CHƯƠNG 6: CÚNG GIÁC LINH

03/01/201103:17(Xem: 5980)
CHƯƠNG 6: CÚNG GIÁC LINH

CHƯƠNG SÁU: CÚNG GIÁC LINH

1. Giới Thân

Giới thân sơn vị trọng,
Pháp nhủ hải phi thâm.
Bạch bố triền viên đảnh,
Truy truy viễn thốn thầm.

2. Tiêu Diêu

Tiêu diêu chơn thế giới,
Khoái lạc bảo liên trung
Hiệp chưởng Thế Tôn tiền,
Như Lai chơn thọ ký.

3. Thuyền Đường

Thuyền đường thanh tịch tịch,
Pháp tọa ảnh liêu liêu.
Tứ chúng ta hà thị
Thê thê phách dục tiêu.

4. Hàn Yên

Hàn yên mê trượng thất,
Lãnh nguyệt chiếu thuyền song.
Huyễn chất tiêu gian mộng
Chơn thân tuế hậu tòng. (trùng vĩ)

5. Tứ Đại

Tứ đại giang tâm nguyệt,
Tam thân cảnh diện hoa.
Huề lai chơn đích tử,
Trường giá bạch ngưu xa. (Trùng vĩ)

6. Điện Cáo Giác Linh

Chơn thể tùy duyên xứ,
Nguyên minh hốt tơ tàng.
Nga nhiên vân quyện tận,
Lưu nhứt đạo hàng quang. (Trùng vĩ)

7. Thuyền Thất

Thuyền thất đăng quang lãnh,
Kinh song nguyệt ảnh không.
Nhứt triêu hề chích lý
Thiên tải mích vô tung. (Trùng vĩ)

8. U Minh

U Minh Giáo Chủ đức nan cùng,
Ứng hiện chư hình xứ xứ thông.
Đại đạo tam đồ triêm diệu hóa,
Tứ sanh thập loại mộc ân đồng.
Nam mô Đại Thánh Địa Tạng Vương Bồ Tát.

9. Tâm Nhiên

Tâm nhiên ngũ phận,
Giới định huệ hương.
Giãi thoát tri kiến điệu nan lường,
Tịnh độ khỉ căn nguyên.
Nhiệt biến tam thiên,
Phụng hiến Giác linh tiền.
Nam mô Hương Cúng Dường Bồ Tát.

10. Trầm Nhũ

Trầm nhủ chiên đàn giá mạc luân,
Kim lô tài nhiệt phún tường vân.
Nhân huân biến triệt tam thiên giới
Duy trượng chơn hương dĩ giáng thần.
Nam mô Hương Cúng Dường Bồ Tát.

11. Trượng Thất

Trượng thất không lưu nguyệt,
Thiền phòng bán tỏa yên.
Bổn lai chơn diện mục?
Hồ họa xuất thiên nhiên. (Trùng vĩ)

12. Bát Trung

Bát trung lương tích phạn,
Bôi lý Triệu Châu trà.
Liểu dĩ kiểu thuyền duyệt,
Thành kỳ mặc hữu gia. (Trùng vĩ)

13. Chơn Như

Chơn như bất biến thả tùy duyên,
Ế họa trần tiêu nhứt tánh viên.
Cử túc dĩ siêu tam giới ngoại,
Hoàn lai hựu thượng độ sanh thuyền.

14. Thiên Nhiên

Thiên nhiên nhứt trản triệu châu trà,
Thạch đỉnh phanh lai vị khả tri.
Xuyết trước phương tri tiêu tức xứ,
Hinh hương mãn khẩu phụng đoàn hoa.

15. Niết Bàn

Niết bàn nhứt khứ vạn duyên hưu
Cao quãi cân bình dĩ triệt đầu.
Chích lý Tây Qui quan man khỗn,
Nhứt hoa tạ hậu cảnh nán lưu.

16. Giác Linh

Giác linh tảo góa bạch ngưu xa,
Bảo sở tuệ đăng mặc sa đà,
Tam thỉnh giác linh đăng bảo tọa
Cửu liên trì thượng tọa lâu hoa.

17. Sắc Không

Sắc không không sắc bổn cố nhiên,
Sanh tử na năng một bạn biên.
Phiên thân đạp trước bồ đề lộ,
Cử bộ tiện đăng Bát nhã thuyền.

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
13/11/2015(Xem: 7488)
Trước đây do phương tiện truyền thông còn nhiều hạn chế nên người ta ít khi nghe và thấy chữ "Tân Viên Tịch" trong các văn thư, cáo phó, phân ưu, điếu từ và điếu văn trên các phương tiện truyền thông, nhưng gần đây người ta thấy chữ "Tân Viên Tịch" nhiều hơn trước để chỉ sự kiện một vị Tôn Đức Tăng Ni Giáo Phẩm vừa viên tịch. Vậy trong thực tế có sự khác nhau giữa viên tịch và tân viên tịch không?
19/08/2015(Xem: 8964)
Trống là một trong những loại nhạc khí, thường làm bằng đá, cây, đồng, v.v…Xưa tại Ấn Độ dùng để báo thời gian, cảnh báo. Khi Đức Phật còn tại thế, dùng nó để tập họp chúng Tăng Bố tát, nghe pháp…Ngũ Phần Luật có ghi: “chư Tỳ kheo bố tát, chúng bất thời tập. Phật ngôn: nhược đả kiền chuỳ, nhược đả cổ…”.
14/07/2015(Xem: 22024)
Lễ Hiệp Kỵ Lịch Đại Tổ Sư (Ngày Về Nguồn 8) sẽ được tổ chức tại chùa Pháp Bảo – Sydney, Úc Châu vào cuối tháng 9 năm 2014. Lễ Hiệp Kỵ Lịch Đại Tổ Sư (Ngày Về Nguồn 9) năm 2015 dự định sẽ được tổ chức tại chùa Khánh Anh - Evry, Pháp Quốc nhân lễ Khánh Thành chùa cũng như lễ Đại Tường của cố Hòa Thượng Thích Minh Tâm. Trong dịp này, chư Tăng Ni sẽ hội luận vào ngày thứ bảy 15.08.2015 như chương trình gửi kèm theo đây. Chư Tôn Đức cũng như quý Phật tử nào không tham dự được suốt chương trình các ngày Lễ thì xin mời chọn những ngày thích hợp để đến với Tăng đoàn nhằm nói lên tinh thần cộng trụ trong sinh hoạt Phật sự tại hải ngoại ngày nay. Kính mong chư Tôn Đức và quý vị Phật tử hồi báo cho Ban Tổ
06/06/2015(Xem: 14707)
Nhà để tro cốt Ruriden thuộc ngôi đền Koukoko-ji, Nhật Bản là nơi đang lưu giữ tro cốt của 2046 người đã mất theo một cách hết sức hiện đại và đầy công nghệ. Đây là những hình ảnh ghi lại tại nhà để tro cốt Ruriden thuộc ngôi đền Koukoko-ji, Nhật Bản. Nơi đây đang lưu giữ tro cốt của 2046 người đã mất theo một cách hết sức hiện đại và đầy công nghệ. Những bức tường được ngăn thành rất nhiều ngăn, mỗi ngăn có đặt một bức tượng Phật bằng pha lê và được chiếu sáng bằng đèn LED nhiều màu. Đằng sau mỗi bức tượng là hũ đựng tro cốt của người đã khuất. Như có thể thấy trong hình ảnh, màu sắc từ mỗi bức tượng được điều khiển một cách có chủ đích, tạo nên "bức tranh" đầy màu sắc trên tường.
31/03/2015(Xem: 26717)
“Mộ cổ thần chung cảnh tỉnh thế gian danh lợi khách Kinh thanh Phật hiệu hoán hồi khổ hải mộng trung nhơn”. Một làn khói trầm vương nhẹ, một lời kinh khuya sớm, một tiếng chuông rơi… đều làm cho tâm hồn ta nhẹ nhàng, thanh thoát, hướng thượng và quay về với nội tâm. Mỗi tôn giáo đều có những nghi thức và pháp khí hành lễ đặc thù, phù hợp với truyền thống và văn hóa của tôn giáo mình. Đạo Phật, gần hai ngàn năm gắn liền với Dân tộc chúng ta, cho nên những pháp khí, tiếng trống, tiếng chuông chùa… trở thành thân thương, gần gũi, quen thuộc với văn hóa Dân tộc và lắng đọng trong tâm hồn người Việt Nam.
17/11/2014(Xem: 42973)
"Thọ Mai gia lễ" là gia lễ nước ta, có dựa theo "Chu Công gia lễ" tức gia lễ thời xưa của Trung Quốc, nhưng không rập khuôn theo Trung Quốc. Mặc dầu gia lễ từ triều Lê đến nay có nhiều chỗ đã lỗi thời nhưng khi đã trở thành luật tục, ăn sâu, bén rễ trong nhân dân, nên đến nay trong Nam ngoài Bắc vẫn còn áp dụng phổ biến, nhất là tang lễ. Tác giả của "Thọ Mai gia lễ" là Hồ Sỹ Tân hiệu Thọ Mai (1690-1760), người làng Hoàn Hậu, huyện Quỳnh Lưu, Nghệ An. Ông đậu tiến sỹ năm 1721 (năm thứ hai triều Bảo Thái), làm quan đến Hàn lâm Thị chế.
09/10/2014(Xem: 7988)
Một buổi lễ tụng kinh Pali theo truyền thống Nam tông Tụng kinh hay cầu kinh là một điều phổ biến trong các tôn giáo. Phật giáo cũng không ngoại lệ trong vấn đề này. Tuy nhiên, mục đích của việc tụng niệm thì khác nhau giữa tôn giáo này với tôn giáo khác. Phật giáo là tôn giáo duy nhất không xem tụng niệm như là cầu nguyện. Đức Phật trong nhiều phương cách đã chỉ dạy chúng ta phải có niềm tin vào hành động của mình và kết quả của nó, và qua đó khuyến khích chúng ta nương tựa vào chính mình mà không vào một ai khác. Điều này trong thực tế là điều cốt lõi nơi thông điệp sau cùng của Ngài ở trong kinh Đại Niết-bàn (Mahaparinibbana Sutta). Một trong những thông điệp trong kinh ngày là: “Này A Nan, hãy nương tựa chính mình và chớ nương tựa vào ai khác, hãy nương tựa Chánh pháp và chớ nương tựa vào pháp nào khác”.
25/09/2014(Xem: 37492)
Phụng hành lời giáo huấn của Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni trong Kinh Du Hành - bộ Trường A Hàm : “ Chúng Tỳ Kheo phải thường xuyên theo đúng các qui định của Luật Tạng, để giảng luận Chánh Pháp, khiến cho các Tỳ Kheo trong trú xứ cùng sinh hoạt hòa hợp, là pháp đầu trong Bảy Pháp Bất Thối của hàng Thích tử ”. Theo tinh thần đó, chúng ta đã và đang nối gót các bậc Thầy Tổ trong sự nghiệp kế thừa gia bảo của Đức Thế Tôn qua Lễ Hiệp Kỵ Lịch Đại Tổ Sư hay Ngày Về Nguồn năm nay là năm thứ 8.
08/09/2014(Xem: 16980)
Đức Phật từng dạy: “Trên đời có hai hạng người đáng quý. Thứ nhất, người chưa hề phạm tội và thứ hai là người lỡ phạm tội nhưng hết lòng sám hối, nguyện không tái phạm.” Kinh sách ghi lại nhiều bài sám với những hình thức ngắn, dài, đại cương hoặc chi tiết, để mỗi hành giả tùy căn cơ, nhu cầu và phương tiện mà phát nguyện sám hối. Ở đây, chỉ xin được chia sẻ đôi giòng, sau hai tuần lễ đại chúng đạo tràng chùa Phật Tổ hành trì, trong khóa tu sẽ liên tục một tháng, tụng lạy bộ“Từ Bi Đạo Tràng Sám Pháp Lương Hoàng Sám”
02/09/2014(Xem: 11418)
Đạo Phật là Đạo cứu chúng sanh ra khỏi sáu cõi sinh, tử, luân hồi khổ đau, để đến các cõi Phật, là những cõi vô sanh, vô tử. Do đó chư Phật trong 10 phương thế giới Phật, đều thị hiện vào Tam giới, Lục đạo, để cứu khổ chúng sanh theo sở nguyện và phương tiện(giáo pháp, tâm đại từ bi, trí tuệ) của mình. Như Đức Phật Thích Ca Mâu Ni đã thị hiện vào cõi Ta bà, nói Pháp và hướng dẫn con Người tu tập giáo pháp, để giải thoát sanh tử, luân hồi. Đức Phật còn thuyết minh về các kinh