07. Nhân cách thăng bằng

02/02/201111:04(Xem: 14835)
07. Nhân cách thăng bằng

GIỚI THIỆUĐẠO PHẬT
BìnhAnson
NhàXuất Bản Tôn Giáo, TL. 2005 - PL. 2549

Nhâncách thăng bằng

RobertBogoda

PhậtPhápkhông phải là sách tiểu thuyết để đọc rồi quênđi. Phật Pháp có liên quan đến đời sống - một đời sốngthực, một đời sống mà bạn và tôi trải qua hằng ngày.Giá trị của đời sống nầy sẽ gia tăng đáng kể khi PhậtPháp được diễn dịch ra hành động, và thấm nhập vào tánhtình của chúng ta qua các nỗ lực thường xuyên, qua các thựctập mỗi ngày.

Mụcđích tối hậu của Phật Pháp là Niết Bàn - vượt thoátkhỏi mọi hoạn khổ, phiền não. Mục đích trước mắt làgiúp ta hiểu rõ và giải quyết các vấn đề trực diện vớita trong đời sống hằng ngày, giúp ta trở thành những conngười sống an lạc, thảnh thơi và thăng bằng, sống hòahợp với môi trường chung quanh và những người đồng loại.Tuy thế, sự thăng bằng nầy cũng không dễ thực hiện, nhấtlà trong thế giới ngày nay với nhiều giá trị ảo tưởngvà các thành kiến hư ngụy.

Kháchẳn với các giá trị tương đối - và có khi là giả tạo- trong thời đại của chúng ta, lời dạy của Ðức Phậtlà một sự khải hiện các giá trị chân thật và tuyệt đối.Chân Pháp đó cần phải được mỗi người tự thể nghiệm.Phật giáo dạy về sự tư duy rõ ràng, sự tự chế, và nuôidưỡng tâm ý như là các phương tiện để thấu đạt ChânPháp. Người cư sĩ nào biết xây dựng cuộc sống hằng ngàytrên căn bản vững chắc của tri thức giải thoát với cáclý tưởng rõ ràng thì người ấy được bảo đảm các tiếnbộ và thành công trong đời sống tại gia của mình.

Dođó, Phật Pháp là các hướng dẫn trong đời sống hằng ngàycủa ta, và các nguyên tắc căn bản của đạo Phật có nhữnggiá trị thực tiễn trong nghệ thuật sống trên đời. Ngườicư sĩ tại gia, trong khi phải dấn thân vào xã hội vì cưumang các trách nhiệm trong đời sống, sẽ không bao giờ quênmục đích tối hậu của họ là Niết Bàn giải thoát. Ngườiấy lúc nào cũng nên xem rằng đời sống của mình chỉ làmột bãi tập, để sửa soạn tiến đến thực chứng mụcđích tối hậu ấy.

KinhÐại Hạnh Phúc (Maha-Mangala Sutta)có nói rằng, các phướchạnh thật sự của đời sống là có được "một tâmý có định hướng đúng" (atta-samma-panidhi). Có nghĩa làta phải nhận thức đúng đắn vị trí của mình trong thếgian, có quyết định đúng đắn về mục tiêu, và tìm mộtcon đường đúng đắn để tiến đến mục tiêu đó.

Ngườian lạc và thăng bằng là người có một mục đích cao thượngtrong đời sống, có một đường lối tốt để đi theo, vàcó một triết lý sống giản đơn nhưng đầy ý nghĩa đểdẫn đường. "Triết lý" ở đây là một ước vọng hướngthiện để thông hiểu bản tánh và tương lai của con ngườitrong vũ trụ. Không có triết lý như vậy thì đời sống trởnên tẻ nhạt, buồn chán, vô ích, và vô nghĩa. Triết lý đógiúp con người sống hài hòa với thế giới và đồng loạitrong một tiến trình thăng hoa dựa theo các tri thức chân chánh.

Trongđạo Phật, tâm ý bao trùm vật chất. Một nét đặc thù củatâm ý là "ý định" (hay "tác ý"). Ðể sử dụng tốt cuộcđời và nghiệp kế thừa của mình, ta phải biết chọn mộtmục tiêu hướng thượng và thực tiễn trong đời sống, vàtạo ra một kế hoạch để đi đến đó. Chúng ta sẽ trởnên những gì mà ta mong muốn được như vậy.

Khita càng thông hiểu bản thân - qua hành trì tự quán sát vàtự phân tích - ta sẽ càng có nhiều khả năng để tự cảitiến và phát triển. Thêm vào đó, ta nên tự hỏi rằng mìnhsẽ tiến và tiến đến cấp độ nào trong việc tu tâm đểmình trở nên độ lượng, an bình, tự tại, dịu dàng, thôngcảm, chân thật, hiền lành, chất phác, cẩn thận, tinh tấn,cần mẫn, nhẫn nại, bao dung, và khôn khéo. Ðó là các đứctính cao quý của một Phật tử biết sống hợp thời. Ta phảicố gắng tự cải thiện mỗi khi có cơ hội - mỗi ngày mộtchút. Ta nên hiểu rằng mỗi khi mình thực hiện một hànhđộng hướng thiện, dần dần nó được huân tập thành mộtthói quen tốt. Từ các thói quen tốt đó, chúng sẽ thấm nhậptạo thành các đặc tính cao thượng cho bản thân.

Chánhniệm (Sati)là một sự tỉnh giác quan trọng. Chánh niệmlà cách nhìn sự vật một cách khách quan, lột bỏ mọi ưaghét, thành kiến và thiên vị. Ðây là cách nhìn mọi sựvật theo bản thể chân thật của chúng - các sự kiện lộttrần. Khả năng làm được điều nầy đánh dấu sự trưởngthành trong Phật Pháp. Nguyên tắc quán sát vô tư phải đượcáp dụng rốt ráo trong các tư duy hằng ngày. Từ đó, sựsuy tư của ta sẽ được rõ ràng, trong sáng hơn và ta sẽsống hướng thiện hơn, làm giảm thiểu các ảnh hưởng xấuxa tác động vào mình, từ các phương tiện truyền thông quảngcáo tiêu thụ vật chất, và kết quả là ta có được cáctăng trưởng về những quan hệ tốt giữa con người vớicon người.

Vìvậy, một Phật tử có nhân cách thăng bằng là người phảibiết tự chủ, tự quyết định, tự tạo ra các ý kiến vàkết luận khi phải đối phó với các khó khăn trong cuộcsống, dựa vào các nguyên tắc cơ bản của Phật Pháp. Ngườiấy có một tri thức và luân lý dũng mãnh. Người ấy sẵnsàng đứng một mình, theo đuổi một con đường sống củamình, cho dù người khác có thể hiểu lầm và dị nghị.

Dĩnhiên là người Phật tử ấy phải biết đón nhận các ýkiến đóng góp và cố vấn của người khác - bởi vì việcthu nhận các ý kiến xây dựng từ những người có kiếnthức và kinh nghiệm thì không phương hại gì đến sự tựdo chọn lựa của mình - nhưng cuối cùng rồi thì phải tựmình có những quyết định cho đời mình.

Thấyđược quan hệ giữa lòng tham dục và sự khổ đau, chúngta phải luôn luôn gìn giữ một mức độ xả ly, thoát khỏicác ràng buộc quá đáng của thế tục. Chúng ta phải biếtđiều chỉnh đời sống của mình trong kỷ cương của nămgiới luật cư sĩ (ngũ giới). Từ đó, ta bảo vệ đượcsự an lành của ta, trong hiện tại và tương lai, qua cách sốngthuận hòa với các quy luật phổ quát của Phật Pháp đượcáp dụng vào đời sống tinh thần và đạo đức của mình.Phát triển đặc tính luân lý và đạo đức (Sila - trìgiới)nầy là một điều kiện tiên quyết để huân tậptâm ý và từ đó, làm nền tảng tạo trí tuệ (Panna)cần thiết để thực chứng Niết Bàn.

Ðờisống là vô thường, lúc nào cũng có nhiều thay đổi. Cáctai họa hoặc những việc bất ưng ý có thể sẽ xẩy ra chota, và khi đó, ta phải biết trực diện chúng một cách bìnhthản và thăng bằng. Nếu làm được như thế thì chứng tỏta đã có sự hiểu biết chân chính, biết nhìn rõ ràng sựkiện xẩy ra theo luật nhân quả, do nhân duyên hợp thành,và biết rằng chính ta là người gieo nhân và chịu trách nhiệmgặt quả - nếu không trong đời sống nầy thì cũng là từnhiều kiếp trước. Ta sẽ vượt qua các nỗi sợ hãi và loâu thái quá, không có cơ sở và không có luận lý, bởi vìta biết chế ngự các cảm tính của mình. Từ đó, nhữngngộ nhận, những bất công trong đời, những u sầu vì tưởngrằng mình bị đối xử tàn tệ sẽ được ta thông hiểurõ ràng và đón nhận nhẹ nhàng hơn, vì ta đã hiểu đượccặp nguyên lý nghiệp quả và tái sinh.

Cònmột lý do nữa để người Phật tử gìn giữ tác phong đạođức của mình. Người ấy có uy lực bắt nguồn từ cácnguồn lực vô hình khác - đó là kho tích trữ các hành độngtoàn thiện, các đức tính của tự thân, các hạnh phúc cóđược trong lúc tập hành thiền, tất cả các nguồn lựcnầy hoàn toàn độc lập với của cải vật chất. Như thế,người ấy là chủ nhân của một tâm ý tự lực và tự túc.

Ngườiấy biết sống đơn giản, không có nhiều nhu cầu. Của cảivật chất đối với người ấy chỉ là những đầy tớ,không phải là những chủ nhân ông. Người ấy hoàn toàn tựdo, không bị lệ thuộc vào sự sai khiến của các sự vậtbên ngoài. Người ấy nhận thức được rằng các sự vậtthấy được thì chỉ là tạm bợ và thay đổi luôn. Tóm lại,người ấy có được một tâm ý bình thản, chừng mực, vàtri túc. Tri túc, như lời Phật dạy, là một nguồn tài sảnlớn nhất, là một trong bốn nguồn hạnh phúc:

Khôngbệnh là Lợi tối thượng
Tritúc là Của tối thượng

Thànhtín là Bạn tối thượng

NiếtBàn là Lạc tối thượng. (Pháp Cú, 204)
Khi đãthông hiểu như thế, người Phật tử đó sẽ học đượccách thích nghi với những hoàn cảnh đổi thay mà không baogiờ sầu khổ than van hay cay đắng.

Nếutacó Chánh Tín (Saddha), nghĩa là có niềm tin nơi PhậtPháp dựa trên sự hiểu biết, ta phải cố gắng thực hành.Mỗi Phật tử chân chính phải thực hành liên tục bốn điềutinh tấn - Tứ Chánh Cần - vốn là chi thứ sáu của Bát ChánhÐạo. Ðó là: tinh tấn vượt qua và tinh tấn ngăn chận cácpháp bất thiện như là các ý tưởng sân hận; tinh tấn pháttriển và tinh tấn nuôi dưỡng các pháp thiện trong tâm ýnhư là các ý tưởng từ bi. Các tâm ý nầy chẳng những sẽbảo vệ bản thân ta, mà từ đó cũng sẽ giúp được nhữngngười khác chung quanh ta.

Taphải tập có thói quen suy xét về các tư tưởng và hành độngcủa chính mình để xem chúng có chân thật hay không, bởivì chân thật với chính mình là một con đường chắc chắnđưa đến tâm ý toàn thiện. Thêm vào đó, chúng ta phải biếtdành thì giờ mỗi ngày để tĩnh lặng tự quán soi hay làhành thiền, để ôn lại các việc làm trong ngày, và đểsuy xét xem ta có đi ngược lại với các nguyên tắc căn bảnmà Ðấng Từ Phụ của chúng ta đã từng khuyên dạy, đểmà sám hối và tránh phạm các lỗi lầm đó trong tương lai.

Mỗingày ta cũng nên đọc một đoạn kinh từ các bài giảng củỪức Phật. Thói quen hữu ích nầy giúp chúng ta phát triểntâm ý thiện, làm giảm đi các u sầu, phiền muộn, và giúpđưa đời sống của ta đi vào con đường chân chính.

Quacác cách thức nêu trên, là những cư sĩ đệ tử của ÐứcPhật, chúng ta sẽ luôn tăng trưởng trong ánh sáng nhiệm mầucủa Chánh Pháp, luôn luôn uốn nắn nhân cách của mình, rènluyện tâm thức, huân tập các cảm tính, và tăng cường ýchí dũng mãnh để tạo các lợi ích phước báo lâu dài chobản thân và cho người khác.

BìnhAnson lược dịch,
tháng1-1997
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
31/01/2026(Xem: 5218)
Bão tuyết mùa đông tràn qua hơn 40 tiểu bang, băng giá khắp nơi, nhiệt độ sâu dưới không độ… Ấy vậy mà các nhà sư đi bộ vì hòa bình vẫn giữ vững lộ trình tiến về phía trước. Những bước chân hòa bình đang dấn thân sâu vào giữa lòng nước Mỹ. Một nước Mỹ xưa nay nặng về chủ nghĩa vật chất. Một nước Mỹ hôm nay đang bị khủng hoảng về đạo đức, niềm tin, công lý. Một nước Mỹ đang kỳ thị, độc đoán và chia rẽ nghiêm trọng. Các nhà sư đi bộ vì hòa bình gởi đến mọi người trên đất Mỹ thông điệp từ bi, cảm thông, bao dung, hòa bình. Những bước chân hòa bình hiện thực hóa thông điệp của Đức Phật từ 26 thế kỷ trước. Những bước chân hòa bình chính là thân giáo, noi theo con đường Đức Phật đã khai phá và đã đi trong quá khứ.
20/12/2025(Xem: 1412)
Tại Chánh Điện Tu Viện Đại Bi, Thành Phố Westminster, Hội Đuốc Tuệ đã tổ chức buổi hướng dẫn về đề tài: "Giáo Dục Trong Gia Đình và Giao Tiếp - Ứng Xử Chánh Niệm” do Tiến Sĩ Bạch Xuân Phẻ hướng dẫn. Một buổi chiều Chủ Nhật an lành, Tu Viện Đại Bi đón chào rất đông hành giả, phụ huynh, anh chị em Gia Đình Phật Tử, và những người quan tâm đến nghệ thuật giáo dục chánh niệm trong gia đình. Bầu không khí trang nghiêm nhưng gần gũi mở ra ngay từ khoảnh khắc bước vào chánh điện: ba pho tượng Phật vàng tỏa sáng, hoa sen hồng tươi thắm, và nụ cười hiền hòa của đại chúng khiến tâm người dự tự nhiên được lắng dịu. Tất cả tạo nên một nhân duyên tu
16/12/2025(Xem: 1741)
Có rất nhiều chữ rất khó để hiểu cho tận tường trên đời này. Và khi gặp chữ khó hiểu, tất nhiên là chuyện dịch từ Anh sang Việt, hay từ Việt sang Anh sẽ rất khó chính xác. Bởi vì, khi những chữ có nhiều nghĩa được chọn dịch theo một nghĩa, hẳn là các nghĩa khác sẽ bị thiếu sót. Trong đó, có chữ “tâm” tưởng là dễ dịch, nhưng hóa ra lại là chữ gây ra vô cùng gian nan. Thêm nữa, tại sao các Thiền sư ưa nói “ba cõi là tâm,” hay nơi khác lại nói, “vạn pháp duy tâm.” Chữ đã khó, mà nghĩa lại càng khó vô cùng tận.
01/11/2025(Xem: 3514)
Thầy đã truyền lửa , nguyện xin giữ lửa Vẫn nguyên sơ, chỉ thẳng Bồ đề tâm nơi thế gian Với Bi, Trí, Dũng có thể biến nguy thành an Một tiếng gọi từ bên trong, ( Phật Tánh) tuy rất nhỏ Tựa dòng chảy minh triết, rót từng khoảnh khắc đó (Huệ Hương)
30/06/2025(Xem: 6077)
Chúng ta ở đây để chia sẻ suy nghĩ của mình về những gì Phật giáo có thể mang lại trong thời đại Trí tuệ nhân tạo. Nhưng để làm được điều đó, chúng ta cần thiết lập một ngôn ngữ chung, một cách để giao tiếp giữa thế giới khoa học và Phật giáo — nếu điều đó có thể. Nếu chúng ta không thể thống nhất về các định nghĩa cơ bản, thì chúng ta sẽ chỉ nói chuyện qua loa với nhau tại hội nghị này — dự định, ý nghĩa và hiểu những điều khác nhau, chứ đừng nói đến việc trả lời các loại câu hỏi sâu sắc và tìm tòi mà hội nghị này đã đặt ra. Tôi sẽ chỉ lấy ba ví dụ cơ bản:
29/06/2025(Xem: 3728)
Những bài kinh Phật không có bài nào là không hay. Có miệt mài trên những trang kinh xưa mới cảm được sự vang động của suối nguồn trí tuệ. Lời kinh là những tiếng sấm rền vang chấn động tâm thức chúng sanh đang chới với giữa những làn sóng ưu phiền trong biển sanh tử. Kinh nghiệm giác ngộ của bậc toàn giác được trao truyền ròng rã trong suốt 45 năm để lại một kho tàng tư tưởng giải thoát, một sự trưởng thành tột cùng của trí thông minh và cảm thức con người. Mỗi lần đọc kinh là mỗi lần cảm nhận được sức mạnh của phước báu đã cho tâm thức bay lượn một khoảng không gian khá rộng trong bầu trời siêu thoát mênh mông.
22/06/2024(Xem: 6337)
Soi sáng thực tại thực ra là tên chúng tôi đặt cho những bài ghi chép tóm tắt các buổi đàm đạo hay tham vấn thiền với Hòa thượng Viên Minh trong giờ uống trà buổi sáng tại khách đường Chùa Bửu Long. Những buổi đàm đạo này đã có từ lâu nhưng chỉ giới hạn trong nội bộ chùa. Về sau một Phật tử đến tham dự buổi trà đàm thấy hay nên muốn được nghe thường xuyên đã sắm cho chùa thiết bị để có thể nghe từ xa qua Skype. Từ đó số người đến trực tiếp nghe thầy nói chuyện hoặc nghe từ xa ngày càng đông nên đã mở thêm qua YouTube theo nhu cầu của Phật tử muốn tham dự.
31/10/2023(Xem: 7320)
Phật Tánh? Xin nói rằng, tôi không biết. Tôi không thể trả lời câu hỏi có Phật Tánh hay không, và nếu có, thì là như thế nào. Bài viết này không nhằm trả lời những câu hỏi tương tự, mà chỉ là một khảo sát từ cương vị một người học Phật, chưa học tới đâu và cũng chưa tu tới đâu. Bài viết này là một lời thú nhận, rằng không biết chắc có bao nhiêu phần đúng, nhưng hy vọng sẽ phần nào giúp được một số độc giả để dùng làm viên gạch dò đường qua sông. Xin mời độc giả khảo sát, nghi vấn từng câu, từng chữ trong bài này, và rồi nên dựa vào Kinh Phật để đối chiếu.
03/08/2022(Xem: 7446)
Hít vào thở ra, đếm: "một" Hít vào thở ra, đếm: "hai" Cứ thế, đến "mười" rồi nghỉ Vài giây sau, lại bắt đầu
05/07/2022(Xem: 10710)
“Niêm hoa vi tiếu” (Chữ Hán: 拈花微笑, Nghĩa Việt: cầm hoa mỉm cười), gọi đầy đủ là “Niêm hoa thuấn mục phá nhan vi tiếu” (Chữ Hán: 拈華瞬目破顏微笑; Nghĩa Việt: Đưa hoa ra, trong chớp mắt thì chuyển mặt mỉm cười), chuyện kể Đức Phật thông qua hành động im lặng cầm hoa sen truyền Tâm Ấn Trí Tuệ Bát-nhã cho Ngài Ma-ha Ca-diếp. Giai thoại này được cho là bắt nguồn từ giới Thiền Tông Trung Quốc nhằm dẫn chứng cho hệ truyền thừa Thiền Tông bắt nguồn từ Đức Phật.