Chuyển Pháp Luân Lần Thứ Nhất

15/12/201015:22(Xem: 19201)
Chuyển Pháp Luân Lần Thứ Nhất

TỔNG QUAN

VỀ NHỮNG CON ĐƯỜNG
CỦA PHẬT GIÁO TÂY TẠNG
Nguyên tác: A Survey Of The Paths Of Tibetan Buddhism
Tác giả: His Holiness Tenzin Gyatso 14th Dalai Lama of Tibet
Chuyển ngữ: Tuệ Uyển – 19/06/2010
Làng Đậu hiệu đính

ChuyểnPháp Luân Lần Thứ Nhất

 

Lần giảng dạy đầu tiên nàyđược biết như đợt lần chuyển pháp luân thứ nhất, Ngài đã thuyết về căn bản củaTứ Diệu Đế. Như hầu hết chúng ta có thể biết, bốn chân lý cao quý là chân lý vềkhổ đau [Khổ Đế], chân lý về nguyên nhân của nó [Tập Đế], chân lý về sự chấm dứt[Diệt Đế], và con đường đưa đến sự chấm dứt khổ đau [Đạo Đế].

Khi Ngài dạy về Tứ Diệu Đế,theo những kinh điển tìm thấy qua các phiên bản tiếng Tây Tạng, Ngài dạy chúngtrong phạm vi của ba nhân tố: bản chất của những chân lý này, các chức năng củachúng và hiệu quả của chúng.

Tứ Diệu Đế thật sự rất thậmthâm vì toàn thể giáo thuyết Phật giáo có thể thể hiện trong chúng. Những gìchúng ta tìm thấy hạnh phúc và hạnh phúc là tác động của một nguyên nhân và nhữnggì chúng ta không muốn là khổ đau và khổ đau cũng có nguyên nhân của chính nó.

Trong quan điểm về sự quantrọng của bốn chân lý cao quý, tôi thường nhận xét rằng cả khái niệm của Phậtgiáo về duyên khởi lẫn giới hạnh Phật giáo về việc không tổn hại nhấn mạnh về đạolý bất bạo động. Lý do đơn giản cho điều này là sự khổ đau ấy mang đến những điềukhông mong muốn qua nguyên nhân của nó, mà điều ấy một cách căn bản là vô minhcủa chính chúng ta và tâm thức không thuần hóa của chúng ta. Nếu muốn xa lánhkhổ đau, chúng ta phải kiểm soát chính mình khỏi những hành vi tiêu cực là nhữngđiều sẽ cho sinh khởi khổ đau. Và bởi vì khổ đau liên hệ đến những nguyên nhâncủa nó, khái niệm duyên sinh phát khởi. Những hậu quả tùy thuộc trên nhữngnguyên nhân và nếu chúng ta không muốn những hậu quả này, chúng ta phải làm chấmdứt những nguyên nhân của nó.

Vì thế, trong Tứ Diệu Đế,chúng ta thấy hai hệ thống nhân và duyên: khổ đau là sự tác động và cội nguồn củanó là nguyên nhân. Trong cùng cách như thế, chấm dứt hay diệt tận là an bình vàđạo pháp đưa đến nó là nguyên nhân của sự an bình ấy.

Hạnh phúc mà chúng ta tìm cầucó thể được đạt được bằng việc tiến hành rèn luyện và chuyển hóa trong tâm thứccủa chúng ta bằng sự tịnh hóa tâm thức chúng ta. Sự tịnh hóa tâm thức chúng talà có thể khi chúng ta tiêu trừ vô minh si ám, vốn là gốc rể của tất cả các cảmxúc phiền não, và qua đó, chúng ta có thể đạt đến thể trạng diệt tận mà đấy làsự an hòa và hạnh phúc chân thật. Sự diệt tận đó chỉ có thể đạt đến khi chúngta có khả năng thực chứng được bản tính của mọi hiện tượng[1],thâm nhập tính bản nhiên của thực tại, và để làm điều này, sự rèn luyện về trí tríhuệ là quan trọng. Khi điều ấy phối hợp với khả năng nhất tâm chúng ta sẽ có thểchuyển tất cả năng lượng và sự chú tâm của chúng ta lên một đối tượng hay côngđức duy nhất. Do vậy, sự rèn luyện trong sự tập trung ở đây, và để cho sự rènluyện tập trung và trí huệ thành công đỏi hỏi một nền tảng thật vững vàng của giớiđức, vì thể sự thực tập giới đức hay giới luật thể hiện ở đây.

Giới

Giống như có ba loại rèn luyệntu tập – trong trí huệ, tập trung, và giới đức [tuệ, định, và giới] kinh điểnPhật giáo bao hàm ba sự phân chia – luật tạng, luận tạng, và kinh tạng.

Những hành giả cả nam và nữcó một sự bình đẳng cần thiết để thực hành ba sự rèn luyện này, mặc dù có nhữngsự khác nhau đối với những giới nguyện mà họ thọ lĩnh.

Nền tảng căn bản của sự tu tậpgiới đức là sự hạn chế khỏi mười điều bất thiện: ba thuộc về thân, bốn thuộc vềkhẩu, và ba thuộc về ý.

BaHành Vi Thể Chất Không Đạo đức là:

1. Cướp đi mạng sống của một chúng sinh, từ một côn trùng cho đếnmột con người.

2. Trộm cắp, lấy tài sản của người khác mà không được phép, bất chấpgiá trị của nó, hay quý vị có tự thân tiến hành điều hay không [tổ chức cho ngườikhác làm].

3. Tà dâm, hành vi tình dục bất chính.

BốnHành Vi Nói Năng Không Đạo đức là:

4. Nói dối, lừa gạt người khác qua lời nói hay cử chỉ [vọng ngữ].

5. Nói lời gây chia rẻ, tạo nên sự bất hòa bằng việc làm cho nhữngai đó trong sự đồng thuận đưa đến bất đồng hay những người trong sự bất đồng điđến bất đồng sâu xa hơn [lưỡng thiệt].

6. Nói lời hung dữ, độc ác ngược đãi người khác [ác khẩu].

7. Nói lời vô nghĩa, nói về những điều dại dột bị thúc đẩy bởitham dục và v.v…

BaHành Vi Bất Thiện Về Ý:

8. Tham, thèm muốn sở hữu những gì thuộc về của người khác.

9. Sân hận, mong muốn làm tổn thương kẻ khác, thể hiện nó trong nhữngphương cách lớn hoặc nhỏ.

10. Si, quan điểm sai lầm, nhìn những việc hiện hữu, chẳng hạn nhưtái sinh, nhân quả, hay Tam Bảo như không có.

Giới đức đượcthực hành bởi những người tuân theo cung cách đời sống tu sĩ được xác định lànhững nguyên tắc giải thoát cá nhân – Biệt giải thoát giới[2]. Ở Ấn Độ, có bốn trường phái chính phổ thông nhất, sau này phânchia làm mười tám bộ phái, mỗi bộ phái có giới luật riêng của họ, kinh vănnguyên thủy được thuyết giảng bởi đức Phật, những điều ấy trở thành các hướng dẫncho đời sống của tu sĩ. Sự thực hành tuân thủ trong những tu viện Tây Tạng theotruyền thống Căn Bản Thuyết Nhất Thuyết Hữu[3].

Trong ấy 253 giới điều đượctrao truyền cho những tu sĩ cụ túc giới hay Tỳ-kheo. Trong truyền thống NguyênThủy thệ nguyện giải thoát cá nhân bao gồm 227 giới điều.

Nhằm cung cấp cho chúng ta mộtkhí cụ của chính niệm và tỉnh thức, sự thực tập về giới đức bảo vệ chúng ta khỏitheo đuổi những hành vi bất thiện. Do thế, nó là nền tảng của đạo pháp Phậtgiáo. Vấn đề thứ hai là thiền tập, điều này hướng những hành giả đến sự thực tậpthứ hai được liên hệ với tập trung.

TậpTrung Tinh Thần

Khi chúng ta nói về thiền tậptrong ý nghĩa chung của Phật giáo, có hai loại – thiền định [chỉ] và thiền phântích [quán]. Loại đầu thiền chỉ là sự thực tập tịch tĩnh hay nhất tâm và loạithứ hai là thiền quán để thực hành phân tích. Trong cả hai trường hợp, điều rấtquan trọng để có một nền tảng vững vàng của chính niệm và tỉnh thức, được cungcấp bởi sự thực hành giới luật. Hai nhân tố này, chính niệm và tỉnh thức, làquan trọng không chỉ trong thiền tập, mà cũng quan trọng trong đời sống hằngngày.

Chúng ta nói về nhiều trạngthái của thiền tập, chẳng hạn như những trạng thái của sắc và vô sắc. Những trạngthái của sắc được phân biệt trên căn bản của những chi của chúng, trái lại nhữngtrạng thái vô sắc được phân biệt trên căn bản bản chất của đối tượng của thiềnchỉ.

Chúng ta tiến hành tu tập giớiđức như nền tảng và tu tập tập trung như một nhân tố bổ sung, một khí cụ, đểlàm cho tâm thức phục vụ hữu hiệu. Vì thế, sau này, khi kết hợp với tu tập tríhuệ, chúng ta được trang bị với một tâm thức nhất niệm, mà chúng ta có thể hướngtrực tiếp tất cả các sự chú tâm và năng lượng của mình đến đối tượng được lựachọn. Trong tu tập trí huệ, chúng ta quán chiếu về vô ngã hay tính Không củacác hiện tượng, mà điều ấy cung ứng như một loại đối trị thật sự đến những cảmxúc phiền não.

tongquan-04

Tháp Rajgirthuộc địa phận Nalanda thuộc bang Bihar Ấn Độ

Ba mươi bảy Bồ-đề đạo phẩm [Ba mươi bảy phẩm trợ đạo][4]

Cấu trúc tổng quát của conđường Phật giáo, như được trình bày trong lần chuyển pháp luân thứ nhất, baohàm ba mươi Bồ-đề đạo phẩm. Những điều này bắt đầu với bốn lĩnh vực chính niệm[tứ niệm xứ], điều liên hệ đến sự chính niệm về thân thể, cảm giác, tâm thức,và các pháp. Tuy thế, ở đây, tỉnh thức là thiền tập trên những bản chất khổ đaucủa luân hồi bằng các phương tiện mà qua đó hành giả phát triển một quyết tâmthật sự để giải thoát khỏi vòng sinh tử này.

Tiếp theo là bốn sự từ bỏhoàn toàn [Tứ chính cần], bời vì khi các hành giả phát triển một quyết tâm chânthành để được giải thoát qua sự thực tập bốn sự tỉnh thức, họ dấn thân với mộtphương cách của đời sống mà trong ấy họ từ bỏ những nguyên nhân của khổ đautương lai và phát triển những nguyên nhân của hạnh phúc tương lai.

Vì việc vượt thắng tất cả cáchành vi tiêu cực và cảm xúc phiền não và việc gia tăng các nhân tố tích cựctrong tâm thức chúng ta, những điều được gọi một cách kỹ thuật là tầng lớp củanhững pháp thanh tịnh, có thể được đạt được chỉ khi chúng ta có một tâm thức thậttập trung, cho nên hiện hữu những điều tiếp theo được gọi là bốn nhân tố củanăng lực kỳ diệu [tứ như ý túc].

Tiếp theo những gì được biếtnhư năm bản năng [ngũ căn],năm năng lực [ngũ lực], tám con đường cao quý [bát chính đạo], và bảy chi [thấtgiác chi] của lộ trình giác ngộ.

Đây là cấu trúc chung của lộtrình Phật giáo như được biết đến trong lần chuyển pháp luân đầu tiên. Phậtgiáo được tu tập trong truyền thống Tây Tạng hoàn toàn hòa hợp chặt chẽ với nhữngđặc trưng này của giáo lý Đạo Phật.



[1]Các hiện tượng này bao gồm cả các hiệntượng thuộc về tâm thức, con người, chúng sinh, hay sự vật. Từ đây về sau chữ phápsẽ có thể được dùng thay cho chữ hiện tượngvà sẽ nêu rõ nếu đó là hiệntượng chỉ dành cho riêng một loại đối tượng nào đó.

[2]Tiếng Phạn là pratimokṣa nhấn mạnhviệc giới hạn hành vi hay ứng xử để tránh gây hại cho chúng sinh khác. Giới làmột trong 3 bộ phận quan trọng nhất của Phật giáo (hai bộ phận kia là Định vàTuệ hợp thành Tam Vô Lậu Học). Thành tựu trong việc trì giới sẽ dẫn đến giảithoát cho cá nhân hành giả. Theo Phật giáo Tây Tạng có bảy loại phân giới tùytheo đối tượng là:

Tì-kheo giới [trọng giới], tì-kheo-nigiới, nam sa-di giới (shramanera), nữ sa-di giới (shramanerika), giới dành chonữ sa-di chuẩn bị tăng cấp thành ti-kheo ni (shikshamana), nam cư sĩ giới[ưu-bà-tắc] (upasaka) và nữ cư sĩ giới [ưu-bà-di] (upasika). Ngoài ra, còn lóloại giới giữ trong một ngày cho cư sĩ (ashtangopavasa shiksha).

"Pratimoksha vows". RigpaShedra. <http://www.rigpawiki.org/index.php?title=Pratimoksha_vows>. Truycập 16/08/2010.

[3]Còn gọi là Thuyết Nhất Thiết Hữu(sarvāstivādin), là một bộ phái Phật giáo cho rằng mọi sự đều có, đều tồn tại[nhất thiết hữu] mà Phạn ngữ viết là “sarvam asti”. Đây là một nhánh của táchra từ Thượng toạ bộ (sthaviravādin) dưới thời vua A-dục. Giáo phái này quan niệmlà tất cả, hiện tại, quá khứ, vị lai đều hiện hữu đồng thời. Quan điểm của bộnày được xem như nằm giữa Tiểu thừa và Đại thừa. Xem thêm chi tiết :

"Thuyết nhất thiết hữu bộ". Wikipedia. <http://vi.wikipedia.org/wiki/Thuy%E1%BA%BFt_nh%E1%BA%A5t_thi%E1%BA%BFt_h%E1%BB%AFu_b%E1%BB%99>.Truycập 16/08/2010.

[4]Xem thêm chi tiết về 37 Bồ-đề Đạo Phẩm:

"Tam thập thất bồ-đề phần".Wikipedia.

<http://vi.wikipedia.org/wiki/Tam_th%E1%BA%ADp_th%E1%BA%A5t_b%E1%BB%93-%C4%91%E1%BB%81_ph%E1%BA%A7n>.Truy cập 26/08/2010.

 

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
31/01/2026(Xem: 4798)
Bão tuyết mùa đông tràn qua hơn 40 tiểu bang, băng giá khắp nơi, nhiệt độ sâu dưới không độ… Ấy vậy mà các nhà sư đi bộ vì hòa bình vẫn giữ vững lộ trình tiến về phía trước. Những bước chân hòa bình đang dấn thân sâu vào giữa lòng nước Mỹ. Một nước Mỹ xưa nay nặng về chủ nghĩa vật chất. Một nước Mỹ hôm nay đang bị khủng hoảng về đạo đức, niềm tin, công lý. Một nước Mỹ đang kỳ thị, độc đoán và chia rẽ nghiêm trọng. Các nhà sư đi bộ vì hòa bình gởi đến mọi người trên đất Mỹ thông điệp từ bi, cảm thông, bao dung, hòa bình. Những bước chân hòa bình hiện thực hóa thông điệp của Đức Phật từ 26 thế kỷ trước. Những bước chân hòa bình chính là thân giáo, noi theo con đường Đức Phật đã khai phá và đã đi trong quá khứ.
30/06/2025(Xem: 5833)
Chúng ta ở đây để chia sẻ suy nghĩ của mình về những gì Phật giáo có thể mang lại trong thời đại Trí tuệ nhân tạo. Nhưng để làm được điều đó, chúng ta cần thiết lập một ngôn ngữ chung, một cách để giao tiếp giữa thế giới khoa học và Phật giáo — nếu điều đó có thể. Nếu chúng ta không thể thống nhất về các định nghĩa cơ bản, thì chúng ta sẽ chỉ nói chuyện qua loa với nhau tại hội nghị này — dự định, ý nghĩa và hiểu những điều khác nhau, chứ đừng nói đến việc trả lời các loại câu hỏi sâu sắc và tìm tòi mà hội nghị này đã đặt ra. Tôi sẽ chỉ lấy ba ví dụ cơ bản:
04/08/2024(Xem: 4578)
Quí vị hãy phát tâm từ bi vô lượng đối với chúng sinh, nghĩ rằng: "Thật tốt biết bao nếu tất cả chúng sinh đều thoát khỏi khổ đau và thoát cả nguyên nhân tạo khổ". Rồi gánh hết mọi vấn đề của chúng sinh về phần mình, nhất là các loại khổ đau đến từ bịnh tật, từ mối tương giao giữa người và người. Nhận lãnh mọi khổ đau cùng nguyên nhân tạo khổ, mọi mê muội ám chướng, mọi điều không ai mong cầu, gom thành một khối ô nhiễm, cho thấm hết vào vọng tâm chấp ngã, khiến vọng tâm chấp ngã bị phá hủy hoàn toàn, và rồi cái "ngã" mà vọng tâm bám vào, tưởng rằng quý giá lắm, bây giờ trở thành không [không có tự tánh]. Trụ tâm trong tánh Không càng lâu càng tốt. Quán sự nhận về như vừa nói trên, rồi quán về tánh Không. Thỉnh thoảng có thể mở tâm từ ái để hồi hướng tất cả, thân mình, sở hữu, cùng ba thời công đức của mình về con người khác, đặc biệt là cho những người ghét quý vị. Nhưng chủ yếu vẫn nên dành thời gian để quán sự nhận về.
17/04/2024(Xem: 4937)
Cư sĩ Huyền Thanh, thế danh là Nguyễn Vũ Tài, sinh ngày 01/04/1958 tại Thị xã Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng. Thân phụ tên là Nguyễn Vũ Nhan, nguyên quán tại làng Xối Đông, tổng Thần Lộ, huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định. Thân mẫu tên là Vũ Thị Ni, nguyên quán tại làng Lịch Diệp, tỉnh Nam Định. Thuở nhỏ Nguyễn Vũ Tài đã Quy Y với Hòa Thượng Thích Thanh Chiên, Trụ trì chùa Hải Vân ở khu Ấp Chợ, xã Tân Sơn Hòa, tỉnh Gia Định và được Thầy ban cho Pháp Danh là Huyền Thanh. Năm 1978, tốt nghiệp Cao Đẳng Sư Phạm khoa Toán Lý và đi dạy môn Toán cấp II từ năm 1979 cho đến năm 2003 thì chuyển qua làm công tác Giám Thị ở các trường Trung học Cơ sở Ngô Quyền quận Tân Bình, trường Trung học Cơ Sở Hoàng Hoa Thám quận Tân Bình, và trường Trung học Cơ Sở Nguyễn Gia Thiều quận Tân Bình cho đến khi chấm dứt công tác vào năm 2010.
25/03/2022(Xem: 10140)
Đừng quên vị bổn sư; Hãy cầu nguyện với người trong mọi lúc. Đừng tán tâm; Hãy nhìn vào tinh túy của tâm. Đừng quên cái chết; Hãy để nó thúc giục con tu tập Pháp. Đừng quên chúng sanh; Với lòng bi mẫn, hãy hồi hướng công đức cho chúng sanh, và cầu nguyện với lòng khát vọng.
02/12/2021(Xem: 29320)
Nam Mô A Di Đà Phật. Kính bạch Chư Tôn Thiền Đức, Kính thưa quý đồng hương Phật tử thân mến, Kể từ ngày 12/04/2020, nước Úc của chúng ta cũng như các nước khác trên toàn thế giới đã bắt đầu bị đại dịch Covid hoành hành và lây lan một cách nhanh chóng. Hai năm qua toàn thế giới đã phải chịu ảnh hưởng về mặt kinh tế, chính trị, xã hội, thương trường. Ngay cả đời sống tinh thần của mọi người dân cũng bị ảnh hưởng không ít, nhất là đối với những gia đình đã phải nhìn thấy người thân ra đi trong sự cô đơn lạnh lẽo, không người đưa tiễn. Biết bao hoàn cảnh đau thương... Tính đến hôm nay nước Úc của chúng ta đã được ổn định phần nào, trên 80% người dân đã được tiêm ngừa theo quy định của chính phủ, cũng như việc không còn phải lockdown, người dân được đi lại tự do giữa các tiểu bang cũng như được hội họp, sinh hoạt hội đoàn và tôn giáo. Trong đại dịch, 2 năm qua nước Úc số người bị nhiễm Covid lên đến 113,411 người và số người không may mắn đã ra đi vĩnh viễn là 1,346 người.
03/09/2021(Xem: 53142)
(Thắp đèn đốt hương trầm xong, đứng ngay ngắn chắp tay để ngang ngực mật niệm) 1. TỊNH PHÁP GIỚI CHƠN NGÔN: Án, lam xóa ha. (3 lần) 2. TỊNH KHẨU NGHIỆP CHƠN NGÔN: Tu rị, Tu rị, Ma ha tu rị, Tu tu rị, Ta bà ha. (3 lần) 3. TỊNH TAM NGHIỆP CHƠN NGÔN Án, Ta phạ bà phạ thuật đà ta phạ, đạt ma ta phạ, bà phạ thuật độ hám. (3 lần) 4. PHỔ CÚNG DƯỜNG CHƠN NGÔN: Án, Nga nga nẵng tam bà, phạ phiệt nhựt ra hồng (3 lần) 5. AN THỔ ĐỊA CHƠN NGÔN: Nam mô tam mãn đa một đà nẫm, Án, độ rô độ rô, địa vỷ ta bà ha (3 lần) Hộ pháp, Vĩ Đà thị chứng minh Thân trụ Phật tiền Tâm Tư nguyện Tưởng bằng bí chú đắc oan linh Hà chơn bất thức trì niệm Luật Thiên kinh vạn quyển vô nhất tự Nẳng mô tô tất đế, đa rị, đa rị, mạn đà, mạn đà, ta bà ha (3 lần)
01/11/2020(Xem: 26754)
1/Đệ nhất đại nguyện: quốc vô ác đạo. Đại nguyện thứ nhất: Cõi Cực-lạc không có các đường ác. Nhất tâm đảnh lễ Nam Mô Đại từ đại bi A Di Đà Phật. (1 lạy) 2/Đệ nhị đại nguyện: bất đọa ác đạo. Đại nguyện thứ hai: Chúng sinh ở cõi Cực-lạc không đọa vào các đường ác. Nhất tâm đảnh lễ Nam Mô Đại từ đại bi A Di Đà Phật. (1 lạy 3/ Đệ tam đại nguyện: thân chơn kim sắc. Đại nguyện thứ ba: Thân của chúng sinh ở cõi Cực-lạc đều có sắc vàng. Nhất tâm đảnh lễ Nam Mô Đại từ đại bi A Di Đà Phật. (1 lạy 4/ Đệ tứ đại nguyện: hình sắc tương đồng. Đại nguyện thứ tư: Hình sắc của chúng sinh ở cõi Cực-lạc đều bình đẳng, không đẹp xấu khác nhau. Nhất tâm đảnh lễ Nam Mô Đại từ đại bi A Di Đà Phật. (1 lạy 5/Đệ ngũ đại nguyện: túc mạng trí thông. Đại nguyện thứ năm: Chúng sinh ở cõi Cực-lạc đều có túc mạng thông, biết rõ các kiếp quá khứ. Nhất tâm đảnh lễ Nam Mô Đại từ đại bi A Di Đà Phật. (1 lạy)
04/03/2020(Xem: 49076)
Lễ Dâng Y Kathina & Cúng Dường Phẩm Vật chư Tăng tại Bồ Đề Đạo Tràng India, Nhân Lễ tưởng niệm ngày đức Phật (thái tử Siddartha Gautam) xuất gia, được sự trợ duyên của chư Phật tử và quí thiện hữu hảo tâm, chúng tôi đã thực hiện một buổi Dâng Y Kathina và cúng dường phẩm vật đến chư Tăng thuộc 3 truyền thống Mật tông Kim cương thừa (金剛乘, vajrayāna), truyền thống chư Tăng Nguyên Thủy các nước Theravada và chư Tăng Ni truyền thống Đại Thừa (Mahayana) tại Bồ Đề Đạo Tràng.
26/11/2019(Xem: 13026)
Giáo dục, phạm vi rộng, có nghĩa truyền thừa kinh nghiệm, hiểu biết, kiến thức chuyên môn, kiến thức tổng quát… Mỗi chuyên ngành có những đặc tính cần truyền thụ cho lớp kế thừa, đó là giáo dục chuyên môn. Trong nhà Phật, việc giáo dục chú hướng vào nhận thức bản thể, hiểu biết về thân tâm, nắm rõ luật nhân quả, cải tạo nhân cách và làm chủ cảm xúc,làm chủ tâm hành, có nghĩa hành giả cần làm chủ sanh tử trong cõi tử sanh.