúa rất vui mừng và cũng đã góp lời.

Phàm là đấng quân vương. Ngoài việc đem luật trời ra trị nước, ắt phải lấy dân làm chuẩn mực. Nếu không có dân thì Vua cũng khó mà tồn tại. Ởđây nhờ Phật lực từ bi mà Bà Thắng Man đã nói được kinh “Thắng Man Sư Tử Hống”. Vậy ý nghĩa của Kinh nầy ra sao. Kính mong Ngài tiếp tục giảng cho.

Thiền Sư thấm giọng bằng ngụm nước trà và tiếp:

“Kinh Thắng Man tiếng Phạn gọi là: Srimala – simka

– nada – sutra. Nếu nói cho đủ, phải gọi là: Thắng Man Sư Tử Hống Nhất Thừa Đại Phương Tiện Phương Quảng Kinh. Cũng gọi là Sư Tử Hống Kinh. Thắng Man Sư Tử Hống Kinh. Sư Tử Hống Phương Quảng Kinh. Thắng Man Đại Phương Tiện Phương Quảng Kinh.

Nội dung Kinh nầy nói về việc Phu nhân Thắng Man lập 10 Đại Thệ nguyện; 3 Đại nguyện trước Đức Thế Tôn, đồng thời lại nói pháp môn Nhất Thừa của Đại Thừa giải thích rõ Thánh Đế, Pháp thân Như Lai Tạng... Kinh nầy chủ trương Tam Thừa quy về Nhất Thừa của Đại Thừa. Được nhất thừa tức là được pháp thân. Chúng sanh tuy bị phiền não trói buộc; nhưng bản tính của chúng sanh thì vẫn thanh tịnh, đồng với Như Lai. Cho nên có đầy đủ tính Như Lai. (Phật tánh, Như Lai tạng). Vì lấy Như Lai Tạng làm nền tảng, nên dù có ở trong thế giới sanh tử luân hồi cũng có khả năng đạt được Niết Bàn. Tư tưởng nhất thừa của kinh nầy chính là sự thừa kế kinh Pháp Hoa mà trở thành trọng điểm của Phật Giáo Đại Thừa.

Điểm đặc sắc của kinh nầy là ở chỗ dùng người nữ tại gia nói pháp; cho nên cùng với “Kinh Duy Ma” do Cư Sĩ Duy Ma Cật nói đều là những tác phẩm đại biểu cho Phật Giáo tại gia của Phật Giáo Đại Thừa...

Toàn kinh chia ra làm 15 chương. Đó là: Như Lai chân thực công đức, Thập Trụ, Tam nguyện, Nhiếp thọ, Nhất thừa, Vô biên Thánh Đế, Như Lai Tạng, Pháp thân, Không nghĩa ẩn phú chân thật, Nhất đế, Nhất y, Điên đảo chân thực, tự tánh thanh tịnh, chân tướng và Thắng Man... (Phật Quang Đại TựĐiển – Hòa Thượng Thích Quảng Độ dịch, trang 5326).

Như vậy bạch Ngài. Như Lai Tạng và Phật tánh có khác nhau chăng? Một vị Công Chúa khác hỏi.

-Thật ra thì đó là một cách nói. Chứ Như Lai Tạng không khác với Phật tánh. Trong kinh Kim Cang Đức Phật dạy rằng:

“Như Lai giả vô sở tòng lai, diệc vô sở khứ, cố danh Như Lai”.

Nghĩa là: Như Lai chẳng từđâu đến và chẳng đi về đâu. Đó gọi là Như Lai vậy.

Bản tánh trạm nhiên ấy chúng sanh nào cũng có. Dầu cho tu sĩ hay cư sĩ. Người nào sớm hoán cải được đám mây mù của tâm thì đèn huệ sẽ sáng tỏ.

Kính thưa chư vị bây giờ cũng đã sắp đến giờ Ngọ rồi, tôi xin cáo từ để trở về bổn tự, kẻo Tăng Chúng trông chờ.

Hoàng Thái Hậu Hiếu Khương tỏ vẻ muốn hỏi thêm và sự liên hệ giữa Vua Ba Tư Nặc cũng như Vua Tỳ Lưu Ly giết hại dòng họ Thích Ca; nhưng không còn thì giờ nữa và Thái Hậu đã mời Ngài thượng đường để dùng Ngọ Trai, thay vì về lại chùa Linh Mụ như Ngài đã dự định.

Sau ngày thuyết pháp tại Hoàng Cung, Thiền Sư Thiệt Thành-Liễu Đạt về lại Phương Trượng đường của chùa Linh Mụ; nhưng Ngài có vẻ không vui. Thị Giả gạn hỏi lắm thì Ngài mới nói:

“Quả thật người tu hành không nên nương nơi những bậc Đế Vương quyền quý. Tuy họ có đạo tâm đấy; nhưng nếu chúng ta cứ liên hệ như thế nầy thì chắc rằng lời nhắc nhở của Lão Bà trong giấc mộng khi ta lên Kinh, không chừng lại có lý. Chắc là ...

Ngài nói rồi bỏ dở câu nói nửa chừng, khiến cho Thị Giả Mật Đỉnh cũng ngẩn ngơ, chẳng biết đâu mà đoán. Thế rồi vào một buổi tối, khi chuông chùa Thiên Mụđã điểm xong, Ngài kêu Thị Giả vào phòng và hỏi.

Nầy con! Có khi nào con thắc mắc tại sao ta vẫn đi lại giữa chốn Hoàng Cung chăng?

-Bạch Thầy! Con không dám. Vì đó là hạnh nguyện của Thầy.

Nhưng có bao giờ con đã thấy ai lên đến bậc Cao Tăng Đại Đức còn vướng nợ trần duyên chăng?

-Bạch Thầy! Đọc lịch sử Phật Giáo Trung Hoa, Nhật Bản... con thấy không thiếu điều ấy.

Nghĩa là ...

-Nghĩa là: Nếu nợ trần duyên chưa dứt thì dầu cho một bậc chân tu, đạo hạnh cũng khó thoát qua nổi chiếc cầu ái ân trong muôn vạn kiếp đã nối từ quá khứ cho đến hiện tại và mãi về sau nữa. Nếu vịấy không cố tình cắt đứt từ bây giờ.

Ngay bây giờ?

-Bạch Thầy đúng vậy.

Thầy cám ơn con và hãy về liêu ngơi nghỉ, chờ hôm khác ta có việc sẽ nói thêm cho con nghe.

Đến ngày mồng 8 tháng 6 năm 1817, Vua Gia Long và Bộ Lễ lại cho xe ngựa đỗ trước cổng chùa Thiên Mụ thật sớm để đón Thiền Sư Thiệt Thành-Liễu Đạt về cung, tiếp tục giảng pháp.

Hôm ấy Thuận Thiên Hoàng Hậu, vợ Vua Gia Long, nhắc lại câu chuyện hôm trước mà Hiếu Khương Hoàng Thái Hậu đã hỏi; nhưng Ngài Thiệt Thành-Liễu Đạt chưa trả lời.

Sau khi thăng tòa, Ngài niệm Phật 3 lần cầu gia bị và tiếp.

Hôm nay bần Tăng xin tiếp tục trả lời câu hỏi của Hoàng Thái Hậu hôm trước, để Đại Chúng được nghe.

“Vua Ba Tư Nặc tiếng Phạn gọi là Prasenajit; tiếng Pali gọi là: Pasenadi. Dịch ý là Thắng Quân Vương (nghĩa là đánh đâu thắng đó). Ngài là Vua nước Kiều Tất La (Kausala) thuộc Trung Ấn Độ, cùng thời đại với Đức Thế Tôn. Vua ở thành Xá Vệ (Sâvasti); là nhà ngoại hộ lớn của giáo đoàn thời Đức Thế Tôn, kiêm lãnh nước Ca Thi (Kasi) là một đại cường quốc ngang hàng với nước Ma Kiệt Đà.

Căn cứ theo Kinh Tăng Nhứt A Hàm quyển thứ 26 chép rằng: Khi Đức Như Lai thành đạo chưa bao lâu, Vua Ba Tư Nặc lên ngôi, muốn cưới con gái dòng họ Thích làm vợ, Ma Ha Nam (Mahanama) thuộc dòng Thích Ca, bèn chọn một người tỳ nữ gả cho, nhà Vua lập làm đệ nhất phu nhân, sinh được người con trai đặt tên là Tỳ Lưu Ly (Vidudabha).

Nhà vua lúc đầu bạo ác, không tin; nhưng sau khi quy y Phật, nhờ Phật luôn giáo hóa; nên dốc lòng tin tưởng Phật Pháp, từng cùng với Phu nhân Mạt Lợi vấn đáp và rút ra được kết luận là: “người ta ai ai cũng tự yêu mình cả”. Về sau, thỉnh ý Đức Thế Tôn chỉ giáo và cuộc đối thoại của Ngài, cho đến nay vẫn còn được biết ở đời... (Sách đã dẫn trang 222).

Thuận Thiên Hoàng Hậu nghe xong câu chuyện có vẻ đăm chiêu; và Thái Trưởng Công Chúa hỏi tiếp:

Thưa Ngài. Như vậy thì Thắng Man Phu Nhân và Tỳ Lưu Ly là hai anh em ruột. Mặc dầu họ là con của một tỳ nữ dòng họ Thích Ca; nhưng họ vẫn là những người Phật Tử hiểu đạo. Tại sao ra nông nỗi ấy?

Thiền Sư Thiệt Thành-Liễu Đạt chậm rãi trả lời: Vì oan oan tương báo ấy thôi. Khi Ma Ha Nam gả Mạt Lợi Phu Nhân cho Vua Ba Tư Nặc, có ý trêu chọc nhà vua ấy chẳng xứng đáng gì với dòng dõi họ Thích; nên đã đem một tỳ nữ gả cho. Tuy nhà Vua không kiêng cữ việc nầy; nhưng đến khi Tỳ Lưu Ly lên làm Vua, muốn rửa cái nhục quốc thể, nên đem quân giết hại hết tộc họ Thích Ca. Dầu cho lúc ấy Ngài Mục Kiền Liên có đau xót; Đức Phật có khuyên can cạn lời; nhưng những gì thuộc về định nghiệp thì không thể không trả được. Do vậy cho nên...

Hoàng Cô, em Vua Gia Long, ngồi nơi cửa sổ thêm vào:

Bởi thế, trần duyên chưa dứt, thì dầu cho có đứng ở vị trí nào; ngồi ở ngôi vị nào cũng không trốn khỏi cái dị nghị của người đời chăng?

Thái Trưởng Công Chúa cảm thấy em mình hôm nay nghe pháp xong, sao có những tư tưởng lệch lạc, bèn hướng câu hỏi về việc khác.

Bạch Ngài! Không biết việc trông coi chùa Linh Mụ có gì nhọc nhằn chăng? Dẫu cho Phụ Vương (chỉ cho Vua Gia Long) đã cắt đặt người chu đáo; nhưng chắc rằng không tránh khỏi sự khiếm khuyết nơi cửa Thiền.

Kính thưa Công Chúa! Bần Tăng nầy vốn xuất thân từ chốn dân giả, đã chịu cực khổ từ lúc mới vào chùa. Ngày đêm hầu hạ Bổn Sư và sau khi Sư Phụ viên tịch đã nhận Thiền Sư Linh Nhạc-Phật Ý làm Thầy, chưa bao giờ dám thở than một điều gì. Nay được sự gia ân của Thánh Thượng và Hoàng Triều như vậy trong 4 ân nặng của người tu hành cưu mang, không biết bao giờ mới trả hết, làm sao trách móc được.

Năm 1805 khi Thái Trưởng Công Chúa trên đường về lại Phú Xuân, Thiền Sư Thiệt Thành-Liễu Đạt đã nhờ Công Chúa trùng tu lại chùa Quốc Ân và Công Chúa đã cúng vào đó 300 quan tiền. Vì chùa Quốc Ân từ năm 1817 đến năm 1835 do Thiền Sư TổẤn-Mật Hoằng (1735-1835) làm Tăng Cang và trụ trì tại đó. Cũng như Linh Mụ trước đây Ngài TổẤn-Mật Hoằng đã trụ trì tại chùa Đại Giác Biên Hòa; nơi đó Ngài Thiệt Thành-Liễu Đạt đã tu học và xuất thân. Đây là sợi dây vô hình đã kết chặt giữa các Thiền Sư thuởấy và nội cung của Gia Long Nguyễn Ánh.

Phải công tâm mà xét; nếu không có Hoàng Thái Hậu Hiếu Khương, Hoàng Hậu Thuận Thiên, Thái Trưởng Công Chúa, Hoàng Cô v.v... thì những ngôi chùa tại Huế khó bề mà được xây dựng. Đây là do sự to nhỏ tại hậu cung của các bà Hoàng tin Phật mà đã làm cho vua quan động lòng. Suy nghĩ như vậy; cho nên Ngài Thiệt Thành¬Liễu Đạt muốn giảng giải cho họ bộ kinh “Nhân Vương Hộ Quốc” để không những cho Hoàng Hậu và nhà Vua, mà nhất là Thái Tử Nguyễn Phước Đảm khi lên ngôi, căn cứ theo đó mà lập thân, lâp đức để lại cho đời.

Đến ngày 14 tháng 6 năm 1817 Ngài Thiệt Thành¬Liễu Đạt đã bắt đầu giảng đến kinh “Nhân Vương Bát Nhã Ba La Mật”. Kinh nầy cũng còn gọi là Nhân Vương Hộ Quốc Bát Nhã Ba La Mật Kinh; Nhân Vương Bát Nhã Ba La Mật Hộ Quốc Kinh; Nhân Vương Bát Nhã Kinh, Nhân Vương Kinh.

Kinh gồm 2 quyển do Ngài Cưu Ma La Thập dịch ra chữ Hán vào đời Diêu Tần, được thu vào Đại Chánh (TânTu Đại Tạng Kinh) tập thứ 8.

Kinh nầy được chia ra làm 8 phẩm: Phẩm tựa, phẩm Quán không, phẩm Bồ Tát giáo hóa, phẩm Nhị đế, phẩm Hộ quốc, phẩm Tán hoa, phẩm Thọ trì và phẩm Chúc lụy.

Nội dung Kinh nầy Đức Thế Tôn nói cho 16 vị Đại Quốc Vương nghe về hạnh giữ gìn Phật, Thập Địa và nhơn duyên giữ gìn đất nước và nếu giảng nói, thọ trì kinh nầy cùng với Kinh Pháp Hoa; Kinh Kim Quang Minh là ba bộ kinh hộ quốc; khi tu pháp hội Nhân Vương thì tụng 3 bộ kinh nầy... (sách đã dẫn trang 3624).

Dĩ nhiên Ngài Thiệt Thành-Liễu Đạt không phải chỉ giảng tổng quát về đề kinh, mà trong bao nhiêu năm trời, kể từ khi Vua Gia Long còn sống (1817) đến khi nhà Vua băng hà (1820); rồi Minh Mạng lên ngôi từ năm 1820 đến năm 1823, khi Ngài Thiệt Thành-Liễu Đạt còn ở tại Kinh Thành Huế, Ngài đã tiếp tục giảng giải những bộ kinh nầy cho nội cung và các Hoàng Tử nghe. Cuối cùng là bộ kinh Kim Cang Bát Nhã Ba La Mật, Ngài phải tốn cả năm trời mới giảng xong bộ kinh cao quý nầy.

Danh từ Liên Hoa Hòa Thượng chính là do Vua Minh Mạng ban cho Ngài Thiệt Thành-Liễu Đạt. Vì Vua Minh Mạng quá phục tài lẫn đức của vị Thầy đã cưu mang mình từ lúc mới sinh ra tại chùa Khải Tường Sài Gòn từ năm 1791 tới nay.

Đa phần những kinh văn do Đức Phật nói đều tuần tự gồm những điểm chính như: thời gian, nơi chốn, số người đến nghe pháp. Sang phần nội dung nói rộng về mục đích của kinh văn và phần cuối là tán thán, thọ trì và giao phó. Kinh nầy chủ yếu nói cho các vua chúa nghe; cho nên Đức Phật nói nhiều về phẩm Nhị Đế và phẩm Hộ Quốc. Nhị Đế nói cho đủ là: Thế đế và Chơn đế. Hay còn gọi là Tục Đế và Đạo Đế. Đạo ở giữa đời. Đạo chẳng khác đời là mấy. Người nào liễu được Đạo, sẽ nhìn Đời bằng con mắt “không” và chẳng có gì để nói về sự đến, sựđi; việc còn hay mất.

Trong thời gian Hòa Thượng Liễu Đạt hoằng hóa ở Kinh Đô Huế vào khoảng năm 1821 thì Hòa Thượng Phật Ý-Linh Nhạc (Thầy y chỉ của Ngài) đang ở chùa Từ Ân Sài Gòn nói với đệ tử là Thiền Sư Viên Quang-Tổ Tông trụ trì chùa Giác Lâm là Hòa Thượng lo cho Sư Liễu Đạt không tránh khỏi mối dây ràng buộc của nghiệp trần duyên; vì Liễu Đạt có tướng hảo, có tài thuyết giảng và khoa ăn nói, lại giảng giải trong nội cung, gần nhiều giới nữ sắc quyền quý.

Đó có lẽ là những lời trăn trối cuối cùng của Thầy mình trước khi Ngài Phật Ý-Linh Nhạc về cõi Tây Phương. Những nỗi lo của Ngài cũng đúng. Vì từ khi rời Sài Gòn năm 1817 để ra Kinh; cho đến nay đã 3, 4 năm rồi; thế mà vẫn bặt vô âm tín. Tuy Ngài Linh Nhạc-Phật Ý biết rõ sự thanh tịnh giữ giới của người học trò y chỉ của mình; nhưng những gì Ngài tâm sự với Hòa Thượng Viên Quang-Tổ Tông cũng chẳng phải là điều phi lý.

Những ngày sắp theo Phật về Tây, lòng dạ tâm cang của Ngài Linh Nhạc-Phật Ý bồi hồi; nhưng chẳng biết làm sao nhắn lại với người đệ tử y chỉ thân thương của mình có lẽ sắp lâm nạn; nên Ngài kêu đệ tử Thị Giả viết lại những dòng chữ nầy và nhờ cậy có ai đó về Kinh thì hãy trao cho Ngài Thiệt Thành-Liễu Đạt.

Thơ rằng: Gia Định thành ngày tốt, tháng Xuân năm 1821 Thư gởi đến: Hòa Thượng Thiệt Thành-Liễu Đạt, Tăng Cang chùa Linh Mụ - Huế. Nầy con! Chắc Thầy chẳng còn bao lâu nữa sẽ theo Phật về

Tây. Lòng dạ Thầy lúc nào cũng nghĩ đến người học trò xa quê, xa Thầy Tổ. Dầu cho ngày nay con đã là Tăng Cang Hòa Thượng, đã được Vua chúa và bá quan trăm họ nể vì; đồng thời các Hoàng Hậu, Vương Phi cũng kính trọng, yêu quý con; nhưng con phải nhớ một điều: Ngày xưa khi Ngài A Nan làm Thị giả Phật; đã vì người nữ mà đã nhiều lần thưa thỉnh lên Phật để được xuất gia; nhưng Ma Đăng Già đâu có tha cho người đệ tử đẹp trai, tuấn tú ấy của Phật. Khiến cho Phật cũng đã lo lắng cho Ngài A Nan một thời như vậy.

Nay ta theo Phật xuất gia từ tấm bé; tuổi đã 97 rồi. Nghĩa là gần 100 năm ở nơi cõi thế. Ta đã chứng kiến không biết bao nhiêu nỗi oan nghiệt của cuộc đời. Cho nên ta lo ngại cho con lắm. Khi ta vắng bóng rồi; không biết đường Đời, đường Đạo có ai sẽ dõi bước theo con không? Hay chỉ có tung hô và chúc tụng. Ta chỉ sợ con khi danh vọng đã quá cao, không còn giữ gìn được tư cách của mình là một người xuất gia nữa, thì lúc ấy đã quá muộn màng.

Con ơi! Phải xem kỹ lại quyển “Cảnh Sách” của Ngài Quy Sơn-Linh Hựu để tự chế mình. Nghĩa là: Phàm là người xuất gia, phải có một phương trời cao rộng, tâm hình khác tục. Mục đích của người xuất gia là phải làm hưng long hạt giống Thánh. Bên trong thì chấn nhíp các loài ma. Nhằm để bên trên đền 4 ơn nặng, dưới cứu khổ 3 đường. Nếu chẳng được như vậy thì còn gì là kỷ cương của nhà Phật nữa”.

Đọc cho đệ tử viết đến đó cũng đã khá dài. Ngài Linh Nhạc-Phật Ý cáo mệt và bảo đệ tử ngày mai vào liêu để viết tiếp đoạn chót.

... Ta chỉ biết cầu nguyện cho con và khi nào con cảm thấy khó hành xử thì hãy mở lại hành trang ngày xưa trước klhi lên đường ra Kinh, Thầy đã gói bọc kỹ càng, con hãy mở ra xem.

Ta chào con.

Đó là những lời giã từ của Thầy mình mà mãi đến năm 1823; nghĩa là 2 năm sau khi Thầy mình viên tịch, mới có người ra Kinh và mang bức thư nầy trao tận tay cho Ngài Tăng Cang Thiệt Thành-Liễu Đạt.

Từ những năm 1817 đến năm 1823 Ngài đã giảng thêm Bồ Tát giới tại gia cho cung nhân, dựa theo Kinh Phạm Võng Bồ Tát giới và Kinh Ưu Bà Tắc giới.

Kinh Phạm Võng Bồ Tát giới do Đức Tỳ Lô Giá Na Phật tuyên thuyết và Đức Phật Thích Ca Mâu Ni tuyên nói lại dưới gốc cây Bồ Đề sau khi Ngài thành đạo. Đây được gọi là Đạo Tục thông hành giới. Nghĩa là giới dung thông cho cả người xuất gia và người tại gia. Bồ Tát xuất gia và Bồ Tát tại gia thực hành giới pháp nầy giống nhau và việc hành hạnh Bồ Tát đi vào đời để cứu độ chúng sanh cũng giống nhau.

Phạm Võng Bồ Tát giới có 10 giới trọng và 48 giới nhẹ. Ai thọ giới nầy phải phát tâm Bồ Đề, khởi tâm từ bi để giúp đỡ cho muôn loài. Trong đó có một giới là:

“Tất cả nam tử là cha ta, tất cả nữ nhơn là mẹ ta. Ta không ăn thịt chúng sanh. Vì ta không ăn thịt cha ta và mẹ ta”.

Đây là lý do chính, mà đa phần những người thọ Bồ Tát giới, đều ăn chay trường.

Tuy nhiên Đức Phật cũng đã mở ra nhiều phương tiện cho chúng sanh; nên cũng đã dạy cho kinh Ưu Bà Tắc. Tức là kinh Thiện Sanh. Ngoài năm giới căn bản của người tại gia ra, kinh nầy nói về 6 giới trọng và 28 giới nhẹ. Dĩ nhiên là không bị bó buộc nhiều như kinh Phạm Võng gồm 10 giới trọng và 48 giới nhẹ như bên trên. Dầu cho là Ưu Bà Tắc giới kinh hay Phạm Võng Bồ Tát giới đi nữa thì Đức Phật hay khuyên rằng: Những đấng quân vương trước khi lên ngôi, trị vì thiên hạ; nên thọ giới Bồ Tát để được lợi lạc quần sanh.

Trong lịch sử Phật Giáo nước nhà, chúng ta đã không thiếu những vị vua như vậy. Đó là Vua Trần Thái Tông của đời nhà Trần (1225); Vua Trần Nhân Tông, bỏ ngôi báu đi xuất gia (1296), hiệu là Điều Ngự Giác Hoàng và đã lập nên phái Trúc Lâm Yên Tử là Thiền Phái lớn thứ 4 tại Việt Nam chúng ta, có mặt trước cả Thiền Phái Tào Động và Lâm TếởĐàng Trong lẫn Đàng Ngoài trong thế kỷ thứ 17 và 18.

Đến cuối thế kỷ thứ 17, Chúa Nguyễn Phúc Chu, thọ Bồ Tát giới với Ngài Thạch Liêm Hòa Thượng ở Huế vào năm 1695, nối dòng Tào Động thứ 30 với pháp danh là Hưng Long và hiệu là Đạo Túng. Như vậy Vua quan, Hoàng hậu, Hoàng phi, Thái tử, Công chúa của nước Nam ta không biết tu sao? Nhưng vì vận nước mà Chúa Nguyễn Vương đã bao phen chìm nổi. Nay thì nước nhà đã thái bình độc lập rồi. Vua gia ân cho thiên hạ, mở trường học đào tạo nhân tài, rồi mở các khoa thi để chọn người tài giỏi ra làm quan; cho đến chùa chiền, cũng như các trai đàn bạt độ đều được mở ra khắp nước, đặc biệt là ở chốn Kinh Kỳ như chùa Linh Mụ, chùa Quốc Ân v.v... Đây là những công việc thực hành Bồ Tát hạnh, nhằm làm lợi mình và lợi người cũng như cứu khổ nhân sinh.

Thời nào cũng thế. Ngay cả lúc Đức Phật còn tại thế, với một Giáo Đoàn gồm 1250 vị Tăng Sĩ. Riêng chỗ ăn, chỗ nghỉ, chỗ tu niệm, học tập đã là một vấn đề rất lớn rồi. Đó là chưa nói đến những vấn đề khác phát sinh. Nếu có một đại thí chủ nào đó phát tâm cúng dường một bữa trai tăng thì cũng phải lo chuẩn bị trước đó cả tháng trời mới xong. Do vậy chỉ có những ông Vua, bà Hoàng hậu mới có đủ cơ hội và phương tiện để tổ chức những lễ lạc lớn như vậy. Đây cũng là công việc hộ trì Tam Bảo của các vị Bồ Tát tại gia vậy. Xuyên qua lịch sử truyền thừa của Phật Giáo, riêng Phật Giáo Việt Nam cũng không thiếu những hình ảnh cứu đời, giúp đạo như vậy. Cho nên đây cũng là cơ hội để cho Thiền Sư Thiệt Thành-Liễu Đạt giảng nghĩa rộng hơn. Để người phát tâm được hiểu thấu đáo việc làm phước của mình.

Một hôm giảng về năng lực của việc tu tạo phước đức, Ngài Liễu Đạt đã nói rằng: “Tất cả những công đức của quý vị gầy dựng được, dầu nhỏ như cây đèn dầu cúng Phật, cành hoa thơm chưng trên bàn hay nén nhang dâng lên các Ngài hay to lớn như xuất của kho để cúng vào chùa, lo tu bổ các tượng Phật; góp tiền để đúc chuông, ấn tống kinh sách v.v... giống như là những giọt nước mưa vậy. Những giọt nầy tuy nhỏ; nhưng khi đã chảy xuống mặt đất rồi thì sẽ trôi vào ao, vào hồ; tiếp đến chúng chảy vào biển cả mênh mông. Với đại dương vô tận ấy, tích chứa nhiều công đức; chắc hẳn không thiếu sự vun bồi cội phúc của quý vị...”.

Hôm nay Hoàng Thái Hậu Hiếu Khương, Hoàng Hậu Thuận Thiên, Thái Trưởng Công Chúa đều có mặt và rất vui khi nghe Hòa Thượng Thiệt Thành-Liễu Đạt giảng về việc tu tạo phước đức qua kinh Bồ Tát giới. Dĩ nhiên là không thiếu Hoàng Cô; người lúc nào cũng canh cánh bên lòng và nghe cũng như nhớ từng lời giảng của Hòa Thượng Thiệt Thành-Liễu Đạt không thiếu một chi tiết nào cả. Nhiều lúc Hoàng Cô về lại đơn phòng của mình chẳng chịu ngủ mà chong đèn đến khuya, không biết để làm gì; nhất là những đêm sau khi nghe Ngài Thiệt Thành-Liễu Đạt giảng kinh.

Đã vào cung nội giảng kinh đến 3 năm rồi thì Vua Gia Long băng hà. Do vậy Ngài Thiệt Thành-Liễu Đạt lợi dụng cơ hội nầy để giảng kinh Địa Tạng và nói về tội phước nhân quả báo ứng trong đời nầy và nhiều đời trước. Thỉnh thoảng Ngài vẫn chú ý đến những hành động của Hoàng Cô và một hôm Ngài cảm thấy theo linh tính có cái gì không ổn.

Thế rồi từ đó (1820) Ngài viện nhiều lý do khác nhau để không vào nội cung nữa. Vua Minh Mạng mới lên ngôi chưa ổn định mọi việc của Triều Đình nên cũng đã quên bẳng đi về việc thiếu vắng bóng dáng của Thiền Sư Thiệt Thành-Liễu Đạt. Một hôm nhà Vua cho gọi cung nhân vào hỏi.

-Trẫm lâu nay quên bẳng đi việc thuyết pháp tại nội cung của Thiền Sư Thiệt Thành-Liễu Đạt; không biết có ai để ý đến chăng?

- Muôn tâu Hoàng Thượng. Sau sự băng hà của Đức Thế Tổ (Vua Gia Long), vì Bệ Hạ (Vua Minh Mạng) mãi lo việc nước; ngay cả Thái Hoàng Thái Hậu; Hoàng Thái Hậu và các cung nhơn vẫn mãi đợi chờ.

-Tại sao chẳng ai cho ta hay việc ấy?

-Muôn tâu!

-Thôi được rồi, ta sẽ thảo Dụ và sai quân hầu mang lên chùa Linh Mụ trong sáng mai và trình báo kết quả cho ta rõ.

- Xin tuân lệnh.

Nội dung của tờ Sắc Dụ mà Vua Minh Mạng đã viết cho Thiền Sư Thiệt Thành-Liễu Đạt như sau:

Minh Mạng năm thứ 2, tháng mạnh Xuân, ngày tốt ...

Thư rằng:

“Trẫm vốn được sinh ra tại chùa Khải Tường ở Sài Gòn vào năm 1791, nơi Ngài đã làm Trụ Trì năm xưa. Nếu không có sự sắp đặt chu đáo của Ngài thuở ấy thì ắt ta cũng chẳng toàn thân.

Nay Phụ vương đã băng hà, còn ta lại mãi lo việc nước. Quên bẳng đi việc giảng kinh của Ngài nơi cung nội. Vậy với Sắc Dụ nầy, Trẫm mong Ngài hãy vì bổn phận “hành Bồ Tát hạnh” mà vào cung để Trẫm và nội cung được nhờ”.

Thủ ký.

Đó là bức thư mà Vua Minh Mạng đã gởi cho Ngài Thiệt Thành-Liễu Đạt vào năm 1821 – sau khi Vua Gia Long băng hà gần 2 năm. Suốt cả năm nầy lòng dạ Hòa Thượng Thiệt Thành-Liễu Đạt lúc nào cũng bồn chồn, khó tả; nhưng chẳng biết chuyện gì đã xảy ra; nên Ngài đã vào nơi Phương Trượng đường, theo lời dạy của Thầy mình là Ngài Linh Nhạc-Phật Ý năm xưa, cung kính mở gói hành trang ra, mà gói nầy từ năm 1817 Hòa Thượng Phật Ý đã dặn dò tỉ mỉ. Đây chính là lúc gói quà ấy phải được trang trọng mở ra.

Trước khi mở gói quà, Ngài Liễu Đạt đã đốt hương tưởng niệm và nhớ nghĩ về Thầy mình. Bỗng dưng mắt Ngài sáng rực lên, khi nhìn thấy trong gói quà ấy có gói quyển “Kim Cang Bát Nhã Ba La Mật Kinh”. Ngài liền đảnh lễ 3 lạy và ngồi xuống thiền sàn để quán chiếu tự thân. Ngài nghĩ rằng: Có lẽ đây là việc đúng thời, đúng lúc; chính ta phải hành trì kinh nầy để cho tâm ta khỏi giao động. Đồng thời, biết đâu, đây là liều thuốc hay để chữa cho các cung nhơn. Khi suy nghĩ như thế rồi, Ngài Thiệt Thành-Liễu Đạt quyết chọn kinh Kim Cang để giảng trong Hoàng cung của Vua Minh Mạng.

Hôm đó là ngày mồng một tháng bảy năm Minh Mạng thứ 2, nhằm năm 1821. Sau khi Thiền Sư an tọa nơi pháp tòa rồi. Ngài bắt đầu khai thị.

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật

Kính thưa Thái Hoàng Thái Hậu, Hoàng Thái Hậu, Hoàng Cô, Hoàng Hậu và chư vị cung nhơn.

Bần Tăng nầy xin cáo lỗi vì trong 2 năm qua đã không đến được chốn nầy vì nhiều lý do khác nhau; nhưng kể từ hôm nay cho đến những năm tháng về sau nữa, bần Tăng nầy sẽ cố gắng đến đây thường xuyên hơn trong những ngày Sóc Vọng và những 8 ngày trong mỗi tháng để giảng cho hết bộ kinh Kim Cang nầy.

Câu tuyên bố của Thiền Sư Thiệt Thành-Liễu Đạt chưa dứt, thì cả một hội trường, tiếng đáp “A Di Đà Phật” cùng một loạt vang lên như sấm dội tại chốn cung đình.

Kính thưa chư vị,

Bần Tăng sẽ đọc từng đoạn âm chữ Hán trong 32 đoạn của Kinh Văn và sẽ giảng ra tiếng Việt cho quý vị tường. Vì lẽ đây là một bản kinh tối thượng thừa, không phải ai nghe rồi cũng hiểu cả. Đức Phật đã chia đệ tử của Ngài ra làm 3 loại khi nghe Pháp. Đó là bậc Thượng căn, thượng trí; khi nghe Pháp xong liền giác ngộ, đắc quả. Kế đến là kẻ Trung căn, trung trí. Khi nghe xong rồi chưa hiểu; nên phải nhắc lại nhiều lần. Thứ ba là bậc Hạ căn, hạ trí. Khi nghe Pháp xong rồi chẳng hiểu gì hết, mà nếu có hiểu cũng còn hiểu sai nữa. Nhưng dầu trong điều kiện nào đi chăng nữa thì quý vị cũng nên lắng tâm để nghe và học hỏi được giáo lý nhiệm mầu nầy.

Thông thường trước khi tụng kinh đều có niệm hương bạch Phật và trì chú; nhưng hôm nay bần Tăng vào đề thẳng bằng 4 câu mở đầu của Hoàng Đế Võ Tắc Thiên như sau:

Vòi vọi sâu xa pháp nhiệm mầu
Trăm ngàn muôn kiếp dễ hay đâu
Con nay nghe thấy chuyên trì niệm
Nguyện tỏ Như Lai nghĩa nhiệm mầu.
Kinh Kim Cang Bát Nhã Ba La Mật

Đời Diêu Tần, Ngài Tam Tạng Pháp Sư Cưu Ma La Thập dịch từ chữ Phạn sang tiếng Hán.

Kinh tức là lời dạy của Phật. Kim Cang là loại kim loại hiếm quý. Bát Nhã là trí tuệ. Ba La Mật là qua bên kia bờ. Đây là một bản kinh của Phật nói ra bằng trí tuệ vững chắc, nhằm đưa con người qua bên kia bờ giải thoát, giác ngộ.

Ngài Cưu Ma La Thập sinh vào năn 344 và viên tịch năm 413. Có thuyết nói rằng Ngài sinh năm 350 và viên tịch năm 409. Tiếng Phạn gọi là Cứu Ma La Thập, Cưu Ma La Bà hay Câu Ma La Kỳ Bà. Nói tắt là La Thập. Chữ Thập dịch ý là Đồng Thọ; người nước Cưu Tư (Sở Lặc Tân Cương) đời Đông Tấn. Là một trong 4 nhà dịch kinh lớn của Trung Quốc. Cha mẹ Ngài đều xuất gia theo Phật, rất có đức hạnh. La Thập từ nhỏđã thông minh, bảy tuổi xin mẹ vào Đạo, sau Ngài đi du học nơi Thiên Trúc (Ấn Độ), tham vấn khắp các bậc tôn túc danh tiếng, nghe nhiều nhớ dai, nổi tiếng khắp năm xứ Thiên Trúc. Sau khi Ngài trở về nước, được Vua tôn làm Thầy. Phù Kiên nhà tiền Tần nghe danh đức của Ngài, sai tướng Lữ Quang đem quân đi rước. Lữ Quang đánh nước Cưu Tư thắng trận đón được La Thập; nhưng về đến nửa đường, nghe tin Vua Phù Kiên đã mất. Lữ Quang đóng quân lại ở Hà Tây và tự lập làm Vua. La Thập bị giữ lại Lương Châu 16, 17 năm. Mãi đến khi Diêu Hưng nhà Hậu Tần đánh bại họ Lữ, La Thập mới được đón về Trường An. Năm ấy là năm Long An th
ứ 5 (401) đời Đông Tấn. Vua Diêu Hưng tôn La Thập lên làm Quốc Sư, ở trong vườn Tiêu Dao chuyên việc dịch Kinh, có các vị Tăng Triệu, Tăng Nghiêm giúp đỡ.

Tháng 4 năm Hồng Thủy thứ 5 (403) đời Hậu Tần, La Thập lần lượt dịch được các Kinh Luận như. Trung Luận, Bách Luận, Thập Nhị môn luận (ba luận trên được gọi chung là Tam Luận), kinh Bát Nhã, kinh Pháp Hoa, Luận Đại Trí Độ, kinh A Di Đà, Kinh Duy Ma, luật Thập Tụng v.v... giới thiệu một cách có hệ thống học thuyết phái Trung Quán của Ngài Long Thọ. Về tổng số kinh luận do Ngài dịch có nhiều thuyết khác nhau: Xuất tam tạng ký tập, ghi 35 bộ, 294 quyển; Khai Nguyên thích giáo lục thì nói 74 bộ và 380 quyển.

Từ khi Phật Giáo được truyền vào Trung Quốc, kinh Phật được dịch ra chữ Hán mỗi ngày một nhiều; nhưng phần nhiều văn từ trúc trắc, ý nghĩa khó hiểu; đến La Thập thì vì Ngài thông hiểu nhiều thứ tiếng nước ngoài; nên nội dung các kinh điển do Ngài dịch vượt trội hẳn lên, lời văn ngắn gọn, trong sáng, dễ hiểu; cho mãi đến đời sau vẫn được coi trọng. Thời ấy, các bậc hiền tài từ bốn phương về theo Ngài, La Thập hết lòng tiếp dắt, đều được tỏ ngộ lý sâu xa. Suốt đời, La Thập dốc sức vào việc mở rộng pháp môn, phiên dịch các kinh điển Đại Thừa thuộc hệ Bát Nhã, và các luận của Trung Quán bộ thuộc hệ Long Thọ, Đề Bà. Những kinh luận do Ngài dịch đã có ảnh hưởng rất lớn đối với sự phát triển của Phật Giáo Trung Quốc. Trung luận, Bách luận, Thập Nhị môn luận do Đạo Sinh truyền bá ở Phương Nam, qua các vị Tăng Lãng, Tăng Thuyên, Pháp Lãng đến Cát Tạng đời Tùy mà tập đại thành tông Tam Luận; cộng thêm luận Đại Trí Độ nữa mà thành là học phái Tứ Luận. Ngoài ra kinh Pháp Hoa do Ngài dịch là đầu mối mở ra tông Thiên Thai,
luận Thành Thật là luận điển căn bản của học phái Thành Thật; Kinh A Di Đà và luận Thập Trụ Tỳ Bà Sa là những kinh luận y cứ của tông Tịnh Độ. Kinh Di Lặc thành Phật đẩy mạnh sự phát triển tín ngưỡng Di Lặc. Khi kinh Tọa Thiền Tam Muội được Ngài dịch ra đã nhanh chóng đưa đến sự lưu hành “Bồ Tát Thiền”. Nhờ kinh Phạm Võng mà Trung Quốc được truyền giới Đại Thừa, rồi luật Thập Tụng là tư liệu trọng yếu giúp cho việc nghiên cứu luật học.

Học trò của La Thập gồm những vị nổi tiếng như: Tăng Triệu, Đạo Sinh, Đạo Dung, Tăng Duệ, Đàm Ảnh, Tăng Đạo v.v... gây dựng thành hai học phái Tam Luận và Thành Thật. Vì thế La Thập cũng được tôn làm Tổ của Tông Tam Luận. Ngài hoạt động được 12 năm thì nhập tịch. Lúc ấy vào năm Nghĩa Hi thứ 9 đời Tấn. Ngài thọ 70 tuổi. Cũng có thuyết nói Ngài tịch vào năm Nghĩa Hi thứ

5. Lại cứ theo Lương cao Tăng truyện chép, thì vì Vua Diêu Hưng cho La Thập là bậc thông minh siêu phàm, không thể không có người nối dõi, nên nhà vua dùng 10 người con gái, ép Ngài phải nhận. Vua Hiếu Văn Đế nhà Nguyên Ngục từng đến Lạc Dương, sai sứđi tìm con cháu của La Thập để mời ra làm quan. Mãi đến đời Tùy, họ Cưu Ma ở Quang Trung còn có người hiển đạt, có thuyết cho đó là hậu duệ của La Thập. (Phật Quang Đại TừĐiển – Hòa Thượng Thích Quảng Độ dịch, trang 1143).

Nếu không có những bậc chân Tăng dịch giả như thế thì mãi đến ngày nay ngôn ngữ nào vẫn còn ở nguyên vị trí của ngôn ngữấy, làm gì có sự phát triển của các tông phái như ngày nay ở tại ngoại quốc nầy. Ân phiên dịch, chú giải kinh điển ấy là một trong những ân nặng của tứ ân vậy.

Đoạn thứ nhất: Nguyên do của Pháp Hội

“Ta nghe như thế nầy: Một hôm Đức Phật ở tại nước Xá Vệ; nơi vườn của ông Cấp Cô Độc và cây của Thái Tử KỳĐà cùng với các vị Đại Tỳ Kheo

1.250 người câu hội. Lúc ấy đến giờ ngọ trai, Đức Phật đắp y, mang bình bát vào đại thành Xá Vệ để khất thực. Ở nơi thành nầy, lần lượt xin rồi, trở lại nơi cũ. Thọ trai xong, Ngài cất y bát, rửa chân xong, trải tòa để ngồi”.

Đây là đoạn đầu tiên khi vào việc giảng kinh Kim Cang của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni thời ấy. Đoạn nầy diễn tả những việc làm bình thường hằng ngày của Đức Phật khi Ngài còn trú tại Tịnh xá Kỳ Viên ở nước Xá Vệ. Đây là một ngôi vườn lớn do Trưởng Giả Cấp Cô Độc cúng dường. Phần gốc cây không lát vàng được, thì Thái Tử KỳĐà dâng cúng cho Đức Phật.

Các bậc Đại Tỳ Kheo ở nơi ấy cùng Đức Phật; tức là những vịđa phần đã chứng quả A La Hán; các lậu tận đã hết. Ngôi vườn nầy ngày nay vẫn còn tại Bắc Ấn Độ; nếu có ai đó đi hành hương về xứ nầy sẽ được đặt chân đến đó. Thường thường Đức Phật và chư Tăng trước giờ Ngọ hay vào thành và xóm làng theo thứ lớp để đi khất thực, không phân biệt giàu, nghèo, nam, nữ, chủng tộc v.v... Đây là một hành động gần gũi, thân thiện để cho dân chúng dễ tiếp xúc và nhờ vậy họ có thể gieo trồng cội phúc về sau nầy.

Việc đầu tiên là đắp y lên người và mang bình bát vào vai. Cả 1.250 vị đều làm như vậy. Chỉ trừ những vị Trưởng Lão nào bị bệnh hoạn thì các vị Tỳ Kheo khác đi khất thực, về chia lại phần mình cho người ở Tịnh Xá. Ở đây nói vào thành có nghĩa là nơi cư ngụ của Đức Phật ở ngoài thành; nơi vắng lặng để Tăng Chúng dễ hành thiền và nghe pháp. Ở nơi thành Xá Vệấy Ngài và chư Tăng đi khất thực tuần tự từ lớn chí nhỏ. Từ nhà nầy qua nhà khác, đúng giờ và đầy bình thì về lại nơi đã xuất phát. Sau khi dùng cơm trưa xong, Ngài cho cất y bát và rửa chân xong, lại trải tòa để ngồi.

Rửa chân là tục lệ của người Ấn Độ, khi cung kính ai họ thường hay hôn chân người đó. Đức Phật là bậc Đại Đạo Sư chắc không tránh khỏi được việc ấy. Cho nên rửa chân là điều cần thiết. Vì đi khất thực chân trần, dễ dính bụi dọc đường; nên phải rửa chân trước khi thăng tòa thuyết pháp là vậy.

Đoạn thứ hai: Thiện Hiện thưa hỏi

“Lúc ấy Ngài Trưởng Lão Tu BồĐề ở trong Đại Chúng liền từ chỗ ngồi đứng dậy, bày vai áo bên mặt, gối mặt quỳ xuống đất, chắp tay cung kính mà bạch Phật rằng: Lành thay Thế Tôn! Như Lai khéo hộ niệm các vị Bồ Tát, khéo phó chúc cho các vị Bồ Tát. Bạch Thế Tôn! Người thiện nam, kẻ thiện nữ phát tâm vô thượng chánh đẳng chánh giác nên làm sao để trụ và làm sao hàng phục được tâm nầy?

Phật bảo: Lành thay! Lành thay! Nầy ông Tu Bồ Đề! Như chỗ ông nói: Như Lai hay hộ niệm cho các Bồ Tát; hay phó chúc cho các Bồ Tát; nay ông hãy lắng nghe cho kỹ, sẽ vì ông mà nói. Người thiện nam, thiện nữ phát tâm vô thượng chánh đẳng chánh giác nên như thế nầy mà trụ, như thế nầy để hàng phục tâm nầy! Xin vâng Thế Tôn! Con nguyện vui được nghe”.

Tu Bồ Đề tiếng Phạn gọi là Subhùti cũng gọi là Tu Bổ Để, Tu Phù Đế, Tẩu Phù Đế Tu, Phù Đế, Tu Phong v.v... Dịch ra chữ Hán là Thiện Nghiệp, Thiện Cát, Thiện Hiện, Thiện Thực, Thiện Kiến, Không Sanh...

Là một trong 10 vị Đại Đệ Tử của Đức Phật. Ngài vốn là con một gia đình Bà La Môn ở nước Xá Vệ, thuộc Trung Ấn Độ thời xưa, trí huệ hơn người, nhưng tính tình cấu ác hay sân hận; nên bị bạn bè thân thích chán ghét, bèn bỏ nhà vào sống trong rừng núi. Một hôm Thần Núi dẫn Ngài đến nơi Đức Phật. Đức Phật nói cho nghe về tội lỗi của sự sân hận, Ngài liền tự trách mình và sám hối lỗi lầm. Ngài sau đó chứng được quả Tu Đà Hoàn, rồi lại chứng quả A La Hán, là người hiểu lý không vào bậc nhất trong hàng đệ tử của Đức Phật. Ngài được khen là “giải không đệ nhất”. Trong các hội thuyết pháp, Ngài thường là chúng đương cơ của Đức Phật, thường thấy xuất hiện trong các kinh điển Bát Nhã. (trích sách đã dẫn trang 6473).

Trưởng Lão tức là bậc đạo cao, đức trọng trong hàng chúng Tăng. Ngài Tu Bồ Đề đang ngồi giữa Đại Chúng gồm 1.250 vị như thế, liền đứng dậy từ chỗ ngồi rồi bày vai áo bên tay mặt, gối mặt quỳ xuống đất, chắp tay cung kính bạch Phật. Đây là một trong những cử chỉ cung kính của người Ấn Độ lúc bấy giờ. Chư Tăng thường đắp y để vai phía bên tay phải trống và động tác quỳ xuống, rồi chắp hai tay lại là có ý muốn thỉnh Đức Phật một điều gì đó quan trọng. Đức Thế Tôn là bậc khó có trong đời. Vì Ngài hay giữ gìn các vị Bồ Tát, hay giao phó cho các vị Bồ Tát các việc trọng đại. Bạch Ngài: Người thiện nam, người thiện nữ khi phát tâm cầu đạo giác ngộ, giải thoát thì nên trụ như thế nào và hàng phục cái tâm nầy ra sao? Đây không phải là điều đơn thuần. Vì tâm không có hình tướng, lại chẳng sờ mó được, làm sao giữ lại nó ởđâu mà trụ. Khi nghe đến đó Phật lại bảo:

Lành thay! Nầy ông Tu Bồ Đề, như chỗ ông hỏi đó Như Lai lành giữ gìn các vị Bồ Tát và hay giao phó cho các vịấy. Vậy bây giờ ông nên lắng tai nghe kỹ, sẽ vì ông mà nói. Người thiện nam tử, thiện nữ nhơn khi phát tâm vô thượng chánh đẳng chánh giác thì nên trụ như vậy. Như thế mà hàng phục tâm nầy. Con xin lắng nghe.

Trụ như vậy là trụ như thế nào? Nghĩa là cái tâm ấy vốn không đến, không đi, không còn, không mất, như như bất động; nhưng vì chúng ta còn thấy và cảm nhận tâm kia có đến, có đi, có còn, có mất, ông mới hỏi làm sao để hàng phục nó.

Đoạn ba: Phần chánh tông của Đại Thừa

“Phật bảo ông Tu Bồ Đề! Các vị Bồ Tát Ma Ha Tát nên như thế mà hàng phục tâm nầy. Cho đến có tất cả các loài chúng sanh. Hoặc loài sanh bằng trứng; hoặc loài sanh bằng thai; hoặc có sắc; hoặc không hình sắc; hoặc có tưởng; hoặc không có tưởng; hoặc chẳng phải có tưởng; chẳng phải không có tưởng... ta đều làm cho tất cả đều vào được Vô Dư Niết Bàn, mà được diệt độ vậy. Sự diệt độ như thế vô lượng, vô biên, vô số chúng sanh mà thật ra không có chúng sanh nào được diệt độ cả. Vì sao vậy? Nầy Tu Bồ Đề! Nếu Bồ Tát còn có tướng ta, tướng người, tướng chúng sanh, tướng thọ giả, tức chẳng phải là Bồ Tát”.

Đại Thừa tiếng Phạn gọi là Mahayana. Dịch âm là Ma Ha Diễn Na, Ma Ha Diễn. Cũng gọi là Thượng Diễn, Thượng Thừa, Thắng Thừa, Đệ Nhất Thừa. Đối lại với Tiểu Thừa (Hinayana).

Chữ Đại có nghĩa là lớn, Thừa là cỗ xe. Cỗ xe lớn có thể chuyên chở nhiều người trong một lúc; còn cỗ xe nhỏ chỉ chuyên chở giới hạn với khả năng có thể có của mình.

Giáo Lý Tiểu Thừa là giáo lý căn bản của Đức Phật dạy khi Ngài còn tại thế. Giáo Lý Đại Thừa sau nầy Ngài Long Thọ cũng căn cứ nơi các kinh A Hàm, để phát triển giáo lý Trung Đạo của Đại Thừa. Sau nầy Phật Giáo được truyền vào Trung Hoa, Mông Cổ, Nhật Bản, Đại Hàn và Việt Nam thì tinh thần Đại Thừa càng ngày càng được phát triển mạnh hơn. Đây là phần ý chính của Đại Thừa, nên Đức Phật bảo Ngài Tu Bồ Đề rằng các vị Bồ Tát nên như thế mà hàng phục tâm nầy. Dẫu cho đó là loài chúng sanh nào trong 4 loại chúng sanh. Dẫu cho có hình tướng hay không; có tư tưởng hay không tư tưởng; hoặc chẳng có sự suy nghĩ hay chẳng phải chẳng có sự suy nghĩ v.v… Đức Phật đã khiến cho họ vào Vô Dư Niết Bàn rồi.

Niết Bàn không phải là chốn để tới, mà là một trạng thái đã được giác ngộ, giải thoát, không còn luân hồi sanh tử chi phối nữa; nên gọi là Vô Dư. Sự diệt độ ấy có quá nhiều, không thể kể hết; nhưng thật ra chẳng có chúng sanh nào đã diệt độ cả. Đây là mấu chốt của vấn đề. Đức Phật lại hỏi Ngài Tu Bồ Đề vì sao như vậy?

Đức Phật dạy tiếp. Nầy Tu Bồ Đề, nếu là Bồ Tát mà còn có tướng người, tướng ta, tướng chúng sanh, tướng thọ giả thì chẳng phải là Bồ Tát. Vâỵ Bồ Tát là gì?

Bồ Tát tiếng Phạn gọi là Bodhisattva. Dịch là Bồ Đề Tát Đỏa. Nghĩa là giác hữu tình hay hữu tình giác. Bồ Tát có 10 bực từ sơ địa đến thập địa. Bồ Tát tu chứng đến đệ Bát Địa vẫn còn gặp phải những vi tế nghiệp. Chỉ có những vịở ngôi vị Càng Huệ địa và Pháp Vân địa thì các nghiệp lực không bị chi phối.

Đoạn thứ tư: Phần Diệu Hạnh không trụ

“Lại nữa Tu Bồ Đề, Bồ Tát ở nơi pháp; nên chẳng có chỗ trụ để làm việc bố thí. Đó là chẳng trụ nơi sắc để bố thí; chẳng trụ nơi thanh, hương, vị, xúc, pháp để bố thí. Tu Bồ Đề! Bồ Tát nên bố thí như thế; chẳng trụ nơi tướng. Vì sao vậy? Nếu Bồ Tát chẳng trụ tướng để bố thí thì phước đức nầy chẳng thể suy lường được. Nầy Tu Bồ Đề! Ý ông nghĩ sao hư không ở phương Đông có thể suy lường được không?

-Chẳng thể được. Bạch Đức Thế Tôn.

Tu Bồ Đề! Nam, Tây, Bắc phương, bốn phía trên dưới hư không có thể suy lường được không?

-Chẳng thể. Bạch Đức Thế Tôn.

Nầy Tu Bồ Đề! Bồ Tát không trụ tướng để bố thí phước đức lại cũng như vậy. Chẳng thể suy lường được. Nầy Tu Bồ Đề! Bồ Tát chỉ nên như chỗ dạy mà trụ vậy”.

Bố thí có nghĩa là đem cho ai đó một cái gì. Bố thí gồm có 3 loại. Đó là tài thí, pháp thí và vô úy thí.

Nếu có người nào đó nghèo khổ về vật chất, ta đem tiền tài của cải đến cho họ. Gọi đây là tài thí.

Ở trong đời nầy có lắm người giàu về tiền của; nhưng đời sống tinh thần cơ cực, khổ sở; ta đem giáo lý từ bi, lợi tha của Đức Phật để cứu giúp họ, sớm thoát khỏi cảnh đau khổ về tinh thần. Đây là pháp thí.

Còn vô úy thí tức là cho họ một đức tin vững bền, không sợ hãi vu vơ. Tin vào Phật Pháp, tin nhân quả 3 đời; khiến cho họ không sợ sệt khi một nguyên nhân không đâu, ập đến với họ.

Nếu cho mà còn trụ vào chỗ mình cho, thì đó chẳng gọi là cho. Vì sự cho kia mình còn cầu danh, cầu lợi. Cho nên Đức Phật dạy rằng khi cho, đừng trụ vào việc cho ấy, phước đức mới nhiều.

Hãy đừng đứng trên hình tướng để bố thí. Ngay cả âm thanh, mùi thơm, vị ngon ngọt, sự xúc chạm và các pháp v.v… mà tất cả đừng trụ nơi các tướng ấy để bố thí thì mới là việc bố thí có ý nghĩa. Nếu Bồ Tát thực sự thực hành được như vậy thì mới gọi đây là sự bố thí và phước đức vô cùng.

Kế tiếp Đức Phật hỏi Ngài Tu Bồ Đề về cõi hư không ở phương Nam, Đông, Tây, Nam, Bắc trên dưới v.v… Dĩ nhiên là hư không thì không thể tính đếm được. Nếu Bồ Tát bố thí mà tâm không dừng ở chỗ trụ tướng thì sự bố thí ấy phước đức cũng nhiều như hư không kia vậy. Cho nên Đức Phật khuyên rằng: Các Bồ Tát nên theo như lời dạy mà trụ.

Lời dạy ấy là gì? Là trụ mà chẳng trụ; chẳng trụ mà trụ. Trụ nơi cõi vô trụ để làm việc với cái tâm không bị dính mắc vào đâu cả. Vì còn dính mắc là còn đối đãi. Còn nhơn, ngã là còn bỉ thử, được hơn, thua kém. Do đó Bồ Tát làm bất cứ vấn đề gì; nên cố gắng giữ gìn tâm mình ở nơi không đối đãi thì tâm ấy mới rảnh rang để đi vào chỗ không được.

Đoạn thứ năm: Phần thấy lẽ thật đúng lý

“Tu Bồ Đề! Ý ông nghĩ sao? Có thể dùng tướng của thân để thấy Như Lai chăng?

-Bạch Thế Tôn. Thưa không. Chẳng thể dùng thân tướng để được thấy Như Lai. Vì cớ sao? Như Lai đã nói rằng thân tướng ấy tức là chẳng phải thân tướng.

Phật bảo ông Tu Bồ Đề rằng: Phàm cái gì có hình tướng, tất cả đều hư vọng. Nếu thấy các tướng mà chẳng phải tướng thì mới thấy được Như Lai”.

Bây giờ phải dùng cái thấy chơn thật như lý thì mới thấy được Như Lai. Như Lai là một trong 10 bảo hiệu để gọi Đức Thế Tôn. Đó là: Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhơn Sư, Phật Thế Tôn. Đó là 10 bảo hiệu để chỉ cho một bậc Đại Giác Ngộ; nên gọi là Như Lai, mà Như Lai cũng còn gọi là Phật Tánh hay Chơn Như. Như Lai ấy không từ nơi nào đến, mà cũng chẳng đi vềđâu cả.

Nếu dùng thân tướng để thấy được Như Lai thì điều ấy chẳng thể được. Vì sao vậy? Vì chính Đức Như Lai đã nói cái tướng của thân ấy nó không là thật tướng; nên không thể thấy Như Lai. Vì thân ấy còn bị biến đổi bởi sanh, già, bệnh, chết khổ. Tứ đại ấy là giả dối, chẳng có cái gì thật, thì làm sao có thể thấy được tự tánh chơn như được?

Phật dạy Ngài Tu Bồ Đề rằng: Phàm là cái gì có hình tướng. Tất cả những thứđó đều hư vọng cả. Điều nầy hiển nhiên quá đúng. Vì tất cả núi, sông, nhà cửa, cung điện, thân người, vàng bạc của báu, tiền tài, sắc đẹp v.v… tất cả những loại nầy đều có hình tướng. Vậy thì đâu có loại nào thật đâu? Bởi vì con người cứ nghĩ nó là thật nên chịu khổ vì nó và bị nó sai khiến. Nếu thấy các tướng ấy là chẳng phải tướng thì mới thấy được Như Lai. Phải biết rằng mọi hình tướng ấy đều là những hiện tượng, mà đã là những hiện tượng thì đâu có cái gì để nắm bắt, xưng tụng, ca ngợi đâu? Cái nào còn nằm trong sự đối đãi ấy, tức là cái đó bị sanh diệt chi phối. Khi con người vẫn còn bị sự sanh diệt chi phối, thì đó chẳng phải là Phật Tánh, là Như Lai tạng.

Đoạn thứ sáu: Phần chánh tín ít có

“Tu Bồ Đề bạch Phật rằng: Kính bạch Đức Thế Tôn! Vả lại có chúng sanh được nghe những lời nói và câu văn như thế, thật sanh ra được tín tâm chăng?

Phật bảo Ngài Tu Bồ Đề rằng: Chớ nói như vậy. Sau khi Như Lai diệt độ, cách 500 năm có người trì giới, tu phước, đối với câu văn nầy hay sanh tâm tin tưởng, lấy điều nầy làm thật thì nên biết rằng người nầy chẳng phải ở nơi một Đức Phật, hai Đức Phật, ba, bốn, năm vị Phật mà trồng được những căn lành, mà đã ở chỗ vô lượng ngàn vạn Đức Phật đã trồng những căn lành. Khi nghe những câu văn nầy, cho đến một niệm nhớ nghĩ, sanh ra tín tâm thanh tịnh.

Nầy Tu Bồ Đề! Như Lai tức rõ biết và thấy rằng những chúng sanh nầy được vô lượng phước đức như vậy. Vì sao vậy?

Vì những chúng sanh nầy lại chẳng có tướng ta, tướng người, tướng chúng sanh, tướng thọ giả. Không có tướng pháp, lại cũng chẳng có tướng phi pháp. Vì sao vậy?

Những chúng sanh nầy, nếu có tâm chấp vào tướng là còn chấp trước vào ngã, nhơn, chúng sanh, thọ giả. Nếu chấp vào pháp tướng; tức là đắm trước vào ngã, nhơn, chúng sanh, thọ giả. Vì sao vậy?

Vì nếu chấp vào tướng phi pháp tức là cũng chấp trước vào ngã, nhơn, chúng sanh, thọ giả. Cho nên chẳng nên chấp vào pháp, chẳng nên chấp vào phi pháp, là nghĩa nầy vậy. Như Lai thường bảo rằng: Hỡi các Tỳ Kheo! Hãy biết việc nói pháp của ta giống như chiếc bè. Pháp còn nên bỏ, huống là phi pháp”.

Phật được định nghĩa là giác nhưng chẳng mê. Pháp là chánh nhưng chẳng tà; còn Tăng là tịnh; chứ không nhiễm. Nhưng đa phần chúng ta thì ngược lại lời Phật dạy. Cái gì chánh tín thì khó tin mà mê tín thì rất dễ tin. Thế nào là chánh tín? Đó là lòng tin kiên cố bất hoại. Chúng ta nghe theo Phật, tin theo Phật và thực hành theo lời dạy của Đức Phật; chứ không dễ tin theo những điều phi pháp; không đúng với chân lý và lẽ thật.

Sau khi Đức Phật diệt độ 500 năm; nghĩa là thời kỳ chánh pháp không còn nữa; nhưng nếu có ai đó nghe được lời của Phật qua những câu kinh Kim Cang nầy mà tin được, thì phải biết rằng người ấy không phải chỉở nơi một, hai, ba Đức Phật mà trong trăm ngàn Đức Phật ở đời quá khứ, người nầy đã trồng sẵn những căn lành từ lâu rồi; nên nay khi nghe đến một câu, một kệ mà sanh ra tâm thanh tịnh để tin tưởng như vậy.

Như Lai biết rằng những người như thế sẽ được phước đức vô cùng. Vì lẽ những chúng sanh ấy không ở nơi tướng ta, tướng người, tướng chúng sanh, tướng thọ giả; không có tướng nào gọi là pháp, mà cũng chẳng có tướng nào là phi pháp hay phi phi pháp cả. Vì nếu những chúng sanh ấy chấp trước vào tướng ấy; tức là còn dính mắc vào tướng ngã, tướng nhơn, tướng chúng sanh, tướng thọ giả. Còn nếu không chấp vào tướng phi pháp; tức cũng là bị dính mắc vào ngã, nhơn, chúng sanh, thọ giả. Do vậy chẳng nên chấp vào pháp; chẳng nên chấp chặt vào phi pháp là ở nghĩa nầy. Dầu là đúng pháp hay phi pháp dưới cái nhìn của Tánh không và Bát Nhã nó không bị lay động và chi phối bởi sự đối đãi của nhân, ngã, bỉ, thử v.v… Do vậy mà khi thuyết pháp Đức Phật dạy rằng: Các vị Tỳ Kheo nên rõ những lời nói ấy như chiếc bè đưa người qua sông thôi. Khi qua bên kia bờ rồi, hãy vứt bỏ nó đi, hãy đừng mang nó theo làm gì cho tốn công nhọc sức.

Mặt trăng mới là chơn lý. Còn ngón tay chỉ mặt trăng chỉ là phương tiện. Không nên lầm giữa chân lý và phương tiện là một. Vì lẽ chân lý là thường hằng mà phương tiện lại luôn thay đổi. Chánh pháp còn phải bỏ huống gì là phi pháp. Đây là câu nói lịch sử. Chỉ có bậc Đạo Sư của Phật Giáo mới dám thốt lên điều ấy. Còn giáo chủ của các Đạo khác, chưa thấy vị nào có được suy nghĩ và quyết đoán như vậy.

Chỉ có giáo lý giải thoát; không bị ràng buộc bởi những trần duyên tục lụy; bởi bỉ thử tha nhân; bởi sự đối đãi còn mất, hơn thua v.v… thì giáo lý ấy mới là một giáo lý siêu tuyệt. Có lẽ trong lịch sử nhân loại khó thấy có thể xuất hiện một chân lý nào khác xuất hiện trên quả địa cầu nầy mà có nội dung tương tựa như lời dạy của Đức Thích Ca Mâu Ni trong kinh Kim Cang như thế nầy.

Điều thứ bảy: Phần không được, không nói

“Nầy ông Tu Bồ Đề! Ý ông nghĩ sao? Như Lai có được Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác chăng? Như Lai có chỗ thuyết pháp sao?

Tu Bồ Đề thưa: Theo chỗ con hiểu nghĩa của Phật nói là chẳng có pháp nào nhất định gọi là Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác cả, lại cũng chẳng có pháp nào nhất định mà Như Lai có thể nói cả. Vì sao vậy? Chỗ Pháp mà Như Lai nói, tất cả chẳng thể giữ, chẳng thể nói chẳng phải pháp, chẳng phải phi pháp. Cho nên tất cả các vị Hiền Thánh. Tất cả đều dùng pháp vô vi mà có sự sai biệt vậy”.

Như Lai đã nói pháp trong 49 năm; nhưng thật ra chẳng có pháp nào Ngài nói ra cả. Vì những pháp ấy chư Phật trong quá khứđã nói, chư Phật trong hiện tại đang nói và chư Phật ra đời trong vị lai, cũng sẽ chỉ có nói như thế. Cho nên việc giác ngộ giải thoát không phải do nói mà được. Bởi lẽ sự giác ngộấy đã sẵn có nơi mỗi người rồi.

Ngài Tu Bồ Đề vì tu theo giải không nên đã hiểu rõ lời dạy của Đức Phật, là chẳng có pháp nào gọi là pháp giác ngộ giải thoát cả. Lại cũng chẳng có một pháp nhất định nào Như Lai nói cả. Như Lai nói là tùy theo căn cơ của chúng sanh, theo đó bắt mạch cho thuốc và Như Lai không trụ vào nơi ấy để nói pháp kia. Vì lẽ những pháp mà Đức Như Lai nói chẳng thể chấp vào đó được; nhưng cũng chẳng thể nói không phải là pháp, lại cũng chẳng phải là chẳng phải pháp. Vì:

“Y kinh diễn nghĩa tam thế Phật oan
Ly kinh nhất tự tức đồng ma thuyết”.

Nghĩa là:

Cứ theo kinh mà diễn nghĩa thì làm oan cho ba đời Phật. Lìa kinh một chữ, tức là lời nói của ma.

Vậy kinh ấy, nghĩa ấy phải tùy theo căn cơ, trình độ; phải hợp với khế lý và khế cơ Như Lai mới nói. Lời nói ấy chỗ nầy không thích hợp với chỗ kia và lời nói nơi kia không phải để ứng dụng cho nơi nầy. Do vậy không nên chấp vào đó để cho là phải hay không phải, đúng hay không đúng. Do vậy các vị Hiền Thánh đều do pháp Vô Vi nầy mà có sự sai biệt.

Pháp Vô Vi ấy là gì?

Tiếng Phạn gọi là Asamkrta. Đối lại với pháp Hữu Vi. Vô Vi nghĩa là chẳng tạo tác, tức chẳng phải do nhân duyên tạo ra, là pháp tuyệt đối thường trụ, lìa sanh diệt biến hóa. Vốn là tên khác của Niết Bàn; nhưng đời sau, ngoài Niết Bàn còn lập nhiều Vô Vi. Do đó có các thuyết như Tam Vô Vi, Lục Vô Vi, Cửu Vô Vi v.v…

Trong các bộ phái thuộc Tiểu Thừa thì thuyết Nhất Thiết Hữu Bộ lập 3 vô vi là: Trạch Diệt Vô Vi; Phi Trạch Diệt Vô Vi và Hư Không Vô Vi. Đại chúng bộ, Nhất thuyết bộ và Thuyết Xuất Thế bộ thì ngoài 3 Vô Vi, còn lập Không Vô biên xứ, Thức Vô biên xứ, Vô sở hữu xứ, Phi tưởng phi phi tưởng xứ (4 định Vô Sắc) và Duyên Khởi chi tính (lý 12 duyên khởi); Thánh Đạo chi tính (lý 8 Thánh Đạo). Tổng cộng 9 Vô Vi. Hóa Địa Bộ thì lấy Bất Động Chân Như, Thiện Pháp Chân Như, Bất Thiện Pháp Chân Như và Vô Ký Pháp Chân Như thay cho 4 định Vô Sắc; cũng thành thuyết 9 Vô Vi.

Các nhà Duy Thức Đại Thừa thì ngoài 3 vô vi lập riêng Bất Động, Tưởng Thụ Diệt và Chơn Như hợp là 6 vô vi; có thuyết chia lập Chân Như làm Thiện Pháp, Bất thiện pháp và Vô ký pháp, thành 8 Vô Vi. Như bất luận là chia lập thành 6 Vô Vi hay 8 Vô Vi cũng đều không chủ trương Vô Vi có nhiều thể khác nhau, song chỉ là một pháp tính do đoạn trừ ngã chấp và pháp chấp mà hiển hiện; pháp tính nầy được gọi bằng nhiều danh từ, tùy theo các duyên hiện bày. Cứ theo đây mà nói thì Chân Như, pháp tính, pháp giới, thực tướng… cũng đều là pháp Vô Vi. Còn nói theo Niết Bàn thì Trạch Diệt Vô Vi trong 3 Vô Vi và Chân Như Vô Vi trong 6 Vô Vi nói ở trên; chính là Niết Bàn; trong tất cả pháp Vô Vi, Niết Bàn là thù thắng nhất.

Vì thể của pháp vô vi thì thuyết Nhứt Thiết hữu bộ chủ trương nó có thể, còn Kinh Lượng Bộ và Duy Thức Đại Thừa thì cho là không có thể, không thừa nhận thực tướng của nó. Trong đó, Duy Thức y cứ vào “Thức Biến” và “Pháp Tính” mà giả lập 6 thứ Vô Vi. Đó là:

1. Hư Không Vô Vi: Chỉ cho chân như xa lìa phiền não sở tri chướng, vì nó không có chướng ngại, giống như hư không; nên gọi là Hư Không Vô Vi.
2. Trạch Diệt Vô Vi: Chân lý xa lìa sự trói buộc của tất cả các pháp hữu lậu; gọi là Trạch Diệt Vô Vi.
3. Phi Trạch Diệt Vô Vi: Chỉ cho chân như xưa nay tính vốn thanh tịnh, vì chẳng phải do năng lực giản trạch của trí vô lậu mà có; nên gọi là Phi Trạch Diệt Vô Vi.
4. Bất Động Vô Vi: Chỉ cho Chân Như hiển hiện trong đệ tứ tĩnh lự (Đệ Tứ Thiền) và đệ tứ tĩnh lựđã diệt 2 cảm thọ khổ, vui vắng lặng chẳng động, cho nên gọi là Bất Động Vô Vi.
5. Tưởng Thọ Diệt Vô Vi: Chỉ cho chân như biến hiện trong Định Diệt Tận; trong Định Diệt Tận đã diệt hết tâm tưởng của 6 thức và 2 cảm thọ khổ, vui; cho nên gọi là Tưởng Thọ Diệt Vô Vi.
6. Chân Như Vô Vi: Chỉ cho chân như pháp tánh chân thực thường như, không mảy may hư dối đổi khác; nên gọi là Chân Như Vô Vi. (Đại TựĐiển Phật Quang – Hòa Thượng Thích Quảng Độ dịch, trang 7237).

Ở đây có thể nhìn Niết Bàn qua sự diễn tả của tiếng Đức là:

“Nirvana ist weder Form noch Gestalt”.

Nghĩa là “Niết Bàn chẳng phải có hình tướng mà cũng chẳng phải là một hình thái nữa”. Vì Niết Bàn là vô vi, tánh vắng lặng; không có tự thể của nó. Bởi vì:

“Alle Phänomen sind unbeständig; alle Phänomen sind unsicher”,

“Tất cả mọi hiện tượng đều không có thực tướng. Mọi hiện tượng đều là sự chẳng thật”. Đã là hiện tượng thì làm sao thật và làm sao có tướng chân thật được. Bởi vì thật tướng của mọi hiện tượng là không. Không ấy đồng với nghĩa vô vi như bên trên mà kinh đã nêu rõ.

Đoạn thứ 8: Phần nương vào pháp mà sanh ra

“Tu Bồ Đề! Ý ông nghĩ như thế nào? Nếu có người dùng đầy 7 thứ báu để bố thí trong 3.000 Đại Thiên Thế Giới thì người nầy có được phước nhiều không?”

Tu Bồ Đề thưa: “Kính bạch Đức Thế Tôn! Thật nhiều. Vì sao vậy? Vì chính phước đức nầy tức chẳng phải là phước đức tánh; cho nên Như Lai nói: Phước đức nhiều. Nếu lại có người, đối với kinh nầy thọ trì cho đến 4 câu kệ, vì người kia để nói thì phước nầy hơn hẳn kia. Vì sao thế? Tu Bồ Đề: Vì tất cả chư Phật và pháp Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác đều từ kinh nầy mà ra. Nầy Tu Bồ Đề! Cho nên Phật Pháp tức là chẳng phải Phật Pháp vậy”.

Nếu có người nào đó thật giàu có dùng vàng, bạc, lưu ly, xa cừ, xích châu, mã não, san hô, hổ phách v.v… để đem của cải ấy bố thí khắp 3.000 Đại thiên Thế giới thì phước đức ấy thật có. Bởi vì đó là đứng về phương diện hữu lậu để nói, để nhìn; nhưng nó không phải là cái tánh thật của phước đức.

Tuy nhiên nếu có người nào đó không có tiền bạc của cải giàu có như người kia chỉ thọ trì có 4 câu kệ của kinh Kim Cang nầy và vì người khác giảng nói ý nghĩa của 4 câu kệấy thật tinh tế, rõ ràng thì phước đức của người trì kinh nhiều hơn là phước đức của người đem 7 thứ báu ấy cúng dường trong 3.000 Đại thiên Thế giới. Bởi vì Pháp mà tất cả chư Phật đều do kinh nầy mà ra. Cho nên Đức Phật thường hay nói: Kẻ nào hiểu Pháp là hiểu Phật. Ai hiểu được Phật tức là hiểu được Pháp của ta.

Pháp đó là gì? Pháp ấy chẳng phải pháp mới là Phật Pháp. Pháp mà còn gọi được thì đó không phải là Pháp. Pháp ấy không sanh, không diệt thường còn vắng lặng và chẳng bị kẹt vào nhị biên nào cả. Pháp ấy không ở bên nầy và cũng chẳng ở bên kia, mà vượt lên trên tất cả sự đối đãi thiệt, hơn, còn, mất, hơn, thua v.v…

Đoạn thứ 9: Phần một tướng, vô tướng

“Tu Bồ Đề! Ý ông nghĩ sao? Tu Đà Hoàn hay nghĩ rằng: Ta được quả Tu Đà Hoàn chăng?

Tu Bồ Đề thưa: Chẳng phải vậy! Bạch Đức Thế Tôn. Vì sao thế?

Tu Đà Hoàn gọi là Nhập Lưu; nhưng mà chẳng có chỗ nhập; chẳng nhập vào nơi sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp; cho nên gọi là Tu Đà Hoàn.

Tu Bồ Đề! Ý ông nghĩ sao? TưĐà Hàm hay nghĩ rằng: Ta được quả TưĐà Hàm chăng?

Tu Bồ Đề thưa: Chẳng phải vậy! Bạch Đức Thế Tôn. Vì sao vậy? TưĐà Hàm gọi là một lần đến, lui; nhưng thật ra chẳng đến, lui; cho nên gọi là TưĐà Hàm.

Tu Bồ Đề! Ý ông nghĩ sao? A Na Hàm hay nghĩ rằng: Ta được quả A Na Hàm chăng?

Tu Bồ Đề thưa: Chẳng phải vậy! Bạch Đức Thế Tôn. Vì sao vậy? A Na Hàm gọi là Bất Lai, mà thật ra chẳng bất lai. Cho nên gọi là A Na Hàm.

Tu Bồ Đề! Ý ông nghĩ sao? A La Hán hay nghĩ rằng: Ta được quả A La Hán chăng?

Tu Bồ Đề thưa: Chẳng phải vậy! Bạch Đức Thế Tôn. Vì sao vậy? Thật thì chẳng có pháp nào gọi là A La Hán cả. Bạch Thế Tôn. Nếu có vị A La Hán nghĩ rằng: Ta được đạo A La Hán; tức là chấp trước vào ngã, nhơn, chúng sanh, thọ giả. Bạch Thế Tôn! Phật nói rằng con được Vô Tránh Tam Muội, là người đệ nhất trong số người đó, là đệ nhất ly dục A La Hán.

Bạch Đức Thế Tôn! Con chẳng nghĩ con là bậc ly dục A La Hán. Bạch Thế Tôn! Nếu con nghĩ con được đạo quả A La Hán thì Bạch Đức Thế Tôn, Ngài chẳng nói rằng Tu Bồ Đề ưa hạnh A Lan Na. Do Tu Bồ Đề chẳng có chỗ hành mà gọi Tu Bồ Đề là ưa hạnh A Lan Na vậy”.

Bốn quả Thánh của Tiểu Thừa là Tu Đà Hoàn, Tư Đà Hàm, A Na Hàm và A La Hán. Đây là những thánh quả mà các bậc xuất gia thường chứng được trong thời Đức Phật còn tại thế. Riêng Cư sĩ thì đa phần chỉ chứng đến quả A Na Hàm; chứ không thể chứng được quả Vô Học như các vị xuất gia. Vì A La Hán còn gọi là Vô Sanh, mà theo quan điểm của Tiểu Thừa chỉ có người xuất gia mới dứt hết được các luyến ái và diệt trừ phiền não được; nên 4 quả rốt ráo nầy, tượng trưng cho những bậc Thánh của Tiểu Thừa vậy. Tuy nhiên nếu kẻ nào đã chứng mà tự mình nói là chứng quảấy, thì quảấy chẳng thật phải là chỗđã chứng. Vì lẽ sự chứng ấy còn đối đãi với nhơn, ngã, bỉ, thử.

Trên thực tế thì chẳng có pháp nào gọi là A La Hán cả. Vì nếu vị nào nghĩ rằng mình đã chứng được quả A La Hán thì vịấy còn bị dính mắc vào ngã, nhơn, chúng sanh, thọ, giả.

Thế nào là Vô Tránh Tam Muội?

Tiếng Phạn gọi là: Aranan samadhi. Chỉ cho Tam Muội trụ trong lý Không và không tranh luận với người. Ngài Tu Bồ Đề thông hiểu lý Không vào bậc nhất; cho nên trong các Đệ tử của Đức Phật, Ngài là người bậc nhất; chứng được Vô Tránh Tam Muội.

Kinh Kim Cang (Đại 8, 749 hạ) ghi: “Phật nói con được Vô Tránh Tam Muội, là bậc nhất trong loài người, là A La Hán lìa dục đệ nhất”.

Kim Cương kinh lược số thích của Ngài Nguyên Hiền cho rằng bậc chứng được Vô Tránh Tam Muội vì đã hiểu lý Không; nên chẳng còn ý tưởng mình và người, không dấy phiền não cho chúng sanh, cũng có khả năng giúp chúng sanh không sanh khởi phiền não.

Còn Tông Thiên Thai thì cho rằng hành giả Sa Môn của Viên Giáo, khi tu tất cả Thiền Định đối trị Vô Lậu quán, Luyện, Huân, Tu thì liền chứng được Thánh quả, là A La Hán có năng lực lớn, được 6 thông, 3 minh, đồng thời chứng được Vô Tránh Tam Muội. (Sách đã dẫn trang 7225).

Những người xuất gia thời Đức Phật đa phần đều thích ở nơi hang động để hành Thiền. Những nơi nầy được gọi là A Lan Nhã hay A Lan Na. Đây là dịch âm theo tiếng Phạn Aranya; tiếng Pali gọi là Aranna. Có nơi dịch là A Luyện Như, A La Nhã, A Lan Non. Nói tắt là Lan Nhã, Luyện Nhã. Dịch nghĩa là nơi núi rừng, đồng hoang.

Cũng còn gọi là nơi “độc cư, nhàn cảnh”. Chỉ những nơi yên tĩnh vắng vẻ, thích hợp với những người xuất gia tu hành làm nơi cư trú. Còn dịch là nơi xa lìa, nơi vắng lặng; nơi rất thong thả, nơi không tranh giành. Tức là nơi vắng vẻ cách xa làng mạc một câu lư xá, thích hợp cho người tu hành. Chỗấy hoặc người ở nơi ấy gọi là A Lan Nhã Ca (Aranyaka) (sách đã dẫn trang 53).

Đa phần chùa viện ngày xưa người ta thường hay xây trên núi hay ít nhất cũng cách làng mạc chừng một cây số. Danh từ nhà Phật gọi là một Câu Lư Xá. Nghĩa là từ chỗở yên lặng ấy không nghe thấy âm thanh nơi làng kia và không thấy khói bốc lên nơi làng kia khi nấu nướng. Những bậc tu hành ở những nơi như vậy gọi là A Lan Nhã. Sống một mình, ở cảnh thanh nhàn như thế, không bị bó buộc bởi thế trần và không bị lợi danh khuynh đảo; cho nên gọi là vui với hạnh viễn ly.

Tuy Ngài Tu Bồ Đề chứng được Vô Tránh Tam Muội và Giải Không Tam Muội; nhưng Ngài không trụ vào quả chứng đắc ấy của một bậc A La Hán; vì trên thực tế Ngài có thực hành hạnh ấy, vui theo đấy mà hành trì; nhưng Ngài không bị trói buộc và dính mắc vào hạnh ấy, khi chứng thực Tam Muội. Cho nên tuy không có chỗ chứng đắc mà lại được vui với hạnh viễn ly ấy.

Đoạn thứ 10: Phần Trang Nghiêm Tịnh Độ

“Phật bảo Ngài Tu Bồ Đề rằng: Ý ông nghĩ như thế nào? Xưa kia Như Lai ở tại Đức Phật Nhiên Đăng và đã được pháp nơi ấy chăng?

Bạch Thế Tôn! Thưa không! Đức Như Lai ở nơi Đức Phật Nhiên Đăng, đối với Pháp, thật ra chẳng có chỗ được.

Tu Bồ Đề! Ý ông nghĩ sao? Bồ Tát trang nghiêm cõi Phật chăng?

Thưa không! Bạch Đức Thế Tôn. Vì sao vậy? Trang nghiêm cõi Phật tức là chẳng phải trang nghiêm, thì đó mới gọi là trang nghiêm.

Do vậy Tu Bồ Đề! Các vị Bồ Tát Ma Ha Tát nên như thế nầy mà sanh tâm thanh tịnh. Chẳng nên trụ vào sắc để sanh tâm; chẳng nên trụ vào thanh, hương, vị, xúc, pháp để sanh tâm, mà nên ở chỗ không trụ để sanh tâm nầy. Tu Bồ Đề giống như có người, thân như vua núi Tu Di. Ý ông nghĩ sao? Thân ấy lớn chăng?

Tu Bồ Đề thưa: Thật lớn! Bạch Đức Thế Tôn. Vì sao vậy? Phật bảo chẳng phải thân, đây gọi là thân lớn”.

Nhiên Đăng tiếng Phạn gọi là Dipamkara. Âm Hán văn là Đề Hòa Kiệt La, Đề Hoàn Kiệt. Cũng gọi là Phổ Quang Phật, Đỉnh Quang Phật. Tên của vị Phật ở đời quá khứđã thọ ký cho Bồ Tát Thích Ca thành Phật.

Cứ theo kinh Tu Hành Bản Khởi quyển thượng, nước Đề Hòa Vệ (Dipavati) có vị Thánh Vương tên là Đăng Thịnh, khi sắp băng hà, Vua phó thác việc nước cho Thái Tử Đỉnh Quang. Nhưng Thái Tử biết đời là vô thường; nên đem đất nước giao lại cho người em, rồi xuất gia làm Sa Môn, về sau chứng quả Phật. Lúc bấy giờ có Phạm Chí Nho Đồng gặp Đức Phật Đỉnh Quang đi du hóa, liền mua hoa cúng Phật, Phật bèn thọ ký cho Nho Đồng đời vị lai sẽ thành đạo. Phạm Chí Nho Đồng ấy chính là Đức Phật Thích Ca Mâu Ni sau nầy (sách đã dẫn trang 3868).

Một Phạm Chí Nho Đồng, là tiền thân của Bồ Tát Hộ Minh có tâm cung kính cúng dường một lẵng hoa trong một kiếp quá khứ, cúng dường với vô tâm, mà kiếp nầy đã được thành Phật hiệu là Thích Ca Mâu Ni.

Phổ Quang Phật, hay Đỉnh Quang hay Nhiên Đăng cũng là một vị. Phật nầy hiện thân trong quá khứ và kinh hồng danh bảo sám khởi đầu đảnh lễ vị Phật nầy trước cũng để nói lên sự liên hệ với Đức Phật trong quá khứ lẫn hiện tại và vị lai để chúng sanh có một cái nhìn nhất quán.

Trong truyện bằng tranh về cuộc đời của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni chúng ta cũng thấy được hình ảnh của Bồ Tát Hộ Minh khi Phật Nhiên Đăng còn tại thế, đi ngang qua một vũng bùn lầy đầy nước, Bồ Tát đã trải tóc ra để cúng dường Phật Nhiên Đăng, khi bước qua nơi nầy. Với những công đức cúng dường vô tâm như thế, Đức Thích Ca Mâu Ni Phật đã được Đức Phật Nhiên Đăng thọ ký.

Thọ ký nghĩa là ghi nhận và nhìn về một cõi xa xăm của vô tận thế giới, vịấy có nhân duyên gì với cõi nào thì Đức Phật ấy sẽ nói về nhân duyên và tương lai của vị kia sẽ thành Phật như thế nào.

Ởđây để trang nghiêm cõi Tịnh Độ hay Phật Tịnh Độ Đức Thích Ca đã cho chúng ta hiểu rằng thật ra chẳng có pháp nào để được hết. Vì các pháp vốn đã có sẵn. Trước khi ta đến cuộc đời nầy, pháp ấy đã có. Sau khi ta đi khỏi đời nầy, pháp ấy vẫn tồn tại. Pháp vốn không có đến, đi, còn, mất. Chỉ có con người thay đổi mà thôi.

Cũng chẳng phải vì có Bồ Tát mà mới trang nghiêm được cõi Phật. Cõi Phật ấy vốn thanh tịnh, ánh sáng trong suốt, nên dẫu cho có Bồ Tát hay không có Bồ Tát cũng thế thôi. Không phải vì không có Bồ Tát mà cõi đó không là cõi Tịnh Độ. Nếu có Bồ Tát cõi đó mới thành cõi Phật Tịnh Độ thì sự trang nghiêm ấy chẳng phải là sự trang nghiêm vậy.

Nên như thế mà sanh tâm thanh tịnh. Tâm ấy là tâm không chấp trước, không dính mắc, không bị sự ràng buộc của thế trần chi phối. Tâm ấy là tâm không, rỗng rang; không có chỗ đối đãi. Chẳng nên trụ vào hình tướng để sanh tâm. Vì nếu tâm của hành giả còn trụ vào hình tướng nầy, hình tướng nọ để nói cái nầy đúng, cái kia sai. Cái nầy thuộc về cái nầy, cái kia thuộc về cái kia v.v... thì cả đến âm thanh, mùi thơm, mùi vị, sự va chạm và các pháp trần cũng thế. Nếu đứng ở một trong 6 pháp ấy để chấp chặt vào đó mà tu học, mà hành trì, thì quả thật pháp ấy chưa phải là pháp rốt ráo.

Do vậy nên ở chỗ không trụ để sanh tâm. Chỗ không trụ là chỗ nào vậy? Đó là chỗ không chấp trước, không vướng mắc, không đối đãi, không có tướng ta, tướng người, tướng chúng sanh, tướng thọ giả v.v... Phàm lấy tướng để trụ, để chấp trước thì tướng ấy là giả chứ không tuyệt đối là Chơn Không Diệu Hữu của bản giác chơn như thật tánh thanh tịnh của mỗi con người.

Dầu cho thân to lớn như Vua Tu Di đi nữa mà chấp vào đó là lớn, thì cũng chẳng gọi là lớn. Bởi vì Phật dạy rằng chẳng có thân thì đó mới gọi là thân lớn. Nói lớn, nhỏ chỉ là giả danh; chứ không phải thật tướng.

Đoạn thứ 11: Phần phước vô vi là hơn hết

“Tu Bồ Đề! Như trong sông Hằng có rất nhiều cát. Những cát như thế nơi sông Hằng; ý ông nghĩ sao? Những cát sông Hằng nầy là nhiều chăng?

Tu Bồ Đề thưa: Thật nhiều! Bạch Đức Thế Tôn. Chỉ cát sông Hằng kia thường nhiều vô số, hà huống là cát nầy.

Tu Bồ Đề! Ta nay nói thật cho ông biết rằng: Nếu có người thiện nam, kẻ thiện nữ nào dùng 7 thứ báu đầy dẫy trong 3.000 Đại Thiên Thế Giới như số cát sông Hằng kia ra để bố thí thì được phước nhiều chăng?

Tu Bồ Đề thưa: Thật nhiều! Bạch Đức Thế Tôn.

Phật bảo ông Tu Bồ Đề rằng: Nếu kẻ thiện nam hoặc người thiện nữ đối với kinh nầy, thọ trì cho đến 4 câu kệ v.v... rồi vì người khác mà nói, thì phước đức nầy lại hơn cả phước đức kia vậy”.

“Sông Hằng gọi là Ganga. Cũng gọi là Hằng Ca Hằng; Hằng Gia Hà, Căng Già Ha. Sông Hằng là một trong 3 con sông lớn ởẤn Độ.

Sông nầy bắt nguồn từ dãy Hy Mã Lạp Sơn, chảy theo hướng Đông Nam 800 cây số; đến Đông Bengale nhập với sông Bố Lạp Mã Phổ Đắc Lạp rồi chảy vào biển Ấn Độ. Sông Hằng dài khoảng 2.700 cây số; hai bên bờ sông có vô số đền đài, chùa miếu.

Ấn Độ Giáo coi sông Hằng là con sông thiêng liêng. Truyền thuyết cho rằng do người Tiên cầu đảo mà nước sông Hằng từ đầu ngón chân của Thần Tỳ Thấp Nô ở trên trời chảy xuống. Phật Giáo cũng xem sông nầy là sông phúc. Khi còn tại thế Đức Phật cũng thường đến đây tuyên nói pháp mầu. Vùng thượng lưu sông Hằng là trung tâm văn minh Ấn Độ ở thời đại A Thát Bà PhệĐà và thời kỳ thành lập Phạm Thư. Vùng trung lưu là trung tâm văn minh của thời đại Áo Nghĩa Thư. Còn hạ lưu là đồng bằng rộng lớn của cả miền Đông Ấn Độ. Đến thời Đức Phật, hai bên bờ sông Hằng trở thành khu vực giáo hóa trọng yếu của Ngài và các vị Đệ Tử. Vùng nầy dân cưđông đúc, kinh tế phồn thịnh, giao thông tiện lợi, sản vật dồi dào; cho nên người Ấn Độ xem nơi nầy là vùng đất Thánh.

Cứ theo Huyền Ứng âm nghĩa quyển thứ 24 thì cát sông Hằng rất mịn, cùng chảy theo dòng, tay vục lấy nước thì cát đầy trong tay. Trong các kinh điển Phật Giáo, cát sông Hằng được dùng để ví dụ cho số lượng nhiều, không thể tính đếm được.

Người đời gọi sông nầy là sông Phúc; hoặc sông Phúc Đức tốt lành. Phổ thông tin rằng tắm nước sông Hằng có thể tiêu trừ tội lỗi.

Luận Đại Trí Độ quyển 7 (Đại 25, 114 thượng) nói: “Mọi người đều cho rằng sông Hằng là sông phúc lành, người tắm trong đó thì các tội lỗi đều trừ sạch hết”.

Đại Đường Tây Vức Ký quyển 4 (Đại 51, 891 trung) nói: “Phong tục xứấy cho là sông phúc lành, tội lỗi tuy nhiều, tắm gội liền hết. Người chán đời đến đây trầm mình, sẽ được sinh lên cõi trời. Thi hài thả xuống sông, trôi theo dòng nước, linh hồn được cứu, thoát khỏi đường ác”, (Sách đã dẫn trang 2087).

Thành Ba La Nại nằm bên bờ sông Hằng; cũng còn gọi là chư Thiên Đọa xứ; nới đây là Thánh địa của Ấn Độ Giáo, mà cũng là Thánh địa của Phật Giáo nữa. Đây là nơi thuyết pháp lần đầu tiên của Đức Phật về Pháp Tứ Diệu Đế cho 5 anh em Kiều Trần Như, liền sau khi Đức Phật Thành Đạo. Ngay cả ngày nay người theo Ấn Độ Giáo vẫn tin như định nghĩa bên trên là khi chết đem xác nhúng vào nước sông Hằng thì hồn sẽ được bay lên trời. Sau đó mới đem lên bờ sông để thiêu. Khi sống cũng vậy. Có nhiều người Ấn Độ tin rằng nếu tắm được nước sông Hằng, sẽ tiêu trừ các tội lỗi. Do vậy mà mỗi sáng mai, người Ấn Độ thường lặn hụp dưới dòng sông thiêng nầy để mong được hết tội.

Đức Bổn Sư của chúng ta dạy khác: “Tội lỗi không thể rửa bằng nước được, mà phải rửa bằng sự sám hối và có tâm xấu hổ về những việc trong quá khứ, tội kia mới nhẹđi”. So ra giữa Phật Giáo và Ấn Độ Giáo có nhiều điểm không tương đồng nhau. Cho nên người Phật Tử đến đây, thấy ít có người tắm dưới sông Hằng. Vì dưới mắt họ sông nầy tuy linh thiêng đối với người theo Ấn Giáo; nhưng là một con sông chứa rất nhiều tử thi của người, bò, chó, mèo, heo, gà v.v...

Nhưng điều đặc biệt là ít thấy người nào bị bịnh khi tắm nơi dòng sông thiêng ấy. Có lẽ do đức tin mà thành hay các vị Thần linh có đầy quyền năng để biến hóa nước kia, trở thành linh hiển hơn chăng?

Ngài A Nan trước khi nhập diệt cũng dùng dòng sông Hằng nầy để thi triển thần lực lên hư không và Ngài dùng lửa tam muội để tự thiêu thân mình. Sau đó xá lợi rớt xuống 2 bên bờ sông, các vua đương thời ai nhặt được phần nào thì đem phần ấy về thờ. Nếu Ngài A Nan không làm như vậy thì sẽ có sự tranh giành nhau, khiến Ngài không thể xả bỏ báo thân được.

Từ Vanarasi đi Calcutta độ 800 cây số đường bộ, có rất nhiều đền đài cung điện mọc lên hai bên bờ sông Hằng. Nhiều Thánh tích của Ấn Độ Giáo vẫn còn giữ nguyên nơi đây, nhất là vào những mùa lễ hội nước. Đây là một tục lệ có từ lâu đời của Ấn Độ Giáo, ít nhất là

5.000 năm nay.

Ngọn núi Everest trên dãy Hy Mã Lạp Sơn cao nhất thế giới là 8848 mét. Do vậy nơi nầy có nhiều tuyết và nước từ tuyết ấy tan ra chảy mãi không bao giờ ngừng; nên sông Hằng trải dài trên cao nguyên Tây Tạng đến Ấn Độ qua 2.700 cây số đường dài như thế, con sông kia đã mang theo cát và phù sa làm giàu thêm nền nông nghiệp cho người dân sống ở hai bên bờ con sông thiêng lịch sử ấy.

Mặt trời mọc nơi sông Hằng vào mỗi sáng mai vào lúc 4 giờ rất đẹp. Ta hình dung như mình gần gũi với Đấng Tạo Hóa hơn và cát từ bên kia bờ sông cũng trong trắng hơn, dưới ánh sáng lấp lánh của những tia sáng mặt trời ban mai ấy rọi chiếu.

Đức Phật lúc nào nói đến một cái gì đó số nhiều không thể diễn tả hết được, Ngài hay dùng đến cát của sông Hằng. Đây là một con sông thiêng gắn liền với lịch sử hoằng pháp của Ngài cũng như những đệ tử của Ngài từấy cho đến ngày nay.

Dĩ nhiên là cát sông Hằng suốt 2.700 cây số dọc theo hai bên bờ sông thì không ai có thể đếm và tả xiết; nên ông Tu Bồ Đề trả lời là rất nhiều. Những sông như sông Hằng thường nhiều vô số, hà huống là số cát có trong ấy. Nhưng nếu có người thiện nam kẻ thiện nữ nào dùng bảy thứ báu là vàng, bạc, xa cừ, xích châu, mã não, san hô, hổ phách v.v... nhiều như cả 3.000 Đại Thiên Thế Giới để bố thí thì phước ấy rất nhiều; nhưng Đức Phật lại bảo rằng: Phước ấy tuy nhiều mà chẳng bằng người thiện nam hay kẻ thiện nữ thọ trì cho đến 4 câu kệ trong kinh nầy và vì người khác giảng nói ra thì phước đức của người trì kinh; nhiều hơn là phước đức của người bố thí 7 thứ báu kia.

Vì sao vậy? Vì bảy thứ báu ấy là những thứ quý giá nhất ở trong thế gian nầy; nhưng nếu đem ra bố thí chỉ được phước hữu lậu. Phước hữu lậu là phước có thời gian, năm, tháng. Còn người trì kinh và hiểu rõ được ý nghĩa của kinh, phước đức nầy còn hơn kia. Vì lẽđây là phước vô lậu. Phước vô lậu không có hình tướng nhưng cũng có thể ví như ánh sáng của cây đèn cầy. Mồi từ cây nầy sang cây khác, ánh sáng ấy sẽ mải sáng hơn. Còn phước hữu lậu, dầu cho cây phước đức ấy có cao lớn đến bao nhiêu đi chăng nữa, cứ đốt ngày lẫn đêm thì có ngày sẽ tàn lụi. Tuy có phước đức đó; nhưng không nhiều bằng người hành trì cho đến 4 câu trong kinh Kim Cang thôi. Quả là phước đức vô lượng.

Đoạn thứ 12: Phần tôn trọng chánh giáo

“Lại nữa Tu Bồ Đề! Tùy theo chỗ nói của kinh nầy cho đến 4 câu kệ v.v... Nên biết rằng nơi ấy, tất cả trời, người, A Tu La trong thế gian; ai ai cũng nên cúng dường như tháp miếu của Phật. Hà huống là có người trọn hay thọ trì, đọc tụng. Tu Bồ Đề! Ông nên biết rằng người nầy thành tựu pháp tối thượng đệ nhất, khó có vậy. Nếu mà kinh nầy ở tại nơi nào; tức là có Phật; hoặc những vị Đệ Tử của Phật”.

Trời, người, A Tu la là những chúng sanh nơi cõi dục nầy khi thấy người trì kinh nầy cho đến chỉ 4 câu kệ thôi cũng nên cung kính cúng dường. Sự cúng dường ấy mang một ý nghĩa trọng đại. Vậy cúng dường là gì?

“Nguyên chữ Hán là cung dưỡng. Tiếng Phạn và Pali gọi là Pujana. Còn gọi là cung, cung thí, cung cấp, đả cung. Nghĩa là dâng các thứ thức ăn, uống, quần áo v.v... cúng dường Tam Bảo, Sư trưởng, Cha mẹ và vong linh v.v... Lúc đầu, sự cúng dường lấy hành vi thân thể làm chính, sau cũng bao hàm sự cúng dường thuần túy tinh thần; cho nên mới chia ra làm Thân phần cúng dường và Tâm phần cúng dường. Cứ theo Di Giáo kinh luận chép thì thức ăn, quần áo, thuốc thang thuộc về thân phần cúng dường. Tâm cúng dường hơn hết, tâm cúng dường không nhàm chán, tâm cúng dường bình đẳng, thuộc tâm phần cúng dường. Ở thời kỳ đầu, giáo đoàn lấy việc cúng dường thức ăn, quần áo, đồ nằm, thuốc thang làm chính yếu; gọi đây là Tứ sự cúng dường. Các vật cúng dường Phật, chùa tháp, tượng Phật, giáo pháp, Tỳ Kheo, Tỳ Kheo Ni và phòng xá, đất đai của Tăng Đoàn là nguồn kinh tế trọng yếu của Tăng Đoàn.

Ngoài sự cúng dường tài vật ra, còn có sự cúng dường Pháp, nhưđem tinh thần sùng kính mà cúng dường một cách cung kính, cúng dường tán thán, cúng dường lễ bái, cũng gọi là cung dưỡng. Đến đời sau, đối với những người chết cũng làm Tháp cúng dường.

Nói tổng quát về các vật cúng dường, phương pháp và đối tượng cúng dường, có thể chia ra các loại như sau:

I. Nhị chủng cúng dường (hai loại cúng dường)
* Căn cứ theo Thập Trụ Tỳ Bà Sa quyển 1:
1) Pháp cúng dường, khéo nghe chánh pháp Đại Thừa, hoặc nhiều hoặc ít.
2) Tài cúng dường, bốn thứ cúng dường như cơm ăn, áo mặc v.v...
* Căn cứ theo Đại Nhật kinh cúng dường pháp sớ nói:
1) Lý cúng dường; nghĩa là lấy sự chứng vào lý chân thật làm vật cúng dường.
2) Sự cúng dường, tức là cúng dường hương hoa.

II. Tam chủng cúng dường (ba loại cúng dường)
* Theo Phổ Hiền Hạnh Nguyện Phẩm sớ:
1) Tài cúng dường, cúng dường của báu, hương hoa của thế gian.
2) Pháp cúng dường, phát tâm Bồ Đề làm lợi mình, lợi người.
3) Quán hạnh cúng dường, tu các pháp quán chu biến hàm dung. Sự sự vô ngại của Kinh Hoa Nghiêm
* Theo Thập Địa Kinh luận quyển 3:
1) Lợi dưỡng cúng dường, chỉ cho quần áo, đồ nằm v.v...
2) Cung kính cúng dường, chỉ cho hương hoa, cờ lọng.
3) Hạnh cúng dường; cúng dường tín hạnh, giới hạnh.

III. Tam nghiệp cúng dường
* Theo Pháp Hoa văn cú quyển 3 đoạn 1, ba nghiệp cúng dường là thân, khẩu, ý.
1) Thân nghiệp cúng dường, thân rất mực thành kính lễ bái chư Phật và Bồ Tát.
2) Khẩu nghiệp cúng dường, miệng nói lời khen ngợi công đức của chư Phật và Bồ Tát
3) Ý nghiệp cúng dường, tâm ý ngay thẳng, quán tưởng tướng tốt trang nghiêm của chư Phật và Bồ Tát.

IV. Tứ chủng cúng dường (bốn loại cúng dường)
* Cứ theo Đại Nhật kinh nghĩa thích quyển 11 thì có 4 loại cúng dường là: hương hoa, chắp tay, từ bi và vận tâm
* Cứ theo lý thú thích quyển hạ nói có 4 loại cúng dường của Du Già Giáo là: Tâm bồ đề cúng dường, tư lương cúng dường, pháp cúng dường và Yết Ma cúng dường.

V. Tứ sự cúng dường (bốn loại cúng dường)
* Theo kinh Tăng Nhất A Hàm quyển 13 nói có 4 loại cúng dường là: áo quần, ăn uống, giường mền và thuốc thang.
. Cứ theo kinh Vô Lượng Thọ quyển hạ nói, thì có 4 thứ cúng dường là: treo phan cờ, thắp đèn nến, rải hoa và thắp hương.
. Cứ theo Thiện Kiến luật Tỳ Bà sa quyển 13 nói, thì có 4 thứ cúng dường là: thức ăn, quần áo, thuốc thang và phòng xá.

VI. Ngũ chủng cung dưỡng (năm loại cúng dường)
* Cứ theo kinh Tô Tất Địa Yết La quyển hạ nói, thì có 5 loại cúng dường là: hương hoa (giữ giới), hoa cài tóc (bố thí), hương thắp (tinh tiến), ăn uống (thiền định), đèn nến (trí tuệ); thêm át già (nước trong) tức là nhẫn nhục nữa mà thành ra 6 loại cúng dường.

VII. Thập chủng cung dưỡng (mười loại cúng dường)

. Theo kinh Pháp Hoa phẩm Pháp Sư nói, thì có 10 loại cúng dường là: hoa, hương, anh lạc, hương bột, hương thoa, hương đốt, phan lọng, cờ phướn, quần áo và âm nhạc.

. Theo Đại Tạng pháp số thì đem cờ phướn gọp chung vào phan lọng, rồi thêm chắp tay nữa thành là 10 cúng dường.

. Kinh Bồ Tát Địa Trì quyển 7 liệt kê 10 thứ là: thân cúng dường, cúng dường chi đề, cúng dường hiện tiền, cúng dường không hiện tiền, mình cúng dường, người cúng dường, cúng dường tài vật, cúng dường thù thắng, cúng dường không nhiễm ô, cúng dường chí xứ đạo v.v...

Ngoài ra, vật cúng trước bàn Phật, gọi là Phật cúng, vật cúng trước Thần gọi là Thần cúng. Cúng dường Phạm Thiên, Đế Thích Thiên, Công đức hoan hỷ thiên v.v... thì gọi là Cúng thiên hoặc Thiên cúng. Cúng vong linh người chết, gọi là Truy Thiện cúng dường. Chuyên cúng quỉ đói, gọi là Ngạ Quỉ cúng dường. Làm lễ khánh thành khai quang tượng Phật, gọi là Khai Nhãn cúng dường. Cúng dường kinh, gọi là Khai Đề cúng dường, cũng gọi là Kinh cúng dường. Nhất Thiết kinh cúng dường, biên chép cúng dường, như viết chép Kinh Duy Ma để cúng dường gọi là Duy Ma kinh cúng dường. Đúc chuông xong, làm lễ khánh thành để đánh chuông, gọi là Chung cúng dường.

Còn nói về Tam Bảo thì cúng dường Phật, gọi là Phật cúng dường, cúng dường Pháp, gọi là Pháp cúng dường, Hạnh cúng dường; cúng dường Tăng, gọi là Tăng cúng dường, Tăng cúng. Trong đó, thỉnh 100 vị Tăng thiết trai cúng dường, gọi là Bách Tăng cúng dường; thỉnh 1.000 vị Tăng thiết trai cúng dường, gọi là Thiên Tăng cúng dường; hoặc gọi là Thiên Tăng trai, Thiên Tăng cúng, Thiên Tăng hội. Truyền thuyết nói; công đức của loại cúng dường nầy là vô lượng.

Còn người thí chủ cúng dường, gọi là cúng dường chủ. Cúng dường chúng Tăng, cũng gọi là cúng chúng, cúng chiêm. Bài văn đọc tụng nói lên ý nghĩa cúng dường, gọi là cúng dường văn. Tạo tượng Phật cúng dường để cầu phước, gọi là cúng dường Phật. Thắp đèn sáng cúng dường tượng Phật và tháp, thì gọi là cúng đăng.

Tại Nhật Bản sau khi viết chép kinh điển, đem cúng dường, truyền giảng, gọi là cùng giảng... (Phật Quang Đại TừĐiển – Hòa Thượng Thích Quảng Độ dịch từ trang 1115 đến trang 1117).

Như vậy tùy theo nơi chốn nói kinh nầy; tất cả trời, người, A Tu La v.v... đều nên cúng dường và xem như là sự cúng dường tháp miếu của Phật. Đó là chưa kể đối với những người trì, tụng, đọc, giảng nói kinh nầy thì cũng nên cúng dường như những việc vừa nêu trên. Vì người trì kinh Kim Cang nầy là khó có và thành tựu pháp tối thượng đệ nhất. Hãy xem và tôn trọng nơi nào có kinh nầy như có Phật nơi đó và kể cả các vị Đệ Tử của Phật cũng vậy.

Đức Phật Thích Ca Mâu Ni huyền ký rằng: Trong tương lai vào đời mạt pháp, chùa chiền, tượng Phật v.v... không còn nữa; nhưng giáo pháp của Đức Phật luôn mãi thường hằng. Vậy người trì kinh chính là người gìn giữ lại chánh pháp của Đức Phật; chúng ta nên thành tâm đảnh lễ và cúng dường.

Sự cúng dường như trên đã trình bày có rất nhiều cách, mà cách cần thiết nhất. Đó là tứ sự cúng dường. Khi chúng ta thấy được người trì kinh Kim Cang nầy thì nên cúng dường cho họ: chỗ nghỉ ngơi, mền chiếu, đồ ăn và thuốc thang. Đây là những việc căn bản mà chúng ta nên gìn giữ để giáo pháp của Đức Phật mãi mãi được truyền vào trong thế gian nầy.

Đoạn thứ 13: Phần như pháp thọ trì

“Lúc bấy giờ Ngài Tu Bồ Đề bạch Phật rằng: Kính bạch Đức Thế Tôn! Kinh nầy gọi tên như thế nào? Chúng con phụng trì như thế nào?

Phật bảo: Nầy Tu Bồ Đề! Kinh nầy gọi là: Kinh Kim Cang Bát Nhã Ba La Mật, do tên gọi nầy mà ông nên phụng trì. Vì sao như thế? Nầy Tu Bồ Đề! Phật nói Kim Cang Bát Nhã Ba La Mật tức chẳng phải là Bát Nhã Ba La Mật, chính là Bát Nhã Ba La Mật. Nầy Tu Bồ Đề! Ý ông nghĩ sao? Như Lai có chỗ nói pháp chăng?

Tu Bồ Đề bạch Phật rằng: Bạch Đức Thế Tôn! Như Lai không chỗ nói pháp. Tu Bồ Đề! Ý ông nghĩ sao 3.000 Đại Thiên thế giới có bao nhiêu vi trần. Điều ấy có nhiều chăng?

Tu Bồ Đề thưa: Thật nhiều! Bạch Đức Thế Tôn. Tu Bồ Đề! Những vi trần ấy Như Lai nói chẳng phải vi trần; đó là vi trần. Như Lai nói thế giới chẳng phải thế giới; đó là thế giới.

Tu Bồ Đề! Ý ông nghĩ sao? Có thể dùng 32 tướng để thấy Như Lai chăng?

Chẳng thể! Bạch Đức Thế Tôn. Chẳng thể dùng 32 tướng để được thấy Như Lai. Vì sao vậy? Như Lai nói 32 tướng ấy tức chẳng phải tướng. Đó gọi là 32 tướng.

Tu Bồ Đề! Nếu có người con trai tốt; người con gái lành nào đem thân mệnh mình để bố thí như cát sông Hằng. Hoặc lại nếu có người đối với kinh nầy cho đến thọ trì 4 câu kệ v.v... và vì người khác diễn nói thì phước nầy lại hơn kia”.

Đến đoạn nầy Ngài Tu Bồ Đề mới hỏi Đức Phật về tên của Kinh và phải phụng trì chánh pháp của Như Lai như thế nào? Đức Phật trả lời là Kinh Kim Cang Bát Nhã Ba La Mật; ông nên phụng trì. Trong các thứ kim loại có vàng, bạc là quý nhất; nhưng quý và cứng hơn cả vẫn là kim cương. Kim cương không những không bị băng hoại rỉ nứt bởi các thứ kim loại khác xúc tác, mà ngược lại kim cương còn chinh phục cũng như chi phối những loại kim loại khác nữa. Ví dụ như lấy một mảnh kim cương có thể rạch đứt một tấm kiếng; nhưng ngược lại lấy kiếng đem rạch kim cương không thể đứt. Bát Nhã có nghĩa là trí tuệ. Chỉ có những người tu hành dụng công một cách rốt ráo mới có thể đạt đến được phần nầy. Còn Ba La Mật có nghĩa là rốt ráo hay qua bên kia bờ. Bên nầy bờ là bờ của sanh tử. Còn bên kia bờ là bờ của sự giải thoát, giác ngộ. Mục đích của kinh nầy là như vậy.

Phật nói Bát Nhã Ba La Mật tức chẳng phải Bát Nhã Ba La Mật, thì mới đích danh là Bát Nhã Ba La Mật. Đây là một tư tưởng Không của phái Trung Quán, hay tư tưởng Không của Bát Nhã. Không nầy không phải là không gì cả, mà trong không ấy có Chơn Như Diệu Hữu.

Đức Phật đã nói pháp qua 12 bộ kinh và hơn 300 hội lớn nhỏ khác nhau cho loài người, chư Thiên cũng như các vị Bồ Tát ở cõi nầy và cõi khác nghe; nhưng thật ra Đức Phật đã chẳng nói lời nào. Vì lẽ những Pháp mà Đức Phật thuyết không phải do Ngài khai sáng ra, mà chỉ do Ngài thị hiện chỉ bày chỗ chơn thật cho chúng sanh mà thôi. Vì quá khứ chư Phật cũng đã nói như vậy. Hiện tại cùng vị lai các vị Phật khác ra đời cũng không nói ra khỏi chơn lý giải thoát và tư tưởng không ấy.

Một Đại Thiên thế giới có 1.000 Trung Thiên thế giới. Một Trung Thiên thế giới gồm 1.000 Tiểu Thiên thế giới. Một Tiểu Thiên thế giới gồm 1.000 Tiểu Thế Giới. Một Tiểu Thế Giới gồm một mặt trời; một mặt trăng và 5 châu 4 biển. Đây là cái nhìn về vũ trụ của Đức Phật bằng con mắt tuệ giác siêu việt của mình. Mãi cho đến thế kỷ thứ 16 trởđi và nay là thế kỷ thứ 21, các nhà Bác Học, các nhà Thiên Văn Học đi tìm điểm cuối cùng của vũ trụ vẫn chưa thấy. Cho nên nhà Bác Học Albert Einstein cha đẻ của thuyết tương đối nói rằng:

“Phật Giáo không cần đi tìm tính cách khoa học của mình trong những lời dạy của Đức Phật nữa. Vì những lời dạy của Đức Phật đã vượt hẳn hơn tất cả những giá trị tìm kiếm của khoa học rồi”.

Ở vào thời điểm thế kỷ thứ 20. Nhân loại có mặt trên quả địa cầu nầy hơn 6 tỷ người. Trong hơn 6 tỷ người ấy thế giới đã chọn một nhà Bác Học đại diện cho khoa học. Đó chính là nhà Bác Học Albert Einstein, người Đức, gốc Do Thái, đã mạnh dạn tuyên bố như vậy, thì chúng ta là những người Phật Tử không còn nghi vấn gì về tính cách khoa học của Phật Giáo mà Đức Phật đã dạy trong các kinh điển xưa nay vậy.

Nếu mà tính vi trần của 3.000 Đại Thiên thế giới thì quá sức tưởng tượng. Vi là thật nhỏ; trần có nghĩa là bụi. Cũng có thể gọi theo khoa học ngày nay là những vi phân tử. Tất cả từ đất, nước, gió, lửa, không khí v.v... đều do các vi phân tử nầy tạo thành. Nếu đặt để, chia chẻ ra thì không có đồ gì có thểđem đong được và cũng chẳng có vật gì có thểđo lường được. Những vi trần nhiều như thế mà Đức Phật nói là chẳng có vi trần nào cả và Đức Như Lai nói về các thế giới; nhưng thật ra chẳng có thế giới nào cả, thì đó mới chính là thế giới.

Đức Phật hỏi tiếp Ngài Tu Bồ Đề rằng: Có thể dùng 32 tướng để thấy Đức Như Lai chăng? Ngài Tu Bồ Đề trả lời rằng: Không thể dùng 32 tướng để thấy Đức Như Lai.

Đức Phật có 32 tướng tốt và 80 vẻ đẹp. Sở dĩ Ngài có được như vậy, vì Ngài giữ giới thanh tịnh; nên các tướng tốt mới hiển bày nơi thân thể. Còn chúng ta đa phần là phá giới. Cho nên thân thể xấu, lùn; không có một tướng hảo nào cả. Vậy 32 tướng tốt ấy là gì?

Tiếng Phạn gọi là Dvattimsa maha – Parisalakkhanani cũng gọi là tam thập nhị đại nhân tướng, tam thập nhị đại trượng phu tướng, tam thập nhị đại sĩ tướng, Đại Nhân tam thập nhị tướng. Gọi tắt là: Đại nhân tướng, Tứ bát tướng, Đại sĩ tướng, Đại trượng phu tướng.

Chỉ cho 32 dung mạo thù thắng và hình tướng vi diệu của Chuyển Luân Thánh Vương và thân Ứng hóa của Phật.

Về thứ tự tên gọi 32 tướng thì có các thuyết khác nhau, ởđây ghi theo thứ tự trong luận Đại Trí Độ quyển 4 như sau:

1. Túc hạ an bình lập tướng (Phạn: Supratisthita – Pada) cũng gọi là túc hạ bình mãn tướng, lưỡng túc chưởng hạ giai tất bình mãn tướng. Tướng lòng bàn chân bằng phẳng mềm mại, đặt sát mặt đất khít khao, là tướng vi diệu cảm được nhờ Phật tu 6 Ba La Mật khi hành đạo Bồ Tát ở Nhân Vị; tướng nầy biểu thị đức dắt dẫn, làm lợi ích.

2. Túc hạ nhi luân tướng, cũng gọi là Thiên phúc nhân tướng. Tướng bánh xe bán nghìn nam hoa bằng

những vân thịt hiện ở giữa lòng bàn chân. Tướng nầy có công năng phá dẹp oán địch, ác ma, biểu trưng đức chiếu phá ngu si và vô minh. Có thuyết cho rằng “Túc” cũng chỉ cho cả chân lẫn tay, nên còn gọi là Thủ túc luân tướng (Phạn: Cakrankita – hasta – pada – tala) Thủ chưởng luân tướng.

1. Trường chỉ tướng (Phạn: Dirghanguli) cũng gọi là Chỉ tiêm trường tướng. Chỉ cho tướng các ngón tay thon dài, ngay thẳng, là tướng do cung kính lễ bái Sư Trưởng, diệt trừ tâm kiêu ngạo mà cảm được, biểu thị tướng sống lâu, khiến chúng sanh ưa thích quy y.

2. Túc cân quảng bình tướng (Phạn: Agata – pada – parsni) cũng gọi là Túc cân viên mãn tướng; Túc cân trường tướng, cước cân trường tướng. Tướng gót chân đầy đặn tròn trịa, do trì giới, nghe pháp và siêng tu hạnh nghiệp mà được. Tướng nầy biểu thị cho đức giáo hóa làm lợi ích cho tất cả chúng sanh suốt đời vị lai.

5. Thủ túc chỉ man võng tướng (Phạn: Jalavanadha

– hasta –pada), cũng gọi là Chỉ gian nhạn vương tướng, Câu hữu võng man tướng, Chỉ võng man tướng. Tức giữa khoảng các ngón tay, ngón chân đều có màng nối dính với nhau, như chân ngỗng chúa, hễ xòe ngón tay, ngón chân ra thì thấy màng, không xòe thì không thấy. Tướng nầy là do tu Tứ Nhiếp Pháp, nhiếp trì chúng sanh mà cảm được, biểu thị đức lìa phiền não ác nghiệp, ẩn hiện tự tại vô ngại, đến bờ vô vi bên kia.

6. Thủ túc nhu nhuyến tướng (Phạn: Msdu – taruna

– hasta – pada – tala) cũng gọi là Thủ túc nhưđâu la miên tướng, Thủ túc tế nhuyến tướng. Tức tướng tay chân rất mềm mại như lông tơ, là tướng có được do cúng dường bậc Sư Trưởng thức ăn uống thượng diệu, y phục, đồ dùng; hoặc đích thân hầu hạ và làm việc như lau chùi, tẩy rửa... khi cha mẹ, Sư trưởng lâm bệnh. Tướng nầy biểu thị cái đức dùng tay từ bi mềm mại của Phật nhiếp thủ chúng sanh thân cũng như sơ.

1. Túc phu cao mãn tướng (Phạn: Ucchankla – pada), cũng gọi Túc phu long khởi tướng, Túc phu đoan hậu tướng, Túc phu cao bình tướng. Tức tướng mu bàn chân nổi lên cao tròn đầy đặn, là tướng cảm được nhờ Phật khi còn ở Nhân vịđã dũng mãnh tinh tiến tu phước. Tướng nầy biểu thị cái nội đức đại bi vô thượng làm lợi ích cho chúng sanh .

2. Y nê diên thuyển tướng (Phạn: Aineya – Jangha), cũng gọi là Thuyên như lộc vương tướng, Lộc vương thuyên tướng, Lưỡng thuyên lộc vương tướng. Tức tướng xương bắp đùi tròn nhỏ như xương đùi của nai chúa, là tướng cảm được do các kiếp quá khứ chuyên tâm nghe pháp và nói pháp. Tướng nầy biểu thị cái đức tất cả tội chướng đều đã tiêu diệt.

3. Chính lập thủ ma đằng tướng (Phạn: Sthitanavanata – pralamba – bahuta), cũng gọi là Thủy thủ quá tất tướng, Bình trụ thủ quá tất tướng. Tức khi

đứng ngay ngắn, 2 tay rũ xuống, dài quá đầu gối. Tướng nầy do lìa ngã mạn, thích bố thí, không tham đắm mà cảm được, biểu thị các đức nhiếp phục tất cả ác ma, thương xót xoa đầu chúng sanh.

1. Âm tàng tướng (Phạn: Kosopagata – vasti – guhya), cũng gọi Mã âm tàng tướng, Âm mã tàng tướng, Tượng mã tàng tướng. Tức tướng nam căn ẩn kín trong mình, giống như sinh lực khí của loài ngựa (hoặc loài voi). Tướng nầy do đoạn trừ tà dâm và che chở cho chúng sanh trong lúc sợ hãi mà cảm được, biểu thị đức trường thọ và có nhiều đệ tử.

2. Thân quảng trường đẳng tướng (Phạn: Nyagradha – Parimandala), cũng gọi là Thân trung quảng đẳng như ni câu thụ tướng, Viên thân tướng, Ni câu lô đà thân tướng. Chỉ cho thân Phật ngang dọc, phải trái, trên dưới đều có hình lượng quân bình, chung quanh tròn trịa, đầy đặn như cây Ni Câu Luật. Tướng nầy do Đức Phật thường khuyên chúng sanh tu hành Tam Muội và thực hiện Vô úy thí mà cảm được, biểu thị cái đức vô thượng tôn quí tự tại.

12. Mao thượng hướng tướng (Phạn: Urdhvam – ga

– roma), cũng gọi là Mao thượng toàn tướng, Thân mao hữu toàn tướng. Tất cả lông tóc của Phật từ đầu đến chân đều xoay về bên phải và có màu xanh biếc, rất mềm mại, óng mượt. Tướng nầy là do tu hành tất cả pháp lành mà cảm được, thường khiến cho chúng sanh chiêm ngưỡng đều sinh tâm hoan hỷ, được vô lượng lợi ích.

1. Nhất nhất khổng nhất mao sinh tướng (Phạn: Ekaika – roma – prada – ksinavarta), cũng gọi là Mao khổng nhất mao tướng, Khổng sinh nhất mao tướng, Nhất nhất mao tướng, Nhất khổng nhất mao bất tương tạp loạn tướng. Tức là tướng mỗi lỗ chân lông mọc một sợi lông có màu lưu ly xanh, mỗi lỗ chân lông đều toát ra mùi thơm vi diệu. Tướng vi diệu nầy cảm được là nhờ tôn trọng, cúng dường tất cả hữu tình, giáo hóa người không biết mỏi mệt, gần gũi bậc trí, dọn dẹp sạch sẽ đường sá gai gốc; ánh sáng của tướng vi diệu nầy có năng lực tiêu trừ tội chướng của 20 kiếp.

2. Kim sắc tướng (Phạn: Suvarna – Varna), cũng gọi là Chân diệu kim sắc tướng, Kim sắc thân tướng, Thân bì kim sắc tướng. Thân Phật và tay chân đều có màu vàng ròng, nhưđài vàng trang nghiêm bằng các thứ báu vi diệu. Tướng nầy là do lìa các phẫn nộ, nhìn chúng sanh bằng ánh mắt từ bi mà cảm được. Đức tướng nầy có năng lực khiến chúng sanh khi chiêm ngưỡng thì chán bỏ ái lạc, diệt tội sinh thiện.

3. Đại quang tướng, cũng gọi là Thường quang nhất tầm tướng. Viên quang nhất tầm tướng, Thân quang diện các nhất trượng tướng. Ánh sáng trên thân Phật nhậm vận chiếu soi, 4 phía mỗi phía đều chiếu xa một trượng. Tướng nầy là nhờ phát tâm Đại Bồ Đề, tu vô

lượng hạnh nguyện mà cảm được, có năng lực trừ hoặc phá chướng, biểu thị cái đức tất cả chí nguyện đều viên mãn.

1. Tế bạc bì tướng (Phạn: Suksma – suvarna – echavi), cũng gọi là Bì phu tế nhuẫn tướng, Thân bì tế hoạt trần cấu bất trước tướng. Tức là da mỏng mịn, bóng láng, tất cả bụi bặm không dính. Tướng nầy có được là do bố thí y phục, đồ dùng thanh tịnh và phòng xá, lầu gác ... cho chúng sanh, xa lìa kẻ ác, gần gũi bậc trí... Tướng nầy biểu thị cái đức bình đẳng thanh tịnh, dùng Đại từ bi giáo hóa làm lợi ích chúng sanh.

2. Thất xứ long mãn tướng (Phạn: Saptotsada), cũng gọi là Thất xứ mãn kiên tướng, Thất xứ long tướng. Tức thịt ở 7 chỗ: Hai tay, dưới lòng 2 bàn chân, 2 vai và ở cổ đều đầy đặn, mềm mại. Tướng nầy là do xả bỏ những thứ mình yêu quý một cách không nuối tiếc để bố thí cho chúng sanh mà cảm được, biểu thị cái đức làm cho tất cả chúng sanh đều được diệt tội sinh thiện.

3. Lưỡng dịch hạ long mãn tướng (Phạn: Citantaramsa), cũng gọi là Dịch hạ bình mãn tướng, Kiên bác viên mãn tướng. Xương thịt dưới 2 nách của Phật đầy đặn không lõm. Diệu tướng nầy có được là do Phật đã cho thuốc thang, thức ăn uống và đích thân săn sóc bịnh cho chúng sanh.

1. Thượng thân như sư tử tướng (Phạn: Simha – purvardha – kaya), cũng gọi là Thượng thân tướng, Sư tử thân tướng, Thân như Sư tử tướng. Nghĩa là nửa thân trên của Phật rộng lớn, uy dung đi đứng ngồi nằm trang nghiêm giống như Sư Tử chúa. Do Đức Phật trong vô lượng thế giới chưa từng nói 2 lưỡi, dạy người các pháp lành, mang lại những điều nhân ái, hòa thuận, xa lìa ngã mạn... mà cảm được tướng nầy; biểu thị cái đức uy dung cao quý, từ bi quảng đại.

2. Đại trực thân tướng (Phạn: Rjugatrata), cũng gọi là Thân quảng hồng trực tướng, Quảng hồng trực tướng, Đại nhân trực tướng. Nghĩa là trong tất cả mọi người, Phật có thân cao lớn, ngay thẳng nhất. Tướng nầy do cho thuốc, chẩn bệnh, không giết hại, không trộm cắp, xa lìa kiêu mạn mà cảm được; có năng lực khiến cho chúng sanh khi chiêm ngưỡng thì dứt khổ, được chánh niệm, tu 10 điều lành.

3. Kiên viên hảo tướng (Phạn: Susamvrta – skandha), cũng gọi là Kiên viên đại tướng, Lưỡng kiên bình chỉnh tướng. Tức tướng 2 vai tròn trịa, đầy đặn, thù thắng vi diệu. Nhờ tạo tượng, xây tháp, bố thí sự không sợ hãi mà cảm được tướng nầy, biểu trưng vô lượng công đức, diệt trừ phiền não nghiệp chướng.

4. Tứ thập xỉ tướng (Phạn: Cartvarimsad – danta), cũng gọi là Khẩu tứ thập xỉ tướng, Cụ tứ thập xỉ tướng. Nghĩa là Phật có 40 chiếc răng, mỗi mỗi đều bằng nhau,

đầy đặn và trắng như tuyết. Tướng nầy là do không nói 2 lưỡi, không nói ác, không có tâm nóng giận, tu tập từ bi bình đẳng mà cảm được. Từ hàm răng thường thoảng ra mùi thơm thanh tịnh, vi diệu. Diệu tướng nầy có năng lực ngăn chặn nghiệp ác khẩu của chúng sanh, diệt vô lượng tội, được vô lượng an lạc.

1. Xỉ tề tướng (Phạn: Sama – danta), cũng gọi là Xỉ mật tề bình tướng, Chư xỉ tề mật tướng. Nghĩa là những chiếc răng đều đặn, không to không nhỏ, liền khít nhau, không hở một mảy may. Do dùng pháp Thập Thiện giáo hóa làm lợi ích chúng sanh; lại thường khen ngợi công đức của người khác mà cảm được tướng răng nầy; nó biểu thị cái đức có được quyến thuộc thanh tịnh, đồng tâm hòa thuận.

2. Nha bạch tướng (Phạn: Susukla – danta), cũng gọi là Tứ nha bạch tịnh tướng, Xỉ bạch như tuyết tướng. Nghĩa là ngoài 40 chiếc răng ra, hàm trên và dưới mỗi hàm đều có 2 chiếc răng nanh màu sắc tươi trắng sáng sạch, sắc bén như mũi nhọn, cứng chắc như kim cương. Có được tướng nầy là nhờ thường tư duy về các pháp lành và tu các hạnh từ bi. Diệu tướng nầy có năng lực phá trừ tam độc mạnh mẽ bền chặt của tất cả chúng sanh.

3. Sư tử giáp tướng (Phạn: Simha – hanu), cũng gọi là Giáp sa tướng, Giáp sa như Sư tử tướng. Tức là 2 má đầy đặn như má của sư tử. Người được thấy tướng

nầy thì diệt trừ tội sinh tử trong 100 kiếp và được diện kiến chư Phật.

1. Vị trung đắc thượng vị tướng (Phạn: Rasa – rasagrata), cũng gọi là Đắc thượng vị tướng. Thường đắc thượng vị tướng. Tri vị vị tướng. Nghĩa là trong miệng Đức Phật thường có mùi vị tối thượng trong các mùi vị. Tướng nầy là coi tất cả chúng sanh như con một, lại đem các pháp lành hồi hướng bồ đề mà cảm được, nó biểu thị cái đức diệu pháp của Phật có năng lực thỏa mãn chí nguyện của tất cả chúng sanh.

2. Đại thiệt tướng (Phạn: Prabbutatanu – gihva), cũng gọi là Quảng trường thiệt tướng, Thiệt quảng bác tướng, Thiệt nhuyến bạc tướng. Tức là tướng đầu lưỡi rộng, dài, mỏng và mềm mại, khi thè lưỡi ra thì thấu đến chân tóc. Tướng nầy là do phát tâm nguyện rộng lớn, đem hạnh đại bi hồi hướng pháp giới mà cảm được. Quán tưởng tướng nầy thì diệt được tội sanh tử trong trăm ức 8 vạn 4 nghìn kiếp sinh tử và được 80 ức chư Phật, Bồ Tát thọ ký.

3. Phạm thanh tướng (Phạn: Brahma – svara), cũng gọi là Phạm âm tướng, Thanh như Phạm vương tướng. Tức là tiếng Phạm âm viên mãn, thanh tịnh của Phật, vang dội như tiếng trống trời và êm hòa như tiếng chim Ca Lăng Tần Già. Tướng nầy là do nói lời chân thật, lời đẹp đẽ, ngăn dứt tất cả lời nói xấu ác mà cảm được. Người nghe tùy theo căn khí đều được lợi ích sinh thiện,

Đại Thừa, Tiểu Thừa, quyền pháp, thực pháp đều được dứt hoặc trừ nghi.

1. Chân thành nhãn tướng (Phạn: Abhinila – netra), cũng gọi là Mục cảm thanh sắc tướng, Cám nhãn tướng, Cám thanh nhãn tướng, Liên mục tướng. Tức mắt Phật có màu biếc như hoa sen xanh. Tướng nầy do đời đời kiếp kiếp khi bố thí, nhìn những người nhận của bố thí bằng ánh mắt từ bi và lòng hoan hỷ mà cảm được.

2. Ngưu nhãn tiệp tướng (Phạn: Gopaksma), cũng gọi là Nhãn tiệp như ngưu vương tướng, Nhãn như ngưu vương tướng, Ngưu vương tiệp tướng. Tướng lông mi tề chỉnh không tạp loạn. Tướng nầy do quán tưởng tất cả chúng sanh với tâm từ bi, thương xót che chở như cha mẹ thương nhớ đứa con một mà cảm được.

3. Đỉnh kế tướng (Phạn: usnisa – siraskata), cũng gọi là Đỉnh thượng nhục kế tướng. Nhục kế tướng, Ô sắc nị sa tướng. Tướng đỉnh đầu có bướu thịt nổi lên như hình búi tóc. Tướng nầy do dạy người giữ gìn pháp Thập Thiện và tự mình thọ trì mà cảm được.

4. Bạch mạo tướng (Phạn: Urnakesa), cũng gọi là Bạch hào tướng, Mi gian hảo tướng. Tức giữa 2 đầu chân mày có sợi lông trắng, mềm mại nhưđâu la miên (bông), dài một trượng năm thước, cuộn tròn lại theo chiều bên phải. Vì sợi lông nầy thường phóng ra ánh sáng nên được gọi là Hào Quang, Mi gian quang. Diệu tướng nầy

do thấy chúng sanh tu giới, định, tuệ thì vui mừng, khen ngợi mà cảm được.

Ba mươi hai tướng trên, làm 100 điều thiện thì được một diệu tướng; gọi là “bách phúc trang nghiêm” (Phật Quang Đại TừĐiển – Hòa Thượng Thích Quảng Độ dịch từ trang 4894 đến trang 4898).

Nhờ tu nhiều hạnh Ba La Mật và giữ nhiều giới trong nhiều đời mà Đức Phật được 32 tướng tốt như thế. Kèm thêm 80 vẻ đẹp, khiến ai gặp gỡ, thấy nghe cũng sanh tâm hoan hỷ. Đây chỉ là báo thân của Phật. Còn ứng, hóa thân hay Pháp thân của Đức Phật thì thật khó nghĩ bàn. Tuy vậy, nếu ai đó dùng 32 tướng ấy để thấy Đức Như Lai thì sẽ không gặp được. Vì lẽ 32 tướng ấy chẳng phải là tướng, thì đó mới là tướng chân thật của 32 tướng kia.

Nếu có người thiện nam hay kẻ thiện nữ dùng hằng hà sa số thân mệnh như thế để bố thí, thì đối với người trì kinh nầy cho đến 4 câu kệ và vì người khác nói pháp, thì phước của người trì kinh vẫn hơn phước của những người bố thí thân mệnh như thế.

Khi còn hành Bồ Tát đạo, Bồ Tát Hộ Minh cũng như các vị Bồ Tát khác đã bố thí đầu, óc, tim, phổi, chân tay không có ý luyến tiếc. Vì đó là bố thí bất nghịch ý. Hoặc giả như trong kinh Pháp Hoa, phẩm Dược Vương và Dược Thượng Bồ Tát, các Ngài đã hy sinh cả thân mệnh của mình để làm đèn, đốt lên để cúng dường chư Phật, là những hành động và những ý niệm cúng dường không phải ai cũng có thể thực hiện được. Thế mà nơi kinh Kim Cang, Đức Phật vẫn luôn xác nhận là người trì kinh nầy cho đến 4 câu và đem giải nói kinh ấy cho người khác nghe, thì công đức không phải nhỏ, vượt hơn tất cả mọi công đức khác vậy.

Đoạn thứ 14: Phần lìa tướng tịch diệt

“Lúc ấy Ngài Tu Bồ Đề khi nghe nói về kinh nầy rồi, rõ biết ý nghĩa sâu xa, rơi lệ buồn khóc, đoạn bạch Phật rằng:

Hy hữu thay! Đức Thế Tôn! Phật nói kinh điển sâu xa như thế nầy, con từ xưa đến nay, từng ở nơi huệ nhãn, nhưng mà chưa từng được nghe kinh như thế nầy. Nếu lại có người được nghe kinh nầy, có tâm tin thanh tịnh, liền sanh tướng thật. Nên bết người nầy thành tựu công đức khó có đệ nhất. Bạch Thế Tôn! Thật tướng ấy chính là phi tướng; cho nên đây Như Lai nói là thật tướng. Bạch Đức Thế Tôn! Nay con được nghe kinh điển như thế nầy, tin tưởng, rõ biết và thọ trì, không đủ làm khó. Nếu ở đời vị lai, sau 500 năm có chúng sanh nào được nghe kinh nầy, tin tưởng hiểu biết thọ trì, thì người nầy tức là đệ nhất hy hữu. Vì sao vậy?

Vì người nầy không có tướng ta, không có tướng người, không có tướng chúng sanh, không có tướng thọ giả. Sao lại như vậy?

Vĩ ngã tướng tức là chẳng phải tướng, nhơn tướng, chúng sanh tướng, thọ giả tướng tức chẳng phải tướng. Vì sao vậy? Vì lìa tất cả các tướng, tức gọi là chư Phật.

Phật bảo ông Tu Bồ Đề rằng: Như thế, như thếđó. Nếu lại có người nghe kinh nầy rồi mà chẳng kinh, chẳng hãi, chẳng sợ thì nên biết người nầy thật là hy hữu. Vì sao vậy?

Tu Bồ Đề! Như Lai nói đệ nhất Ba La Mật; tức là chẳng phải đệ nhất Ba La Mật. Tu Bồ Đề! Nhẫn nhục Ba La Mật, Như Lai nói chẳng phải nhẫn nhục Ba La Mật, đó mới gọi là nhẫn nhục Ba La Mật. Vì sao vậy?

Tu Bồ Đề! Như ta lúc xưa bị vua Ca Lợi cắt đứt thân thể; lúc ấy đối với ta, không có tướng ta, không có tướng người, không có tướng chúng sanh, không có tướng thọ giả. Vì sao thế?

Đối với ta lúc xa xưa ấy, khi thân thể bị cắt ra từng phần; nếu có tướng ta, tướng người, tướng chúng sanh, tướng thọ giả thì sẽ sinh sân hận. Tu Bồ Đề! Lại nhớ trong quá khứ khoảng 500 đời, lúc ta làm tiên nhơn nhẫn nhục, vào thuởấy không có tướng ta, không có tướng người, không có tướng chúng sanh, không có tướng thọ giả, phát tâm Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác; chẳng nên trụ vào sắc để sanh tâm, chẳng nên trụ vào thanh, hương, vị, xúc, pháp để sanh tâm, mà nên sanh tâm chỗ vô trụ. Nếu tâm có trụ; tức là chẳng trụ; cho nên Phật nói tâm của Bồ Tát chẳng nên trụ vào sắc để bố thí. Tu Bồ Đề! Bồ Tát vì lợi ích tất cả chúng sanh; nên như thế mà bố thí. Như Lai nói tất cả các tướng tức chẳng phải tướng. Lại nữa: Nói tất cả chúng sanh; tức chẳng phải chúng sanh.

Tu Bồ Đề! Như Lai nói lời chân, lời thật, lời như, lời không dối, lời không sai khác. Tu Bồ Đề! Chỗ Như Lai được pháp, mà pháp nầy chẳng thật, chẳng hư. Nầy Tu Bồ Đề! Nếu là tâm Bồ Tát trụ nơi pháp để hành bố thí, thì giống như người vào trong tối, tức chẳng thể thấy. Còn nếu tâm của Bồ Tát chẳng trụ pháp để bố thí thì như người có mắt lại thêm ánh sáng mặt trời rọi chiếu. Thấy đủ loại màu. Tu Bồ Đề! Ở đời vị lai nếu có người trai lành, gái tốt hay thọ trì, đọc tụng đối với kinh nầy, ắt là Như Lai dùng trí huệ Phật, sẽ rõ biết được người nầy, tất thấy người ấy; tất cả đều thành tựu vô lượng vô biên công đức vậy”.

Khi Ngài Tu Bồ Đề nghe Đức Phật nói về công đức của người trì kinh nầy rồi, Ngài liền vui mừng rơi lệ mà khóc. Vì vui quá; nên bật khóc. Bởi lẽ từ xưa đến nay Ngài Tu Bồ Đề được xem là bậc giải Không đệ nhất, có trí tuệ cao vời mà chưa hề nghe kinh với ý nghĩa sâu xa như vậy. Đức Phật cũng bảo như vậy. Nếu có người nào nghe kinh nầy mà cò lòng tin thanh tịnh thì sanh ra thật tướng.

Vậy lòng tin là gì?

Trong kinh Hoa Nghiêm, Đức Phật dạy rằng: “Niềm tin là mẹ sinh ra chư Phật”. Niềm tin ấy bất hoại, tin nhân quả, tin luân hồi, tin về nhân duyên, nghiệp báo. Người nào chẳng tin, tức kẻấy chẳng thành tựu những công đức khó có. Tin thanh tịnh, tức là tin mà không nghi ngờ, trong suốt như pha lê, thanh tịnh như tâm của Bồ Tát, không vì mây mờ che khuất mà trí tuệ của Bồ Tát bịảnh hưởng lây. Người có được lòng tin như thế, phải nói là công đức hy hữu.

Nhưng thật tướng ấy là gì? Tức là chẳng phải tướng; do đấy Như Lai mới gọi là thật tướng.

Ở Âu Châu vào thời Trung cổ có nhiều triết gia Hy Lạp như Aristote đã thành lập loại triết học Tam Đoạn luận như sau:

Tất cả mọi người đều phải chết

Aristote là người

Vậy Aristote phải chết.

Chết là một định luật. Ai sinh ra cũng phải chết cả. Ngay như côn trùng, hay ngôi nhà, cung điện. Vì đây là hệ lụy của sự thành, trụ, hoại, diệt. Triết học nầy nó không giải quyết được nguyên nhân của sanh tử, mà chỉ chạy theo sanh tử và sau đó ra sao nữa triết gia cũng đành bó tay.

Riêng Phật Giáo, nếu định nghĩa theo lối Không của Kinh Kim Cang là một lối định nghĩa làm cho con người phải khai thông trí tuệ như Đức Phật vẫn thường nói:

Thật tướng nầy chẳng phải là tướng

Nên Như Lai nói là thật tướng.

Đã là thật tướng; tức là tướng của chân như mà cũng chẳng phải là tướng; thì đó mới là tướng thật của nó. Đó là Như Lai tạng, là Niết Bàn diệu tâm, vô tướng.

Ngài Tu Bồ Đề đã tin hiểu và thọ trì rồi, việc nầy chẳng khó. Vì Ngài là bậc có trí tuệ, thấu rõ cái lý của Không tướng; nhưng ở đời vị lai sau 500 năm chánh pháp đã trải qua, mà nếu có chúng sanh nào đó nghe được kinh nầy, tin tưởng, hiểu rõ và thọ trì, thì chính việc ấy mới là khó. Vì sao vậy? Vì thời chánh pháp có tu, có hành và có chứng được đạo quả. Đến thời kỳ tượng Pháp thì có tu, có hành nhưng rất khó chứng quả vậy. Nếu có được người trì kinh nầy, tức người đó phải không có tướng ta, tướng người, tướng chúng sanh và tướng thọ giả. Vì sao vậy?

Vì ngã tướng tức là phi tướng. Ngã không có tướng; nhưng chúng ta tự cho nó là ta và nó thuộc về của ta; cho nên mới khổ về nó, rồi đau đớn cũng vì nó; nhưng trên thực tế thì nó chẳng có. Nhơn tướng, chúng sanh tướng, thọ giả tướng cũng vậy. Tất cả những loại nầy chẳng có tướng. Nếu lìa được tất cả các tướng nầy được gọi là chư Phật.

Vậy Phật không trụ vào một tướng nào cả để tồn tại, để thuyết pháp, để bố thí... Còn chúng sanh làm bất cứ việc gì cũng xưng danh để đề cao cái ngã, cái nhơn, cái chúng sanh, cái thọ giả. Dưới mắt chư Phật, những cái nầy nó không có tướng thật của nó.

Khi Tu Bồ Đề hiểu và trả lời như thế thì Đức Phật chứng cho lời ấy và bảo rằng: Như thị, như thị. Đây là nghĩa của chân như, của thật tướng. Chân như thật tướng ấy là gì?

Là: Đệ nhất Ba La Mật tức chẳng phải đệ nhất Ba La Mật.

Đó mới chính là đệ nhất Ba La Mật.

Nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định, trì giới, trí tuệ cũng như vậy.

Đức Phật nhớ lại thời quá khứ gặp Vua Ca Lợi như sau: “Trong thời quá khứ, khi Đức Phật là vị tiên tu hạnh nhẫn nhục, Vua Ca Lợi bạo ngược vô đạo. Một hôm Vua đưa cung nhân ra ngoài du ngoạn, thấy vị tiên tu nhẫn nhục đang ngồi thiền dưới gốc cây, các thị nữ liền bỏ Vua Ca Lợi mà đến chỗ tiên Nhẫn Nhục nghe pháp, nhà Vua thấy thế sanh tâm ác, cắt hết chân tay vị Tiên. Đây là câu chuyện rất nổi tiếng về hạnh tu nhẫn nhục khi Đức Phật còn hành hạnh Bồ Tát”.

Đại Đường Tây Vức Ký quyển 3 chép: Về phía Đông thành Mang Yết Ly nước Ô Trượng Na ở Bắc Ấn Độ có ngôi tháp lớn, người đời truyền rằng đó là nơi vị Tiên Nhẫn Nhục chịu khổ.

Còn Huyền Ứng âm nghĩa quyển 3 thì nêu ra thuyết cho rằng Vua Ca Lợi là Quốc vương Ba La Nại ở Trung Ấn Độ.

Nếu lúc ấy mà Đức Phật Thích Ca hiện thân dưới vị Nhẫn Nhục Tiên Nhơn tu hạnh Bồ Tát mà trụ vào tướng của ngã, của nhơn, của chúng sanh, của thọ giả thì sẽ sanh ra việc sân hận. Vậy công đức tu hành nhẫn nhục đâu còn nữa. Ở lúc đó vị Tiên Nhơn không trụ vào tướng ta, tướng người, tướng chúng sanh và tướng thọ giả thì đó mới chính là Bồ Tát đã lìa tất cả các tướng và không chấp vào bất cứ một tướng nào cả. Từđó mới phát tâm thành tựu được bậc Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.

Việc chấp nhận người khác chặt đứt thân thể của mình mà chẳng trụ vào đó; tức là vị Tiên Nhơn kia không trụ vào sắc để sanh tâm, không trụ vào thanh, hương, vị, xúc, pháp để sanh tâm mà nên sanh tâm chỗ không trụ. Đây là việc khó thực hiện; nhưng Bồ Tát đã làm được. Nếu tâm mà còn trụ vào; tức chẳng phải trụ. Do vậy mà Đức Phật vẫn dạy rằng: Chẳng nên trụ vào sắc để bố thí là như vậy. Bồ Tát vì lợi ích tất cả chúng sanh mà sanh tâm bố thí, chứ không phải vì mình. Đức Phật tiếp: Tất cả các tướng ấy chẳng phải là các tướng. Lại nói: Tất cả chúng sanh chẳng phải là chúng sanh.

Sau khi nghe như vậy Ngài Tu Bồ Đề mới xác nhận lời của Đức Như Lai là thật, chẳng hư, chẳng ngụy, chẳng sai khác. Đó là pháp mà Như Lai đã được. Pháp ấy là pháp gì? Là pháp chẳng thật, chẳng hư. Nếu Bồ Tát lấy tâm để trụ nơi pháp ấy mà bố thí thì cũng giống như con người đi vào chỗ tối, sẽ không thấy gì cả. Nếu Bồ Tát dùng tâm chẳng trụ nơi pháp để thực hành việc bố thí thì như người có mắt, lại thêm có sự chiếu sáng của mặt trời nữa. Nghĩa là làm mà không làm thì đó mới chính là làm. Nếu ở thời vị lai có người nào đó hay thọ trì đọc tụng kinh nầy thì Đức Phật sẽ dùng trí tuệ để rõ biết người nầy và ắt thấy được người nầy. Tất cả sẽ thành tựu được những công đức to lớn vậy.

Đoạn thứ 15: Phần công đức trì kinh

“Tu Bồ Đề! Nếu có thiện nam tử, thiện nữ nhơn nào buổi sáng đem thân mạng bằng số cát sông Hằng để bố thí. Buổi trưa lại dùng thân mạng nhiều như số cát sông Hằng để bố thí. Buổi tối lại dùng thân mạng nhiều như số cát sống Hằng để bố thí, như thế trong vô lượng trăm ngàn vạn ức kiếp, dùng thân để bố thí. Nếu lại có người nghe được kinh điển nầy, tín tâm chẳng nghịch. Phước nầy lại hơn kia. Hà huống là biên chép, thọ trì, đọc tụng và vì người khác giải nói. Nầy Tu Bồ Đề! Điều quan trọng là kinh nầy có bất khả tư nghì, chẳng thể xưng tính, công đức thật nhiều. Như Lai nói vì những người phát tâm Đại Thừa. Vì kẻ phát tối thượng thừa. Nếu có người hay thọ trì đọc tụng, rộng vì người khác nói, Như Lai ắt rõ biết người nầy, ắt thấy người nầy. Tất cả đều được thành tựu, chẳng thể so lường, chẳng thể xưng tán, không có ngằn mé, chẳng thể suy nghĩ được công đức. Như vậy những người nầy tức là gánh vác được pháp Vô thượng Bồ Đề của Như Lai. Vì sao vậy?

Tu Bồ Đề! Nếu mà vui với pháp nhỏ tức là chấp vào cái thấy về ta, thấy về người, thấy về chúng sanh, thấy về thọ giả. Tức đối với kinh nầy chẳng thể nghe thọ trì, đọc tụng và vì người khác giải nói.

Tu Bồ Đề! Ở bất cứ nơi đâu nếu có kinh nầy thì tất cả thế gian, trời, người, A Tu La... nơi ấy nên cúng dường; nên biết rằng nơi ấy tức là những tháp, đều nên cung kính làm lễđi nhiễu chung quanh, hãy dùng các loại hương hoa mà rải cúng nơi ấy”.

Nếu có người nào đó tu hạnh bố thí bằng thân mạng của mình mỗi ngày trong 3 lần, mà thân mạng ấy có nhiều như cát của sông Hằng đi nữa và cứ làm mãi như thế trong vô lượng ức kiếp thì so với người mà nghe được kinh nầy, có lòng tin không trái lại, thì phước của người nghe kinh vẫn nhiều hơn phước của người bố thí thân mệnh kia. Vì sao vậy? Vì có người nghe, hiểu và gìn giữ lời Phật dạy thì giáo pháp ấy mãi mãi tồn tại nơi thế gian nầy. Còn nếu không có người nghe, tin hiểu thì thế gian nầy sẽ tối tăm, mờảo; dầu cho có làm phước bố thí ngay cả thân mệnh mình đi nữa.

Tóm lại là Kinh Kim Cang Bát Nhã Ba La Mật nầy không thể dùng ý nghĩa để diễn tả được, chẳng phải dùng lời để so sánh và tán dương. Công đức của kinh nầy không có ngằn mé. Đức Như Lai vì lẽ phát tâm Đại Thừa mà nói kinh nầy. Đây là lời kinh dùng để nói cho những người phát tối thượng thừa. Nếu có người nào đó hay thọ trì, đọc tụng mà còn rộng vì người khác diễn nói nữa thì chắc rằng Đức Phật rõ biết người ấy và thấy người ấy sẽ thành tựu Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Những người như vậy có thể gánh vác được sự nghiệp của Đức Thế Tôn. Đó là sự nghiệp giải thoát, giác ngộ. Nếu người nào đó chỉ vui với pháp nhỏ; tức là chấp vào cái thấy biết của ta, cái thấy biết của người, cái thấy biết của chúng sanh và chấp vào cái thấy biết của thọ giả; tức là đối với Kinh Kim Cang nầy chẳng thể nghe, thọ trì, đọc tụng và vì người khác diễn nói được.

Ở bất cứ nơi đâu có người hành trì kinh nầy giống như là nơi ấy có tháp thờ Phật. Nơi đó trời, người, A Tu La v.v.. nên cúng dường bằng cách đi nhiễu chung quanh tháp nhiều vòng, rồi dùng hương hoa tinh khiết, thơm tho để cúng dường nơi ấy.

Mặc dầu Đức Phật đã tịch diệt; nhưng nếu có người nào hành trì Kinh Kim Cang và hiểu được lý mầu của kinh Kim Cang thì nơi ấy đáng tán thán, cúng dường, ca ngợi và hộ trì. Nhờ vậy người tỏ ngộ chân tâm sẽ còn có mãi mãi ở đời nầy và đời sau; khi thông đạt được chữ KHÔNG trong lý Bát Nhã nầy.

Đoạn thứ 16: Phần hay làm thanh tịnh các nghiệp chướng.

“Lại nữa Tu Bồ Đề! Nếu có thiện nam tử, thiện nữ nhơn nào thọ trì, đọc tụng kinh nầy, nếu bị người khinh chê thì người nầy do tội nghiệp đời trước, lẽ ra phải đọa trong 3 đường ác. Do đời nầy bị người khinh chê; nên tội nghiệp đời trước liền tiêu diệt, sẽ được quả Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.

Tu Bồ Đề! Vào thời quá khứ Vô lượng A Tăng kỳ kiếp, ở nơi trước Đức Phật Nhiên Đăng, được gặp tám trăm bốn ngàn vạn ức Na Do Tha chư Phật, ta đều cúng dường và chẳng bỏ sót một vị nào. Nếu lại có người ở nơi đời vị lai hay thọ trì, đọc tụng kinh nầy, được chỗ công đức; đối với nơi công đức cúng dường chư Phật của ta, trăm phần chẳng bằng một; trăm, ngàn, vạn, ức phần cho đến tính đếm, thí dụ đều không thể bằng.

Tu Bồ Đề! Nếu có người con trai tốt, nguời con gái lành ở vào đời sau có thọ trì, đọc tụng kinh nầy thì được công đức. Nếu ta nói cho đủ; hoặc có người nghe, tâm liền cuồng loạn, hồ nghi chẳng tin. Nầy Tu Bồ Đề! Nên biết rằng kinh nầy nghĩa không thể nghĩ bàn; nên quả báo cũng không thể nghĩ bàn”.

Nghiệp tiếng Phạn gọi là Karma. Trung Hoa dịch là nghiệp. Tức là những hành vi tạo tác của mỗi cá thể từ trong vô lượng kiếp về trước có ảnh hưởng đến ngày nay. Hôm nay những hành vi ấy là kết quả, mà cũng là nguyên nhân kéo dài đến vô tận sanh tử nữa. Do vậy muốn làm cho thanh tịnh nghiệp chướng thì phải lấy tâm Không trụ nơi kinh Kim Cang mới trừ được.

Cụ Nguyễn Du có trình bày tư tưởng Phật Giáo qua truyện Kiều trong 2 câu thơ cuối sách là:

“Đã mang lấy nghiệp vào thân
Cũng đừng trách bởi trời gần trời xa”.

Nghiệp mà hôm nay ta nhận lấy hậu quả là do ta tự tạo lâu đời ở trong nhiều kiếp trước, chẳng có ai làm và trả thay được cho ta. Cho nên không cần phải than thân trách phận; than trời, trách đất v.v...

Nếu người trì tụng kinh nầy mà bị người khinh chê, tức là do tội của chính mình ở đời trước còn lại, có thể là ta cũng đã không tôn trọng kinh điển; cho nên kiếp nầy mới nhận hậu quả như thế. Đúng ra phải sanh vào 3 cõi khổ hơn loài người. Đó là: địa ngục, ngạ quỷ và súc sanh. Cũng nhờ hay bị người khác khinh chê khi ta tụng kinh, tội ấy người khinh chê rước đi; cho nên chính tội khinh chê của ta ở đời trước liền mất đi và người trì kinh trong hiện kiếp sẽ chứng được quả bất thối.

Nhân duyên và nghiệp lực là những chuỗi mắc xích như Thập Nhị Nhân Duyên đã trình bày. Cái nầy sinh thì cái kia sinh; cái nầy diệt thì cái kia diệt. Chúng ta phải quyết đoạn tận ở một mắc xích, thì những mắc xích khác không có cơ hội để tồn tại nữa.

Kiếp tiếng Phạn gọi là Kalpa. Chữ Hán dịch là phân biệt thời phần, phân biệt thời tiết; Trường thời, Đại thời, thời.

Đây là thời gian rất dài không thể tính bằng năm tháng. Nhưng có thuyết nói một kiếp tương đương với một ngày ở cõi trời Đại Phạm; hoặc 1.000 thời (Phạn: Yuga), tức là 43 ức 2 ngàn vạn năm ở nhân gian nầy...

Ở thuở xa xưa Vô lượng A Tăng kỳ kiếp như thế Đức Thích Ca đã ở trước Đức Phật Nhiên Đăng để cúng dường và gặp được tám trăm bốn ngàn vạn ức Na Do Tha Phật như vậy. Đây là nhân duyên thù thắng mà Đức Thích Ca đã trồng sâu ở trong vô lượng kiếp như thế. Ở nơi đời vị lai nếu có người nào trì kinh nầy thì cũng sẽ hơn công đức cúng dường các Đức Phật kia. Vì sao vậy? Vì Đức Thích Ca dâng cúng mọi thứ mà tâm không chấp trước vào sự cúng ấy. Đó mới chính là sự cúng dường có ý nghĩa. Do vậy mà công đức gặp Phật để thừa sự cúng dường, không bỏ sót một vị nào, lại là việc khó mà người trì kinh ở đời vị lai lại còn hơn như thế.

Người trì kinh ở đời sau cũng sẽ được công đức thật là bất khả tư nghì. Nếu ta nói ra hết, có người nghe được tâm sẽ hỗn loạn, hồ nghi. Vì kinh Kim Cang nầy có một giá trị cao tột như vậy. Khi nghe rồi không tin được năng lực của kinh Kim Cang như thế, thì phải biết rằng ý nghĩa của kinh nầy không thể diễn tả hết bằng lời nói và quả báo của kinh nầy cũng vậy.

Như thế, nếu có người thọ trì và biên chép cũng như giải nói cho người khác nghe thì công đức của người trì kinh như vậy chẳng có công đức nào trong thế gian nầy có thể sánh bằng.

Đoạn thứ 17: Phần cứu cánh không có ngã

“Lúc ấy Ngài Tu Bồ Đề bạch Phật rằng: Kính bạch Đức Thế Tôn! Người trai lành, người gái tốt phát tâm vô thượng chánh đẳng chánh giác, phải trụ như thế nào và hàng phục tâm nầy ra sao?

Phật bảo: Nầy Tu Bồ Đề! Nếu người con trai tốt, người con gái lành phát tâm vô thượng chánh đẳng chánh giác thì nên sanh tâm như thế nầy: Ta nên diệt độ tất cả chúng sanh; diệt độ tất cả chúng sanh rồi, mà thật ra chẳng có một chúng sanh nào diệt độ cả. Vì sao vậy? Tu Bồ Đề. Nếu Bồ Tát có tướng ngã, tướng nhơn, tướng chúng sanh, tướng thọ giả, tức chẳng phải là Bồ Tát. Vì sao lại như vậy? Nầy Tu Bồ Đề! Thật ra chẳng có pháp nào phát tâm vô thượng Bồ Tát cả. Tu Bồ Đề! Ý ông nghĩ như thế nào? Như Lai ở nơi Đức Phật Nhiên Đăng, có pháp để được Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác chăng?

Thưa không! Bạch Đức Thế Tôn. Như con hiểu rõ nghĩa chỗ Phật nói thì ở nơi Phật Nhiên Đăng, chẳng có pháp nào để được Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác cả.

Phật bảo rằng: Như thế, như thếđó! Tu Bồ Đề! Thật ra chẳng có pháp nào Như Lai được Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác cả. Tu Bồ Đề! Nếu có pháp mà Như Lai được Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác thì Phật Nhiên Đăng đã chẳng thọ ký cho ta; ông ở đời sau sẽ được làm Phật, hiệu là Thích Ca Mâu Ni. Do thật chẳng có pháp được Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác; cho nên Đức Phật Nhiên Đăng mới thọ ký cho ta và nói như thế nầy: Ngươi sẽ được làm Phật, hiệu là Thích Ca Mâu Ni. Vì sao vậy? Như Lai tức là nghĩa Như của các pháp. Nếu có người nói: Như Lai được Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Nầy Tu Bồ Đề! Thật ra không có pháp, Phật được Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Tu Bồ Đề! Chỗ mà Như Lai được Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác; ở trong ấy chẳng thật, chẳng hư. Tu Bồ Đề! Chỗ nói tất cả pháp đó, tức chẳng phải tất cả pháp; cho nên gọi là tất cả pháp.

Tu Bồ Đề! Giống như có người thân to lớn kia.

Tu Bồ Đề thưa: Bạch Thế Tôn! Như Lai nói người thân to lớn tức là chẳng phải thân to lớn. Đó mới chính là thân to lớn.

Tu Bồ Đề! Bồ Tát lại cũng như vậy. Nếu nói lời thế nầy: Ta sẽ diệt độ vô lượng chúng sanh; tức chẳng phải là Bồ Tát. Vì sao vậy? Tu Bồ Đề! Thật chẳng có pháp nào tên là Bồ Tát; cho nên Phật nói: Tất cả pháp đều không ngã, không nhơn, không chúng sanh, không thọ giả.

Tu Bồ Đề! Nếu có Bồ Tát nói như thế nầy: Ta sẽ trang nghiêm cõi Phật; đây chẳng gọi là Bồ Tát. Vì sao vậy? Như Lai nói trang nghiêm cõi Phật; tức chẳng phải trang nghiêm thì đó mới gọi là trang nghiêm.

Tu Bồ Đề! Nếu Bồ Tát thông đạt pháp vô ngã, thì Như Lai gọi đó là chơn thật Bồ Tát”.

Ởđoạn thứ 17 nầy sẽ nói về cái rốt ráo của vô ngã; nên Ngài Tu Bồ Đề hỏi lại Đức Phật một lần nữa về việc trụ tâm và hàng phục tâm nầy như thế nào và Phật khuyên rằng: Để chẳng được Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác thì phải sanh tâm như thế nầy: Ta sẽ diệt độ tất cả chúng sanh và khi diệt độ tất cả chúng sanh rồi; chẳng có một chúng sanh nào thật ra được diệt độ cả. Vì sao vậy?

Vì lẽ nếu Bồ Tát làm việc ấy mà còn để cho cái ngã, cái nhơn, cái chúng sanh, cái thọ giả chi phối để làm việc diệt độ, thì vịấy chẳng phải là Bồ Tát. Vì lẽ chẳng có pháp nào làm cho Bồ Tát chứng được Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác cả. Ngay cả Như Lai đứng trước Đức Phật Nhiên Đăng trong quá khứ cũng chẳng có pháp nào để được Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Bởi vì tất cả các pháp đều như thếđó. Như thị tánh, Như thị tướng, Như thị thể, Như thị lực, Như thị tác, Như thị nhân, Như thị duyên, Như thị quả, Như thị báo và Như thị bản mạt cứu cánh. Pháp vốn xưa nay như vậy. Không phải vì ta có pháp mới có mà cũng chẳng phải vì ta không có mà pháp chẳng có. Cho nên, thật ra Đức Phật đã chẳng có một pháp nào để được cả. Nếu mà có pháp để được, thì Đức Phật Nhiên Đăng đã chẳng thọ ký cho Đức Thích Ca là ở đời vị lai sẽ làm Phật. Chính do chẳng có pháp nào gọi là Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác ấy; cho nên Đức Phật Nhiên Đăng mới thọ ký cho Đức Thích Ca Mâu Ni vậy.

Vì sao vậy? Vì Như Lai tức là nghĩa Như của các pháp. Các pháp tánh như vậy, tướng như vậy, thể như vậy, lực như vậy... Nhưấy cũng là như như bất động, chẳng tăng chẳng giảm, chẳng đến, chẳng đi, chẳng còn, chẳng mất. Đó chính là tự tánh của Như Lai vậy.

Đức Phật nhấn mạnh lại một lần nữa rằng: Chẳng có pháp nào để Phật được Vô thượng Bồ Đề cả. Nơi mà Như Lai được pháp ấy, nó vốn là chẳng thật, mà cũng chẳng hư. Do vậy mà Đức Phật nói rằng: Tất cả pháp đều là Phật Pháp. Dưới cái nhìn của bậc giác ngộ thì mọi pháp thế gian hay xuất thế gian; pháp giả, pháp chơn... tất cả không ra ngoài Phật Pháp mà có pháp ấy được. Nên pháp nầy cũng có thể gọi là Như thị pháp.

Nói tất cả pháp có nghĩa là chẳng phải tất cả pháp, thì đó mới gọi là tất cả pháp. Câu phủ định sau để nhấn mạnh cho ta thấy tánh cách chân thật của Pháp. Pháp ấy như trong kinh Bát Nhã nói rằng: Chẳng dơ, chẳng sạch, chẳng tăng, chẳng giảm v.v... Cái chân thật bất hư, nó nằm ở nơi như như bất động ấy.

Nếu có người thân to lớn tức chẳng thật thân to lớn. Đó mới gọi là to lớn. Vì nhìn thấy to lớn tức là nhìn qua sự đối đãi, mà đã là sự đối đãi thì nó không có tướng thật của nó. Tướng thật về sự to lớn của thân vốn đã sẵn có. Đó mới chính là sự to lớn vậy.

Bồ Tát cũng giống như vậy. Nếu nói rằng: Ta sẽ diệt độ vô lượng chúng sanh; tức đó chẳng gọi là Bồ Tát. Vì sao vậy? Thật ra chẳng có pháp nào gọi là Bồ Tát. Cho nên chẳng có chúng sanh nào để diệt độ cả. Vì tất cả các pháp đều không có tướng ta, tướng người, tướng chúng sanh và tướng thọ giả vậy.

Nếu Bồ Tát tự mình nói trang nghiêm cõi Phật, thì cũng chẳng phải là Bồ Tát. Vì Đức Như Lai nói, việc trang nghiêm cõi Phật ấy chẳng phải trang nghiêm, đó mới chính là trang nghiêm. Nếu tất cả Bồ Tát hiểu một cách rốt ráo về pháp vô ngã; thì đó mới gọi là Bồ Tát.

Ta thường nói: Cái nhà của ta, cái xe của ta, người thân của ta, quyển sách của ta v.v... nhưng trên thực tế chẳng có cái gì là của ta cả. Trước khi ta sanh ra cuộc đời nầy ta đã chẳng mang theo cái gì; ngoại trừ nghiệp báo và sau khi ta từ giã cõi đời nầy ta cũng sẽ chẳng mang theo cái gì; ngoại trừ cái nhân của ta đã tạo ra khi còn sống. Vậy thì cái gì là miên viễn của ta đâu? Thế mà con người cứ chấp vào đó mà bám víu vào để tồn tại. Nếu những thứấy không may bị mất đi thì sẽđau khổ vô cùng. Nếu chiếm hữu được nó thì sẽ vui. Thực ra khổ hay vui cũng chỉ là những hiện tượng, mà đã là hiện tượng thì không có thực tướng của nó. Thực tướng của hiện tượng chỉ là một con số không to tướng, tại sao chúng ta phải vin vào đó để chấp trước làm gì?

Đoạn thứ 18: Phần đồng quán có một thể

“Tu Bồ Đề! Ý ông nghĩ sao? Như Lai có Nhục nhãn chăng?

Bạch Thế Tôn! Như thế. Như Lai có Nhục nhãn.

Tu Bồ Đề! Ý ông nghĩ sao? Như Lai có Thiên nhãn chăng?

Bạch Thế Tôn! Như thế. Như Lai có Thiên nhãn.

Tu Bồ Đề! Ý ông nghĩ sao? Như Lai có Huệ nhãn chăng?

Bạch Thế Tôn! Như thế. Như Lai có Huệ nhãn.

Tu Bồ Đề! Ý ông nghĩ sao? Như Lai có Pháp nhãn chăng?

Bạch Thế Tôn! Như thế. Như Lai có Pháp nhãn.

Tu Bồ Đề! Ý ông nghĩ sao? Như Lai có Phật nhãn chăng?

Bạch Thế Tôn! Như thế. Như Lai có Phật nhãn.

Tu Bồ Đề! Ý ông nghĩ như thế nào? Như trong sông Hằng có bao nhiêu cát? Phật nói là cát chăng?

Như vậy. Bạch Thế Tôn! Như Lai nói là cát.

Tu Bồ Đề! Ý ông nghĩ thế nào? Nhưở nơi một sông Hằng có bao nhiêu cát? Có những sông Hằng bằng số cát như thế có các thế giới của Phật bằng số cát của những sông Hằng ấy, như thế thật là nhiều chăng?

Bạch Thế Tôn! Thật nhiều.

Phật bảo ông Tu Bồ Đề: Trong các cõi nước đầy dẫy như thế có các chúng sanh có bao nhiêu thứ tâm. Như Lai thảy đều biết. Vì sao vậy? Vì Như Lai nói các tâm đều không phải tâm, ấy gọi là tâm. Vi sao vậy? Nầy Tu Bồ Đề! Tâm quá khứ chẳng thể được; tâm hiện tại chẳng thể được; tâm vị lai chẳng thể được”.

Phần nầy cũng quán chỉ có một thể chứ không khác được. Nếu nhìn về 3 thân, 4 trí, 5 mắt, 6 thông của Đức Phật, không có cái gì là Ngài không đầy đủ. Tất cả đều một thể. Đó là thể chơn như vắng lặng. Tự nó đã đầy đủ năng lực để soi rọi thế gian. Không cần phải do con người tán thưởng, ca ngợi mà Đức Như Lai phước đức hơn hay trí tuệ hơn.

Phật hỏi trong sông Hằng có bao nhiêu cát thì chắc rằng Bồ Tát cũng chẳng thể đếm được. Như cát ấy chính là cát của sông Hằng chứ không phải cát chỗ khác. Có nhiều sông Hằng có nhiều cát mà sánh bằng với thế giới của chư Phật cũng nhiều như vậy. Điều nầy chứng tỏ rằng: Phật đã thành tựu Phật quả từ trong vô lượng kiếp nhiều như cát của sông Hằng. Còn chúng ta chỉ nhìn ngắm sông Hằng để xem lượng của cát; chứ chúng ta chưa đồng một thể với cát của sông Hằng. Do vậy mà ta và Phật vẫn còn xa là như thế.

Nhiều cõi nước như thế thì có nhiều chúng sanh sinh sống nơi ấy. Mỗi chúng sanh có một tâm hay khác tâm. Tất cả Đức Phật đều rõ biết. Dưới cái nhìn của Đức Như Lai thì tâm ấy không phải là tâm thì đó mới chính là tâm. Đây là cái tâm không đối đãi, vọng tưởng mà có. Đây là cái tâm chân thật bất hư. Do vậy mà chẳng kể trong quá khứ, hiện tại hay vị lai. Nếu còn chấp trước, thì chẳng thể có được tâm nầy. Tâm nầy là tâm chơn như, tâm tự tánh và tâm đồng thể với Tam Bảo vậy.

Đoạn thứ 19: Phần Pháp giới thông suốt

“Tu Bồ Đề! Ý ông nghĩ như thế nào? Nếu có người đem 7 thứ báu đầy cõi 3.000 Đại thiên thế giới để bố thí, thì người nầy do nhân duyên nầy, được phước có nhiều chăng?

Như vậy! Bạch Đức Thế Tôn! Người nầy với nhân duyên nầy, được phước rất nhiều.

Tu Bồ Đề! Nếu mà phước đức có thật, thì Như Lai đã chẳng nói được nhiều phước đức. Vì phước đức chẳng có vậy; nên Như Lai nói là được nhiều phước đức!

Phước đức chỉ cho phước lợi nhờ làm tất cả các việc thiện ở quá khứ và hiện tại mà có được.

Căn cứ theo kinh Kim Cang Bát Nhã Ba La Mật Đa thì Bồ Tát đối với các pháp, không nên để bị dính mắc (ưng vô sở trụ), phải thực hành bố thí chẳng trụ sắc, bố thí chẳng trụ thanh, cho đến bố thí chẳng trụ pháp... Nếu bố thí mà không trụ tướng như thế thì được phước đức chẳng thể nghĩ lường.

Còn phước đức theo phẩm Phương Tiện của kinh Pháp Hoa, nếu Tỳ Kheo, Tỳ Kheo Ni có tâm tăng thượng mạn, Ưu Bà Tắc có tâm ngã mạn, Ưu Bà Di có tâm bất tín thì không thấy được lỗi của mình, khuyết phạm giới luật. Những hạng người nầy ít có pháp lành, không thể thọ trì Pháp Nhất Phật Thừa”, (sách đã dẫn trang 4387).

Phước đức hữu lậu là cái chúng ta có thể nhìn thấy được. Ví dụ như người nầy kiếp nầy giàu có là do kiếp trước biết bố thí cúng dường Tam Bảo; hoặc giúp đỡ những người cô quả. Ngược lại có những người kiếp nầy làm gì cũng vẫn nghèo. Vì kiếp trước không biết lo tu tạo phước đức. Cho nên ngày nay kết quả mới như vậy. Nếu Bồ Tát thì đã lo từ cái nhân ban đầu. Còn chúng sanh chỉ sợ khi nào kết quả trờ đến và gặp nạn mới lo tu, thì dẫu cho là cái phúc hữu lậu đi chăng nữa vẫn không dễ dàng gặp được. Nay có người đem của báu nhiều như 3.000

Đại Thiên thế giới mà bố thí, dĩ nhiên là có phước rồi. Theo như Ngài Tu Bồ Đề đã trả lời cho Đức Phật; nhưng Đức Phật không muốn nhắc đến phước đức hữu lậu ấy, mà Đức Phật chỉ muốn nói đến cái vô lậu, giải thoát. Cho nên Ngài mới nói rằng: Nếu phước đức là có thật thì Ngài chẳng nói là phước đức có nhiều. Vì lẽ trên thực tế của chân như, phước đức ấy chẳng có vậy. Nếu được thông suốt như vậy thì Đức Như Lai nói là phước đức nhiều.

Đoạn thứ 20: Phần lìa sắc, lìa tướng

“Tu Bồ Đề! Ý ông nghĩ như thế nào? Phật có thể do đầy đủ sắc thân mà thấy được chăng?

Thưa không! Bạch Đức Thế Tôn! Như Lai không nên do đầy đủ sắc thân mà thấy. Vì sao vậy? Như Lai nói đầy đủ sắc thân; tức là chẳng phải đầy đủ sắc thân; tức gọi là đầy đủ sắc thân.

Tu Bồ Đề! Ý ông nghĩ sao Như Lai có thể do đầy đủ các tướng mà thấy chăng?

Bạch không! Thưa Thế Tôn! Như Lai không nên do đầy đủ các tướng để thấy. Vì sao vậy? Như Lai nói các tướng đầy đủ tức chẳng phải tướng đầy đủ; đó mới gọi là các tướng đầy đủ”.

Phần nầy Đức Phật giảng cho Ngài Tu Bồ Đề nghe phải lìa sắc và lìa tướng. Vì sắc và tướng nó là những sự đối đãi nhị nguyên; nó bị chi phối bởi sự chấp thủ vào hình thức nầy hay hình thức kia. Nếu dùng sự đầy đủ của sắc thân để thấy thì sự thấy nầy không đúng. Vì theo Đức Như Lai thì: Đầy đủ sắc thân tức là chẳng phải đầy đủ sắc thân. Như thế mới gọi là đầy đủ sắc thân.

Sự thấy ấy không đợi chờ, không hy vọng, không cầu may. Đó là cái thấy tự nhiên không phân biệt, đã lìa hẳn cái đối đãi đối với con mắt và vật bị thấy hay nói đúng hơn là cái thấy ấy tự tại, vô ngại.

Tiếp đó Đức Phật gạn hỏi Ngài Tu Bồ Đề có phải dùng tướng để thấy chăng? Ngài Tu Bồ Đề trả lời rằng không. Vì lẽ tướng có đầy đủ đi chăng nữa thì đó là tướng chẳng đầy đủ. Tướng ấy mới chính là tướng đầy đủ. Sự đầy đủ của tướng sắc, tướng thanh, tướng hương, tướng vị, tướng xúc, tướng pháp v.v... phải xa rời hẳn ra, không được chấp trước vào đó, thì cái tướng ấy mới chính là cái tướng đầy đủ.

Đoạn thứ 21: Phần không hay nói và không sở nói

“Tu Bồ Đề! Ông chớ nghĩ rằng. Như Lai suy nghĩ như thế nầy: Ta sẽ có nhiều chỗ nói pháp. Chớ nên khởi sự suy nghĩấy. Vì sao vậy? Nếu có người nói: Như Lai có chỗ nói pháp tức là làm sự hủy báng Phật, chẳng thể hiểu rõ chỗ nói của ta vậy.

Tu Bồ Đề! Thuyết pháp ấy là chẳng có pháp nào để có thể nói cả. Đây chính là thuyết pháp.

Lúc bấy giờ Ngài Huệ Mệnh Tu Bồ Đề bạch Phật rằng: Kính bạch Đức Thế Tôn: Vả lại có chúng sanh ở đời vị lai nghe nói pháp nầy sanh tâm tin tưởng chăng?

Phật bảo: Nầy Tu Bồ Đề! Kia chẳng phải chúng sanh, chẳng phải chẳng chúng sanh. Vì sao vậy? Tu Bồ Đề! Chúng sanh, chúng sanh ấy Như Lai nói chẳng phải chúng sanh thì mới là chúng sanh”.

Đoạn nầy tương đối cũng rất quan trọng. Bởi vì lâu nay chúng ta chỉ nương vào pháp để tu học mà bây giờ Đức Phật nói với Ngài Tu Bồ Đề rằng: Pháp ấy chẳng do Phật nói ra. Vì sao Đức Phật lại dạy như thế? Vì lẽ Pháp ấy đã có sẵn, Đức Như Lai chỉ lặp lại mà thôi. Nó vốn tự tánh KHÔNG; không làm cho kẻ khác giải thoát, mà cũng không làm cho người khác sa đọa. Sa đọa hay giải thoát chỉ tự do cá thể của người ấy bị kẹt vào chấp trước mà có.

Đức Phật bảo rằng: Nếu bảo Ngài là người nói Pháp và có chỗ nói pháp; tức người nói ấy hủy báng Phật. Người ấy không thể hiểu chỗ nói của Phật. Thật ra đúng là vậy. Vì lẽ người nghe hay bị pháp chi phối nói cái nầy hay, cái kia dở; cái nầy tốt, cái kia xấu... luôn có sự đối đãi rồi gán ghép vào đó và bảo rằng: Chính Đức Phật nói. Nói như vậy tức là hủy báng Phật rồi.

Thuyết pháp có nghĩa là chẳng có pháp nào để nói, thì đó mới là nói pháp. Pháp mà chư Phật nói ra là pháp rốt ráo, nhằm đưa con người qua bên kia bờ giải thoát sanh tử luân hồi; chứ chẳng phải là pháp đối đãi như tâm của chúng sanh thường thắc mắc, câu chấp.

Vị Pháp sư nào giảng bất cứ pháp nào hay, mà pháp ấy không đúng với tinh thần của Tam Pháp Ấn là: Vô Thường, Khổ, Vô Ngã; hay Tứ Pháp Ấn là: Vô Thường, Khổ, Không, Vô Ngã thì đó chẳng phải là giáo pháp của Đức Phật. Quá khứ, hiện tại, vị lai chư Phật cũng chỉ đều tuyên pháp ấy để cứu độ quần sanh; ngoài ra không nói gì khác. Cho nên nói chẳng có pháp nào để nói cả là ý nầy.

Ngài Tu Bồ Đề hỏi lại Đức Phật cho rõ ràng hơn là nếu Đức Phật bảo như vậy thì về đời vị lai có chúng sanh nào tin được như thế chăng?

Đức Phật dạy rằng: Nếu còn nghi ngờ thì kẻấy chẳng phải là chúng sanh, cũng chẳng phải chẳng chúng sanh. Bởi vì Đức Như Lai nói rằng: Chúng sanh, chúng sanh ấy nói chẳng phải là chúng sanh thì đó mới là chúng sanh.

Nếu thật là chúng sanh thì phải tin tưởng lời giải nói của chư Phật và lấy đó ứng dụng vào trong sự tư duy của mình vào Phật Đạo. Vì giáo pháp ấy không phải chỉ dùng mắt để xem, dùng tay để nắm bắt, mà phải dùng rốt ráo bằng lục Ba La Mật mới có thể cảm nhận và thực hành được lời dạy của Đức Phật.

Đoạn thứ 22: Phần không pháp nào có thể được

“Ngài Tu Bồ Đề bạch Phật rằng: Kính bạch Đức Thế Tôn! Có phải Phật chứng Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác là chỗ không được chăng?

Phật bảo: Như thế, như thế. Tu Bồ Đề! Với ta Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, cho đến chẳng có một pháp nhỏ nào được cả. Đây mới chính là Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác”.

“A Nậu Đa La Tam Muội Tam Bồ Đề tiếng Phạn gọi là Anuttara Samyak – sambodhi. Tiếng Pali gọi là Anuttara - sammasambodhi. Dịch ý là Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Vô thượng chánh chân đạo; Vô thượng Chánh biến tri.

“A Nậu Đa La” dịch là “Vô thượng”; “Tam Miệu Tam Bồ Đề” dịch ý là “Chánh biến tri”. Là trí tuệ giác ngộ của Đức Phật, hàm ý là bình đẳng, viên mãn. Vì cái đạo mà Ngài ngộ được là rất cao; cho nên gọi là Vô Thượng. Vì đạo ấy chu biến, bao quát hết thảy; cho nên gọi là Chánh biến tri. Toàn bộ nội dung tu hành của Bồ Tát Đại Thừa là để thành tựu loại giác ngộ nầy. Bồ Tát phát A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề, thì dịch là Vô thượng chánh chân đạo ý.

Còn tiếng Phạn: Anuttara – samyak sambudha; dịch là A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Phật Đà, ý là chỉ người đã hoàn thành A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề, cho nên thông thường dịch là “Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác giả”. Đây là tiếng tôn xưng Đức Phật; tức là bậc Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác”, (Phật Quang Đại TừĐiển

– Hòa Thượng Quảng Độ dịch, trang 63).

Vậy thì nếu là chúng sanh, lại thấy Phật chứng được Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Nếu là Phật, thì Ngài lại thấy rằng chẳng có chỗ nào để chứng cả. Phật bảo rằng chẳng có một pháp nhỏ nào có thể chứng được, thì đó mới là chỗ chứng.

Ởđây ta có thể thấy tinh thần của Bát Nhã là: Tu nhi vô tu, hành nhi vô hành và chứng nhi vô chứng. Ấy mới là chứng. Nghĩa là chỗ tu mà mình không thấy mình tu, thì đó mới là tu. Chỗ hành mà mình chẳng thấy thực hành, ngay cả vấn đề trì giới, bố thí, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định và trí tuệ, thì đó mới gọi là hành Ba La Mật. Khi đã thực hiện đủ việc tu và việc hành rồi; thì việc chứng đắc, lại là một chuyện tự nhiên; mình không cầu, quả vịấy vẫn được. Vì các pháp tự nó là như vậy. Bản giác vốn thanh tịnh, nhiễm ô. Chỉ có tâm trần cấu của chúng sanh ô nhiễm; cho nên bản tính giác ngộ bị che mờ. Bây giờ chúng sanh chúng ta tự thực hành việc tu và việc hành, có nghĩa là thể hiện việc dụng công để làm tỏ rõ tánh giác ngộấy.

Đoạn 23: Phần tâm trong sạch làm việc thiện

“Lại nữa Tu Bồ Đề! Pháp nầy bình đẳng, chẳng có cao thấp; nên gọi là Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Do không ngã, không nhơn, không chúng sanh, không thọ giả, tu tất cả pháp lành; tức là được Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.

Nầy Tu Bồ Đề! Nói là pháp lành thì Như Lai nói tức là chẳng phải pháp lành. Ấy mới là pháp lành”.

Giáo pháp của Đức Phật giống như mặt trời chân lý. Mặt trời có ánh sáng chiếu phá hết tất cả các chỗ tối tăm, bình đẳng, không phân biệt nơi núi cao hay đồng thấp; nơi thế giới loài người hay loài ngạ quỷ. Tuy nhiên vì tâm của ngạ quỷ luôn tham lam, tật đố; nên không nhận được ánh sáng ấy thôi. Cũng như thế, như trong kinh Pháp Hoa phẩm “Dược Thảo Dụ”, Đức Phật đã ví giáo pháp của Ngài cũng giống như những trận mưa rào. Mưa thì không phân biệt bất cứ nơi đâu; nhưng khi mưa xuống, nước chảy khắp nơi. Nếu là cây lớn, rễ lớn, sẽ hút nước nhiều và cây nhỏ, rễ nhỏ sẽ hút nước ít. Tất cả đều lợi lạc, nhưng tùy theo căn cơ và thể trạng của từng loài để đón nhận mưa pháp bình đẳng kia.

Pháp của Phật luôn bình đẳng; nên gọi là Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Do pháp nầy không có tướng chấp vào ta khi thực hiện, chấp vào người khi hành trì, chấp vào chúng sanh khi là đối tượng hoặc chấp vào thọ giả v.v... Nếu ai trong chúng ta cũng không chấp trước, mà đồng thực hiện những pháp lành thì sẽ thành Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.

Pháp lành ấy không còn đối đãi, không còn nhân, ngã, bỉ, thử; không phân biệt bên nầy hay bên kia, mà vượt lên trên tất cả mọi hữu vi, hình tướng, nhị biên. Như vậy mới là một pháp lành chân thật.

Đoạn thứ 24: Phần phước trí không thể so sánh

“Tu Bồ Đề! Nếu trong 3.000 Đại Thiên thế giới có các ngọn núi Tu Di chúa, như thế, dùng 7 thứ báu nhóm họp lại, có người mang ra để bố thí. Hoặc có người đem kinh Bát Nhã Ba La Mật này cho đến 4 câu kệ thọ trì đọc tụng và vì người khác nói thì phước đức của người nầy đối với người trước, người nầy trăm phần, người kia chẳng được một, trăm ngàn vạn ức phần, cho đến tính đếm, ví dụ cũng chẳng thể được”.

“Núi Tu Di tiếng Phạn gọi là Sumeru. Tiếng Pali cũng như vậy. Cũng còn gọi là Tô Mê Lư Sơn, Tu Di Lư Sơn, Tu Di Lưu Sơn, Tu Mê Lâu Sơn. Gọi tắt là Di Lâu (Phạn: Meru) sơn. Tiếng Hán dịch là Diệu Cao Sơn, Hảo Quang Sơn, Hảo Cao Sơn, Thiện Cao Sơn, Thiện Tích Sơn, Dệu Quang Sơn, An Minh Do Sơn.

Vốn là tên núi trong thần thoại Ấn Độ, được xử dụng trong vũ trụ quan của Phật Giáo. Cho rằng đây là ngọn núi cao đứng sừng sửng ở chính giữa một Tiểu Thế Giới. Lấy núi nầy làm trung tâm, chung quanh có 8 lớp núi, 8 lớp biển bao bọc mà hình thành một thế giới (Thế giới Tu Di).

Vũ trụ quan Phật Giáo chủ trương vũ trụ do vô số thế giới cấu thành; 1.000 thế giới gọi là một Tiểu Thiên Thế Giới; 1.000 tiểu thiên thế giới gọi là một Trung Thiên thế giới: 1.000 Trung thiên thế giới gọi là một Đại Thiên thế giới; hợp cả Tiểu thiên Trung thiên và Đại thiên gọi chung là Tam Thiên Đại Thiên Thế Giới. Đây tức là phạm vi hóa độ của một Đức Phật. Tầng dưới cùng của mỗi một thế giới là một lớp khí, gọi là Phong luân; trên Phong luân là một lớp nước, gọi là Thủy luân; trên Thủy luân là một lớp vàng, có thuyết nói đá cứng, gọi là Kim luân; trên Kim luân tức là đất đai do núi, biển, các đại châu... cấu tạo thành. Núi Tu Di ở chính giữa thế giới nầy.

Cứ theo phẩm Diêm Phù Đề Châu trong kinh Trường A Hàm quyển 18 thì núi Tu Di cao cách mặt nước biển 84.000 do tuần, dưới mặt nước cũng sâu tới 84.000 do tuần. Núi nầy cao thẳng tắp, không chỗ nào quanh co, các cây thơm trong núi um tùm, 4 mặt núi có gò đất nhô ra, có cung điện của 4 vị Đại Thiên Vương, chân núi thuần là cát vàng. Núi nầy có “đường thềm 7 báu” gồm 3 bậc, thượng, trung, hạ; hai bên đường thềm có 7 lớp tường báu, 7 lớp lan-can, 7 lớp lướí giăng, 7 lớp hàng cây. Trong đó tất cả các thứ như cửa ra vào, tường, vách, cửa sổ, lan-can, hàng cây đều do vàng, bạc, thủy tinh, lưu ly tạo thành. Hoa trái sum suê tươi tốt; gió thơm thoang thoảng khắp nơi, vô số các loài chim lạ, đẹp cùng hót, các quỷ thần trụ trong đó. Trên đỉnh núi Tu Di có 33 cung trời, là chỗở của Trời Đế Thích.

Cứ theo phẩm Số lượng trong luận Lập Thế A Tỳ Đàm quyển 2 thì núi Tu Di ở chính giũa, bên ngoài có 8 lớp núi, 8 lớp biển theo thứ tự bao quanh, hình dáng của toàn thế giới tròn trịa, giống như cái mâm đồng. Chung quanh núi Tu Di có biển Tu Di bao bọc, núi cáo 8 vạn do tuần; kế là 8 lớp núi, giữa các lớp núi cách nhau bằng 7 lớp biển. Tên của 8 lớp núi theo thứ tự là:

1. Do Càn đà (Phạn: Yugandhara; Pali: Yugandhar).
2. Y Sa Đà (Phạn: Isadhara; Pali: Isadhara).
3. Ha La Trí (Phạn: Khadiraka; Pali: Karavika).
4. Tu Đằng Sa (Phạn: Sudarsana; Pali: Sudassana).
5. A Sa Can Na (Phạn: Asvakarna; Pali: Assakanna).
6. Tỳ Na Đa (Phạn; Pali: Vinataka).
7. Ni Dân Đà (Phạn: Nimimdhara; Pali: Nemindhara).
8. Thiết Vi Sơn (Phạn: Cakravada; Pali: Cakkavala).

Tên gọi của 6 lớp biển trước trong 7 lớp biển được gọi theo tên núi mà nó bao quanh. Nên ngoài lớp núi thứ 7 có lớp biển mặn (Hàm Hải); ngoài lớp biển mặn là lớp núi Thiết Vi. Bốn châu chung quanh núi Tu Di gồm: Phất Bà Đề, Cú Đà Ni, Diêm Phù Đề và Uất Đàn Việt. Mỗi châu ở có 4 phương Đông, Tây, Nam, Bắc trong biển nước mặn. Chúng ta cư trú ở châu Diêm Phù Đề tại phương Nam. Nhưng về tên gọi và thứ tự của 8 lớp núi thì phẩm Diêm Phù Đề châu trong kinh trường A Hàm quyển 18 và phẩm Tai Biến trong kinh Đại Lâu Thán quyển 5 nói có hơi khác nhau. (Phật Quang Đại TừĐiển – Hòa Thượng Quảng Độ dịch, trang 6475 đến 6476).

Một Đại Thiên Thế Giới bao gồm những thế giới và châu lục như trên, mà ởđây tới 3.000 Đại Thiên thế giới như thế. Quả là vũ trụ quan về thế giới của Phật Giáo không sao mà tính đếm được. Thế mà, trong những núi Tu Di chúa ấy có đầy đủ 7 thứ báu và có người đem 7 thứ báu ấy đem đi bố thí cúng dường. Nhưng so với người hành trì Bát Nhã Ba La Mật cho đến 4 câu kệ và vì người khác giảng nói, thì công đức của người trì kinh nầy vượt xa cả trăm ngàn lần, so với người đem của cải để bố thí kia. Ngay cả trăm, ngàn, vạn, ức phần cũng không bằng một phần của người trì kinh và cho đến việc không thể tính đếm nữa, thì người trì kinh vẫn có được công đức nhiều hơn. Đây chính là phước trí khó có thể so sánh vậy.

Đoạn thứ 25: Phần giáo hóa không có chỗ giáo hóa

“Nầy Tu Bồ Đề! Ý ông nghĩ như thế nào? Các ông chớ nghĩ rằng: Như Lai liền nghĩ như thế nầy

– Ta sẽ độ chúng sanh. Tu Bồ Đề! Hãy đừng nghĩ như vậy. Vì sao thế? Thật chẳng có chúng sanh nào để Như Lai độ cả. Nếu có chúng sanh mà Như Lai độ, thì Như Lai tức có ngã, nhơn, chúng sanh, thọ giả. Tu Bồ Đề! Như Lai nói có ngã tức là chẳng phải ngã. Mà người phàm phu cho là có ngã. Nầy Tu Bồ Đề! Kẻ phàm phu đó Như Lai nói tức chẳng phải phàm phu, thì đó là phàm phu”.

Đoạn nầy Đức Phật muốn giáo hóa cho chúng sanh chỗ không giáo hóa. Vì sao vậy? Vì chúng sanh thì nhiều vô lượng, vô biên; đủ loài, đủ hình thái khác nhau như trong kinh Pháp Hoa nói: Đức Phật thị hiện ra đời nầy chỉ vì một mục đích duy nhất là: mở bày cho chúng sanh vào tri kiến Phật. Nếu tất cả chúng sanh đã được vào tri kiến Phật rồi, thì Như Lai đâu có còn độ nữa. Lúc đó chúng sanh là Phật; Phật cũng đã từ chúng sanh mà thành tựu; cho nên không có chỗ để độ nữa.

Khi Phật độ cho chúng sanh, Ngài không sanh tâm phân biệt là chúng sanh nào. Vì lẽ chúng sanh nào cũng là chúng sanh. Dưới con mắt từ bi của chư Phật, không có chúng sanh nào là không đáng độ cả. Tuy nhiên, nếu chúng sanh ấy không có duyên với Phật, thì Phật cũng chẳng độ được. Nếu Phật độ được tất cả chúng sanh thì thế gian nầy không có người khổ nữa. Thế mà địa ngục vẫn còn. Vì lẽ chúng sanh vẫn là chúng sanh; những chúng sanh ấy không tự chuyển nghiệp, vẫn chịu mê đắm nơi phàm phu, chứ không được bước vào quả vị Thánh Hiền.

Nếu Như Lai độ chúng sanh mà còn phân biệt bỉ, thử, nhân, ngã, còn, mất, hơn, thua v.v... thì việc độ sanh ấy vẫn còn nhân, ngã, bỉ, thử không phải là hành động của tâm không phân biệt của một vị Phật hay một vị Bồ Tát. Do vậy Đức Phật lưu ý Ngài Tu Bồ Đề cũng như những vị đệ tử khác của Đức Như Lai là hãy đừng suy nghĩ rằng Đức Như Lai đang độ sanh. Điều ấy hẳn không có. Vì lẽ nếu còn có người độ và người được độ, thì đó chẳng phải là bản hoài của chư Phật.

Đã là phàm phu thì không phải là Thánh nhơn; những người như thế cần được độ. Nhưng dưới con mắt của bậc Thánh thì việc độ người, độ đời ấy chẳng phải là độ, thì mới là thực sự độ sanh vậy.

Đoạn thứ 26: Phần pháp thân chẳng phải là tướng

“Tu Bồ Đề! Ý ông nghĩ như thế nào? Có thể dùng 32 tướng để quán Như Lai chăng?

Tu Bồ Đề thưa! Như thế, như thế. Dùng 32 tướng để quán Như Lai.

Phật bảo rằng: Tu Bồ Đề! Nếu dùng 32 tướng để quán Như Lai thì Chuyển Luân Thánh Vương tức là Như Lai.

Tu Bồ Đề bạch Phật rằng: Bạch Đức Thế Tôn! Như chỗ con rõ biết nghĩa của Phật nói thì chẳng thể nên dùng 32 tướng để quán Như Lai. Lúc bấy giờ Đức Thế Tôn liền nói kệ rằng:

Nếu dùng sắc thấy ta
Dùng âm thanh cầu ta Người nầy hành tà đạo
Chẳng thể thấy Như Lai”.

“Chuyển Luân Thánh Vương tiếng Phạn gọi là: Cakra – varti – rajan. Pali gọi là raja cakkavattin. Dịch âm là Chước Cu La Phạt Lạt Đề Át La Xà, Già Ca La Bạt Đế, Già Gia Việt. Dịch ý là Chuyển Luân Vương, Chuyển Luân Thánh Đế, Phi Hành Hoàng Đế. Nghĩa là ông vua quay chuyển bánh xe báu. Vua có 7 thứ quý báu (bánh xe, voi, ngựa, ngọc nữ, cư sĩ, bề tôi, chủ binh), đầy đủ 4 đức (sống lâu, không đau ốm, dung mạo hồng hào, kho báu phong phú), thống nhất bốn châu Tu Di, dùng chánh pháp trị đời, đất nước giàu có, nhân dân hòa vui.

Thuyết Chuyển Luân Thánh Vương xuất hiện và thịnh hành ở thời đại Đức Thích Tôn. Trong các kinh luận, có nhiều chỗđem Đức Phật so sánh với vị vua nầy. Kinh Tạp A Hàm quyển 27, luận Đại Trí Độ quyển 25, đem 7 thứ quý báu và sự hóa trị của Chuyển Luân Thánh Vương nêu ra song song với 7 giác chi của Phật. Hoặc gọi sự thuyết pháp của Đức Phật là Chuyển Pháp Luân (quay bánh xe pháp) sánh với sự quay bánh xe báu của Chuyển Luân Thánh Vương.

Lại luận Đại Tàng Bà Sa bảo bánh xe báu của Chuyển Luân Thánh Vương có 4 thứ là vàng, bạc, đồng, sắt, đều có luân vương. Kinh Nhân Vương Bát Nhã quyển thượng, phẩm Bồ Tát giáo hóa, kinh Bồ Tát Anh Lạc bản nghiệp quyển thượng, phẩm Hiền Thánh học quán, căn cứ theo các loại bánh xe trên đây mà phối hợp với hành vị Bồ Tát, lấy Luân Vương sắt làm ngôi Thập Tín; Luân Vương đồng làm ngôi Thập Trụ, Luân Vương bạc làm ngôi Thập Hạnh, Luân Vương vàng làm ngôi Thập Hồi Hướng.

Pháp Uyển Châu Lâm quyển 43, nêu Luân Vương có Quân Luân Vương, Tài (của cải) Luân Vương và Pháp Luân Vương. A Dục Vương là Quân (việc binh) Luân Vương, bốn Luân Vương từ vàng đến sắt là Tài Luân Vương, còn Như Lai là Pháp Luân Vương.

Xét về Chuyển Luân Thánh Vương thì phần nhiều đã xuất hiện ở thời thái cổ, các kinh luận có đề cập đến rất nhiều tên: Đính Sinh Vương, Đại Thiện Kiến Vương, Dân Chủ Thiện Tư Vương v.v... đều là những vua thực sự đã ra đời tại Ấn Độ vào thời thái cổ. Ngoài ra, Trường A Hàm quyển 6 kinh Chuyển Luân Thánh Vương tu hành chép, trong vị lai, khi Phật Di Lặc ra đời, sẽ có Nhương Già Chuyển Luân Thánh Vương xuất hiện. Kinh Bi Hoa quyển 3 phẩm Đại Chí chép, trong kiếp San Đề Lam giới thiện trì, có vô lượng Tịnh Chuyển Luân Thánh Vương ra đời. Kinh Như Lai trí ấn chép, khi Đức Phật Nguyệt Kế ra đời thì có Tuệ Khởi Chuyển Luân Thánh Vương xuất hiện.

Lại Luận Câu Xá quyển thứ 12 chép, khi Chuyển Luân Thánh Vương ra đời thì người ta thọ vô lượng tuổi, đến tám vạn tuổi. Nhưng Pháp Hoa kinh huyền nghĩa quyển thứ 4 thì nói, khi Luân Vương vàng ra đời thì người ta nhất định thọ tám vạn tuổi, còn Luân Vương bạc cho đến Luân Vương sắt thì không nhất định, như kinh A Dục Vương là Luân Vương sắt ra đời thì con người thọ 100 tuổi. (Phật Quang Đại TừĐiển - Hòa Thượng Thích Quảng Độ dịch, trang 986).

Chuyển Luân Thánh Vương ngoài những phước báu như trên còn có phước tướng gồm 32 loại nữa. Nhưng Chuyển Luân Thánh Vương, người không tu giải thoát, vẫn bị sanh tử chi phối, sau khi đã hưởng hết các phước. Do vậy nếu dùng 32 tướng để quán Đức Như Lai thì Chuyển Luân Thánh Vương tức là Như Lai sao? Ban đầu thì Ngài Tu Bồ Đề cho là phải; nhưng sau đó, khi đã chiêm nghiệm lời giải bày của Đức Phật, Ngài Tu Bồ Đề trả lời rằng, chẳng thể dùng 32 tướng để thấy Đức Như Lai.

Bốn câu kệ nầy trong kinh Kim Cang rất quan trọng. Nếu ai trong chúng ta cũng đều liễu triệt được lời dạy nầy của Đức Phật, thì sẽ thấu rõ được tánh Không và tánh Bát Nhã của kinh nầy.

Phàm cái gì có hình tướng thì cái ấy không thật. Vì lẽ hình tướng ấy sẽ bị chi phối bởi sự thành, trụ, hoại, diệt. Cái gì còn bị chi phối bởi định luật vô thường, tức cái ấy không có tướng thật của nó. Trong khi đó, người Phật Tử nếu dùng 32 tướng tốt để xem Phật, thì tướng tốt ấy chẳng phải là Phật. Ngay cả Ngài A Nan ngày xưa, Ngài đi xuất gia là vì mến tướng tốt của Đức Phật; nhưng sau khi Ngài đã chứng quả Thánh rồi thì không phải như vậy.

Ai là người dùng âm thanh để cầu nguyện nơi Ngài, hay nghe âm thanh để được chuyển mê thành ngộ, thì việc ấy cũng không phải là thật. Vì âm thanh có thể biến đổi; chính cái tánh thật nghe âm thanh kia mới quan trọng, còn cầu được nghe; tức là còn đối đãi, vọng tưởng.

Nếu có những người dùng âm thanh và hình tướng để cầu được thấy Phật, thì đó chính là những người làm việc tà. Không đúng với chánh đạo: Những người như thế sẽ không bao giờ thấy được chân thật nghĩa của Như Lai. Cái nghĩa chân thật của Như Lai là cái nghĩa như như bất động, không thể dùng cái thấy bình thường để biết được thật tướng của Như Lai.

Đoạn 27: Phần không đoạn không diệt

“Nầy Tu Bồ Đề! Nếu ông nghĩ rằng: Như Lai chẳng dùng tướng Cụ Túc để được Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Nầy Tu Bồ Đề! Hãy đừng nghĩ như vậy! Như Lai chẳng do tướng Cụ Túc để được Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Tu Bồ Đề! Nếu ngươi nghĩ rằng: Phát tâm Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, nói các pháp đoạn diệt. Hãy đừng nghĩ thế. Vì sao vậy? Phát tâm Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác là đối với Pháp, chẳng nói tướng đoạn diệt”.

Pháp không bao giờ mất mà pháp cũng không bao giờ gián đoạn. Chỉ vì con người không thấy pháp, chứ pháp luôn luôn hiện hữu. Giống như mặt trời bị mây mù che khuất vậy. Khi bị mây che, chúng ta nói không có mặt trời. Nhưng mặt trời (chân lý) ấy luôn luôn hiện hữu, không còn, không mất. Giống như người ở bên nầy quả địa cầu thì nói rằng mặt trời mọc rồi mặt trời lặn; nhưng trên thực tế; người ở bên kia quả đất thì nói ngược lại. Tuy nhiên mặt trời chiếu rọi và xoay quanh quả đất. Chứ không phải quả đất xoay chung quanh mặt trời. Vì chúng ta đang ở trên quả đất, bị động; nên mới cảm nhận như vậy. Chân lý cũng thế thôi! Chân lý là chân lý chứ không thể nói khác đi được. Nếu có, chỉ do con người muốn chứng tỏ rằng mình hiểu chân lý như thế nầy hoặc như thế kia; nhưng trên thực tế chân lý siêu tuyệt không chạy theo cái thấy, nghĩ của con người.

Các pháp không bao giờ mất. Nếu giáo lý của Đức Phật có chia ra làm 3 thời kỳ là chánh pháp, tượng pháp và mạt pháp. Nhưng trên thực tế pháp chẳng mất, chỉ do con người sanh ra trong mỗi thời kỳ, pháp ấy nó phải hợp với căn cơ, trình độ của mỗi thời đại để pháp còn tồn tại. Hãy hiểu rằng: Pháp là pháp; chứ Pháp không là gì hết cả. Ai hiểu được Pháp tức sẽ hiểu được Phật và ai hiểu được Phật, tức sẽ hiểu được Pháp.

Đoạn thứ 28: Phần chẳng thọ, chẳng tham

“Nầy Tu Bồ Đề! Nếu Bồ Tát dùng 7 thứ báu nhiều như cát sông Hằng của thế giới để bố thí. Hay lại có người rõ tất cả các pháp vô ngã, được thành đức nhẫn nhục, thì Bồ Tát nầy được chỗ công đức nhiều hơn vị Bồ Tát trước. Vì sao?

Nầy Tu Bồ Đề! Do các vị Bồ Tát chẳng thọ phước đức vậy.

Tu Bồ Đề bạch Phật rằng: Bạch Đức Thế Tôn! Vì sao các Bồ Tát chẳng thọ phước đức? Tu Bồ Đề! Chỗ tạo tác phước đức của Bồ Tát, chẳng nên tham trước. Cho nên nói là chẳng thọ phước đức”.

Tục ngữ Pháp có câu:

“Manger pour vivre et non vivre pour manger”.

Có nghĩa là “ăn để mà sống, chứ không phải sống để mà ăn”. Nếu người nào sống chỉ vì sựăn mặc, thì sự sống ấy chẳng có giá trị nữa. Còn ăn là phương tiện để được sống trên đời nầy; chứ không phải ăn là mục đích. Nếu ăn là mục đích, thì con người sinh ra trên đời nầy chỉ để biết ăn, chứ không biết gì khác nữa.

Đoạn kinh trên đây ý nói: Vị Bồ Tát nào thành tựu được công đức của sự nhẫn nhục, trong khi hành Bồ Tát hạnh, thì vị nầy có công đức nhiều hơn các vị Bồ Tát chỉ đem những của báu để bố thí, dầu của cải ấy nhiều như cát sông Hằng đi nữa. Do vì các Bồ Tát không tham trước vào việc làm của mình và không thọ nhận cái kết quả tự nhiên ấy. Đó là hạnh nguyện, đó là chuyện bình thường của người thực hành Bồ Tát hạnh; nên được phước đức như thế.

Do các vị Bồ Tát thực hiện các hạnh lành; nhưng không trụ vào các hạnh ấy; nên mới sanh được những phước đức như vậy. Đây chính là những việc làm không bị sự chấp trước chi phối. Do vì không có tâm thọ nhận những phước đức ấy.

Đoạn thứ 29: Phần uy nghi tịch tịnh

“Nầy Tu Bồ Đề! Nếu có người nói rằng: Như Lai hoặc đến, hoặc đi, hoặc ngồi, hoặc nằm thì người nầy chẳng rõ được nghĩa chỗ ta nói. Vì sao vậy? Như Lai nghĩa là: Không từ chỗ nào đến và lại cũng chẳng chỗ nào đi. Đó chính là Như Lai vậy”.

Phàm là người mới xuất gia vào chùa phải học 4 quyển luật căn bản. Đó là Tỳ Ni, Oai Nghi, Sa Di và Cảnh Sách.

Tỳ Ni tức là những bài Chú ngắn gọn mỗi khi ăn cơm, uống nước, rửa tay, làm việc, tọa thiền, tụng kinh, hô chuông v.v... người xuất gia phải nằm lòng. Việc tuy nhỏ nhặt; nhưng là những việc căn bản để một Chú Tiểu làm quen với hạnh từ bi và thực hành tuệ giác siêu việt vào mỗi buổi sớm mai trong chùa, hay những cử chỉ hành vi suốt trong một ngày như thế, mà người xuất gia phải lắng tâm, lòng và ý tứ để hành trì.

24 oai nghi của một Chú Tiểu từ khi vào chùa làm Thị Giả hầu Thầy, cho đến khi đi ra ngoài với Thầy, đi đưa thư cho Thầy gởi đến chùa khác, đứng nghe Thầy tiếp khách v.v... trong 24 oai nghi ấy khiến cho người học đạo bao giờ cũng tỉnh thức, ngay cả lúc đi, đứng, nằm, ngồi.

Đến 10 giới căn bản của Sa Di hay Sa Di Ni, là những giới luật chính thức để truyền trao cho người xuất gia; nhằm từ những nấc thang ban đầu ấy, sẽ dẫn dắt chính mình và mọi người đi vào căn nhà biệt giải thoát của Phật Đạo.

Đến phần Cảnh Sách tức là sự tỉnh giác do Ngài Thiền Sư Linh Hựu ở núi Quy bên Trung Quốc soạn ra để nhắc nhở cho người xuất gia không được quên ơn sanh thành dưỡng dục của mẹ cha và cũng không để cho tuổi tác già nua, chỉ ham của tín thí cúng dường mà quên đi nhiệm vụ của mình là: “Thượng cầu Phật Đạo và hạ hóa chúng sanh” thì còn đâu là bản hoài của thuở ban đầu khi phát tâm xuất gia, để cầu mong cho vượt khỏi sự luân hồi sanh tử.

Càng tu lâu rồi thì người xuất gia phải bước lên một bậc nữa là thọ giới Tỳ Kheo hay Tỳ Kheo Ni; nếu tuổi đã đủ 20. Đây gọi là giới Cụ Túc (giới đầy đủ), thể hiện qua 250 giới của 4 hành động oai nghi: đi, đứng, nằm, ngồi. Đem 4 động tác nầy nhân với 250 giới tướng, thành ra

1.000. Mỗi một khoảng không gian của quá khứ, hiện tại và vị lai được nhân lên 3 lần như vậy, thành 3.000 oai nghi tế hạnh. Đây là những hành vi căn bản của giới thuộc phạm vi Nam Truyền tức là Phật Giáo Tiểu Thừa; nhưng khi bước sang tinh thần của Đại Thừa, người xuất gia phải thọ thêm giới Bồ Tát nữa.

Còn Đức Như Lai không phải trải qua sự thọ giới tướng như thế. Vì trong 10 pháp thọ giới. Chính Ngài đã tự đầy đủ giới thể và giới tướng rồi; nên không có ai truyền giới cho Ngài cả, mà việc nầy (giới tánh) tự thành một vị Tỳ Kheo vậy. Cho nên Đức Như Lai dạy rằng: “Như Lai không từ nơi nào đến và chẳng đi vềđâu” là nằm trong ý nghĩa nầy. Vì Như Lai hay Năng Nhơn là sự an vui, tịch mặc; không còn sự đối đãi phải trái, ngược xuôi nữa. Phàm là bậc Đại Sĩ thì không cần làm cũng gọi là làm. Vì những hành động của họđã thành tựu nơi tánh Không cao cả rồi.

Đoạn thứ 30: Phần lý một hợp tướng

“Tu Bồ Đề! Nếu có người con trai tốt, người con gái lành đem 3.000 Đại Thiên thế giới nầy nghiền nát thành những vi trần. Ý ông nghĩ sao? Những vi trần nầy có nhiều chăng?

Tu Bồ Đề thưa: Thật nhiều, bạch Đức Thế Tôn. Vì sao vậy? Nếu những vi trần nầy là thật có thì Phật chẳng nói là các vi trần. Vì sao vậy? Vì Phật nói các vi trần tức chẳng phải là vi trần, thì đây mới chính là vi trần.

Kính bạch Đức Thế Tôn! Như Lai nói 3.000 Đại Thiên thế giới tức chẳng phải thế giới thì đó mới chính là thế giới. Vì sao vậy? Nếu thế giới thật có, tức là một hợp tướng. Như Lai nói một hợp tướng tức chẳng phải là một hợp tướng, thì đó mới là một hợp tướng. Nầy Tu Bồ Đề! Một hợp tướng tức chẳng thể nói, chỉ người phàm phu mới tham trước việc ấy”.

Như phần trên chúng ta đã thấy. Đứng về phương diện vũ trụ quan của Phật Giáo, ngoài thế giới nầy ra, còn vô lượng vô biên thế giới khác nữa tồn tại nơi khoảng không gian vô tận nầy. Con số thường gọi là “Tam thiên Đại thiên thế giới”. Có nghĩa là 3.000 Thế giới Đại Thiên. Cứ 1.000 thế giới của chúng ta hợp lại thành một Tiểu Thế Giới. 1.000 Tiểu thế giới hợp lại thành một Trung Thiên thế giới. 1.000 Trung thiên thế giới hợp lại thành một Đại Thiên thế giới. Một Đại Thiên thế giới gồm

3.000 thế giới như thế, mà ởđây có 3.000 Đại Thiên thế giới như vậy; nên gọi là con số nhiều vô số kể vậy.

Trên những thế giới như vậy có con người, chư thiên, sự vật, cung điện, vàng, bạc, lưu ly, xa cừ, xích châu, mã não, san hô, hổ phách v.v... đồng thời cũng có thế giới đang hợp lại, cũng có thế giới đang băng hoại. Có thế giới đang hưởng sự hòa bình an lạc; nhưng cũng có những thế giới đang chiến tranh đánh nhau tàn khốc. Có những thế giới đang thanh bình thịnh trị; rồi cũng đang có những thế giới bị ngoại xâm v.v... Nghĩa là chỗ nầy tăng, chỗ kia giảm. Chỗ nầy còn, chổ kia mất; nơi nầy thành tựu, nơi kia đang bị hủy hoại... Tất cả các thế giới đang trải qua các giai đoạn của sự thành, trụ, hoại, diệt... Thế mà Đức Phật bảo Ngài Tu Bồ Đề rằng: Nghiền nát 3.000 Đại thiên thế giới nầy ra nhỏ như hạt bụi, thì phải biết là nhiều vô số kể. Đức Phật lại còn bảo: Nếu vi trần là có thật thì đấy chẳng phải là vi trần và đó mới chính là vi trần.

Những thế giới như thế mà Đức Như Lai vẫn bảo là không phải những thế giới. Vì tướng của thế giới ấy do sự giả hợp mà thành tựu. Nó giống như một hợp tướng, mà đã là một hợp tướng thì làm sao có thật được. Đức Phật cũng bảo rằng: Nếu thế giới nầy mà thật có, tức nó giống như một hợp tướng mà thôi. Hợp tướng ấy chẳng phải là một hợp tướng thì Đức Như Lai gọi đó là một hợp tướng. Do nó là một hợp tướng; nên chẳng nói gì khác hơn nữa. Chỉ có những kẻ phàm phu mới đắm trước vào việc nầy vậy.

Ai trong chúng ta cũng biết rằng cuộc đời nầy là giả hợp. Thế gian nầy như mộng tưởng. Có đó rồi mất đó; nhưng vì tâm địa của chúng sanh là mê chấp tướng bề ngoài, không chịu rõ tự thể bên trong của bản chất sự vật; nên mới khổđau và nổi trôi trong dòng đời sanh tử. Từđó mới than trời, trách người. Vì lẽ không chấp nhận được cái gọi là thực tế mà chỉ lo tìm mồi, bắt bóng mà thôi.

“Biết thân ta vẫn biết; nhưng tiếc thân ta vẫn tiếc”. Thân nầy là giả hợp; nhưng nếu bị chia lìa, mất mát thì ai cũng lo âu, sầu khổ. Không phải là chúng sanh không nắm bắt được chân lý ấy; nhưng vì chúng sanh không tự làm chủ được chính mình trong mọi sự đổi thay của sự vật ở bên trong lẫn bên ngoài; nên mới có những sự nhận định như thế.

Đoạn thứ 31: Phần tri kiến chẳng sanh

“Nầy Tu Bồ Đề! Nếu có người nói rằng Phật nói: ngã kiến, nhơn kiến, chúng sanh kiến, thọ giả kiến. Tu Bồ Đề ý ông nghĩ như thế nào? Người nầy có hiểu rõ nghĩa chỗ ta nói chăng?

Thưa không! Bạch Đức Thế Tôn! Người nầy chẳng rõ nghĩa chỗ nói của Như Lai. Vì sao thế? Vì Đức Thế Tôn nói: Ngã kiến, nhơn kiến, chúng sanh kiến, thọ giả kiến tức là chẳng phải ngã kiến, nhơn kiến, chúng sanh kiến, thọ giả kiến thì đây mới là ngã kiến, nhơn kiến, chúng sanh kiến, thọ giả kiến.

Tu Bồ Đề! Phát tâm Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, đối với tất cả pháp, nên như thế mà biết, như thế mà thấy, như thế mà tin hiểu, chẳng sanh pháp tướng. Tu Bồ Đề! Nói là pháp tướng Như Lai nói chẳng phải pháp tướng, thì đó mới gọi là pháp tướng”.

Không là thực tướng của pháp. Cho nên nếu dùng cái ta để thấy mình, thấy người, thấy chúng sanh, thấy thọ giả thì rõ ràng là có chứ chẳng phải không. Khi nào cái thấy ấy không còn bị cái đối đãi che khuất nữa, thì cái thấy ấy mới thật là thấy. Cái thấy ấy chẳng sanh, chẳng diệt, là cái thấy thường hằng, chơn như vĩnh cửu.

Kẻ phát tâm Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác đối với tất cả các pháp nên rõ biết như vậy; thấy như vậy; tin hiểu như vậy; chẳng sanh các tướng nơi pháp. Biết như vậy là biết cái chân thật biết; thấy như vậy là thấy cái chân thật thấy; tin hiểu như vậy là tin và hiểu cái điều chân thật. Tất cả những điều ấy đừng nên sanh cái tướng nơi các pháp. Cái tướng nơi các pháp là cái tướng đối đãi; chỉ cái chơn thật thấy, ấy mới gọi là cái thấy.

Do vậy mà Đức Như Lai nói rằng Pháp tướng hay tướng của pháp tức là chẳng phải tướng của pháp, ấy mới gọi là tướng của pháp. Tướng ấy chẳng sanh, chẳng diệt, không đến, không đi, không còn, không mất. Mọi sự, mọi việc đều như như bất động; không thêm, không bớt.

Đoạn thứ 32: Phần ứng hóa chẳng phải thật

“Nầy Tu Bồ Đề! Nếu có người đem 7 thứ báu đầy cả thế giới để đem bố thí trải qua vô lượng A Tăng Kỳ Kiếp. Nếu có người thiện nam, kẻ thiện nữ phát tâm bồ đề, trì kinh nầy cho đến 4 câu kệ và thọ trì, đọc tụng, vì người khác diễn nói, thì phước nầy hơn kia. Vì người khác diễn nói như thế nào? Chẳng thủ nơi tướng, như như bất động. Vì sao?

Tất cả các pháp hữu vi Như mộng, huyễn, bọt, bóng

Như sương cũng nhưđiện
Nên quán như thế ấy

Khi Phật nói kinh nầy rồi. Trưởng Lão Tu Bồ Đề và các vị Tỳ Kheo, Tỳ Kheo Ni, Ưu Bà Tắc, Ưu Bà Di cùng tất cả thế giới trời, người, A Tu La v.v... nghe Phật nói rồi, tất cả đều rất hoan hỷ, tin nhận phụng hành”, Kinh Kim Cang Bát Nhã Ba La Mật.

Đây là đoạn chót thứ 32 của kinh Kim Cang theo các bậc Tổ Đức đã chia ra như thế. Đoạn nầy nói về việc ứng hóa, chẳng phải thật. Ởđoạn cuối nầy Đức Phật cũng xác định lại một lần nữa là dẫu cho có người nào đó đem của báu đầy cả 3.000 Đại Thiên thế giới để đem bố thí như vậy trong A Tăng Kỳ Kiếp; nghĩa là không có giới hạn bởi thời gian và không gian và đối với người trì kinh nầy cho đến 4 câu kệ thôi, cũng như vì người khác diễn nói, thì phước của người trì kinh ấy vẫn hơn người bố thí của cải kia. Vì người khác diễn nói mà chẳng chấp giữ nơi tướng nói ấy, như như bất động, không thay đổi thái độ và cách làm của bậc Bồ Tát trụ nơi chỗ không trụ để thực hiện.

Qua bốn câu tiêu biểu là:

Tất cả các pháp hữu vi đều như mộng, như huyễn, như bọt, như bong bóng. Thế nào là pháp hữu vi? Pháp hữu vi là pháp có hình tướng, mà đã có hình tướng thì là hư vọng, chẳng thật. Hình tướng ấy bị chi phối bởi thành, trụ, hoại diệt. Hình tướng ấy có sinh ra, có lớn lên, có già bệnh và chết chóc. Như vậy tất cả cái gì có hình tướng, tức cái đó không thật. Sự không thật có ấy biểu hiện qua giấc mộng, sự huyễn hóa, như bọt nước, như bong bóng. Đã là mộng thì là không thật. Đã là thật thì không phải là mộng. Mộng ấy là sự huyễn hóa bởi tâm thức đã được tạo thành trong bao phen sanh tử và giờ nầy nổi lên như thế, rồi trong chốc lát sự huyễn hóa ấy lại tan đi. Sự tan hoại, rã rời ấy như bọt sương mai trên đầu ngọn cỏ, có đó vào buổi sáng tinh sương; nhưng khi ánh thái dương trỗi dậy, bọt bong bóng ấy không còn tồn tại nữa. Bong bóng là ảnh hiện của nước. Thực chất của nước cũng được cấu tạo bởi những vi phân tử của chất lỏng. Khi phân tích kỹ thì chẳng có gì là nước cả. Do vậy ta có thể nói rằng: Bong bóng là hiện t
ượng của nước, mà thực chất của nước cũng chẳng thật. Nước ấy phải bị luân chuyển và chi phối bởi nhiều nguyên tố khác nhau vậy.

Những pháp hữu vi ấy thật ra cũng giống như những giọt sương và giống nhưđiện chớp. Vì sương ấy cũng hóa hiện từ nước, mà nước chỉ là một hợp tố, nước không có tánh thật của nó. Điện có mặt khắp nơi trong không trung, ở nhiều thể khác nhau. Bình thường ta không thấy được; nhưng ta cảm nhận được điện qua ánh sáng, qua thểđông lạnh bởi nước, hay thể loãng của các dung dịch khác. Điện tự nhiên; nhưng con người đã dùng điện để tạo nên lợi thế cho cuộc sống của con người; nhưng trên thực tế thì điện cũng không thật. Ta muốn điện hiện hữu ở thể nào, thì điện sẽ tồn tại và tan biến theo công thức biến hóa của người điều khiển nó. Bóng điện có thể hư; nhưng dòng điện lại biến thểở nhiều dạng thức khác nhau vậy.

Nếu tất cả chúng ta đều quán được các pháp hữu vi như vậy thì tất nhiên chúng ta sẽ hiểu được giá trị về cái không thực tướng, mà kinh Kim Cang, Đức Phật muốn gởi đến cho chúng ta. Rồi từđó, chúng ta truyền đạt tinh thần nầy qua cho người khác nghe cũng như hiểu biết và thực hành cũng như quán chiếu, thì rõ ràng công đức của người nầy không nhỏ. So với những người đem 7 thứ báu bố thí khắp 3.000 Đại Thiên thế giới trong nhiều đời, nhiều kiếp cũng không thể sánh bằng, là ở ý nghĩa khó nghĩ bàn nầy vậy.

Khi Đức Phật nói kinh nầy xong rồi, Ngài Tu Bồ Đề và các vị Tỳ Kheo, Tỳ Kheo Ni, Ưu Bà Tắc, Ưu Bà Di cùng với tất cả trời, người, A Tu La v.v... nghe Phật giảng xong, đều rất vui mừng tin, nhận và làm theo.

Căn cứ theo phần thứ nhất của kinh nầy thì Đức Phật nói kinh Kim Cang Bát Nhã Ba La Mật sau thời dùng ngọ trai tại vườn cây của Thái Tử KỳĐà và ông Cấp Cô Độc nơi nước Xá Vệở một thời điểm trong 25 mùa An Cư Kiết Hạ của Đức Phật tại đó. Kinh nầy không phải chỉ có loài người nghe, mà có đủ các bộ chúng ở các cõi khác đến để nghe Đức Phật thuyết pháp. Vậy thời gian được đặt ra là bao lâu?

Nếu bây giờ chúng ta hành trì bộ kinh nầy ít nhất cũng là một tiếng đồng hồ. Còn nếu nghe kinh để hiểu rõ nghĩa lý nhiệm mầu, thì phải cần nhiều tháng. Thuởấy, những bậc nghe kinh như thế, đều là những bậc Thượng Thủ trong chúng hội. Có nghĩa là những vịấy thuộc về bậc thượng căn, thượng trí. Nghĩa là khi nghe xong là hiểu liền, không cần phải suy nghĩ và hỏi lại ý nghĩa của những điều Đức Phật đã dạy. Đến thời kỳ Tượng Pháp, chắc chắn có nhiều người nghe nhưng không hiểu rõ nghĩa lý sâu xa mầu nhiệm ấy; nên các vị Pháp Sư phải nói đi nói lại nhiều lần, thính chúng mới hiểu được lời dạy của Đức Phật. Kinh nầy đã lưu truyền hơn 2.500 năm lịch sử, riêng ở cõi Ta Bà nầy và trong hiện tại chúng ta đang sống trong thời mạt pháp và thuộc vào dạng hạ căn, hạ trí; nên có nghe cũng khó hiểu, mà nếu có hiểu cũng hiểu sai lời Phật dạy, chứ không hiểu đúng như nghĩa lúc ban đầu.

Hòa Thượng Liên Hoa (tức Ngài Thiệt Thành-Liễu Đạt) giảng kinh tối thượng thừa nầy cho nội cung của Vua Gia Long và sau đó là nội cung của Vua Minh Mạng trong nhiều năm, tháng như thế. Không phải chỉ trong một tiếng đồng hồ, như thuở Đức Phật còn tại thế. Dĩ nhiên là cũng có người hiểu, có người không, có người lo suy tư việc khác.

Từ năm 1821 đến nay (1823) đã 2 năm ròng rã như thế, các pháp hội của chùa Giác Hoàng trong nội cung đã được Ngài Hòa Thượng Liên Hoa giảng giải liên tục như vậy. Ngay cả Vua Minh Mạng cũng rất hài lòng sau khi nghe Hoàng Hậu và Thái Hậu Thuận Thiên tâu trình; cho nên thay vì gọi Hòa Thượng Thiệt Thành-Liễu Đạt thì nhà Vua đã ban cho vị Hòa Thượng Tăng Cang nầy là Liên Hoa Hòa Thượng. Kể từđó trong cung nội cũng như ngoài triều ca, ai ai cũng biết đến danh tiếng của Liên Hoa Hòa Thượng.

Ngày 20 tháng 11 năm Tân Tỵ (1821), Đại Lão Hòa Thượng Phật Ý-Linh Nhạc đã viên tịch ở chùa Từ Ân Sài Gòn, thọ 97 tuổi. Ngài sinh năm 1725 và viên tịch vào năm 1821. Hòa Thượng Liên Hoa ở Huế chắc rằng không được cho biết tin nầy; có thể trong nội cung giấu tin nầy để Hòa Thượng không xin về Gia Định, hầu ở lại thuyết pháp cho nội cung nghe. Điều ấy hẳn dễ hiểu. Vì Vua Gia Long mới băng hà (1820). Vua Minh Mạng mới lên ngôi. Nay trong triều và ngoài xã hội đều xầm xì, bàn tán. Nếu nay còn cho tin chẳng lành cho Hòa Thượng Liên Hoa nghe, chắc chắn là Ngài phải xin về lại Gia Định để thọ tang cho Thầy mình. Vả lại trong lúc đó, Hòa Thượng Liên Hoa đang giảng bộ kinh Đại Thừa Kim Cang Bát Nhã, là một trong những bộ kinh tối thượng thừa, không thể bỏ dở giữa chừng được. Đồng thời Thái Hoàng Thái Hậu Hiếu Khương, Thái Hậu Thuận Thiên và ngay cả Hoàng Hậu, vợ Vua Minh Mạng, và đặc biệt là Thái Trưởng Công Chúa cũng như Hoàng Cô đang mải miết theo dõi những ngày, giờ giảng kinh của Hòa Thượng Liên Hoa trong cung nộ
, nhằm làm vơi đi cái mất của Vua Gia Long chưa đến kỳ lễ Đại Tường. Cho nên không cho Ngài Hòa Thượng Liên Hoa biết chuyện Ngài Thiền Sư Linh Nhạc-Phật Ý, vị Thầy y chỉ của Hòa Thượng Liên Hoa đã viên tịch cũng là điều dễ hiểu thôi.

Mãi đến đầu năm 1823 có các quan Đại thần từ Gia Định ra kinh đô Huế dự lễ, Hòa Thượng Liên Hoa mới biết được tin đó, và nhân đó mới có cớ để xin vua cho từ nhiệm ở chùa Thiên Mụ và trong nội cung của Vua để về Gia Định. Sau cả tháng Thiền Sư Liễu Đạt mới được Vua Minh Mạng cho phép về lại chùa xưa và tiếp tục làm trụ trì chùa Từ Ân ở Gia Định.

Thư Từ Nhiệm

Minh Mạng năm thứ 4, ngày lành tháng tốt (Đầu năm 1823)

Muôn tâu Thánh Thượng,

Kể từ khi Tiên quân gia ân, bần Tăng nầy đã đến được chốn Hoàng cung nầytừ năm 1817 và hơn 4 năm trường, bần tăng đã cận kề Tiên Đế trong những lúc nhàn rỗi; nhưng chẳng may Tiên Đế đã băng hà. Bởi vì nếu không có Tiên Đế thì ngôi vị Trụ Trì chùa Thiên Mụ cũng như chức Tăng Cang và Giới đao, Độ điệp... bần tăng nầy chẳng dám nghĩ đến. Sau đó Tiên Đế lại còn cho bần tăng vào nội cung để giảng kinh, thuyết pháp nữa. Thật là ơn vua, lộc nước chẳng biết nói sao cho cùng.

Sau khi Tiên Đế băng hà. Thánh quân kế nghiệp từ năm 1820 đến nay cũng đã được hơn 2 năm rồi. Đại Tang đã mãn và mọi việc đã an bài. Nhất là bản kinh quan trọng: Kinh Kim Cang, bần tăng đã giảng giải cho Thái Hoàng Thái Hậu và các cung nhân vừa xong. Nay nhân có các quan từ thành Gia Định ra hầu triều, bần tăng mới nghe được tin chẳng lành là Y Chỉ Sư của bần tăng, Trụ trì chùa Sắc Tứ Từ Ân và chùa Quốc Ân Khải Tường ở Gia Định đã viên tịch hơn một năm nay mà bần tăng chưa rõ được điều mất mát to lớn kia. Do vậy dâng Thư Từ Nhiệm nầy lên Bệ Hạ để thẩm xét là bần tăng xin thôi chức Trụ Trì chùa Thiên Mụ cũng như giảng pháp cho nội cung kể từ ngày viết thư nầy dâng nạp lên Thánh Thượng.

Điều muốn nói ởđây là bần tăng cũng không quên niệm ân của Thánh Thượng đã gia ân ban sắc cho pháp hiệu Liên Hoa để cho mọi người dễ gọi và còn làm tôn thêm vẻ đẹp của đóa hoa không nhiễm trần nầy. Tuy nhiên mọi sự khen chê, tốt xấu... xin chờở vào đoạn cuối của cuộc đời. Kính mong Thánh Thượng giải quyết cho, để bần tăng khỏi ngày đêm mong đợi ngày về thọ tang cho Thầy, Tổ của mình.

Kính mong chứng giám.
Liên Hoa Hòa Thượng Hiệp Chưởng.

Khi Hòa Thượng Liên Hoa về đến chùa Từ Ân, chư huynh đệ và chư Tăng đến mừng. Hòa Thượng Viên Quang mới hỏi Hòa Thượng Liên Hoa về sự lo lắng của Đại Lão Hòa Thượng Phật Ý về Hòa Thượng Liên Hoa có đúng không? Hòa Thượng Liên Hoa nghe xong xúc động và kể lại rằng:

Khi hoằng hóa ở kinh đô Huế, có Hoàng Cô (Cô của Vua Minh Mạng) là đệ tử của Hòa Thượng, thọ giới Bồ Tát được ban pháp danh là Tế Minh-Thiên Nhựt, có tình cảm luyến ái sâu đậm, muốn ràng buộc duyên tình với Hòa Thượng; nên Hòa Thượng phải tìm cách xin về Gia Định.

Chư huynh đệ nghe qua, than thở cho nghiệp trần duyên quá trớ trêu, ràng buộc chúng sanh gây cản trở trong việc tu hành. Sau đó Hòa Thượng Liên Hoa vẫn tiếp tục hoằng hóa ở chùa Từ Ân.

Hòa Thượng Phật Ý đã lo lắng cho Hòa Thượng Liên Hoa như thế nào? Đó là vào khoảng thời gian năm 1821, trước khi Hòa Thượng Phật Ý viên tịch, Ngài có nói với đệ tử là Thiền Sư Viên Quang-Tổ Tông trụ trì chùa Giác Lâm ở Sài Gòn rằng: Hòa Thượng lo cho Sư Liễu Đạt không tránh khỏi mối dây ràng buộc của nghiệp trần duyên. Vì Liễu Đạt (tức Hòa Thượng Liên Hoa) có tướng hảo, có tài thuyết pháp và khoa ăn nói, lại giảng giải trong nội cung, gần nhiều giới nữ sắc quyền quý.

Quả thật lời dặn dò và trăn trối của Thầy mình không sai, khi nhân quả đến thời kỳ chín muồi và mọi việc cứ như thế tiếp tục xảy ra trong tâm tưởng của Hoàng Cô, không ai có thể ngăn cản được.
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn