04 - Văn răn trộm cắp

24/04/201318:00(Xem: 13054)
04 - Văn răn trộm cắp


Khóa Hư Lục
Tác giả:Hoàng Đế Trần Thái Tông
Dịch giả:HT. Thích Thanh Kiểm

---o0o---

QUYỂN THƯỢNG

---o0o---

Văn Răn Trộm Cắp

Ôi! Người làm nhân nghĩa là quân tử, kẻ chuyên trộm cướp ấy tiểu nhân. Quân tử lòng thương giúp côi cùng, tiểu nhân ý tham lam tiền của. Chiếm của kẻ khác, làm của riêng mình. Lờ cả tình người, chuyên lo ích kỷ. Nào biết giầu sang do trời định; chẳng hay tham cầu bở ý ham. Ăn gan (1) đục nhà, đào tường khoét vách, Sơn-Dương tướng-quân (2) nối gót, Lương-Thượng quân-tử (3) tập làm; ngược trời trái đất, dối pháp khinh hình. Còn sống gặp công-lý thi hành, chết rồi bị Minh-Vương tra khảo. Đâu chỉ chứa vàng chất ngọc, ngay đến một bụi mẩy lông. Ngửi sen ao địa thần còn la (4), lấy tiền lời Diêm-Vương cũng phạt. Lưới trời lồng lộng, làm thiện thoát làm ác tội mang; Phép nước thênh thang, làm công khỏi làm riêng phạm pháp.

* Kệ rằng:

Khoét vách đào tường ý hiển sâu,

Trăm phương ngàn kế khổ tìm cầu.

Của người ví được thời nay đó,

Rồi phải muôn đời kiếp ngựa trâu.

(Tạc bích xuyên tường ý bất hưu

Thiên ban bách kế khổ doanh cầu.

Kim sinh cẩu đác tha nhân vật,

Bất giác chung thiên thụ mã ngưu).

* Chú thích:

(1) Ăn gan - Dịch chữ "bộ-can", Thiên Đạo-chích sáng Trang Tử có câu: "Khoái nhân can nhi bộ chi", cắt gan người mà ăn đấy. Đạo chích, tên là Chích làm nghề ăn Trộm, nên có tên là Đạo Chích. Ngày nay ví kẻ ăn trộm là Đạo-Chích.

(2) Sơn-Dương tướng-quân: Tức tướng-quân đất Sơn-Dương. Theo quẻ bói của Chu-Công, kẻ lập ấp ở đất Sơn-Dương, người hiền thì được phồn thịnh, kẻ bất lương thì bị lụn bại; lấy ý này để ám chỉ cho kẻ tướng cướp, nên gọi là Sơn-Dương tướng-quân.

(3) Lương-Thượng quân-tử: Tức kẻ trộm trên xà nhà. Tên riêng chỉ cho kẻ trộm. Đời Hậu Hán, Trần-Thực biết trên xà nhà có kẻ trộm, liền gọi con cháu lại dạy rằng: "Con người bản tính thiện". Nghĩa là con người bất thiện vị tất vốn ác, vì tập nên thành thói xấu, thành kẻ Lương-thượng quân-tử. Kẻ trộm nghe biết rất kinh sợ, liền nhẩy xuống đất tạ tội. Trần-Thực khuyên bảo cải thiện, sau cả huyện không có một kẻ trộm.

(4) Ngửi sen ao Địa-thần mắng: Theo điển, xưa có vị Tỷ-kheo đi qua ao sen dừng lại ngửi, Thần đất mắng vị Tỷ-kheo là ngửi trộm mùi hoa.

---o0o---

Vi tính: Việt Dũng

Trình bày: Nhị Tường

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
05/08/2019(Xem: 7534)
Hành giả tùy niệm Như Lai khi tâm không bị tham chi phối, tâm không bị sân chi phối, tâm không bị si chi phối, được nghĩa tín thọ, pháp thọ, tâm hân hoan đến pháp do dựa vào Như Lai. Đây là cách niệm Phật mà Đức Thích Tôn đã chỉ dạy cho cư sỹ Mahànàma trong chương Sáu Pháp, Tăng Chi Bộ (Pali). Khi tâm không bị tham sân si chi phối do dựa vào Đức Phật, tức là hành giả xả bỏ tâm tự ngã (không tham, không sân, không si) khi Niệm Phật, Niệm ân đức Như Lai.
01/07/2019(Xem: 6518)
"Niệm Phật" nghĩa là xưng danh hiệu - hay nhớ tưởng đến hình tướng, bản nguyện hay công đức của một đức Phật - như Phật Thích-ca hay Phật A-di-đà. Nói chung, có ba cách niệm Phật sau đây:
14/04/2019(Xem: 13344)
Theo âm Hán Viêt, A Di Đà Phật có nghĩa là Vô Lượng Thọ Phật, Vô Lượng Quang Phật, Tây Phương Phật. Trong kinh A Di Đà, Đức Phật Thích Ca giảng là Phật A Di Đà, Giáo Chủ cõi Cực Lạc (Soukhavati (Scr.), ở phương Tây, cách cõi Ta Bà của chúng ta mười vạn ức cõi Phật. Đó là một cõi đầy đủ các công đức trang nghiêm. Lầu các, cây cối, đất đai toàn là châu báu. Nào là các loài chim bạch hạt, khổng tước, anh võ, xá lợi, ca lăng tầng già v.v… ngày đêm sáu thời ca hát ra những lời pháp: năm căn, năm lực, bảy món bồ đề, bát chánh đạo… Đức Phật A Di Đà tự thân có ánh sáng vô lượng, chiếu khắp cả mười phương mà không có vật gì có thể ngăn che. Vì vậy nên Phật A Di Đà có nghĩa là Vô Lượng Quang Phật. Ngài có đời sống dài vô hạn lượng nên còn có nghĩa là Vô Lượng Thọ Phật.
22/02/2019(Xem: 7272)
Một bài pháp được ban cho chư Tăng Ni ở International Mahayana Institute tại Boudhanath, Nepal, ngày 2 tháng 2, năm 1975. Nicholas Ribush hiệu đính. Xin xem bản Phụ Lục 1 Illuminating the Path to Enlightenment của Đức Đạt Lai Lạt Ma, hay www.lam-rim.org, để có bản dịch chánh văn. Lama Zopa Rinpoche dịch Tạng ngữ sang Anh ngữ. Bài pháp này đã được ấn tống năm 2005, trong tác phẩm Teachings from Tibet của nhà xuất bản LYWA. Quý vị có thể đọc thêm những bài pháp của Khunu Lama Rinpoche và các Lạt Ma Tây Tạng cao quý khác ở TeachingsFromTibet.com.
17/12/2018(Xem: 6979)
Ngày đăng tải: tháng 10, năm 2005 Rinpoche đã cho lời khuyên sau đây về ngũ lực để thực hành vào phút lâm chung. [Chú thích: Lời khuyên này đang hiện hành trong một quyển sách nhỏ ở FPMT Shop.] Có năm lực phải được thực hành khi gần kề cái chết. Chúng rất quan trọng. Hiện nay, đó là điều chúng ta cần phải tu tập. Phải nhớ chúng là những điều gì, ít nhất là tên gọi và ý nghĩa của chúng, rồi ta sẽ có khả năng để đưa chúng vào thực hành.
22/10/2018(Xem: 6652)
Nếu chúng ta bỏ chút thì giờ để tìm hiểu “Sở tri chướng” (所知障) là gì? thì trên mạng Internet cho chúng ta kiến giải hoặc của các bậc thầy đáng kính: Hòa thượng, Thiền sư … hay của các chùa, các trung tâm Phật học, trung tâm hoằng pháp. Chẳng hạn như: 1. Sở Tri Chướng [1] 2. Thế nào là sở tri chướng và phiền não chướng? [2]] 3. Sở tri chướng và phiền não chướng [3]
11/10/2018(Xem: 6067)
Mỗi sáng Sư thức dậy thật sớm, đánh chuông báo thức mọi người vào lúc bốn giờ sáng. Trong không gian tĩnh mịch của vùng núi, tiếng chuông nhỏ nhưng ngân dài, vang thật sâu trên dãy hành lang im lặng. Bên ngoài cửa sổ trời vẫn còn mịt tối. Tôi bước ra ngoài phòng, đi về phía thiền đường.
13/09/2018(Xem: 12454)
Đột nhiên tôi nhớ lại câu nói của một người đã nói với tôi: “Khi chưa tu học, núi là núi, sông là sông; tu học đến một giai đoạn nào đó, núi chẳng là núi, sông chẳng còn là sông; đến khi giác ngộ, núi lại là núi, sông lại là sông!”. Không biết mình đã đến giai đoạn nào nhưng hôm nay, trong tôi chợt vang lên vài câu hát “…Một hôm ngựa bỗng thấy thanh bình, thảm cỏ tình yêu dưới chân mình…”. Rồi tôi nhớ tới ông ngoại, một người mà tôi gắn bó rất thân thiết từ ngày thơ ấu.
03/09/2018(Xem: 6304)
Dòng sanh tử giống như một dòng nước lũ quá mạnh. Người nào không gan dạ không vững bền thì sẽ bị nó cuốn phăng đi. Vì vậy mỗi người phải gan dạ, vững vàng để vượt lên, đừng để cuốn đi.
01/09/2018(Xem: 8416)
Phản Văn Trì Danh: Phương pháp nầy, miệng vừa niệm, tai vừa nghe vào trong,kiểm soát từng chữ từng câu cho rành rẽ rõ ràng, hết câu nầy đến câu khác. Nghe có hai cách, hoặc dùng tai nghe, hoặc dùng tâm nghe. Tuy nghe vào trong nhưng không trụ nơi đâu, lần lần quên hết trong ngoài, cho đến quên cả thân tâm cảnh giới, thời gian không gian, chỉ còn một câu Phật hiệu. Cách thức phản văn khiến cho hành giả dễ gạn trừ vọng tưởng, mau được nhứt tâm. Kinh Lăng Nghiêm nói: “Chân giáo thể của phương pháp nầy là Thanh tịnh do nghe tiếng. Nếu muốn chứng vào tam muội, nên như thế mà tu hành” chính là ý trên đây.