17. Quán niệm hơi thở

02/02/201111:04(Xem: 15402)
17. Quán niệm hơi thở

GIỚI THIỆUĐẠO PHẬT
BìnhAnson
NhàXuất Bản Tôn Giáo, TL. 2005 - PL. 2549

Quánniệm hơi thở

Thiềnsư U Acinna

Cácbạncó thể bắt đầu pháp quán niệm hơi thở (anapanasati)bằng cách định tâm vào hơi thở vào, hơi thở ratại lỗ mũi hay ở môi trên. Có người hỏi là ta nên địnhtâm vào hơi thở hay sự chạm xúc của hơi thở? Câu trảlời là chỉ nên định tâm vào hơi thở. Hơi thở chạmxúc vào lỗ mũi hay môi trên là nơi dễ theo dõi nhất. Sựchạm xúc là một đề tài thiền quán khác biệt, thuộc vềpháp môn quán danh (quán danh-sắc). Đó là pháp quán Xúc giớivà các tâm sở có liên quan. Ở đây, chúng ta chỉ quán niệmvào hơi thở, hơi thở có chạm xúc, mà không quán vào sựchạm xúc. Quán niệm hơi thở nầy cần có một chánh niệmvững mạnh và tuệ giác tri.

Bâygiờ ta đem tâm vào hơi thở, hơi thở vào và hơi thở ra.Nếu thiền sinh không thể chú tâm vào hơi thở sau một vàibuổi thiền, thì có thể tập đếm hơi thở. Việc nầyđể giúp họ phát triển định lực. Thiền sinh đếm sốsau mỗi hơi thở, như sau:"thở vào ... thở ra ... một","thở vào ... thở ra ... hai", "thở vào ... thở ra ... ba", ...cho đến "thở vào ... thở ra ... tám". Có thể đếm từnăm đến mười, rồi trở lại số một. Tuy nhiên, thiềnsinh nên đếm đến số tám rồi trở lại từ đầu. Số támlà để nhắc nhở chúng ta về Con Đường Tám Chánh (Bát ChánhĐạo) mà chúng ta đang cố gắng hành trì để giác ngộ. Cácbạn cần phải cương quyết không để phóng tâm, tâm langthang chỗ nầy chỗ kia, trong khi đếm hơi thở. Chỉ chú tâmtheo dõi hơi thở và đếm số, từ 1 đến 8 rồi trở lại1 ... Qua việc chỉ chú tâm vào đếm hơi thở như thế, tâmsẽ trở nên an định hơn. Thông thường thì cần phải thựchành như thế trong một giờ để tâm được an định và vữngchắc.

Khitâm an định, bạn có thể bỏ lối đếm hơi thở và chuyểnsang giai đoạn kế. Nếu bạn thở vào một hơi dài,bạn biết đó là một hơi dài. Nếu bạn thở ra một hơidài, bạn biết đó là một hơi dài. Tương tự, nếu bạnthở vào một hơi ngắn, bạn biết đó là một hơi ngắn.Nếu bạn thở ra một hơi ngắn, bạn biết đó là một hơingắn. Ở đây, dài hay ngắn là gì ? Đó là khoảng thời gian.Nếu cần một thời gian dài để thở thì đó là hơi thởdài. Nếu cần một thời gian ngắn để thở thì đó là hơithở ngắn. Tuy nhiên, phải thở bình thường mà không cốgắng ép hơi thở. Không nên đặt tên nó là "dài" hay "ngắn".Nếu cần phải đặt tên thầm trong tâm, thì đặt tên nólà "thở vào, thở ra" mà thôi. Chỉ cần biết nó là hơi dàihay ngắn, nhưng lúc nào cũng phải chú tâm vào luồng hơi đangchạm xúc vào lỗ mũi hay môi trên. Không nên đem tâm đi theoluồng hơi vào trong thân thể hay chạy ra ngoài thân thể. Nếuthiền sinh để tâm theo dõi luồng vào trong thân hay ra ngoàithân thì sẽ không thể làm hoàn hảo sự định tâm. Cầnphải chú tâm ghi nhận hơi thở đang chạm xúc lỗ mũi haymôi trên trong một, hai, hoặc ba giờ.

Đếnđây, định tướng(nimitta)sẽ phát sinh. Nếuđịnh tướng không phát sinh thì bạn có thể chuyển sang hànhtrì như sau: thiền sinh để tâm ghi nhận toàn luồng hơiliên tục từ đầu đến cuối. Bạn không nên đặt tênlà: "chặng đầu, chặng giữa, chặng cuối". Nếu cần phảiđặt tên thầm trong tâm, thì đặt tên nó là "thở vào, thởra" mà thôi. Trong lúc đó, nhận biết toàn luồng hơi từ đầuđến cuối, đang chạm xúc tại một nơi cố định (lỗ mũihay môi trên), và tuyệt đối không theo dõi nó vào bên trongthân thể hay ra bên ngoài. Nếu thiền sinh hành trì như thếtrong một hay hai giờ thì định tướng có thể sẽ phát sinh.

Bâygiờ, cho dù định tướng có hiện ra hay không, thiền sinhtiếp tục sang giai đoạn kế. Trong giai đoạn nầy, bạn tạomột ước nguyện trong tâm: "Nguyện cho hơi thở của tôiđược nhu nhuyễn". Từ từ, hơi thở sẽ tự nó trở nêndịu dàng, nhẹ nhàng, nhu nhuyễn. Bạn không nên cố tình éphơi thở để nó nhẹ nhàng. Bởi vì nếu làm như thế thìchẳng bao lâu, bạn sẽ bị hụt hơi và tạo mệt nhọc. Khihơi thở tự nó trở nên nhẹ nhàng và tâm an định theo nó,qua thiền lực, hầu hết các thiền sinh sẽ cảm thấy lânglâng, như thể là họ không có đầu, không có mũi, không cóthân nữa, mà cảm thấy chỉ có hơi thở vào ra nhẹ nhàngvà một cái tâm đang theo dõi nó. Lúc nầy, bạn cảm thấylà không có "tôi", mà cũng không có "nó". Bây giờ, chỉ còncó một tâm đang gắn chặt vào hơi thở. Nếu tâm đượcan định và chăm chú vào đó trong một giờ, thì trong thờigian nầy, tâm không còn liên hệ đến các chuyện thế tụcnữa. Tâm đang ở trong trạng thái thiện(kusala),và trạng thái thiện nầy rất gần đến trạng thái cậnđịnh(upacara samadhi).

Đếnđây, tùy theo giới hạnh của từng cá nhân, định tướngsẽ hiện ra. Mỗi cá nhân khác nhau sẽ có những định tướngkhác nhau. Dù đang nhắm mắt, theo dõi hơi thở, dần dần thiềnsinh sẽ thấy định tướng hiện ra, có khi như là một lànchỉ trắng, một luồng ánh sáng trắng, một ngôi sao, mộtcụm mây hoặc một nhúm bông gòn. Nó có thể rất to, trùmcả khuôn mặt, hoặc như mặt trăng, mặt trời, hoặc mộtviên ngọc thạch, một viên ngọc trai. Nó hiện ra trong cáchình sắc khác nhau là vì nó do tưởng uẩn(saññā)tạo ra.

Lúcban đầu, định tướng có thể giống như có màu khói xám.Dần dần, nếu giữ tâm được an định vào hơi thở, hơithở và màu khói xám trở thành đồng nhất với nhau, khôngkhác biệt. Sau đó, nếu tâm được an nhẹ và chỉ chú mụcvào hơi thở, màu sắc đó trở thành trắng đục. Mặc dùlà màu trắng, nhưng nếu bạn chỉ chú mục vào hơi thở,hơi thở sẽ trở thành định tướng và định tướng chínhlà hơi thở. Nếu hơi thở và định tướng là một, khôngkhác biệt, khi bạn chú mục vào hơi thở thì bạn cũng chúmục vào định tướng, và khi bạn chú mục vào định tướngthì bạn cũng chú mục vào hơi thở. Và như thế, bạn hànhthiền tốt và nghiêm túc.

Nếuđịnh tướng trở nên vững bền và nếu bạn chỉ chú tâmvào định tướng của hơi thở (anapana nimitta), mà khôngchú tâm vào hơi thở nữa, tâm bạn trở nên tập trung vàođịnh tướng lúc đó. Trong giai đoạn nầy, điều quan trọnglà thiền sinh không nên tìm cách chuyển hóa định tướng.Bạn không nên tìm cách đẩy nó đi xa, hoặc làm cho nó thayđổi hình dạng. Nếu làm như thế, định lực của bạn sẽkhông phát triển, và định tướng có thể sẽ biến mất.

Tuynhiên, nếu định tướng hiện ra quá xa đối với lỗ mũithì thiền sinh chưa có đủ lực để chuyển sang mức thiềnđịnh hơi thở (anapana jhana samadhi). Tại sao? Bởi vìđây là một nguyên tắc quan trọng trong việc quán niệm hơithở. Bản luận giải có đề cập rằng việc luyện tâm thiềnđịnh niệm hơi thở (anapanasati samadhi bhavana) chỉ hoàntất khi nào tâm quán niệm được giữ tại nơi mà hơi thởchạm xúc với cơ thể. Khi thiền sinh chú định vào bên ngoài,xa lìa nơi chạm xúc, thì rất khó mà đạt vào tầng thiềnđịnh. Do đó, khi định tướng còn ở xa, thì thiền sinh khôngnên chú tâm vào nó, mà phải chú tâm vào hơi thở tại mộtnơi cố định. Từ từ, định tướng sẽ đến gần và hòanhập vào hơi thở.

Khiđịnh tướng có màu khói xám thì đó là sơ tướng (parikammanimitta) trong trạng thái sơ định (parikamma samadhi).Nếu nó trở thành màu trắng như một nhúm bông gòn, đó làhọc tướng (uggaha nimitta). Đây là một trạng thái địnhkhá cao. Nếu màu trắng nầy được vững bền, thiền sinhphải an định tâm và chú mục vào đó. Trong giai đoạn nầy,bạn không nên chú ý đến màu sắc của nó, mà chỉ chú tâmvào đó như là một loại định tướng mà thôi.

Thídụ như một ly nước và có một hạt ngọc trai trong đó.Ta chỉ nhìn hạt trai, như thể đem tâm vào định tướng.Không nên điều tra, trạch vấn về Khổ, Vô thường, Vô ngã.Không cần biết nó nóng hay lạnh, cứng hay mềm, mà cũng khôngcần phân tích màu sắc của nó. Chỉ cần giữ tâm an địnhvà chú mục vào định tướng. Làm như thế, dần dần địnhtướng sẽ chuyển từ màu trắng đục sang một màu chói sáng.Đây là tợ tướng (patibhaga nimitta). Nếu tâm vẫn giữan định và chỉ chú mục vào định tướng khoảng 1 đến2 giờ, hầu hết các thiền sinh đều có thể nhận rõ 5 thiềnchi (jhananga) rất dễ dàng nếu họ phân tích chúng lúcđó. Năm thiền chi đó là:

-Tầm (vitakka): đem tâm hướng về định tướng,
-Tứ (vicara): bám sát vào định tướng,
-Hỷ (pity): ưa thích định tướng,
-Lạc (sukha): cảm giác an lạc, sung sướng khi tiếp xúcvới định tướng,
-Nhất tâm (ekaggata): tập trung tâm về một điểm (đólà định tướng)
Cũngcần biết thêm ở đây là có khi thiền sinh không thể nhậnrõ được năm thiền chi trên, là vì lúc đó, thiền sinh vẫncòn bị các triền cái (nivarana)ngăn che. Đó là: Thamdục (kamachanda); Sân hận (vyapada); Hôn trầm (thiramiddha);Trạocử (udhaccakukucca); và Hoài nghi (vicikiccha).

Thiềnsinhphải duyệt xét từng triền cái một, để xem chúng cònvương vấn trong tâm trong lúc hành thiền hay không. Chúng cầnphải được loại bỏ thì việc đắc thiền mới thành tựu.

Khinăm thiền chi đều cùng hiện diện đầy đủ, thiền sinhsẽ thấy ngay là mình đang vào tầng thiền thứ nhất, vớitợ tướng là đề mục trong tâm, có tầm, tứ, hỷ, lạc,nhất tâm. Tiếp tục hành trì trong Nhất Thiền như thế khoảng1 đến 2 giờ, rồi xuất thiền và duyệt lại năm thiền chicho tường tận.

Trongcác buổi thiền kế tiếp, thiền sinh tiếp tục ôn tập, vàhành trì thuần thục trong tầng thiền thứ nhất. Có năm loạithuần thục:

-Thuần thục tác ý: phải thuần thục tác ý các thiền chikhi xuất thiền;
-Thuần thục nhập định: phải thuần thục nhập thiền bấtcứ lúc nào mà mình muốn;
-Thuần thục quyết tâm: phải thuần thục giữ mức thiềntrong suốt thời gian mà mình đã định trước;
-Thuần thục xuất định: phải thuần thục xuất ra khỏi tầngthiền mỗi khi mình muốn;
-Thuần thục quán sát: phải thuần thục quán sát các thiềnchi.
Thiềnsinh nên nhận thức rằng tầng thiền thứ nhất rất gầnvới năm triền cái - tham dục, sân hận, hôn trầm, trạo cữ,và nghi ngờ. Thiền sinh cũng nên nhận thức rằng các thiềnchi Tầm và Tứ trong tầng thiền thứ nhất làm cho tầng thiềnnầy không an định bằng tầng thiền thứ nhì. Vì thế, từước muốn rời bỏ hai thiền chi nầy và chỉ còn giữ thiềnchi Hỷ, Lạc, Nhất Tâm, thiền sinh tiếp tục đem tâm vàotợ tướng. Làm như thế, thiền sinh sẽ có thể đạt vàotầng thiền thứ nhì, vốn chỉ còn ba thiền chi: Hỷ, Lạc,và Nhất Tâm. Sau khi vào được Nhị Thiền, thiền sinh hànhtrì năm loại thuần thục tương tự như trên.

Sauđó,thiền sinh nhận thức rằng Hỷ cũng không đem lại anđịnh, nên có ước muốn bỏ Hỷ, chỉ còn giữ lại Lạcvà Nhất Tâm, thiền sinh tiếp tục đem tâm vào tợ tướng.Làm như thế, thiền sinh sẽ có thể đạt vào tầng thiềnthứ ba, vốn chỉ còn hai thiền chi: Lạc, và Nhất Tâm. Saukhi vào được Tam Thiền, thiền sinh hành trì năm loại thuầnthục tương tự như trên.

Kếtiếp, thiện sinh nhận thức rằng nếu cứ duy trì Lạc thìlại là một hình thức tham thủ vào cảm giác vui sướng.Cho nên, với ý định bỏ Lạc, thiền sinh tiếp tục đem tâmvào tợ tướng. Làm như thế, thiền sinh sẽ có thể đạtvào tầng thiền thứ tư. Lúc đó, hai thiền chi mới sẽ sinhra: Xả và Niệm, thay thế Nhất Tâm. Lúc bấy giờ, thiềnsinh ở trong trạng thái "xả niệm thanh tịnh", không còn câuchấp vào các cảm giác, và hơi thở trở nên nhẹ nhàng, hầunhư tan biến. Tợ tướng trở nên rõ ràng, tròn sáng, quenthuộc, gần gũi, không xa lạ, và thiền sinh chú mục vào đómột cách nhẹ nhàng, bình thản. Sau khi vào được Tứ Thiền,thiền sinh hành trì năm loại thuần thục tương tự như trên.

Thiềnsinh nên tham khảo bộ Thanh Tịnh Ðạo (Visuddhi Magga)của Ngài Phật Âm(Buddhaghosa), nhất là phần Niệm HơiThở. Sau cùng, thiền sinh cũng cần nên biết rằng công phuhành thiền để đắc bốn tầng thiền như trên chỉ là mộtgiai đoạn sơ khởi, tạo định lực bền vững, dùng đó đểlàm cơ sở phát triển tuệ minh sát và tiến đến giải thoát.Trong tiến trình tu học, thiền sinh không nên dừng ở đó,mà cần phải tiếp tục nỗ lực hành trì các giai đoạn kếtiếp, như quán từ bi, quán niệm ân đức Phật, quán tứđại, quán các sắc pháp, quán thân thể (32 bộ phận), quáncác danh pháp, quán lý duyên sinh và các giai đoạn thanh lọctâm.

BìnhAnson trích dịch,
tháng12-1997
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
02/04/2026(Xem: 264)
Trong suốt tiến trình phát triển lịch sử của Phật giáo, hai truyền thống thiền định lớn đã hình thành với những phương pháp tu tập đặc thù: Thiền Như Lai (Tathāgata Meditation), hay còn gọi là thiền minh sát (Vipassanā) trong hệ thống Theravāda, và pháp môn Đốn Ngộ trong Thiền tông Đại thừa. Một bên nhấn mạnh tiến trình quán sát tuần tự, trong khi bên kia đề cao sự trực nhận bản tâm. Tuy nhiên, khi quán chiếu sâu sắc, hai phương pháp này không hề mâu thuẫn, mà chính là hai phương diện bổ sung cho nhau trên con đường giải thoát. Quan điểm của người viết là ủng hộ và vận dụng song song cả hai phương pháp này, kết hợp chánh niệm từng bước với sự giác ngộ trực tiếp, từ đó dẫn dắt hành giả đến sự chuyển hóa toàn diện về thân, tâm và trí tuệ.
26/03/2026(Xem: 518)
Vô ngã là học thuyết chủ yếu trong đạo Phật, được nhắc tới là một trong ba pháp ấn. Hai pháp ấn kia là Vô thường và Khổ. Vô thường gốc từ tiếng Pali là “anicca”, có nghĩa là không trường tồn vĩnh cửu. Đặc tính của Vô thường là biến đổi không ngừng của vạn pháp, trong đó có con người. Vạn pháp luôn thay đổi biến dịch là vì những pháp đó có mặt do duyên sinh, tức do nhiều điều kiện tụ họp mà thành, chứ không tự chủ độc lập. Khi duyên tan rã thì pháp cũng theo đó mà tan biến theo. Pháp ấn thứ hai là Khổ. Khổ tiếng Pali là “dukkha” có nghĩa là sự bất toại nguyện, sự không hoàn hảo, sự phiền muộn, ưu sầu... khi gặp điều không như ý.
31/01/2026(Xem: 8145)
Bão tuyết mùa đông tràn qua hơn 40 tiểu bang, băng giá khắp nơi, nhiệt độ sâu dưới không độ… Ấy vậy mà các nhà sư đi bộ vì hòa bình vẫn giữ vững lộ trình tiến về phía trước. Những bước chân hòa bình đang dấn thân sâu vào giữa lòng nước Mỹ. Một nước Mỹ xưa nay nặng về chủ nghĩa vật chất. Một nước Mỹ hôm nay đang bị khủng hoảng về đạo đức, niềm tin, công lý. Một nước Mỹ đang kỳ thị, độc đoán và chia rẽ nghiêm trọng. Các nhà sư đi bộ vì hòa bình gởi đến mọi người trên đất Mỹ thông điệp từ bi, cảm thông, bao dung, hòa bình. Những bước chân hòa bình hiện thực hóa thông điệp của Đức Phật từ 26 thế kỷ trước. Những bước chân hòa bình chính là thân giáo, noi theo con đường Đức Phật đã khai phá và đã đi trong quá khứ.
20/12/2025(Xem: 1748)
Tại Chánh Điện Tu Viện Đại Bi, Thành Phố Westminster, Hội Đuốc Tuệ đã tổ chức buổi hướng dẫn về đề tài: "Giáo Dục Trong Gia Đình và Giao Tiếp - Ứng Xử Chánh Niệm” do Tiến Sĩ Bạch Xuân Phẻ hướng dẫn. Một buổi chiều Chủ Nhật an lành, Tu Viện Đại Bi đón chào rất đông hành giả, phụ huynh, anh chị em Gia Đình Phật Tử, và những người quan tâm đến nghệ thuật giáo dục chánh niệm trong gia đình. Bầu không khí trang nghiêm nhưng gần gũi mở ra ngay từ khoảnh khắc bước vào chánh điện: ba pho tượng Phật vàng tỏa sáng, hoa sen hồng tươi thắm, và nụ cười hiền hòa của đại chúng khiến tâm người dự tự nhiên được lắng dịu. Tất cả tạo nên một nhân duyên tu
16/12/2025(Xem: 2198)
Có rất nhiều chữ rất khó để hiểu cho tận tường trên đời này. Và khi gặp chữ khó hiểu, tất nhiên là chuyện dịch từ Anh sang Việt, hay từ Việt sang Anh sẽ rất khó chính xác. Bởi vì, khi những chữ có nhiều nghĩa được chọn dịch theo một nghĩa, hẳn là các nghĩa khác sẽ bị thiếu sót. Trong đó, có chữ “tâm” tưởng là dễ dịch, nhưng hóa ra lại là chữ gây ra vô cùng gian nan. Thêm nữa, tại sao các Thiền sư ưa nói “ba cõi là tâm,” hay nơi khác lại nói, “vạn pháp duy tâm.” Chữ đã khó, mà nghĩa lại càng khó vô cùng tận.
01/11/2025(Xem: 4617)
Thầy đã truyền lửa , nguyện xin giữ lửa Vẫn nguyên sơ, chỉ thẳng Bồ đề tâm nơi thế gian Với Bi, Trí, Dũng có thể biến nguy thành an Một tiếng gọi từ bên trong, ( Phật Tánh) tuy rất nhỏ Tựa dòng chảy minh triết, rót từng khoảnh khắc đó (Huệ Hương)
30/06/2025(Xem: 6828)
Chúng ta ở đây để chia sẻ suy nghĩ của mình về những gì Phật giáo có thể mang lại trong thời đại Trí tuệ nhân tạo. Nhưng để làm được điều đó, chúng ta cần thiết lập một ngôn ngữ chung, một cách để giao tiếp giữa thế giới khoa học và Phật giáo — nếu điều đó có thể. Nếu chúng ta không thể thống nhất về các định nghĩa cơ bản, thì chúng ta sẽ chỉ nói chuyện qua loa với nhau tại hội nghị này — dự định, ý nghĩa và hiểu những điều khác nhau, chứ đừng nói đến việc trả lời các loại câu hỏi sâu sắc và tìm tòi mà hội nghị này đã đặt ra. Tôi sẽ chỉ lấy ba ví dụ cơ bản:
29/06/2025(Xem: 4396)
Những bài kinh Phật không có bài nào là không hay. Có miệt mài trên những trang kinh xưa mới cảm được sự vang động của suối nguồn trí tuệ. Lời kinh là những tiếng sấm rền vang chấn động tâm thức chúng sanh đang chới với giữa những làn sóng ưu phiền trong biển sanh tử. Kinh nghiệm giác ngộ của bậc toàn giác được trao truyền ròng rã trong suốt 45 năm để lại một kho tàng tư tưởng giải thoát, một sự trưởng thành tột cùng của trí thông minh và cảm thức con người. Mỗi lần đọc kinh là mỗi lần cảm nhận được sức mạnh của phước báu đã cho tâm thức bay lượn một khoảng không gian khá rộng trong bầu trời siêu thoát mênh mông.
22/06/2024(Xem: 7258)
Soi sáng thực tại thực ra là tên chúng tôi đặt cho những bài ghi chép tóm tắt các buổi đàm đạo hay tham vấn thiền với Hòa thượng Viên Minh trong giờ uống trà buổi sáng tại khách đường Chùa Bửu Long. Những buổi đàm đạo này đã có từ lâu nhưng chỉ giới hạn trong nội bộ chùa. Về sau một Phật tử đến tham dự buổi trà đàm thấy hay nên muốn được nghe thường xuyên đã sắm cho chùa thiết bị để có thể nghe từ xa qua Skype. Từ đó số người đến trực tiếp nghe thầy nói chuyện hoặc nghe từ xa ngày càng đông nên đã mở thêm qua YouTube theo nhu cầu của Phật tử muốn tham dự.
31/10/2023(Xem: 7951)
Phật Tánh? Xin nói rằng, tôi không biết. Tôi không thể trả lời câu hỏi có Phật Tánh hay không, và nếu có, thì là như thế nào. Bài viết này không nhằm trả lời những câu hỏi tương tự, mà chỉ là một khảo sát từ cương vị một người học Phật, chưa học tới đâu và cũng chưa tu tới đâu. Bài viết này là một lời thú nhận, rằng không biết chắc có bao nhiêu phần đúng, nhưng hy vọng sẽ phần nào giúp được một số độc giả để dùng làm viên gạch dò đường qua sông. Xin mời độc giả khảo sát, nghi vấn từng câu, từng chữ trong bài này, và rồi nên dựa vào Kinh Phật để đối chiếu.