Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   

4. Về Chánh Ngữ

01/02/201111:44(Xem: 5065)
4. Về Chánh Ngữ

CĂN BẢNPHẬT GIÁO
BìnhAnson
NhàXuất Bản Tổng Hợp TP. Hồ Chí Minh, TL. 2005 - PL. 2549
ChánhNgữ

BìnhAnson

---*---

Chánhngữlà lời nói chân chánh, không tạo nghiệp bất thiệnbằng lời nói, mà trái lại, dùng lời nói để tạo các nghiệpthiện lành. Trong Bát Chánh Đạo, Chánh Ngữ là chi thứ ba,và được định nghĩa như sau, như đã ghi trong Tương ƯngBộ: "Thế nào là chánh ngữ? Đó là từ bỏ nói láo, từbỏ nói hai lưỡi, từ bỏ nói lời độc ác, từ bỏ nóilời phù phiếm". Đó là về mặt tiêu cực. Về mặt tíchcực, Đức Phật cũng dạy rằng chúng ta phải cố gắng tutập để có những lời nói chân thật, hòa hợp, dịu dàng,và có ý nghĩa. Khi ta thực tập được những lời nóinầy, ta được nhiều người quý mến. Để đáp lại, họsẽ lắng nghe những gì ta nói ra, và sẽ đáp ứng thân thiệnvà xây dựng.

TrongTăng Chi Bộ 10.176, Đức Phật dạy:

--"Có bốn pháp tịnh hạnh về lời nói:

1)Ở đây, có người đoạn tận nói láo, từ bỏ nói láo. Nếukhông biết, người ấy nói: "Tôi không biết"; nếu biết,người ấy nói: "Tôi biết"; nếu không thấy, người ấy nói:"Tôi không thấy"; nếu thấy, người ấy nói: "Tôi thấy".Như vậy lời nói của người ấy không trở thành cố ý vọngngữ, hoặc nguyên nhân vì mình, hoặc nguyên nhân vì người,hoặc nguyên nhân vì một vài quyền lợi gì.

2)Người ấy đoạn tận nói hai lưỡi, từ bỏ nói hai lưỡi.Nghe điều gì ở chỗ này, người ấy không đi đến chỗkia nói, để gây chia rẽ ở những người này; nghe điềugì ở chỗ kia, người ấy không đi nói với những ngườinày, để gây chia rẽ ở những người kia. Như vậy ngườiấy sống hòa hợp những kẻ ly gián, tăng trưởng những kẻhòa hợp, thích thú hòa hợp, nói những lời đưa đến hòahợp.

3)Người ấy đoạn tận lời nói độc ác, từ bỏ lời nóiđộc ác. Người ấy chỉ dùng những lời nói nhu hòa, êmtai, dễ thương, thông cảm đến tâm, tao nhã, đẹp lòng nhiềungười, vui ý nhiều người.

4)Người ấy đoạn tận lời nói phù phiếm. Người ấy nóiđúng thời, nói chân thật, nói có ý nghĩa, nói Pháp, nóiLuật, nói những lời đáng được gìn giữ. Vì nói hợp thời,nên lời nói thuận lý, có mạch lạc, hệ thống, lợi ích".

Đócũng là 4 thiện nghiệp về Khẩu trong 10 thiện nghiệp (thậpthiện nghiệp) mà Đức Phật thường giảng dạy cho các vịđệ tử cư sĩ. Còn các thiện nghiệp khác là về Thân có3: các hành động không sát sanh, không trộm cắp, không tàdâm; và về Ý có 3: các ý tưởng không tham, không sân, khôngtà kiến.

*

Cũngcótrường hợp, khi ta nói chân thật và lễ độ mà vẫnchạm đến tự ái của kẻ khác, khiến họ phật lòng. Tuythế, đôi khi cần phải nói sự thật dù có mất lòng nhưnghữu ích, có khả năng đem đến lợi lạc trên đường tutập. Trong kinh số 58, Trung Bộ, Vương tử Vô Úy hỏi ĐứcPhật rằng có thể nào lời nói của Ngài làm phật ý ngườikhác hay không. Ngài trả lời:

--"Này Vương tử Vô Úy, lời nói nào Như Lai biết không nhưthật, không như chân, không tương ứng với mục đích, vàlời nói ấy khiến những người khác không ưa, không thích,Như Lai không nói lời nói ấy.

Lờinói nào Như Lai biết là như thật, như chân, không tương ứngvới mục đích, và lời nói ấy khiến những người kháckhông ưa, không thích, Như Lai không nói lời nói ấy.

Lờinói nào Như Lai biết là như thật, như chân, tương ứng vớimục đích, và lời nói ấy khiến những người khác khôngưa, không thích, ở đây, Như Lai biết đúng thời mà giảithích lời nói ấy.

Lờinói nào Như Lai biết là không như thật, không như chân, khôngtương ứng với mục đích, và lời nói ấy khiến những ngườikhác ưa thích, Như Lại không nói lời nói ấy.

Lờinói nào Như Lai biết là như thật, như chân, không tương ứngvới mục đích, và lời nói ấy khiến những người khácưa và thích, Như Lai không nói lời nói ấy.

Vàlời nói nào Như Lai biết là như thật, như chân, tương ứngvới mục đích, và lời nói ấy khiến những người khácưa và thích, ở đây, Như Lai biết đúng thời mà giải thíchlời nói ấy".

Nhưthế, chúng ta thấy rằng Đức Phật chọn đúng thời đểgiảng dạy người khác, với những lời lẽ như thật, nhưchân, đưa đến mục đích giải thoát giác ngộ, cho dù lờiấy được người nghe ưa thích hoặc không ưa thích.

*

TrongkinhLời Nói (Tăng Chi 5.198), Đức Phật giảng 5 yếu tố củamột lời nói thiện lành như sau:

--"Thànhtựu năm chi phần, này các Tỳ-khưu, các lời là thiện thuyết,không phải ác thuyết, không có phạm tội và không bị nhữngbậc Hiền trí chỉ trích. Thế nào là năm? Nói đúng thời,nói đúng sự thật, nói lời nhu hòa, nói lời đem đến lợiích, nói với từ tâm".

1)Nói đúng thời: có khi một lời chân thật nhưng không đượcphát biểu đúng lúc thì thành ra vô ích hoặc làm cho ngườikhác bực mình. Người thiện trí phải tế nhị để áp dụnglời nói của mình đúng chỗ, đúng lúc.

2)Nói đúng sự thật: bậc thiện tri thức nói một lời phảidựa trên sự thật, không ngụy biện, không lừa dối.

3)Nói lời nhu hoà: lời nói cần phải dịu dàng, lễ phép, tạokhông khí hòa hợp.

4)Nói lời đem đến lợi ích: lời nói phải có mục đích vàý nghĩa của nó, dù là lời chân thật nhưng không có mụcđích đem lại lợi ích cho ai, thì đó cũng chỉ là lời nóinhảm, vô dụng.

5)Nói lời với từ tâm: lời nói phải phát xuất từ tấm lòngthương yêu, cẩn trọng.

Ngoàira, trong bài kinh Khéo Thuyết,Kinh Tập 78, Đức Phậtgiảng thêm:

--"Thành tựu bốn chi phần, này các Tỳ-khưu, lời nói đượckhéo nói, không phải vụng nói, không có lỗi lầm, không bịngười trí quở trách. Thế nào là bốn? Ở đây, này cácTỳ-khưu, Tỳ-khưu chỉ nói lời khéo nói, không nói lời vụngnói; chỉ nói lời đúng pháp, không nói lời phi pháp; chỉnói lời khả ái, không nói lời phi khả ái; chỉ nói lờiđúng sự thật, không nói lời không đúng sự thật. Thànhtựu với bốn chi phần này, này các Tỳ-khưu, lời nói làđược khéo nói, không phải vụng nói, không có lỗi lầm,không bị người trí quở trách."

*

TrongTăngChi Bộ 10.69, Đức Phật khuyên chúng ta chỉ nên bàn luậnvề những đề tài thiết thực, có ích lợi trong sự tu tập:

--"Có mười đề tài đáng để đàm luận. Thế nào là mười?Đó là các đề tài về ít dục, đề tài về biết đủ,đề tài về viễn ly, đề tài về không tụ hội, đề tàivề tinh tấn, đề tài về giới, đề tài về định, đềtài về tuệ, đề tài về giải thoát, đề tài về giảithoát tri kiến".

Ngàithiền sư Buddhadasa (Phật Lệ), Thái Lan, giải thích thêm:

1)Giảm dục (Appiccha-gatha): đàm luận để giảm lòng tham,dùng những lời nói khuyến khích ta tiết giảm lòng ham muốn.

2)Biết đủ hay Tri túc (Santutthi-gatha): đàm luận đểđưa đến sự biết đủ, dùng những lời nói khuyến khíchta thỏa mãn với những gì mình đang có, mà không còn chúý đến các tiện nghi xa hoa.

3)Viễn ly hay Ðộc cư (Paviveka-gatha): đàm luận để đưađến sự sống một mình, dùng những lời nói khuyến khíchviệc sống và tư duy đơn độc, xa lánh các náo động.

4)Không tụ hội hay Giảm Tiếp (Asamsagga-gatha): đàm luậnđể tránh các tiếp xúc vô ích, dùng những lời nói khuyếnkhích ta tránh phí phạm năng lực và thì giờ.

5)Tinh tấn (Viriyarambha-gatha): đàm luận để bảo tồnvà gia tăng tinh tấn, dùng những lời nói khuyến khích nỗlực trong tu tập.

6)Giới đức (Sila-gatha): đàm luận để giữ giới hạnhtốt, dùng những lời nói để khuyến khích gìn giữ đứchạnh.

7)Thiền định (Samadhi-gatha): đàm luận để tạo lậptâm an định, thăng bằng, chuyên chú, hợp nhất, dùng nhữnglời nói để khuyến khích tâm thêm trong sáng và ổn cố.

8)Trí tuệ (Panna-gatha): đàm luận để tạo thông minh vàtrí tuệ, dùng những lời nói để khuyến khích sự phát triểntuệ minh triết.

9)Giải thoát (Vimutti-gatha): đàm luận để giải thoát,dùng những lời nói để khuyến khích sự giải thoát tâmtrí khỏi mọi phiền não, mọi mầm mống bất thiện.

10)Tri kiến Giải thoát (Vimutti-nanadassana-gatha): đàm luậnđể tạo lập tri kiến giải thoát, dùng những lời nói đểkhuyến khích sự chú tâm và hiểu biết về tri kiến giảithoát, xả ly khỏi mọi tham thủ và phiền não.

*

ÐứcPhậtrất chê trách những cuộc nói chuyện huyên thuyên, phíthời gian vô ích. Những lời gièm pha và đồn đãi không đemđến lợi lạc gì, vì chúng làm quấy động sự yên tĩnhvà định tâm. Ngài cũng giảng thêm rằng người ta không thểtrở thành bậc trí chỉ vì nói nhiều, cũng không phải vìnói nhiều mà người ta được gọi là bậc lão thông Pháp(Dhammadhara), như trong các câu Pháp Cú sau đây:

"Dầunói ngàn ngàn lời,
Nhưngkhông gì lợi ích,

Tốthơn một câu nghĩa,

Nghexong, được tịnh lạc." (PC 100)

"Khôngphảivì nói nhiều,
Mớixứng danh bậc trí.

Anổn, không oán sợ.

Thậtđáng gọi bậc trí." (PC 258)

"Khôngphải vì nói nhiều,
Làthọ trì chánh pháp.

Ngườinghe ít diệu pháp,

Nhưngtrực nhận viên dung,

Chánhpháp không buông lung,

Làthọ trì chánh pháp." (PC 259)

Trongngôn ngữ Pàli, danh từ "Mâu-ni" (Muni)trong tên "Thích-caMâu-ni" (Sakya Muni)có nghĩa là người luôn giữ sự yênlặng (bậc Tịch tịnh), thường được dùng để gọi mộtvị Thánh. Đức Phật thường khuyên các vị tu sĩ đệ tửrằng: "Này các Tỳ-khưu, khi quí vị hội họp với nhau,có hai việc cần phải làm: một là đàm luận về Chánh pháp,hai là giữ sự im lặng của bậc Thánh"(Phật tự thuyết,Ud 10).

*

Tómlại,lời nói có một ảnh hưởng vô cùng quan trọng, khôngnhững tác động đến đời sống hạnh phúc của mỗi cánhân mà còn có thể tác động đến sinh hoạt của xã hội.Nếu có tỉnh giác và định hướng tốt, lời nói qua cáccuộc đàm luận, giao tiếp hằng ngày, sẽ mang đến nhiềulợi ích cho sự tu tập của những người con Phật chúng ta.Chính vì thế mà Đức Phật đã đưa Chánh Ngữ vào Bát ChánhĐạo, con đường Tám Chánh dẫn đến giải thoát giác ngộ.

Perth,Tây Úc, tháng 9-2004

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
30/05/201106:35(Xem: 6159)
Chương 183: Thời Kỳ Tiền Phật Giáo trên Thế Giới Pre-Buddhism Period in the World Chương 184:Lịch Sử Các Bộ Phái Phật Giáo Cổ History of Ancient Buddhist Sects Chương 185: Tông Phái Phật Giáo—Buddhist Schools Chương 186: Lục Sư Ngoại Đạo—The Six Heretical Masters Chương 187: Phật Giáo Thế Giới—Buddhism in the World Chương 188: Phật Giáo Việt Nam—Buddhism in Vietnam Chương 189: Những vị Cao Tăng Nổi Tiếng của Việt Nam Vietnamese Famous Buddhist Monks Chương 190: Những vị Cao Tăng Nổi Tiếng của Trung Hoa Chinese Famous Buddhist Monks
03/10/201020:23(Xem: 3681)
Bernard Glassman, Viện trưởng của Cộng đồng Thiền ở New York, và Trung tâm Thiền ở Los Angeles. Tốt nghiệp tiến sĩ Toán Ứng Dụng, ông là kỹ sư không gian của hãng McDonnell-Douglas, trong chương trình gửi người lên Mars những năm 1970. Khi tôi bắt đầu học Thiền, thầy tôi cho tôi một công án, một câu hỏi Thiền để tôi trả lời: “Làm sao đi xa hơn đầu ngọn cờ một trăm thước?” Ta không thể dùng lý trí để trả lời công án này hay bất cứ câu hỏi Thiền nào một cách logic. Tôi quán chiếu một thời gian dài, rồi thưa với thầy: “Câu trả lời là phải sống một cách trọn vẹn”.
19/04/201321:10(Xem: 2251)
Từ Bi Hỷ Xả là những đức tính của một bậc Giác Ngộ: “Đại từ đại bi đại hỷ đại xả chính là Phật tánh, Phật tánh chính là Như Lai” (phẩm Bồ-tát Sư Tử Rống, kinh Đại Bát Niết Bàn). Trong bài này chúng ta tìm hiểu tâm từ và Phật tánh, y cứ vào kinh Đại Bát Niết Bàn, chủ yếu lấy từ phẩm Phạm Hạnh. Kinh này gắn liền với tâm từ.
31/10/201317:03(Xem: 11406)
Trên bình diện tổng quát thì tất cả các tôn giáo - kể cả Phật Giáo dưới một vài hình thức biến dạng mang tính cách đại chúng - đều hướng vào chủ đích tạo ra một đối tượng nào đó cho con người bám víu. Ngược lại Dharma tức là Đạo Pháp của Đức Phật thì lại nhất thiết chủ trương một sự buông xả để giúp con người trở về với chính mình, nhờ vào sức mạnh mang lại từ lòng quyết tâm tự biến cải chính mình. Sự biến cải đó gọi là thiền định.
28/10/201009:16(Xem: 1188)
Hỏi:Một lần, tôi có đọc được một đoạn của bài viết trong báo Giác Ngộ như sau “Khi được hỏi con người ở thế giới này từ đâu có, trong một bản kinh Phật trả lời: có những vị Trời sắp hết phước, họ nhìn xuống thế giới này thấy có ánh sáng liền tìm đến. Tới nơi, họ ăn thử trái cây nơi đây thấy ngon, liền mất thần thông nên ở lại luôn, làm tổ tiên loài người…”. Xin cho biết xuất xứ của đoạn kinh trên và tóm tắt ý chính của kinh. Quan điểm của Phật giáo về nguồn gốc loài người có sự khác biệt như thế nào so với các lý thuyết khoa học đương đại?
27/03/201321:09(Xem: 1839)
Phật giáo, giống như những tôn giáo khác, nhấn mạnh vào những giá trị tinh thần hơn là vào những giá trị vật chất; vào việc buông xả những tài vật của thế gian hơn là chấp chặt vào chúng; và vào khía cạnh tâm linh của đời sống hơn là vào khía cạnh trần tục của nó. Tuy nhiên, Phật giáo không hoàn toàn không quan tâm đến phương diện đời sống vật chất và thế tục.
29/09/201806:08(Xem: 3944)
Thái tử Siddhãrtha Gautama (Pãli) hay Siddhattha Gotama (Sanskrist) hoặc Sĩ-Đạt-Ta (Tất-Đạt-Đa) Cồ-Đàm, sau khi thành đạo được các Phật tử tôn kính xem Ngài là một bậc đạo sư vĩ đại, vì Ngài là người đã giác ngộ viên mãn, là người tự biết mình thực sự thoát khỏi vòng quay luân hồi sinh tử, là người hiểu rõ được nguyên tắc vận hành khách quan của hiện tượng thế gian. Sau đó truyền bá kinh nghiệm giác ngộ của mình cho người hữu duyên không phân biệt giai cấp, tôn giáo, dạy họ phương pháp tu tập chấm dứt khổ đau phiền não trong cuộc sống thế gian, hầu kinh nghiệm được hạnh phúc tối thượng.
13/11/201023:26(Xem: 1762)
ánh"không" (S. 'Suunyataa, P. Su~n~nataa) là một trong các học thuyếtquan trọng bậc nhất của Phật giáo và cũng là học thuyếtbị người khác đạo hiểu sai lầm nhiều nhất. Các tác giảchống Phật giáo thường không hiểu rõ hay ngộ nhận ý nghĩacủa hai chữ sắc và không trong đạo Phật. Họ lẫn lộnhoặc lợi dụng vào hiện tượng đồng âm dị tự trong tiếngViệt và Hán Việt, đánh đồng hai khái niệm hoàn toàn khácnội dung làm một, để bôi bác giáo lý của đạo Phật.
31/07/201211:27(Xem: 3691)
Chúng tôi viết quyển sách này cho nhữngngười mới bắt đầu học Phật. Bước đầu tuy tầm thường song không kém phần quantrọng, nếu bước đầu đi sai, những bước sau khó mà đúng được. Người học Phật khimới vào đạo không hiểu đúng tinh thần Phật giáo, về sau sẽ hỏng cả một đời tu.Người có trách nhiệm hướng dẫn không thể xem thường kẻ mới học, cần phải xâydựng có một căn bản vững chắc, đi đúng đường hướng của Phật dạy. Hiểu Phật giáomột cách đúng đắn, mới mong thành một Phật tử chân chánh.