Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   

9. Về Pháp Tu Thiền

01/02/201111:44(Xem: 5294)
9. Về Pháp Tu Thiền

CĂN BẢNPHẬT GIÁO
BìnhAnson
NhàXuất Bản Tổng Hợp TP. Hồ Chí Minh, TL. 2005 - PL. 2549
VềPháp Tu Thiền

BìnhAnson

---*---

Trướchết,chúng ta hãy thử tự trả lời câu hỏi: Thiền là gì?Một câu hỏi tuy đơn giản, nhưng có lẽ sẽ có nhiều lốitrả lời khác nhau.

Theongữ nguyên, Thiền là cách nói tắt của chữ "thiền-na",là lối phiên âm Hán Việt của chữ Phạn Jhana, hay Dhyanatrong Sanskrit. Thiền-na, trong kinh điển nguyên thủy, dùng đểchỉ mức độ an định đặc biệt khi luyện tâm.

Thiềncòn được dùng để dịch chữ BhàvanaSamadhi.Bhàvanacó thể được hiểu như là một sự tiến triển,phát triển tâm linh, sự tu tâm, luyện tâm. Tiếng Anh thườngdịch là Mental development. Samadhithường đượcdịch là Định, Thiền định, Tâm định. Tiếng Anh thườngdịch là Concentration, Meditation.

Ngaytrong ngôn ngữ Thái Lan, họ cũng không có một từ chuyên mônđể dịch. Thông thường, để chỉ công phu ngồi hành thiền,họ dùng chữ "Nắng Samadhi"("nắng"là ngồi),hay "Nắng Bhavana". Thỉnh thoảng, họ dùng chữ "NắngThang-nay"nghĩa là "ngồi và quay nhìn vào bên trong".

Theothiển ý, có thể dịch chữ "bhàvana"là: tu thiền,tu tâm, luyện tâm, lọc tâm, dưỡng tâm. Còn chữ "samadhi"thì tùy theo ngữ cảnh. Nếu được dùng trong nghĩa "chánhđịnh" (samma samadhi), một trong 8 chi phần của Bát ChánhĐạo, thì chữ nầy có liên quan đến các tầng thiền-na,và thường được xem như cùng nghĩa với "samatha-bhàvana",dịch là Thiền An Chỉ, hay Thiền Chỉ. Nếu được dùng trongnghĩa tam vô lậu học Giới Định Tuệ, thì có nghĩa là baogồm 3 chi: Chánh Tinh Tấn, Chánh Niệm, Chánh Định của BátChánh Đạo.

TheoTiến sĩ Muller, một học giả Bắc tông, tác giả quyển Tựđiển Thuật ngữ Phật học Đông Á (Dictionary of East AsianBuddhist Terms), Thiền Định là tiếng ghép đôi, từ chữPhạn là "Thiền" (từ "thiền-na") và chữ Hán là "Định",có nghĩa là quay nhìn vào bên trong, với trạng thái tĩnh lặng.

Cưsĩ Đoàn Trung Còn, một học giả Bắc tông khác, trong quyểnPhật học Từ điển, cho biết rằng Thiền là từ chữ "Thiền-na",phiên âm từ tiếng Phạn "Jhana, Dhyana". "Thiền định"dùng để dịch chữ "Samadhi", phiên âm là Tam-ma-địa,Tam-muội. Có khi dịch là "tĩnh lự", nghĩa là làm cho an tĩnhđể suy xét (tư lự).

TheoTự điển Phật Học Huệ Quang, Dhyànahay Jhàna,ngoài tiếng phiên âm là Thiền-na, còn được phiên âm làĐà-diễn-na, Trì-a-na; dịch là Tĩnh lự, Tư duy tu tập, nghĩalà tư duy trong sự vắng lặng.

*

VìThiền có liên quan đến Con Đường Tám Chánh đưa đến giácngộ giải thoát, ở đây, chúng ta cũng nên ôn lại lời Phậtdạy về 8 chi phần của con đường nầy.

TươngƯng Bộ, Tập 5, có ghi như sau:

"Nàycác vị Tỳ-khưu, thế nào là chánh tri kiến? Đó là sự thônghiểu về khổ, sự thông hiểu về nguyên nhân của khổ, sựthông hiểu về sự diệt khổ, và sự thông hiểu về con đườngdiệt khổ.

Thếnào là chánh tư duy? Đó là tư duy về sự xuất ly, tư duyvề vô sân, tư duy về vô hại.

Thếnào là chánh ngữ? Đó là từ bỏ nói láo, từ bỏ nói hailưỡi, từ bỏ nói lời độc ác, từ bỏ nói lời phù phiếm.

Thếnào chánh nghiệp? Đó là từ bỏ sát sanh, từ bỏ lấy củakhông cho, từ bỏ hành động tà dâm.

Thếnào là chánh mạng? Đó là đoạn trừ tà mạng, nuôi sốngvới chánh mạng.

Thếnào là chánh tinh tấn? Đó là tinh tấn ngăn chận không chokhởi sanh các bất thiện pháp chưa sanh, tinh tấn trừ diệtcác bất thiện pháp đã sanh, tinh tấn phát khởi các thiệnpháp chưa sanh, và tinh tấn duy trì các thiện pháp đã sanh.

Thếnào là chánh niệm? Đó là sống quán thân trên thân, nhiệttâm, tỉnh giác, điều phục mọi tham ưu trên đời; sốngquán thọ trên thọ, nhiệt tâm, tỉnh giác, điều phục mọitham ưu trên đời; sống quán tâm trên tâm, nhiệt tâm, tỉnhgiác, điều phục mọi tham ưu trên đời; sống quán pháp trêncác pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, điều phục mọi tham ưu trênđời.

Thếnào là chánh định? Đó là ly dục, ly pháp bất thiện, chứngvà trú Thiền-na thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do lydục sanh, có tầm, có tứ; rồi làm cho tịnh chỉ tầm vàtứ, chứng và trú vào Thiền-na thứ hai, một trạng thái hỷlạc do định sanh, không tầm, không tứ, nội tĩnh, nhất tâm;rồi ly hỷ trú xả, chánh niệm, tỉnh giác, thân cảm sựlạc thọ mà các bậc Thánh gọi là xả niệm lạc trú, chứngvà trú vào Thiền-na thứ ba; rồi xả lạc, xả khổ, diệthỷ ưu đã cảm thọ trước, chứng và trú vào Thiền-na thứtư, không khổ, không lạc, xả niệm thanh tịnh."

Quađoạn kinh trên, có 2 điều quan trọng cần ghi nhận:

1)Chánh Định là công tác tu tập để đem tâm an trú vào 4 Thiền-na,sau khi đoạn trừ các dục, các bất thiện pháp - ở đâythường được hiểu là đoạn trừ 5 triền cái: tham dục,sân hận, hoài nghi, hôn trầm thụy miên, và trạo hối; vàthay thế bằng 5 thiền chi: tầm, tứ, hỷ, lạc, nhất tâm.Sau đó lần lượt xả bỏ 4 thiền chi đầu: tầm, tứ, hỷ,lạc, chỉ còn giữ lại một trạng thái tâm chuyên nhất,thanh tịnh, và tỉnh thức ở tầng thiền-na thứ tư.

2)Nếu xem Định trong tam học Giới-Định-Tuệ là gồm 3 chicuối của Bát Chánh Đạo, thì Chánh Niệm và Chánh Địnhcần phải thực hành chung với nhau, dựa trên Chánh Tinh Tấn.

*

Tuthiền, hành thiền, định tâm là một công phu tu tập tốiquan trọng để phát khởi tuệ giải thoát, và thường đượcghi lại trong rất nhiều bài kinh giảng của Đức Phật. Địnhtrong Con Đường Tám Chánh đã được Đức Phật tuyên bốngay trong bài giảng đầu tiên sau khi Thành Đạo, bài kinh ChuyểnPháp Luân. Trong những ngày cuối cùng còn tại thế, Ngài tómtắt về các pháp tu tập qua 37 phần bồ đề, trong đó, "Định"được đề cập trong các nhóm: Ngũ căn, Ngũ lực, Thất giácchi, và Bát chánh đạo, như đã ghi lại trong kinh Đại BátNiết Bàn của Trường Bộ.

Ngoàira, theo Hòa thượng Thích Minh Châu, trong quyển "Hành Thiền",có bốn lợi ích hay bốn công năng của Thiền:

1)Thiền có khả năng đoạn trừ các tham dục qua mắt, tai, mũi,lưỡi, thân.

2)Thiền có khả năng đối trị sợ hãi, giúp hành giả có thểtu tập trong bất cứ hoàn cảnh nào.

3)Thiền đem lại hỷ lạc cho hành giả.

4)Thiền đưa đến thành tựu trí tuệ, đưa đến giác ngộgiải thoát, đưa đến Niết bàn.

TrongKinh Pháp Cú, kệ 282, Đức Phật dạy:

Tuthiền, trí tuệ sanh,
Bỏthiền, trí tuệ diệt.
Trongkệ 372, Ngài khuyên:Khôngtrí tuệ, không thiền,
Khôngthiền, không trí tuệ.

Ngườicó thiền, có tuệ,

Nhấtđịnh gần Niết Bàn.
TrongTương Ưng Bộ, Tập 5, Ngài dạy rằng Bát Chánh Đạo chínhlà cỗ xe tối thượng, là Pháp Thừa, để chiến thắng tham-sân-si:

-Này Ànanda, cần phải hiểu như thế này: "Cỗ xe thù thắng,cỗ xe pháp vô thượng - pháp thừa - là sự chinh phục trongchiến trận chống tham, sân, si. Cỗ xe pháp nầy chính là ConĐường Tám Chánh".

RồiĐức Thế Tôn dạy thêm rằng vật dụng để tạo cỗ xe đólà Giới luật, Thiền là trục bánh xe và Niệm là ngườiđánh xe.

*

TrongTrungbộ 24, Kinh "Trạm Xe", ngài Xá-lợi-phất giảng về 7trạm xe, ám chỉ 7 giai đoạn thanh tịnh hóa của một ngườitu Phật: Giới thanh tịnh, Tâm thanh tịnh, Kiếnthanh tịnh, Đoạn nghi thanh tịnh, Ðạo phi đạo tri kiến thanhtịnh, Ðạo tri kiến thanh tịnh,Tri kiến thanh tịnh.Trong đó:

1)"Giới thanh tịnh"là tuân giữ nghiêm túc các học giớiđã thọ.

2)"Tâm thanh tịnh"là nhiếp phục năm triền cái, đưatâm an trú vào các thiền-na.

3)"Kiến thanh tịnh"là phân biệt Danh-Sắc, sự thấy đúngdanh và sắc như vậy, một sự thấy đã được an lập trênsự không mê mờ, do đã vượt qua ảo tưởng về tự ngã.

4)"Đoạn nghi thanh tịnh"là thấy rõ quá trình tâm lývà vật lý tự phô bày sự thật Duyên khởi, sự tồntại và sự tan rã của các cảm thọ, các tưởng, không cònnghi ngờ gì nữa.

5)"Đạo phi đạo tri kiến thanh tịnh"là biết rõ cáccảm thọ hỉ, lạc đều là chướng ngại cho sự phát triểntrí tuệ rộng lớn, liền giác tỉnh, rồi khởi cảm thọ.Hành giả đắc được trí biết rõ cái gì là Đạo và cáigì là chướng đạo (hay Phi đạo). Bấy giờ, hành giảtự mình biết chắc rằng: giờ đây ta mới thực sự hạnhphúc.

6)"Đạo tri kiến thanh tịnh"là thấy rõ quá trình thựchành, tu tập; thấy rõ hiện tượng tan rã của các quá trìnhthân và tâm, thấy không có gì hiện hữu nữa; các đối tượngchú tâm đều tan rã. Hành giả thấy rõ ba pháp ấn: khổ,vô thường, vô ngã.

7)"Tri kiến thanh tịnh"là tâm hoàn toàn thanh tịnh do thấyvà biểt. Trong giai đoạn này, hành giả đi vào các tầng thánhĐạo-Quả (Dự lưu, Nhất lai, Bất lai, và A-la-hán), sau khithành tựu Ngũ căn, Ngũ lực, Thất giác chi và Bát Chánh đạo.

Bảygiai đoạn thanh tịnh nầy được triển khai trong bộ luậnThanh Tịnh Đạo của ngài Phật Âm (Buddhaghosa), trong đó, có3 phần: Giới, Định, và Tuệ. Phần đầu là tu tập về Giới,để đưa đến thanh tịnh đầu tiên là Giới thanh tịnh.Tiếp đến là phần tu tập Định, có đề cập đến pháttriển các tầng thiền-na. Tu tập Định đưa đến Tâm thanhtịnh. Từ đó, làm nền tảng để tu tập Tuệ, ở phầnthứ 3 của bộ luận, để đưa đến các thanh tịnh kế tiếplà: Kiến thanh tịnh, Đoạn nghi thanh tịnh, Ðạo phi đạotri kiến thanh tịnh, Ðạo tri kiến thanh tịnh Trikiến thanh tịnh.

*

Trongbàikinh số 107, thuộc Trung Bộ, Đức Phật giảng cho ngườiBà-la-môn Ganaka Moggallàna, tóm tắt con đường tu tập, nhưsau:

-giữ gìn giới hạnh,
-hộ trì các căn,
-tiết độ ăn uống,
-chú tâm cảnh giác,
-thành tựu chánh niệm tỉnh giác,
-tìm nơi thanh vắng để hành thiền,
-loại trừ 5 triền cái,
-an trú vào 4 tầng thiền-na.Và cácbước tu tập này áp dụng cho bậc hữu học - tức là cácvị Dự lưu, Nhất lai, Bất lai - lẫn các bậc vô học, tứclà các vị thánh A-la-hán giải thoát.

Thêmvàođó, theo kinh Sáu Thanh Tịnh, Trung Bộ 112, sau khi an trúvào 4 tầng thiền-na, Đức Phật khuyên các vị Tỳ-khưu hữuhọc phải tiếp tục hành trì, phát triển các tuệ minh vàtiến tới giải thoát:

Saukhi an trú trong Tứ Thiền, với tâm định tĩnh, thuần tịnh,không cấu nhiễm, không phiền não, nhu nhuyến, dễ sử dụng,vững chắc, bình thản như vậy, vị ấy dẫn tâm, hướngtâm đến lậu tận trí. Vị ấy biết như thật: "Ðây làkhổ", biết như thật: "Ðây là nguyên nhân của khổ", biếtnhư thật: "Ðây là khổ diệt", biết như thật: "Ðây là conđường đưa đến khổ diệt", biết như thật: "Ðây là nhữnglậu hoặc", biết như thật: "Ðây là nguyên nhân của lậuhoặc", biết như thật: "Ðây là các lậu hoặc được đoạntrừ", biết như thật: "Ðây là con đường đưa đến cáclậu hoặc được diệt trừ".

Vịấy nhờ biết như vậy, nhờ thấy như vậy, tâm của vịấy thoát khỏi dục lậu, thoát khỏi hữu lậu, thoát khỏivô minh lậu. Ðối với tự thân đã giải thoát như vậy,vị ấy khởi lên sự hiểu biết: "Ta đã giải thoát"". Vịấy biết: "Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, việc cầnlàm đã làm; không còn trở lui trạng thái này nữa".

Cũngxin ghi nhận ở đây, ngay trong chương đầu tiên của bộ luậnThanh Tịnh Đạo, ngài Phật Âm trích lời Phật dạy trong TươngƯng, Tập 1:

Ngườitrú giới có trí
Tutập tâm và tuệ

Nhiệttâm và thận trọng

Tỳ-khưuấy thoát triền.
NgàiPhật Âm giải thích: "người trú giới có trí" là ngườicó giới thanh tịnh, có hiểu biết rõ ràng dựa trên vô tham,vô sân, vô si. "Tu tập tâm" ở đây là pháp hành thiền anchỉ, "tu tập tuệ" ám chỉ hành thiền minh quán , "tu tậptâm và tuệ" có nghĩa là hành thiền Chỉ-Quán, hay Chỉ-Quánđồng tu. "Nhiệt tâm và thận trọng" có nghĩa là có nhiềunghị lực, tinh tấn và tỉnh giác nhận thức. "Tỳ-khưu" -bhikkhu- ở đây mang một nghĩa rộng, không phải để chỉhàng tu sĩ, mà để chỉ người thấy được sự khốn khổcủa sinh tử luân hồi. "Thoát triền" là thoát khỏi mọi tróibuộc của sinh tử luân hồi. Như thế, qua câu kệ trên, ĐứcPhật dạy chúng ta phải an trú trong Giới, tu tập thiền Định,phát triển Tuệ quán, để giác ngộ giải thoát.

*

Đôikhi,trong kinh tạng, Đức Phật có đề cập đến hai phápthiền: (1) thiền an chỉ hay thiền chỉ (samatha-bhavana),và (2) thiền minh quán (vipassana-bhavana)hay thiền quán.Hai pháp Chỉ-Quán nầy cần phải được phát triển đồngđều, bổ túc cho nhau.

TrongTăng Chi Bộ, Chương Hai Pháp, Đức Phật dạy:

Cóhai pháp này, này các Tỳ-khưu, thuộc thành phần minh. Thếnào là hai? Chỉ và Quán. Chỉ được tu tập, sẽ được lợiích gì? Tâm được tu tập. Tâm được tu tập, sẽ đượclợi ích gì? Cái gì thuộc về tham được đoạn tận. Quánđược tu tập, sẽ được lợi ích gì? Tuệ được tu tập.Tuệ được tu tập, sẽ được lợi ích gì? Cái gì thuộcvô minh được đoạn tận. Bị tham làm uế nhiễm, này cácTỳ-khưu, tâm không thể giải thoát. Hay bị vô minh làm uếnhiễm, tuệ không được tu tập. Vì vậy, do ly tham, là tâmgiải thoát. Do đoạn vô minh, là tuệ giải thoát.

Trongkinh Kimsuka, Tương Ưng Bộ, Thiên Sáu Xứ, Ngài có ví dụ pháptu Chỉ-Quán như là hai vị thiên sứ cùng đến báo cáo chovị chủ một ngôi thành ở vùng biên giới về tình trạngan ninh, bảo vệ phòng chống quân địch. Vị chủ thành đólà Tâm Thức của chúng ta, và địch quân ở đây là các phiềnnão lậu hoặc. Người giữ cửa thành là Niệm, và thành cósáu cửa là sáu căn. Như thế, ta dùng Niệm để canh giữsáu căn, và nhờ có tu tập thiền Chỉ-Quán mà ta có thểngăn chận và phòng chống được các phiền não do lậu hoặcmang đến.

*

Tómlại,Thiền định là một pháp môn tu tập cần thiết củangười con Phật. Thiền định giúp tạo một khả năng bềnvững để có đời sống thiện, hướng thiện, và cứu cánhlà thiện. Thiền có thể được xem là một tiến trình huântập về cảm thọ, nuôi dưỡng các cảm thọ tốt đẹp nhưhỷ, lạc, xả, và từ bỏ các cảm thọ không tốt đẹp,như khổ, ưu. Đây là một sự giáo dục tâm lý, đoạn tậncác tâm lý không tốt đẹp như năm triền cái vốn bắt nguồntừ tham sân si, và thay thế bởi những tâm lý tốt đẹp lànăm thiền chi, có căn bản là không tham, không sân, và khôngsi. Thiền định là một giai đoạn tiếp theo việc vun bồiGiới đức, và là nền tảng để bước vào giai đoạn kếlà phát triển Tuệ giác.

Perth,Tây Úc, tháng 7-2004


Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
30/05/201106:35(Xem: 6163)
Chương 183: Thời Kỳ Tiền Phật Giáo trên Thế Giới Pre-Buddhism Period in the World Chương 184:Lịch Sử Các Bộ Phái Phật Giáo Cổ History of Ancient Buddhist Sects Chương 185: Tông Phái Phật Giáo—Buddhist Schools Chương 186: Lục Sư Ngoại Đạo—The Six Heretical Masters Chương 187: Phật Giáo Thế Giới—Buddhism in the World Chương 188: Phật Giáo Việt Nam—Buddhism in Vietnam Chương 189: Những vị Cao Tăng Nổi Tiếng của Việt Nam Vietnamese Famous Buddhist Monks Chương 190: Những vị Cao Tăng Nổi Tiếng của Trung Hoa Chinese Famous Buddhist Monks
03/10/201020:23(Xem: 3683)
Bernard Glassman, Viện trưởng của Cộng đồng Thiền ở New York, và Trung tâm Thiền ở Los Angeles. Tốt nghiệp tiến sĩ Toán Ứng Dụng, ông là kỹ sư không gian của hãng McDonnell-Douglas, trong chương trình gửi người lên Mars những năm 1970. Khi tôi bắt đầu học Thiền, thầy tôi cho tôi một công án, một câu hỏi Thiền để tôi trả lời: “Làm sao đi xa hơn đầu ngọn cờ một trăm thước?” Ta không thể dùng lý trí để trả lời công án này hay bất cứ câu hỏi Thiền nào một cách logic. Tôi quán chiếu một thời gian dài, rồi thưa với thầy: “Câu trả lời là phải sống một cách trọn vẹn”.
19/04/201321:10(Xem: 2259)
Từ Bi Hỷ Xả là những đức tính của một bậc Giác Ngộ: “Đại từ đại bi đại hỷ đại xả chính là Phật tánh, Phật tánh chính là Như Lai” (phẩm Bồ-tát Sư Tử Rống, kinh Đại Bát Niết Bàn). Trong bài này chúng ta tìm hiểu tâm từ và Phật tánh, y cứ vào kinh Đại Bát Niết Bàn, chủ yếu lấy từ phẩm Phạm Hạnh. Kinh này gắn liền với tâm từ.
31/10/201317:03(Xem: 11414)
Trên bình diện tổng quát thì tất cả các tôn giáo - kể cả Phật Giáo dưới một vài hình thức biến dạng mang tính cách đại chúng - đều hướng vào chủ đích tạo ra một đối tượng nào đó cho con người bám víu. Ngược lại Dharma tức là Đạo Pháp của Đức Phật thì lại nhất thiết chủ trương một sự buông xả để giúp con người trở về với chính mình, nhờ vào sức mạnh mang lại từ lòng quyết tâm tự biến cải chính mình. Sự biến cải đó gọi là thiền định.
28/10/201009:16(Xem: 1193)
Hỏi:Một lần, tôi có đọc được một đoạn của bài viết trong báo Giác Ngộ như sau “Khi được hỏi con người ở thế giới này từ đâu có, trong một bản kinh Phật trả lời: có những vị Trời sắp hết phước, họ nhìn xuống thế giới này thấy có ánh sáng liền tìm đến. Tới nơi, họ ăn thử trái cây nơi đây thấy ngon, liền mất thần thông nên ở lại luôn, làm tổ tiên loài người…”. Xin cho biết xuất xứ của đoạn kinh trên và tóm tắt ý chính của kinh. Quan điểm của Phật giáo về nguồn gốc loài người có sự khác biệt như thế nào so với các lý thuyết khoa học đương đại?
27/03/201321:09(Xem: 1843)
Phật giáo, giống như những tôn giáo khác, nhấn mạnh vào những giá trị tinh thần hơn là vào những giá trị vật chất; vào việc buông xả những tài vật của thế gian hơn là chấp chặt vào chúng; và vào khía cạnh tâm linh của đời sống hơn là vào khía cạnh trần tục của nó. Tuy nhiên, Phật giáo không hoàn toàn không quan tâm đến phương diện đời sống vật chất và thế tục.
29/09/201806:08(Xem: 3966)
Thái tử Siddhãrtha Gautama (Pãli) hay Siddhattha Gotama (Sanskrist) hoặc Sĩ-Đạt-Ta (Tất-Đạt-Đa) Cồ-Đàm, sau khi thành đạo được các Phật tử tôn kính xem Ngài là một bậc đạo sư vĩ đại, vì Ngài là người đã giác ngộ viên mãn, là người tự biết mình thực sự thoát khỏi vòng quay luân hồi sinh tử, là người hiểu rõ được nguyên tắc vận hành khách quan của hiện tượng thế gian. Sau đó truyền bá kinh nghiệm giác ngộ của mình cho người hữu duyên không phân biệt giai cấp, tôn giáo, dạy họ phương pháp tu tập chấm dứt khổ đau phiền não trong cuộc sống thế gian, hầu kinh nghiệm được hạnh phúc tối thượng.
13/11/201023:26(Xem: 1763)
ánh"không" (S. 'Suunyataa, P. Su~n~nataa) là một trong các học thuyếtquan trọng bậc nhất của Phật giáo và cũng là học thuyếtbị người khác đạo hiểu sai lầm nhiều nhất. Các tác giảchống Phật giáo thường không hiểu rõ hay ngộ nhận ý nghĩacủa hai chữ sắc và không trong đạo Phật. Họ lẫn lộnhoặc lợi dụng vào hiện tượng đồng âm dị tự trong tiếngViệt và Hán Việt, đánh đồng hai khái niệm hoàn toàn khácnội dung làm một, để bôi bác giáo lý của đạo Phật.
31/07/201211:27(Xem: 3702)
Chúng tôi viết quyển sách này cho nhữngngười mới bắt đầu học Phật. Bước đầu tuy tầm thường song không kém phần quantrọng, nếu bước đầu đi sai, những bước sau khó mà đúng được. Người học Phật khimới vào đạo không hiểu đúng tinh thần Phật giáo, về sau sẽ hỏng cả một đời tu.Người có trách nhiệm hướng dẫn không thể xem thường kẻ mới học, cần phải xâydựng có một căn bản vững chắc, đi đúng đường hướng của Phật dạy. Hiểu Phật giáomột cách đúng đắn, mới mong thành một Phật tử chân chánh.