Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: HT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   

2. Tám Pháp Thế Gian

01/02/201111:44(Xem: 8186)
2. Tám Pháp Thế Gian

CĂN BẢNPHẬT GIÁO
BìnhAnson
NhàXuất Bản Tổng Hợp TP. Hồ Chí Minh, TL. 2005 - PL. 2549
TámPháp Thế Gian

BìnhAnson

---*---

Bàinầy viết dựa theo tập sách "The Eight Worldly Conditions", doHòa thượng Nàrada viết năm 1970, và bác Phạm Kim Khánh dịchnăm 1972 với tựa đề "Những Bước Thăng Trầm".
*

TiếngPalicủa "tám pháp thế gian" là "atthalokadhamma". "Attha"là tám, "loka"là thế gian, và "dhamma"là pháp.Atthalokadhammacòn được dịch là Bát Pháp, hay Bát Phong,là tám ngọn gió làm rung chuyển thế gian. Đó là: được(làbha) và mất (alàbha), danh thơm (yasa) vàtiếng xấu (ayasa), ca tụng (pasamsà) và khiển trách(nindà), hạnh phúc (sukha) và đau khổ (dukkha).

Trongkinh "Tùy Chuyển Thế Giới", Tăng Chi Bộ, Chương Tám Pháp,Đức Phật dạy:

Nàycác Tỳ-khưu, có tám pháp thế gian làm tùy chuyển thế giới.Thế nào là tám? Đó là: lợi dưỡng và không lợi dưỡng,danh vọng và không danh vọng, tán thán và chỉ trích, an lạcvà đau khổ.

Sauđó, Ngài nói lên bài kệ:

Lợidưỡng, không lợi dưỡng,
Danhvọng, không danh vọng

Tánthán và chỉ trích

Anlạc và đau khổ

Nhữngphápnày vô thường
Khôngthường hằng, biến diệt

Biếtchúng, giữ chánh niệm

Bậctrí quán biến diệt

Phápkhả ái, không động
Khôngkhả ái, không sân

Cácpháp thuận hay nghịch

Ðượctiêu tan không còn.

Saukhi biết con đường
Khôngtrần cấu, không sầu

Chơnchánh biết sanh hữu

Ðiđến bờ bên kia.

Ngàigiảng rằng khi chúng ta gặp phải một trong tám sự kiệnấy (lợi dưỡng, không lợi dưỡng, danh vọng, không danh vọng,tán thán, chỉ trích, an lạc, đau khổ), chúng ta không nênbám theo các điều thuận lợi như: lợi dưỡng, danh vọng,tán thán, an lạc; và chúng ta cũng không nên sân hận vớicác điều bất thuận lợi như: không lợi dưỡng, không danhvọng, chỉ trích, đau khổ. Chúng ta không nên để các điềuđó ngự trị và lấn áp tâm trí. Trái lại, chúng ta nên nhậnbiết rõ ràng rằng: "Sự kiện này đang khởi lên nơi ta. Tuynhiên, sự kiện ấy là vô thường, khổ, biến hoại", đểcó một thái độ bình thản, tỉnh giác. Vị Thánh đệ tửnào đoạn tận thuận ứng, nghịch ứng như vậy, sẽ đượcgiải thoát khỏi sanh, già, bệnh, chết, sầu, não. Từ đó,vị ấy thoát khỏi mọi ô nhiễm ràng buộc, và tiến đếnbờ giải thoát.

*

1.Ðượcvà Mất (LàbhaAlàbha)

Trênđường đời, chúng ta thường phải gặp cả hai điều: đượcvà mất, hay nói cách khác, lợi lộc và lỗ lã. Dĩ nhiên,khi được lợi thì người ta thỏa thích, vui mừng. Nhưng đếnkhi lỗ lã thì phiền não bắt đầu khởi phát. Nhiều trườnghợp lỗ lã quan trọng làm cho người ta loạn trí, lắm khiđưa đến cảnh quyên sinh mạng sống, nếu không còn chịuđựng được nữa. Chính trong những hoàn cảnh tương tợ,ta phải biểu dương tinh thần dũng cảm và giữ tâm bình thản,không để quá chao động. Trong lúc vật lộn với đời sống,tất cả mọi người đều phải gặp những lúc thăng, lúctrầm, và chúng ta phải sẵn sàng chịu đựng, sẵn sàng đốiphó, nhất là trong nghịch cảnh.

Mấtmột vật gì, tất nhiên ta cảm thấy buồn. Nhưng chính cáibuồn ấy không giúp ta tìm lại được vật đã mất. Ta phảinghĩ rằng ai đó có thể hưởng vật kia, mặc dầu họ hưởngmột cách bất chánh. Ước mong người ấy được vui vẻ,an lành và hạnh phúc. Hoặc giả ta có thể tự an ủi: "Ðâychỉ là một mất mát nhỏ nhen, không quan trọng." Hoặc giảta có thể chấp nhận một thái độ triết lý cao thượng:"Không có gì là 'Ta', không có cái gì là 'Của Ta'".

Taphải dũng cảm chịu đựng những lỗ lã, thua thiệt, mấtmát. Phải đương đầu với nó, và như câu "họa vô đơnchí"diễn tả, nó có thể đến một cách đột ngột,từng đoàn, từng đám đông, chớ không đơn độc. Ta phảiđiềm tĩnh đối phó, với tâm Xả (upekkhà) hoàn toàn,và nghĩ rằng: đây là cơ hội vàng ngọc để thực hành đứctánh Xả ly cao thượng nầy.

*

2.DanhThơm và Tiếng Xấu (YasaAyasa)

Danhthơm và tiếng xấu là cặp thăng trầm khác mà ta phải đốiphó hàng ngày.

Danhthơm, chúng ta hoan hỷ đón mừng. Tiếng xấu thì chúng ta khôngthích. Danh thơm làm phấn khởi tinh thần. Tiếng xấu làm chota phiền muộn, khổ đau. Chúng ta thích được trứ danh. Chúngta rất thỏa thích thấy những hoạt động của mình, dầukhông đáng kể, được tường thuật và được nhiều ngườinhắc nhở, nhiều người biết đến. Lắm khi ta cũng cố gắng,một cách bất chánh, làm cho người ta chú ý đến mình.

Thậtra, chúng ta không cần chạy theo danh thơm, tiếng tốt. Nếuta xứng đáng, ắt nó sẽ đến mà không cần tìm. Khi hoa đượmmật đầy đủ thì ong, bướm sẽ đến. Hoa không cần mờiong, hay mời bướm.

Còntiếng xấu thì sao? Chúng ta không thích nghe, hay nghĩ đến.Chắc chắn là khi những lời nói xấu lọt vào tai, nó sẽlàm cho tâm ta bàng hoàng, khó chịu. Nỗi khổ tâm càng sâuđậm hơn, nếu những lời gọi là tường thuật hay báo cáoấy tỏ ra bất công và hoàn toàn sai lạc.

Nhưngcũng nên nhớ rằng cho dù ta có thể sống đời đạo đứctrong sạch như một vị Phật, ta cũng không thể tránh nhữnglời chỉ trích, tấn công và nguyền rủa. Ðức Phật là vịgiáo chủ trứ danh nhất thời bấy giờ mà cũng thường bịnhững người ác ý tìm cách vu oan, ám hại, nói xấu.

Takhông nên phung phí thì giờ để đính chánh những lời đồnđãi sai lạc, nếu hoàn cảnh không bắt buộc ta phải làmsáng tỏ vấn đề. Kẻ thù nghịch sẽ lấy làm thỏa thíchmà thấy ta bực bội vì lời nói của họ. Ðó chính là điềumà họ mong muốn. Nếu ta thản nhiên, lời vu oan sẽ rơi vàotai điếc.

GiáoPháp có dạy:

"Hãynhư sư tử, không run sợ trước tiếng động.
Hãynhư luồng gió, không dính mắc trong màn lưới.

Hãynhư hoa sen, từ bùn nhơ nước đục mọc lên,

Nhưngkhông bị nước đục và bùn nhơ làm ô nhiễm.

Hãyvững bước, đơn độc một mình, như con tê giác."
Là chúasơn lâm, sư tử không sợ hãi. Bẩm chất thiên nhiên củasư tử là không run rẩy giựt mình khi nghe tiếng gầm thétcủa các loài thú khác. Trên thế gian nầy, chúng ta thườngnghe thuật lại những câu chuyện trái tai, bất lợi, nhữnglời buộc tội giả mạo, những tiếng vu oan phỉ báng đêhèn. Như sư tử, ta không cần để tâm đến.

Chúngtađang sống trong thế gian bùn nhơ, nước đục. Nhiều đóahoa sen đã từ đó vượt lên, tô điểm đời sống, mà khôngbị nước đục và bùn nhơ làm hoen ố. Chúng ta phải cốgắng sống như hoa sen, một cuộc đời trong sạch và cao quý,không màng quan tâm đến bùn nhơ mà người khác có thể némvào ta. Phải sẵn sàng đón nhận bùn nhơ, mà người kháccó thể ném vào mình, thay vì mong đợi những đóa hoa hồngmà người ta có thể tặng. Như thế, ta sẽ không thất vọng.

Mặcdầu là điều khó khăn, chúng ta phải cố gắng trau giồihạnh từ khước, buông bỏ, không luyến ái. Không cần đểý đến nọc độc của những lời nói ác ý. Ðơn độc mộtmình, chúng ta hãy ra đi đó đây, tận lực phục vụ và tạoan lành cho kẻ khác.

*

3.CaTụng và Khiển Trách (PasamsàNindà)

Ðượcca tụng và bị khiển trách là hai hoàn cảnh thăng trầm khác,hằng ảnh hưởng đến nhân loại. Lẽ dĩ nhiên, khi đượcca tụng thì ta nở mặt nở mày, hân hoan thỏa thích. Lúc bịkhiển trách thì tinh thần suy sụp, ủ dột buồn rầu. ÐứcPhật dạy rằng giữa những lời ca tụng hay khiển trách,bậc thiện trí không thỏa thích, cũng không ủ dột ưu phiền,mà tựa hồ như tảng đá vững chắc, không lay chuyển dướicơn bão táp phong ba của đời sống. Nếu chúng ta xứng đáng,những lời khen tặng quả thật êm tai. Nhưng nếu ta khôngxứng đáng, như trường hợp có người nịnh bợ, thì nhữnglời ấy dù có êm tai, cũng sẽ làm cho ta thất vọng, và làmột tai hại.

Ngườithực hành Giáo Pháp thì không tin vào những lời nịnh bợ,cũng không muốn được nịnh bợ. Khi khen tặng ai xứng đáng,người Hiền trí thật lòng khen tặng mà không ẩn ý ganh tị.Khi khiển trách, các Ngài khiển trách mà không ẩn ý khinhkhi. Các Ngài chỉ khiển trách vì lòng bi mẫn, muốn cải thiệnngười lầm đường lạc nẻo.

Cònkhiển trách thì sao? Ðức Phật dạy: "Người nói nhiềubị khiển trách. Người nói ít bị khiển trách. Người lặngthinh cũng bị khiển trách."

ÐứcPhật cũng nói: "Người thế gian phần đông sống khôngkỷ luật. Như voi chiến ở trận địa, hứng lãnh lằn tênmũi đạn từ mọi hướng dồn dập bắn đến, cùng thế ấy,Như Lai hứng chịu mọi nguyền rủa của thế gian."

Kẻsi mê lầm lạc chỉ tìm cái xấu, cái hư của người khácmà không nhìn cái tốt cái đẹp của ai. Ngoại trừ ÐứcPhật, không có ai hoàn toàn tốt lành. Cũng không có ai hoàntoàn xấu ác. Giữa chúng ta, bên trong con người tốt nhất,cũng có phần hư hỏng. Trong con người xấu nhất, cũng cóđiểm tốt đẹp. Ðức Phật dạy rằng người nào biết câmlặng như cái mõ bể khi bị tấn công, nguyền rủa, chửimắng, thì, mặc dầu chưa chứng ngộ Niết Bàn, người ấycũng đã đứng trước Niết Bàn.

*

4.HạnhPhúc và Ðau Khổ (SukhaDukkha)

Hạnhphúc và đau khổ là cặp thăng trầm cuối cùng. Nó cũng cónhiều năng lực nhất, ảnh hưởng đến đời sống nhân loại.

Ðiềugì làm được dễ dàng là hạnh phúc. Cái gì khó chịu đựnglà đau khổ. Thông thường, thỏa mãn điều mong ước là hạnhphúc. Nhưng, liền khi vừa đạt được điều mong ước ấy,ta đã ước mong một loại hạnh phúc khác. Phần đông chúngta thỏa thích trong sự thọ hưởng những lạc thú của đờisống. Nhưng cũng có hạng người thỏa thích trong sự từkhước, buông bỏ các lạc thú ấy. Không luyến ái, hay vượtlên trên mọi khoái lạc vật chất, là hạnh phúc đối vớingười đạo đức. Hạnh phúc Niết Bàn -- tức trạng tháithoát ra khỏi mọi đau khổ -- là hình thức hạnh phúc caothượng nhất.

Chúngta vui vẻ đón mừng hạnh phúc. Nhưng đau khổ thì không đượcniềm nở tiếp nhận. Ðau đớn (vật chất) và phiền muộn(tinh thần) đến với ta dưới nhiều hình thức. Chúng ta đaukhổ khi phải chịu bệnh hoạn, già yếu, đó là lẽ tự nhiên.Phải điềm tĩnh chịu đựng những khổ đau đó.

Lắmkhi chúng ta phải xa lìa thân bằng, quyến thuộc. Cảnh biệtly vô cùng đau khổ. Chúng ta phải nhận thức rằng mọi kếthợp đều phải chấm dứt trong cảnh biệt ly. Đó là luậtVô thường, và đây là cơ hội quý báu để ta thực hànhtâm Xả.

Trênbước thênh thang trong vòng luân hồi, chết là mối ưu phiềntrọng đại nhất mà chúng ta phải đối phó. Ðôi khi cáichết không đến lẻ loi cho một người thân, mà đến trùnghợp cho nhiều người thân trong một lúc. Cái chết không thểtránh, đến với tất cả mọi người, không trừ ai. Và taphải bình thản đối phó.

*

ÐứcPhậtdạy rằng:

"Cũngnhư trên đất, ta có thể vứt bất luận vật gì, dầu chua,dầu ngọt, dầu sạch, dầu dơ. Ðất vẫn thản nhiên mộtmực trơ trơ, không giận cũng không thương. Vậy, cùng thếấy, trong hạnh phúc, trong phiền muộn, lúc thăng lúc trầm,ta phải giữ tâm bình thản như đất."

Trướcnhững thăng trầm của thế gian, tâm của các vị Thánh A-la-hánkhông bao giờ chao động. Vì vậy, noi theo gương các Ngài,giữa những hoàn cảnh được và mất, danh thơm và tiếngxấu, ca tụng và khiển trách, hạnh phúc và đau khổ, chúngta hãy cố gắng giữ tâm bình thản.

Perth,Tây Úc, tháng 8-2004


Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
13/07/2022(Xem: 8712)
Phải nói là khi nhận được tin TT Giảng Sư Thích Nguyên Tạng sẽ có bài pháp thoại giảng tại Thiền Lâm Pháp Bảo hôm nay (12/7/2022) lại vừa nghe tin tức mưa lớn và lụt tràn về Sydney mấy ngày qua, thế mà khi nhìn vào màn ảnh livestream lại thấy khuôn viên thiền môn trang nghiêm thanh tịnh quá, dường như thời tiết khí hậu chẳng hề lay động đến nơi chốn này, nơi đang tập trung những người con cầu tiến muốn hướng về một mục đích mà Đức Phật hằng mong chúng ta đạt đến : Vô Sanh để thoát khỏi vòng sinh tử .
15/06/2022(Xem: 7745)
Tôi thật chưa tìm ra cuốn nào như cuốn này, tác giả viết từ những năm 50s, hữu duyên được dịch ra tiếng Việt vào những năm 80s… Tìm lại được bản thảo sau khoảng 33 năm (2021). Tốn thêm một năm hiệu đính trên đường ta bà, gọt dũa lại.
23/03/2022(Xem: 6488)
Tác ý là sự quyết định của tâm. Tác ý có thể xấu hay tốt, thiện hay bất thiện. Tác ý sanh lên trong lúc nào? Tác ý có thể sanh lên từ cảm giác nhưng cũng có thể sanh lên từ sự suy tưởng hay suy nghĩ của mình. Như vậy, làm thế nào để biết chắc chắn đó là tác ý? Tác ý là một cảm giác mạnh sinh khởi trong một con người. cảm giác mạnh này thôi thúc người đó phải hành động để giải quyết vấn đề. Cảm giác này được coi là tác ý vậy...
10/12/2021(Xem: 4473)
Trong một kiếp nhân gian, mọi chúng sinh đều khởi đầu từ sinh và kết thúc ở diệt. Có sinh, phải có diệt. Diệt là chấm dứt để trở về với cát bụi, khép kín một vòng sinh lão bệnh tử. Tứ là sự chết, sự kết thúc. Trong Kinh Tử Pháp ( Tạp A Hàm, quyển 6, số 121, 雜阿含經 第6卷,一二一,死法), Phật dạy các đệ tử chánh tư duy về vô thường trong sinh tử để không dính mắc, không chấp giữ mà đạt đến giác ngộ Niết Bàn.
27/11/2021(Xem: 2673)
Ni Trưởng Thích Nữ Trí Hải (1938 – 2003) đã để lại nhiều tác phẩm lớn, vừa có giá trị Phật học, vừa có giá trị văn học. Một tác phẩm trong những tháng cuối của cuộc đời Ni Trưởng là tập thơ Ngọa Bệnh Ca, được sáng tác trong thời gian nằm bệnh vào đầu năm 2003. Rồi cuối năm 2003, Ni Trưởng tử nạn trong một tai nạn giao thông. Bài viết nảy sẽ ghi lại những suy nghĩ về bài thơ “Người Gỗ” trong thi tập Ngọa Bệnh Ca của Ni Trưởng. Trong bài chỉ là các suy nghĩ rời, từ một người không có thẩm quyền nào, cả về Phật học và văn học.
24/11/2021(Xem: 3548)
Tôi nhớ lại có lần Nữ cư sĩ Clair Brown, Giáo sư Tiến sĩ từ Trường đại học California – Berkeley (UC Berkeley) đã đề cập với tôi về một thứ gọi là “Kinh tế học đạo Phật” (Buddhist economics).
23/11/2021(Xem: 5195)
Đề tài diễn giảng chuyên môn đầu tiên "Phật giáo và Tâm lý trị liệu" (佛教與心理療癒) của Kế hoạch nghiên cứu thuộc Trung tâm Nghiên cứu Đại học Phật Quang Sơn tổ chức tại sảnh Vân Thủy, ngày 17 tháng 11 vừa qua, tiếp đến chủ đề "Tu hành và Chuyển hóa - Đối thoại giữa Tu thiền và Tư vấn Tâm lý" (修行與轉化 禪修與心理諮商的對話), do Thạc sĩ Dương Bội (楊蓓), Chủ nhiệm Khoa Giáo dục đời sống thuộc Học viện Dharma Drum Institute of Liberal Arts (法鼓文理學院); Giáo sư Quách Triều Thuận (郭朝順), người Tổng chủ trì Kế hoạch nghiên cứu, Viện trưởng Học viện Phật giáo Phật Quang Sơn chủ trì. Gần 70 vị Giáo sư nổi tiếng, thuộc Khoa Phật học, Khoa Tâm lý học, Học viện Nghiên cứu Tôn giáo đã tham dự buổi tọa đàm đầy ý nghĩa.
14/11/2021(Xem: 16618)
Một thuở nọ, Đức Thế Tôn ngự tại xứ Sāvatthi, gần đến ngày an cư nhập hạ suốt ba tháng trong mùa mưa, chư Tỳ khưu từ mọi nơi đến hầu đảnh lễ Đức Thế Tôn, xin Ngài truyền dạy đề mục thiền định, đối tượng thiền tuệ thích hợp với bản tánh của mỗi Tỳ khưu. Khi ấy, có nhóm năm trăm (500) Tỳ khưu, sau khi thọ giáo đề mục thiền định xong, dẫn nhau đến khu rừng núi thuộc dãy núi Himavantu, nơi ấy có cây cối xanh tươi, có nguồn nước trong lành, không gần cũng không xa xóm làng, chư Tỳ khưu ấy nghỉ đêm tại đó. Sáng hôm sau, chư Tỳ khưu ấy dẫn nhau vào xóm làng để khất thực, dân chúng vùng này khoảng một ngàn (1.000) gia đình, khi nhìn thấy đông đảo chư Tỳ khưu, họ vô cùng hoan hỉ, bởi vì những gia đình sống nơi vùng hẻo lánh này khó thấy, khó gặp được chư Tỳ khưu. Họ hoan hỉ làm phước, dâng cúng vật thực đến chư Tỳ khưu xong, bèn bạch rằng: – Kính bạch chư Đại Đức Tăng, tất cả chúng con kính thỉnh quý Ngài an cư nhập hạ suốt ba tháng mùa mưa tại nơi vùng này, để cho tất cả chúng con có
08/11/2021(Xem: 11656)
Đây chỉ là chiếc thuyền nan, chưa tới bờ bên kia, vẫn còn đầy ảo tưởng chèo ra biển cả. Thân con kiến, chưa gột sạch đất cát, bò dưới chân Hy Mã Lạp Sơn, nghe tiếng vỗ của một bàn tay trên đỉnh cao. Chúng sinh mù, nếm nước biển, ngỡ bát canh riêu cá, Thế gian cháy, mải vui chơi, quên cảnh trí đại viên. Nắm vạt áo vàng tưởng như nắm lấy diệu quang, bay lên muôn cõi, theo tiếng nhạc Càn Thát Bà réo gọi về Tịnh Độ, ngửi mùi trầm Hương Tích, an thần phóng thoát. Con bướm mơ trăng Cực Lạc, con cá ngụp lặn dưới nước đuôi vàng như áo cà sa quẫy trong bể khổ, chờ thiên thủ thiên nhãn nghe tiếng sóng trầm luân vớt lên cõi Thanh văn Duyên giác. Những trang sách còn sở tri chướng của kẻ sĩ loanh quanh thềm chùa Tiêu Sơn tìm bóng Vạn Hạnh, mơ tiên Long Giáng lào xào bàn tay chú tiểu Lan trên đồi sắn.
05/09/2021(Xem: 14994)
Bắt đầu gặp nhau trong nhà Đạo, người quy-y và người hướng-dẫn biết hỏi và biết tặng món quà pháp-vị gì cho hợp? Thực vậy, kinh sách man-mác, giáo-lý cao-siêu, danh-từ khúc-mắc, nghi-thức tụng-niệm quá nhiều – nghiêng nặng về cầu-siêu, cầu-an – không biết xem gì, tụng gì và nhất là nhiều người không có hoàn-cảnh, thỉnh đủ. Giải-đáp thực-trạng phân-vân trên, giúp người Phật-tử hiểu qua những điểm chính trong giáo-lý, biết qua sự nghiệp người xưa, công việc hiện nay và biết đặt mình vào sự rèn-luyện thân-tâm trong khuôn-khổ giác-ngộ và xử-thế, tôi biên-soạn cuốn sách nhỏ này. Cuốn sách nhỏ này không có kỳ-vọng cao xa, nó chỉ ứng theo nhu-cầu cần-thiết, mong giúp một số vốn tối-thiểu cho người mới vào Đạo muốn tiến trên đường tu-học thực-sự. Viết tại Sài-thành mùa Đông năm Mậu-tuất (1958) Thích-Tâm-Châu
facebook youtube google-plus linkedin twitter blog
Nguyện đem công đức này, trang nghiêm Phật Tịnh Độ, trên đền bốn ơn nặng, dưới cứu khổ ba đường,
nếu có người thấy nghe, đều phát lòng Bồ Đề, hết một báo thân này, sinh qua cõi Cực Lạc.

May the Merit and virtue,accrued from this work, adorn the Buddhas pureland,
Repay the four great kindnesses above, andrelieve the suffering of those on the three paths below,
may those who see or hear of these efforts generates Bodhi Mind, spend their lives devoted to the Buddha Dharma,
the Land of Ultimate Bliss.

Quang Duc Buddhist Welfare Association of Victoria
Tu Viện Quảng Đức | Quang Duc Monastery
Senior Venerable Thich Tam Phuong | Senior Venerable Thich Nguyen Tang
Address: Quang Duc Monastery, 105 Lynch Road, Fawkner, Vic.3060 Australia
Tel: 61.03.9357 3544 ; Fax: 61.03.9357 3600
Website: http://www.quangduc.com ; http://www.tuvienquangduc.com.au (old)
Xin gửi Xin gửi bài mới và ý kiến đóng góp đến Ban Biên Tập qua địa chỉ:
quangduc@quangduc.com , tvquangduc@bigpond.com
KHÁCH VIẾNG THĂM
110,220,567