Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   
Bài mới nhất

5. Rằm Tháng Sáu: Ngày Chuyển Pháp Luân

01/02/201111:44(Xem: 4990)
5. Rằm Tháng Sáu: Ngày Chuyển Pháp Luân

CĂN BẢNPHẬT GIÁO
BìnhAnson
NhàXuất Bản Tổng Hợp TP. Hồ Chí Minh, TL. 2005 - PL. 2549
RằmTháng Sáu:
NgàyChuyển Pháp Luân

BìnhAnson

---*---

Cóba dịp lễ lớn trong truyền thống Phật giáo Nguyên thủy.Đó là ngày lễ Magha Puja, Vesakha Puja, và Asalha Puja. "Puja"nghĩa là tôn kính, quý kính, còn có nghĩa là sự dâng cúng,cúng dường. Ở đây, Puja còn có nghĩa là ngày lễ lớn. "Magha,Vesakha, Asalha"là tên các tháng trong lịch của Ấn độ.So với âm lịch Việt Nam, "Magha" tương ứng với tháng Giêng,"Vesakha" tương ứng với tháng Tư, và "Asalha" tương ứng vớitháng Sáu.

"MaghaPuja" là ngày lễ Rằm tháng Giêng, kỷ niệm ngày Đức Phậtthuyết kệ "Ovada-Patimokkha", là căn bản cho các giới luậtsau này. "Vesakha Puja" là ngày lễ Rằm tháng Tư, tức là ngàyTam Hợp hay Phật Đản. "Asalha Puja" là ngày lễ Rằm thángSáu, kỷ niệm ngày Đức Phật giảng kinh Chuyển Pháp Luân,và sau đó, chư Tăng Nam tông bắt đầu mùa An cư Kiết hạ.

Ngoàira, truyền thống Nam tông còn có các ngày lễ khác như ngàyTự Tứ (rằm tháng Chín) -- kết thúc mùa An cư Kiết hạ,và mùa lễ Dâng Y Kathina trong một tháng, từ ngày 16 thángChín đến ngày rằm tháng Mười âm lịch.

*

1.ChuyểnPháp Luân

NgàiBồ tát Sĩ-đạt-ta rời gia đình, tìm đạo giải thoát năm29 tuổi, và thành đạo năm 35 tuổi, vào đêm trăng Rằm thángTư. Sau khi Ngài giác ngộ, có vị Phạm thiên Sahampati cung thỉnhNgài vì lòng từ bi thuyết pháp độ đời. Đức Phật quansát thế gian và nhận lời thuyết pháp. Ðầu tiên, Ngài nghĩđến đạo sĩ Alàra Kàlàma và đạo sĩ Uddaka Ràmaputta, làhai vị thầy dạy đạo cho ngài khi còn là Bồ-tát tầm sưhọc đạo, nhưng Chư Thiên báo là hai vị này đã qua đời.Tiếp đến, Ngài nghĩ đến năm người bạn là: Kondanna (KiềuTrần Như), Bhaddiya, Vappa, Mahànàma và Assaji, mà lúc trướcđã cùng tu khổ hạnh với ngài, và hiện giờ họ đang ởvườn Lộc Uyển, gần thành Ba La Nại.

TừBồ đề đạo tràng, nơi Ngài giác ngộ, Đức Phật đi đếnvườn Lộc Uyển, một cuộc hành trình khoảng 210 km, mấtkhoảng 2 tháng, và đến nơi đó vào đúng ngày Rằm thángSáu. Thoạt tiên, khi thấy Ngài, anh em Kiều Trần Như quyếtđịnh không chào hỏi, cũng không đứng lên đảnh lễ Ngài,bởi vì họ cho rằng lúc trước, Ngài đã từ bỏ lối tukhổ hạnh, không còn là một bậc chân tu nữa. Tuy nhiên, khiNgài tiến đến gần, chư vị đã bị chinh phục trước vẻcao quý của một bậc giải thoát, khiến họ đối xử vớiNgài vô cùng kính cẩn. Chư vị cầm lấy bình bát và thượngy của ngài, sửa soạn chỗ ngồi cho Ngài, rửa chân Ngài vàgọi Ngài là "Hiền giả" (Àvuso) theo thói quen. Song Đức Phậtbác bỏ cách xưng hô này, và nói:

"Nàychư vị, đừng gọi Như Lai (Tathàgata) là "Hiền giả" nhưmột trong các vị. Như Lai là bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác"-- (ĐạiPhẩm)

Lờituyên bố đã khám phá con đường đưa đến Bất Tử tứccon đường Giải thoát, đã giác ngộ và chứng đắc ChânLý của Ngài được năm người bạn đồng tu cũ đáp lạivới vẻ hoài nghi. Chư vị hỏi: Làm thế nào một ngườiđã từ bỏ khổ hạnh để chọn đời sống sung túc, lạicó thể chứng đắc Chân Lý? Ðức Phật giải thích rằngNgài chẳng hề tham đắm đời sống sung túc. Để làm sángtỏ mọi việc, Ngài thuyết giảng bài kinh Chuyển PhápLuân, khởi đầu công trình hoằng pháp của Ngài. Bàikinh trình bày Pháp Giải Thoát là Trung Ðạo, và nêulên Bốn Chân Lý Cao Quý (Tứ Diệu Đế)- nhưđã ghi lại trong Luật Tạng và trong Tương Ưng Bộ:

"Cóhai cực đoan, này chư vị, mà người xuất gia nên tránh. Haicực đoan đó là gì? Đắm mình vào dục lạc, thấp kém, tầmthường, hạ liệt, không xứng đáng bậc Thánh, không íchlợi, là một cực đoan. Cực đoan kia là chuyên tâm khổ hạnhép xác, gây khổ đau, không xứng đáng bậc Thánh, và cũngkhông ích lợi.

Nàychư vị, Như Lai đã tránh xa hai cực đoan này, và tìm ra TrungÐạo, chính là con đường khiến cho Ta thấy và biết rõ,con đường đưa đến an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn."

Ngàigiảng tiếp:

"Đâylà Chân lý về Khổ: Sanh, già, bệnh, chết là khổ; sầu,bi, ưu, não là khổ; thân cận những gì ta không thích là khổ;xa lìa những gì ta thích là khổ; cầu không được là khổ;tóm lại, ngũ thủ uẩn là khổ.

Đâylà Chân lý về Nguồn gốc của Khổ: Ðó chính là khát áiđưa đến tái sanh, câu hữu với hỷ và tham, tìm thấy lạcthú chỗ này chỗ kia: đó là Dục ái, Hữu ái và Phi hữuái.

Đâylà Chân lý về Khổ Diệt: Đó chính là sự đoạn trừ, diệttận hoàn toàn khát ái đó, quăng bỏ nó, chấm dứt nó, xảly nó, không chấp thủ nó.

Đâylà Chân lý về Con Ðường Diệt Khổ: Ðó là Thánh Ðạo TámNgành, tức là: Chánh Kiến, Chánh Tư duy, Chánh Ngữ, ChánhNghiệp, Chánh Mạng, Chánh Tinh tấn, Chánh Niệm, và Chánh Ðịnh."-- (Đại Phẩm, Tạng Luật; Tương Ưng Bộ)

Nămvị tôn giả hết sức chú tâm lắng nghe lời ngài. Khi Ngàithuyết giảng, tôn giả Kondanna quán triệt: "Những gì cósinh khởi đều phải chịu qui luật hoại diệt", và đắcquả Dự lưu. Sau đó, tôn giả liền xin Đức Phật nhận làmđệ tử. Đức Phật nói: "Ðến đây, này Tỳ-khưu, GiáoPháp đã được khéo giảng, hãy sống đời Phạm hạnh đểđoạn tận khổ đau" và nhận tôn giả làm một Tỳ-khưu.Như vậy, tôn giả Kondanna là vị Tỳ-khưu đầu tiên tronglịch sử Phật giáo, đánh dấu khởi điểm sự thành lậpTăng đoàn, tồn tại cho đến ngày nay.

Chẳngbao lâu, lời dạy của Đức Phật đã giúp cho tôn giả Vappavà Bhaddiya hiểu Pháp và hai vị cũng được nhận làm Tỳ-khưu.Trong lúc các ngài Kondanna, Vappa và Bhaddiya đi khất thực đểcung cấp thức ăn cho cả nhóm, Đức Phật thuyết giảng riêngcho tôn giả Mahànàma và Assaji. Sau đó, hai vị nầy đắc quảbậc Nhập lưu, và xin làm đệ tử. Như vậy, lúc đó có sáuTỳ-khưu trên thế gian - Đức Phật và năm vị đệ tử củaNgài.

Vàingày sau, Đức Phật dạy bài pháp về Vô Ngã - kinh Vô NgãTướng. Khi năm Tỳ-khưu nghe lời thuyết giảng này của ĐứcPhật, tâm của chư vị thoát khỏi mọi lậu hoặc, và trởthành các bậc Thánh A-la-hán giải thoát.

*

2.Ancư Kiết hạ

Mộtngày sau lễ Rằm tháng Sáu, chư Tăng trong truyền thống Phậtgiáo Nam tông bắt đầu mùa An cư Kiết hạ.

TrongChương "Vào Mùa Mưa", Đại Phẩm, Luật Tạng, có ghi:

ĐứcThế Tôn ngự tại thành Vương Xá, Trúc Lâm. Lúc bấy giờ,việc an cư mùa mưa chưa được Đức Thế Tôn quy định chocác Tỳ-khưu. Các vị Tỳ-khưu đi du hành trong mùa lạnh, trongmùa nóng, và cả trong mùa mưa nữa. Dân chúng phàn nàn, phêphán, chê bai rằng:

-"Vìsao các sa-môn Thích Tử lại đi du hành trong mùa lạnh, trongmùa nóng, và cả trong mùa mưa nữa? Ngay cả các du sĩ ngoạiđạo, dù có giáo lý được thuyết tồi tệ, vẫn sống cốđịnh một chỗ trong mùa mưa, ngay cả những con chim sau khilàm tổ trên các ngọn cây cũng sống cố định trong mùa mưa.Còn các sa-môn Thích Tử thì lại đi du hành trong mùa lạnh,trong mùa nóng, và cả trong mùa mưa nữa. Các vị ấy đangdẫm đạp lên các loại cỏ xanh, đang hãm hại mạng sốngcủa loài chỉ có một giác quan, và đang gây nên việc giếthại hàng loạt chúng sanh nhỏ nhoi".

CácTỳ-khưu nghe được những người ấy phàn nàn, phê phán,chê bai. Vì thế, các vị ấy trình sự việc lên Đức ThếTôn. Đức Phật nhân sự việc này mà bảo các Tỳ-khưu rằng:

-"Nàycác Tỳ-khưu, ta cho phép an cư trong mùa mưa. Đây là hai thờiđiểm vào mùa an cư: thời điểm trước và thời điểm sau.Thời điểm trước là ngày kế của ngày trăng tròn thángĀsālha, thời điểm sau là vào ngày sau trăng tròn tháng sau."

Tínhtheo âm lịch của Việt Nam nếu không có tháng nhuần thì thờiđiểm trước là ngày 16 tháng 6, thời điểm sau là ngày 16tháng 7. Ngài dạy tiếp:

-"Nàycác Tỳ-khưu, trong mùa an cư ba tháng thì không nên ra đi duhành. Vị nào ra đi thì phạm tội tác ác (dukkata)."

Tuynhiên, nếu có chuyện cần kíp và được thỉnh mời, vịTỳ-khưu được phép rời trú xứ trong thời hạn không quá7 ngày. Đức Phật dạy:

-"Nàycác Tỳ-khưu, ta cho phép đi khi được thỉnh mời với côngviệc có thể giải quyết trong bảy ngày; và không nên đi,nếu không được thỉnh mời."

Suốtthời kỳ gió mùa ở miền bắc Ấn Độ, từ tháng Sáu đếntháng Mười, chư Tăng sống một nơi cố định trong 3 thángan cư. Chư vị có thể lựa chọn cách tự mình xây một amthất trú mưa, hay ở trong một tinh xá sẵn có.

Mùaan cư bắt đầu từ ngày rằm tháng Àsàlha(rằm thángSáu). Tuy nhiên, Đức Phật cũng cho phép bất kỳ một Tỳ-khưunào khởi sự chậm hơn một tháng vào ngày rằm tháng Bảy- gọi là "hậu An cư". Việc đình chỉ du hành chấm dứt vàongày rằm tháng Chín (Àssina). Nếu vị nào khởi sựchậm hơn một tháng, thì chấm dứt vào tháng Mười (Kattikà).Chư Tăng tổ chức lễ sám hối Bố-tát (Uposatha)đặcbiệt, tức là lễ Tự Tứ (Pavàranà), kết thúc mùaan cư. Sau đó, các Tỳ-khưu công bố hoàn tất các phận sựtrong Giới Luật, rời nơi an cư, và bắt đầu du hành truyềnđạo.

Tậptục an cư mùa mưa không chỉ có lý do cổ truyền, mà còncó lý do thực tiễn nữa. Khi trời đổ mưa ào ạt và cáccon sông chảy tràn bờ, khi đường xá chìm trong bùn lầy,và những mảnh đất không ngập nước làm thành nơi trú ẩncho rắn rết, bọ cạp, thì việc du hành và cắm lều ngoàitrời hầu như không thể thực hiện được. Hơn nữa, khíẩm bốc hơi trong thời gió mùa tạo ra những tai hại kháccho sức khỏe; và nếu một Tỳ-khưu bị bệnh, thì dễ sănsóc vị ấy tại một tinh xá hơn là lúc di chuyển.

Tụclệ an cư mùa mưa còn có lợi cho Tăng chúng theo nhiều cách.Trong suốt những tháng du hành theo ý riêng của mỗi người,có thể là một vài Tỳ-khưu nào đó trở thành buông lungtrong nếp sinh hoạt. Trong mùa an cư, các Tỳ-khưu chung sốngsinh hoạt với nhau, nên phải chú tâm đến quy luật xử thếvà theo đúng nguyên tắc. Mùa an cư còn tăng cường mối tìnhcảm trong Tăng đoàn. Cuộc sống chung ở một nơi và cùnghọc tập lời dạy của bậc Ðạo Sư, sự trao đổi kinh nghiệmvà kiến thức đưa đến sự thiết lập các mối quan hệthân hữu có giá trị giáo dục, đã được Đức Phật đánhgiá cao. Ngài nói:

"Quảthật tất cả đời sống đồng Phạm hạnh của Tăng chúngcốt yếu ở tình thân hữu giữa những người ưa thích điềuthiện, ở tình đồng đạo, đồng chí hướng. Một Tỳ-khưulàm bạn với điều thiện, là người bạn giao du, ngườiđồng chí hướng, có triển vọng tu tập và làm sung mãn BátChánh Ðạo, để giải thoát cho đồng bạn cũng như bản thânvị ấy".

Cólần Đức Phật thấy một Tỳ-khưu bị bệnh, nằm bơ vơkhông ai chăm sóc, Ngài và Trưởng lão Ànanda cùng đến sănsóc vị ấy. Rồi Ngài gọi Tăng chúng đến và dạy: "Nàycác Tỳ-khưu, chư vị không có cha mẹ chăm sóc mình. Vậy,nếu chư vị không chăm sóc nhau, thì ai sẽ làm việc ấy?Này các Tỳ-khưu, bất cứ ai trong chư vị muốn chăm sóc ta,thì vị ấy hãy chăm sóc người bạn đồng Phạm hạnh".

Việcan cư mùa mưa cũng quan trọng trong việc học tập của chưTăng thời đó. Chư vị tụng đọc lại các bài kinh của ĐứcPhật và học hỏi những lời dạy mới của Ngài. Việc họctập nghe kinh không chỉ giới hạn vào mùa an cư, nhưng đượcthuận lợi hơn nhờ sự chung sống suốt ba tháng của mộthội chúng Tỳ-khưu đông đảo tại cùng một địa điểm.Có lẽ Giáo Pháp sẽ không được truyền tụng đến thờiđại chúng ta trong hình thức chính xác như ngày nay, nếu Tăngchúng thời xưa không có cơ hội duyệt lại toàn thể lờigiáo huấn của Đức Phật trong các mùa an cư kiết hạ hằngnăm ấy.

Perth,tháng 7-2004

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
30/05/201106:35(Xem: 6118)
Chương 183: Thời Kỳ Tiền Phật Giáo trên Thế Giới Pre-Buddhism Period in the World Chương 184:Lịch Sử Các Bộ Phái Phật Giáo Cổ History of Ancient Buddhist Sects Chương 185: Tông Phái Phật Giáo—Buddhist Schools Chương 186: Lục Sư Ngoại Đạo—The Six Heretical Masters Chương 187: Phật Giáo Thế Giới—Buddhism in the World Chương 188: Phật Giáo Việt Nam—Buddhism in Vietnam Chương 189: Những vị Cao Tăng Nổi Tiếng của Việt Nam Vietnamese Famous Buddhist Monks Chương 190: Những vị Cao Tăng Nổi Tiếng của Trung Hoa Chinese Famous Buddhist Monks
03/10/201020:23(Xem: 3634)
Bernard Glassman, Viện trưởng của Cộng đồng Thiền ở New York, và Trung tâm Thiền ở Los Angeles. Tốt nghiệp tiến sĩ Toán Ứng Dụng, ông là kỹ sư không gian của hãng McDonnell-Douglas, trong chương trình gửi người lên Mars những năm 1970. Khi tôi bắt đầu học Thiền, thầy tôi cho tôi một công án, một câu hỏi Thiền để tôi trả lời: “Làm sao đi xa hơn đầu ngọn cờ một trăm thước?” Ta không thể dùng lý trí để trả lời công án này hay bất cứ câu hỏi Thiền nào một cách logic. Tôi quán chiếu một thời gian dài, rồi thưa với thầy: “Câu trả lời là phải sống một cách trọn vẹn”.
19/04/201321:10(Xem: 2160)
Từ Bi Hỷ Xả là những đức tính của một bậc Giác Ngộ: “Đại từ đại bi đại hỷ đại xả chính là Phật tánh, Phật tánh chính là Như Lai” (phẩm Bồ-tát Sư Tử Rống, kinh Đại Bát Niết Bàn). Trong bài này chúng ta tìm hiểu tâm từ và Phật tánh, y cứ vào kinh Đại Bát Niết Bàn, chủ yếu lấy từ phẩm Phạm Hạnh. Kinh này gắn liền với tâm từ.
31/10/201317:03(Xem: 11314)
Trên bình diện tổng quát thì tất cả các tôn giáo - kể cả Phật Giáo dưới một vài hình thức biến dạng mang tính cách đại chúng - đều hướng vào chủ đích tạo ra một đối tượng nào đó cho con người bám víu. Ngược lại Dharma tức là Đạo Pháp của Đức Phật thì lại nhất thiết chủ trương một sự buông xả để giúp con người trở về với chính mình, nhờ vào sức mạnh mang lại từ lòng quyết tâm tự biến cải chính mình. Sự biến cải đó gọi là thiền định.
28/10/201009:16(Xem: 1145)
Hỏi:Một lần, tôi có đọc được một đoạn của bài viết trong báo Giác Ngộ như sau “Khi được hỏi con người ở thế giới này từ đâu có, trong một bản kinh Phật trả lời: có những vị Trời sắp hết phước, họ nhìn xuống thế giới này thấy có ánh sáng liền tìm đến. Tới nơi, họ ăn thử trái cây nơi đây thấy ngon, liền mất thần thông nên ở lại luôn, làm tổ tiên loài người…”. Xin cho biết xuất xứ của đoạn kinh trên và tóm tắt ý chính của kinh. Quan điểm của Phật giáo về nguồn gốc loài người có sự khác biệt như thế nào so với các lý thuyết khoa học đương đại?
27/03/201321:09(Xem: 1773)
Phật giáo, giống như những tôn giáo khác, nhấn mạnh vào những giá trị tinh thần hơn là vào những giá trị vật chất; vào việc buông xả những tài vật của thế gian hơn là chấp chặt vào chúng; và vào khía cạnh tâm linh của đời sống hơn là vào khía cạnh trần tục của nó. Tuy nhiên, Phật giáo không hoàn toàn không quan tâm đến phương diện đời sống vật chất và thế tục.
29/09/201806:08(Xem: 3807)
Thái tử Siddhãrtha Gautama (Pãli) hay Siddhattha Gotama (Sanskrist) hoặc Sĩ-Đạt-Ta (Tất-Đạt-Đa) Cồ-Đàm, sau khi thành đạo được các Phật tử tôn kính xem Ngài là một bậc đạo sư vĩ đại, vì Ngài là người đã giác ngộ viên mãn, là người tự biết mình thực sự thoát khỏi vòng quay luân hồi sinh tử, là người hiểu rõ được nguyên tắc vận hành khách quan của hiện tượng thế gian. Sau đó truyền bá kinh nghiệm giác ngộ của mình cho người hữu duyên không phân biệt giai cấp, tôn giáo, dạy họ phương pháp tu tập chấm dứt khổ đau phiền não trong cuộc sống thế gian, hầu kinh nghiệm được hạnh phúc tối thượng.
13/11/201023:26(Xem: 1731)
ánh"không" (S. 'Suunyataa, P. Su~n~nataa) là một trong các học thuyếtquan trọng bậc nhất của Phật giáo và cũng là học thuyếtbị người khác đạo hiểu sai lầm nhiều nhất. Các tác giảchống Phật giáo thường không hiểu rõ hay ngộ nhận ý nghĩacủa hai chữ sắc và không trong đạo Phật. Họ lẫn lộnhoặc lợi dụng vào hiện tượng đồng âm dị tự trong tiếngViệt và Hán Việt, đánh đồng hai khái niệm hoàn toàn khácnội dung làm một, để bôi bác giáo lý của đạo Phật.
31/07/201211:27(Xem: 3639)
Chúng tôi viết quyển sách này cho nhữngngười mới bắt đầu học Phật. Bước đầu tuy tầm thường song không kém phần quantrọng, nếu bước đầu đi sai, những bước sau khó mà đúng được. Người học Phật khimới vào đạo không hiểu đúng tinh thần Phật giáo, về sau sẽ hỏng cả một đời tu.Người có trách nhiệm hướng dẫn không thể xem thường kẻ mới học, cần phải xâydựng có một căn bản vững chắc, đi đúng đường hướng của Phật dạy. Hiểu Phật giáomột cách đúng đắn, mới mong thành một Phật tử chân chánh.