Một Khúc Mắc Về Kinh Kim Cang

13/09/202508:22(Xem: 1311)
Một Khúc Mắc Về Kinh Kim Cang


Phat thuyet phap-1

 Một Khúc Mắc Về Kinh Kim Cang


Có một nhà trí thức, có thể nói là “Thiên kinh vạn quyển” ái mộ Phật, nghiên cứu kinh điển rất nhiều. Thế nhưng có một đoạn trong Kinh Kim Cang ông không sao hiểu nổi. Ông đã nhờ nhiều nhà trí thức  giải thích dùm nhưng những lời giải thích có vẻ gượng gạo càng làm cho vấn đề trở nên bế tắc. Cuối cùng ông quyết định vấn hỏi một vị thiền sư xem Phật gia có thật sự hiểu thấu đáo kinh điển hay chỉ đọc tụng như một cái máy, tin mà không hiểu gì hết. Khi hội kiến thiền sư, ông trình bày thắc mắc của mình:

-Thưa thầy, trong Kinh Kim Cang có đoạn: “Tu Bồ Đề, ví như có người thân như Núi Tu Di. Ý ông thế nào? Thân người ấy có to lớn không? Tu Bồ Đề thưa, bạch Thế Tôn, rất lớn. Vì sao? Phật nói chẳng phải thân to lớn, như thế mới là thân to lớn.”

Thưa thầy,”Thân to lớn mà không phải thân to lớn”, tức thân nhỏ bé, làm sao có thể lại là thân to lớn? Phải chăng có cái gì mâu thuẫn trong câu kinh này?

Nghe hỏi vậy, sư mỉm cười rồi nhẹ nhàng nói:

-Để hiểu đoạn kinh này xin ông lắng nghe câu chuyện sau đây.

 Nói rồi sư kể:

“Có hai vị sa môn huynh đệ, trong một chuyến du hóa tình cờ xe đò bị hư phải dừng lại bên đường. Cũng đã tới giờ Ngọ, hai vị tìm vào một quán cơm chay. Khi thấy khách bước vào, người hầu bàn tới chào rồi chờ khách gọi món ăn. Vị sư đệ gọi một tô hủ tíu chay, còn vị sư huynh gọi một tô mì chay. Một lát sau, có thể do lầm lẫn của nhà bếp và vô ý, người hầu bàn đưa ra hai tô hủ tíu. Vị sư đệ nhận và ăn tô hủ tíu đã đành, còn vị sư huynh cũng nhận và điềm nhiên ăn tô hủ tíu.  Khi ăn xong, vị sư đệ với vẻ bồn chồn, lên tiếng hỏi:


-Sư huynh gọi tô mì chay, khi bồi bàn đem ra tô hủ tíu, sư huynh có thấy đó là tô hủ tíu không?

Vị sư huynh đáp:


-Có chứ, huynh biết đó là tô hủ tíu chứ.


-Thế tại sao huynh ăn mà không phản ứng gì? Không than phiền hay yêu cầu chủ quán đổi tô mì chay cho sư huynh?

Vị sư huynh cười đáp:

-Đệ đọc tụng hằng ngày Kinh Kim Cang đã quên mất đoạn, “Thân to lớn chẳng phải thân to lớn như thế mới là thân to lớn” rồi sao? Thì ngày hôm nay, “Tô mì chay chẳng phải tô mì chay như thế mới là tô mì chay.” Sau khi gọi tô mì chay, huynh quên tất cả và không còn nhớ tới nó nữa. Chính vì thế mà tô mì chay hay tô gì đó hay tô hủ tíu cũng đều như nhau cả. Cho nên trước mắt huynh tô hủ tíu cũng là tô mì. Theo lời dạy trong Kinh Kim Cang, huynh đang luyện tâm không phân biệt.

Nghe sư huynh giảng thế, vị sư đệ như bừng nở hoa tâm và đứng lên vái lạy vị sư huynh của mình.”

Kể tới đây, sư dừng lại một chút rồi nói tiếp:

-Kinh Kim Cang không thể hiểu chữ bằng nghĩa, bằng biện luận mà bằng cái Tâm Vô Sai Biệt. Kinh Kim Cang là kinh phá mọi ràng buộc, mê lầm. Khi đã vô sai biệt thì làm gì có lớn có nhỏ? Lớn cũng là nhỏ mà nhỏ cũng là lớn. Nó cũng chính là Trí Tuệ Bát Nhã. Nó là kinh đại thừa đốn giáo mà Lục Tổ Huệ Năng tu thành Phật. Thưa ông, khi đã thấu đáo Trí Tuệ Bát Nhã thì:

-Khi người đời tán dương ông là một học giả mà ông coi mình không phải học giả, như thế mới là học giả.

-Khi người đời tán dương ông là nhà đạo đức mà ông thấy mình chưa phải là nhà đạo đức, như thế mới là nhà đạo đức.

-Khi ông thông minh mà không bao giờ tỏ ra thông minh, như thế mới thật là thông minh.

-Khi ông biết mà tỏ ra mình như không biết, như thế mới là biết.

-Khi ông là tỷ phú mà ông coi mình như kẻ nghèo khó như thế mới là tỷ phú.

-Khi ông thành công mà ông nói có gì gọi là thành công đâu và hồi hướng công đức về tất cả mọi người, như thế mới là thành công.

-Khi ông phục vụ mà nói rằng tôi có phục vụ gì đâu, đó chỉ là bổn phận, như thế mới là phục vụ.

-Khi ông nổi tiếng mà nói rằng hư không vốn thanh tịnh, làm gì có sự nổi tiếng trong hư không, như thế mới là người nổi tiếng.

-Khi ông bố thí mà không thấy có chuyện bố thí, như thế mới là bố thí.

-Khi ông cúng dường mà không chấp mình có cúng dường, tức không kể công, như thế mới gọi là cúng dường.

Người đời cần có hình, danh, sắc, tướng để mà sống. Nhưng người tu hành hay thiện tri thức phải phá bỏ mọi hình, danh, sắc, tướng đang tạm gắn trên người mình. Cũng chính vì thế mà ngài Tu Bồ Đề đã thưa với Phật rằng, “Con không chấp niệm con là A La Hán Ly Dục. Bạch Thế Tôn, nếu con còn chấp niệm rằng con là A La Hán Ly Dục thì chắc Thế Tôn không nói Tu Bồ Đề ưa làm hạnh tịch tịnh A Lan Na.

Nghe tới đây vị trí thức bừng nở hoa tâm, như giữa cơn khát cháy được uống một ly nước dừa tươi, như trời nắng hạn gặp cơn mưa rào và trút được một gánh nặng đã đeo đuổi ông bao năm trời. Ông nói:

-Kim Cang đúng là tâm kinh, hiểu bằng tâm chứng ngộ, đó là pháp môn tu thành Phật mà người bình thường không sao hiểu được, Xin tạ ơn thầy.

Thiện Quả Đào Văn Bình 

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
09/09/2019(Xem: 7980)
Narayan Helen Liebenson, Geshe Tenzin Wangyal Rinpoche và Blanche Hartman chia xẻ lời khuyên của họ về việc làm sao để ứng phó với các giai đoạn trầm cảm.Narayan Helen Liebenson là nữ giáo sư hướng dẫn tại Trung Tâm Thiền Cambridge Insight Meditation Center. Geshe Tenzin Wangyal Rinpoche là người nắm giữ truyền thừa của truyền thống Bön Dzogchen tradition của Tây Tạng. Ông là tác giả của cuốn sách “Spontaneous Creativity: Meditations for Manifesting Your Positive Qualities” [Sự Sáng Tạo Tự Phát: Thiền Để Thể Hiện Phẩm Chất Tích Cực Của Bạn] (xuất bản năm 2018).Zenkei Blanche Hartman (1926-2016) là Pháp Sư Cao Cấp và là phụ nữ đầu tiên Trú Trì Trung Tâm Thiền San Francisco.
24/08/2019(Xem: 15713)
Niết bàn là khái niệm thể hiện triết lý độc đáo về giải thoát của Phật giáo. Đây là một trạng thái tâm linh hoàn toàn thanh thản, giải thoát khỏi mọi đau khổ của cuộc đời. Trạng thái này có thể đạt được khi còn đang sống (Hữu dư Niết bàn) hoặc khi đã chết (Vô dư Niết bàn). Phật giáo Tiểu thừa hướng tới Vô dư Niết bàn - một Niết bàn tịch diệt, cô đơn, từ bỏ mọi thú vui trần thế. Phật giáo Đại thừa lại hướng tới Hữu dư Niết bàn - một Niết bàn nhân bản, nhập thế và hoạt động cùng những buồn vui nhân thế. Quan niệm này đã mang lại một sức hấp dẫn, sức sống mới cho Phật giáo, đặc biệt là trong xã hội hiện đại.
21/08/2019(Xem: 7842)
Trước hết chúng ta hãy tìm hiểu xem độc tố này là gì. Xao lãng là xu hướng của tâm thức nhảy hết chuyện này sang chuyện khác. Đó là trường hợp của những người có một tâm thức tương tự như con cào cào hay con bướm, không sao có thể dừng lại với bất cứ một thứ gì, dù chỉ trong một khoảnh khắc. Câu thơ nổi tiếng của T.S. Eliot (Thomas Stearns Eliot, 1888-1965, thi hào người Anh gốc Mỹ, đoạt giải Nobel văn chương năm 1948) : « xao lãng bởi sự xao lãng của sự xao lãng » có thể nói lên điều đó. Câu thơ này nêu lên một cách ngắn gọn cuộc sống ngày nay trong xã hội : đó là một quá trình liên tục – hết ngày này đến tuần khác – của sự « xao lãng bởi sự xao lãng của sự xao lãng ». Liều thuốc hóa giải sự xao lãng trong hoàn cảnh đó – ít nhất là đối với lãnh vực tâm thần – là sự chú tâm vào hơi thở. Một sự tập trung thật mạnh hướng vào quá trình hô hấp của mình là một phương pháp rất hiệu nghiệm, có thể hóa giải được tất cả mọi hình thức xao lãng.
09/08/2019(Xem: 7472)
‘Khổ và sự diệt khổ’ là trọng tâm của lời đức Phật dạy, được diễn đạt qua Kinh Chuyển Pháp Luân.[2] ‘Idaṁ dukkhaṁ ariyasaccaṁ’ pariññeyyan-ti ‘Chính sự thật về khổ’, cần được con người am hiểu, rõ biết tường tận.[3] Nhận định này có thể tư duythông qua bài kinh ‘Ví Dụ Tấm Vải’[4] như sau: Ví như tấm vải bị hoen ố, vấy bẩn và người thợ nhuộm đã cố gắng làm đẹptấm vải bằng cách nhúng nó vào thuốc nhuộm loại tốt này hay loại tốt khác, nhưng kết quả cho ra không được như ý. Bởi vì thực chất của tấm vải là dơ bẩn, không sạch, uế nhiễm.
06/08/2019(Xem: 5291)
Trong toán học, muốn giải một bài toán cơ bản luôn cần có một mẫu số chung, đó là con số quan trọng cần thiết để đưa đến kết quả chính xác cho bài toán. Ngoài ra vì tính khoa học, những con số còn giúp cho mọi việc được mạch lạc, rõ ràng thứ lớp hơn mà chính Đức Thế Tôn của chúng ta cách đây 2600 năm cũng đã sử dụng nó để nói đến trong toàn bộ những bài giảng của Ngài. Khi giảng nói về các loại tâm vô hình, trừu tượng khó nhớ Đức Phật đã dùng những con số cụ thể trong Vi diệu pháp (Duy thức học). Chính nhờ vậy việc tìm hiểu về các loại Tâm vương, Tâm sở đầy phức tạp đã được Ngài hướng dẫn, phân loại rõ ràng cho từng loại tâm khác nhau. Tuy nhiên đây chỉ là những học thuyết sâu rộng của triết lý Phật giáo dành cho lãnh vực nghiên cứu.
02/08/2019(Xem: 6024)
Vào sáng Chủ Nhật 14 tháng 7 2019, tại hội trường báo Người Việt (Westminster, Little Saigon) đã có một cuộc hội thảo với chủ đề tìm cách đem sự thực tập chánh niệm tỉnh thức đến với giới thanh thiếu niên gốc Việt tại Quận Cam.
02/08/2019(Xem: 5998)
"Lý tưởng nhất là các lớp học không có cảm giác sợ hãi và căng thẳng làm việc dạy và học trở nên nặng nề. Lý tưởng nhất là giáo viên tạo dựng được nề nếp học trong không khí êm ả và chú tâm của lớp học. Tuy nhiên, không khí trong các lớp học công lập của Hoa Kỳ thường xuyên không được như vậy,…" Đó là lời phát biểu của Tiến Sĩ Bạch Xuân Phẻ khi anh thuyết trình về lợi ích của việc thực tập hơi thở trong tỉnh thức ở học đường. Phương pháp này giúp con người trị được nhiều căn bệnh về tâm lý và đối đầu được những cảm giác hồi hộp, căng thẳng, sợ sệt, bất an, trầm cảm, thường xảy ra cho các học sinh và cả trong giới giáo chức.
20/07/2019(Xem: 8755)
Các bộ kinh Nikāya ghi nhận tầm quan trọng của thiềnna (jhana) trong cấu trúc của con đường hành trì trong Phật giáo. Trong bài kinh Sa-môn quả (Sāmaññaphala Sutta, DN 2), Tiểu kinh Dụ Dấu Chân Voi (Cūḷahatthipadopama Sutta, MN 27) và nhiều bài kinh khác về sự tu tập tiệm tiến (anupubbasikkhā) của một tu sĩ Phật giáo, Đức Phật luôn đề cập đến thiền-na để minh họa cho việc tu tập tâm định. Khi vị tỳ-khưu hoàn tất tu tập về căn bản giới đức, vị ấy tìm nơi thanh vắng, sống độc cư và thanh lọc tâm, loại trừ “năm triền cái”. Khi tâm vị ấy được thanh lọc, vị ấy nhập và an trú vào bốn tầng thiềnna, được mô tả rất nhiều trong kinh tạng Nikāya qua một công thức kiểu mẫu:
03/07/2019(Xem: 5460)
Bài này sẽ viết về Thiền, phần lớn sẽ ghi về một số lời dạy của Đức Phật trong thiền pháp Thiền Tông, còn gọi là Thiền Đông Độ, hay Thiền Đạt Ma, hay Thiền Tổ Sư, và riêng tại Việt Nam còn gọi là Thiền Trúc Lâm. Chủ yếu nơi đây dựa vào kinh điển, và người viết không phải là tiếng nói thẩm quyền nào. Tất cả những gì viết nơi đây đều rất dễ hiểu; độc giả có thể ngưng ở bất kỳ dòng nào để thử nghiệm tự nhìn lại tâm. Với các bất toàn tất nhiên sẽ có, xin thành kính sám hối trước Tam Bảo.
01/07/2019(Xem: 5567)
Tâm là chủ thể tiếp nhận các đối tượng từ bên ngoài lẫn bên trong. Khi đang ngủ say, thì tâm được cho là trống rỗng, hay nói cách khác, đó là trạng thái vô thức ( bhavaïga, tiềm thức, tâm hộ kiếp). Chúng ta luôn kinh qua một trạng thái tiêu cực như vậy khi tâm mình phản ứng lại các đối tượng bên ngoài. Dòng chảy vô thức (bhavaïga) này bị gián đoạn khi các đối tượng thâm nhập vào tâm. Kế đó, tâm vô thức (bhavaṅga) rung động trong một chóc lát ý tưởng và biến mất.