Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   

Những điều học được từ bài pháp thoại “Cốt tủy kinh Lăng Nghiêm” do Đức Trưởng Lão HT Bảo Vương Thích Huyền Tôn thuyết giảng ngày 14/9/2022 trên hệ thống Zoom trong lịch trình của Tổng Vụ Hoằng Pháp và Giáo Dục GHPGVNTN Hải Ngoại Úc Châu và Tân Tây Lan.

15/09/202212:25(Xem: 727)
Những điều học được từ bài pháp thoại “Cốt tủy kinh Lăng Nghiêm” do Đức Trưởng Lão HT Bảo Vương Thích Huyền Tôn thuyết giảng ngày 14/9/2022 trên hệ thống Zoom trong lịch trình của Tổng Vụ Hoằng Pháp và Giáo Dục GHPGVNTN Hải Ngoại Úc Châu và Tân Tây Lan.


Những điều học được từ bài pháp thoại “Cốt tủy kinh Lăng Nghiêm” do Đức Trưởng Lão HT Bảo Vương Thích Huyền Tôn thuyết giảng ngày 14/9/2022 trên hệ thống Zoom trong lịch trình của Tổng Vụ Hoằng Pháp và Giáo Dục GHPGVNTN Hải Ngoại Úc Châu và Tân Tây Lan.

 

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

Nam Mô Lăng Nghiêm Hội Thượng Phật Bồ tát.

 

Kính bạch Chư Tôn Đức Tăng Ni,

Kính thưa quý đạo hữu gần xa đã và không tham dự buổi pháp thoại.

 

Kính bạch Ngài Giáo Thọ Trưởng Lão Hoà Thượng Bảo Vương Thích Huyền Tôn,

 

 

Từ lâu chắc hẳn con cũng có chút túc duyên nên đã được đọc tụng và trì chú Lăng Nghiêm theo Phạn ngữ suốt nhiều năm qua. Tuy từ trình độ căn cơ còn thấp, mới đầu từ chỗ chỉ đọc vì tin tưởng sẽ nhờ được oai thần của 84 ngàn kim cang thần phò hộ và sẽ mau chóng trừ được các tội nghiệp đã mang và thọ hưởng nhiều phúc lành.

 

Nhưng càng ngày càng cùng nghe nhiều bài chú giải về chữ Tâm như (Truyền Tâm pháp yếu- Pháp Cú- Vi Diệu Pháp- Duy Thức) nhất là sau một thời gian hai năm thọ nhận những lời giảng của TT Thích Nguyên Tạng về Tổ Sư Thiền con mới nhận rõ rằng hầu hết muốn hiểu các bộ kinh từ nguyên thủy đến đại thừa chúng ta cần biết cách kết cấu của Tâm.

Trong kinh Nguyên Thủy Ngài Xá Lợi Phất dạy rằng Trí Tuệ chính là hiểu rõ bốn đế. Mà tất cả quá trình cũng nằm trong luật nhân quả và thu thúc sáu căn, tất cả đều từ Tâm. Như vậy một khi trực nhận được Tâm tính (pháp giới tính của Tự Tâm ) thì ba tạng kinh điển cũng không ra ngoài kinh Lăng Nghiêm vậy.

 

Điển hình hơn hết khi đọc kinh Thủ Lăng Nghiêm Phật dạy chi tiết về các liên hệ của lục căn, lục trần, và lục thức, những thực tại tương đối biến đổi không thật, cũng như thực tại tuyệt đối thường hằng và bất biến.

 

Và con cũng đã ghi vào trong Cẩm nang mình như sau “Cốt tủy của kinh Lăng Nghiêm được Phật giải rõ thế nào là Vọng Tâm và Chân Tâm, cũng như Pháp Môn Tu Chứng Lăng Nghiêm Đại Định”.

 

Thủ Lăng Nghiêm là cái định rốt ráo bền chắc sẵn có của Tâm tính.

Tâm tính này thanh tịnh, không lay động không thay đổi không chạy theo các tiền cảnh,  đó chính là tính bản nhiên của tất cả sự sự vật vật duyên khởi theo luật nhân quả mà sinh ra các chuyển động và các hiện tượng trong vũ trụ.

Đinh Thủ Lăng Nghiêm này sâu nhiệm, rộng lớn ra ngoài thời gian và không gian khó chúng sinh nào biết được nên phải lấy đảnh tướng của Phật làm thí dụ.

Chỉ khi nào chứng được Tâm tánh này (nghĩa là được định Thủ Lăng Nghiêm) thì người và mình dồng chung Pháp giới tánh, sự sự vật vật đồng là Pháp giới tính, Tâm, Phật, chúng sinh là Một - “Tức Tâm tức Phật “

 

Được học, trì tụng Chú Lăng Nghiêm là nhân duyên rất lớn của người con Phật, xuất gia cũng như tại gia, và hiểu được nghĩa lý của Chú Lăng Nghiêm thì nhân duyên thật là không thể nghĩ bàn, có thể nói là trăm ngàn vạn kiếp mới gặp được.

 

Thế nên cả tuần nay khi nghe thông báo Đức Trưởng Lão HT Bảo Vương sẽ có bài pháp thoại về đề tài nầy con đã nao nức nghe nhiều pháp thoại về Chữ Tâm hơn nữa hầu có thể theo kịp những gì mà HT đã tâm đắc trong nhiều năm giảng dạy các nơi gần xa và đã đặt tên cho ngôi chùa là Lăng Nghiêm Bảo Vương Tự và nhất là Ngài đã từng ban bố phát thí “Đà La Ni ( thần chú ) mầu nhiệm linh diệu do Đức Từ Phụ Thích Ca Mâu Ni Diễn nói trong Bộ Kinh Thủ Lăng Nghiêm .

 

“Hơn 60 năm về trước chư tôn túc Trưởng Lão ở Thừa Thiên đã kính Tín lời dạy của Phật và cũng vì đem sự an lành cho hàng đệ tử Phật, nên các ngài đã in trọn đủ 5 đệ chú Lăng Nghiêm thu nhỏ để cho Phật tử đeo trên thân thể mình, việc phổ lợi nầy bao năm qua đã đem lại diệu lực an lạc cho những ai tin và kính thọ.

Ngày nay, tại Trung quốc, Hồng-kông, Đài loan nhiều cơ sở Phật-Giáo cũng in ấn như vậy, những kiểu hình và màu sắc thì hơi nhiều, Nhưng cũng nhằm giúp an, trừ nguy như kinh điển đã dạy. Tuy nhiên, họ đều in hán tự chứ không phải phạn (Chú tự) như trong Đại Tạng.

Riêng tại  Lăng Nghiêm Bảo Vương Tự , hơn 3 năm HT dạy Kinh Thủ Lăng Nghiêm cho các nơi gần xa, và đã hứa, mãi đến nay đã tìm đủ  các Chữ Chú “Đại Phật Đảnh Ma Ha Tất Đát Đa Bát Đát Ra” là Chóp Đỉnh của Toàn bộ  5 đệ Chú Lăng Nghiêm.

 Nên mới thực hiện  lời chú mầu nhiệm nầy thành “Phạm Chú” để đeo hộ thân mệnh!

Với tâm thành Cung Kính Tín Cẩn : Nơi nào có Chú Phật Đảnh, có nguòi cung kính tín cẩn thọ trì ,niệm tụng, thường đeo trên cổ, dán trong xe, treo trên nóc nhà..và có kính niệm Phật chú nầy, nơi đó không có các nạn “ Đấu tranh, nước, lửa, binh biến, tai dịch…vì có 84.000 hằng hà sa kim cang thường phò hộ.”

Đeo Chú Phật Đảnh mỗi khi tắm phải cỡi ra treo nơi cao trong sạch, mỗi khi đeo vào kính thành niệm ít nhất 7 lần : Nam Mô Đại Phật Đảnh Ma Ha Tất Đát Đa Bát Đát Ra. Ngoài ra mọi lúc, mọi nơi khi lòng an tịnh, việc an tịnh luôn luôn trì niệm thì tất cả tội đều tiêu, tất cả Phúc lạc đều được thọ huởng. (không tin thì im lặng, đừng theo tà ma dị đạo mà phí bang, dù thiên đế các cõi trời mà bất kính bị giảm hết phước, đứt hết thần thông rồi sa địa ngục! Huống chi người phàm. Xin thận trọng!)

Vì lợi ích chung, nên thông tri pháp thí “

 

Trộm nghĩ đồng một câu kinh, câu kệ mỗi người tuỳ sức mình có thể hiểu không giống nhau vì thế mỗi khi học kinh Phật nhất là bộ kinh rất quý giá này thì phải suy xét nghĩa lý đến nơi đến chốn để nhận được ý chỉ mầu nhiệm sâu xa của lời Phật dạy và hôm nay được HT Bảo Vương tận tình ban cho Cốt tủy kinh Lăng Nghiêm quả là một đại phước duyên vậy.

 

Kính trân trọng

 

Thật là một sự ngạc nhiên lớn cho con khi bước vào hội trường Zoom hôm nay, (6:40 pm) Đức Trưởng Lão HT Bảo Vương cũng là Giảng Sư đã hiện diện trước rồi đồng thời là TT Tổng Thư Ký Thích Nguyên Tạng giữ vai trò điều khiển chương trình và Đạo hữu Hoàng Lan làm co- host cùng các nhân sự trong Tổng Vụ hoằng pháp cũng đều có mặt đầy đủ chỉ trừ Tổng Vụ trưởng Thích Đạo Nguyên và Sư Cô Nguyên Khai vì lý do Phật Sự nên vắng mặt đủ thấy sự kính ngưỡng quý kính Sư Ông HT Bảo Vương đến là dường nào.

 

Và phải nói là chỉ những ai theo dõi suốt hơn hai giờ đồng hồ về nội dung bài giảng chưa kể thêm 15 phút trả lời câu hỏi mới có thể nhận ra nơi Ngài ẩn chứa sức khỏe khang kiện và trí tuệ thật minh mẫn của bậc trưởng lão đã 94 tuổi trên khai sanh (thật ra là 95 tuổi).

 

TT Tổng Thư Ký Thích Nguyên Tạng đã bắt đầu giới thiệu buổi pháp thoại lần thứ bảy hôm nay sau khi giải thích sự có mặt của những buổi hoằng pháp hằng tuần trên hệ thống livestream và Zoom từ khi sau khoáng đại lần thứ bảy để bầu Hội đồng Điều Hành GHPGVNTN Hải ngoại Úc Châu và Tân Tây Lan nhiệm kỳ 2022-2026 và Tổng Vụ Trưởng Hoằng Pháp và Giáo Dục Thích Đạo Nguyên đã khởi động ngay chương trình này,

 

Để giới thiệu Đức Trưởng Lão HT Thích Huyền Tôn đến với chủ đề CỐT TUỶ KINH LĂNG NGHIÊM, chúng con đã được nghe đôi nét về sơ lược tiểu sử của Ngài như sau:

 

Thân thế:

 

Đức Trưởng Lão Hòa Thượng Thích Huyền Tôn, đệ tử của Đệ Lục Tổ Sư Thiên Ấn Tự, Hòa Thượng Tăng Cang Thích Chơn Trung, thế danh Nguyễn Thái Long, pháp danh Như Kế, pháp tự Giải Tích, pháp hiệu Huyền Tôn. Ngài sinh năm Mậu Thìn (1928.Việt lịch: 4807) tại làng Châu Nhai, Huyện Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi, Việt Nam. Thân phụ, bán thế xuất gia là Đại Sư thượng Như hạ Quý (1874-1942), Thân mẫu là Cụ bà Thái Thị Túc, pháp danh Như Chỉnh, tự Giải Lý (1891-1945).

 

- Năm 1931, 3 tuổi, được Cha Mẹ cho đi học chữ Nho qua các bộ Tam thiên tự, Ngũ thiên tự, Minh Tâm Bảo Giám, Gia huấn...

- Năm 1933, 5 tuổi, được Thân phụ cho học thuộc lòng 2 thời Kinh công phu và bộ luật Tỳ Ni. Đêm trăng, còn được học võ qua các bài: Ngọc Trản, Song kiếm, Xung thiên đề đao, Nam trường quyền.

 Năm 1934 (Giáp Tuất), 6 tuổi, cùng với Thân phụ xuất gia tại Tổ Đình Thiên Ấn, được Sư Phụ là Hòa Thượng Tăng Cang đạo hiệu Chơn Trung ban cho pháp danh Như Kế. (Đại Lão Hòa Thượng Chơn Trung là một bậc uyên thâm về Nho học, làu thông về khoa Du Già (62 bộ ấn chú Mật giáo) và Bộ Kinh Bảo Tích. Ngài có công hạnh sáng lập và tu bổ 6 ngôi Chùa: Viên Giác (Núi Thình Thình), Bảo Lâm, Quang Lộc, Kim Liên, Long Sơn và Khánh Vân. Đệ tử của Ngài gồm có 14 Tỳ Khưu, 81 Sa Di, 14 Sư Cô và truyền Tam quy Ngũ giới cho hơn 1000 đệ tử tại gia. Chùa Viên Giác trên Núi Thình Thình), l

- Năm 1941 (Tân Tị), 13 tuổi, Hòa Thượng được Sư Phụ cho thọ Sa Di tại Giới Đàn Viên Giác, pháp tự là Giải Tích.

-  Năm 1948 (Mậu Tý), 20 tuổi, Hòa Thượng được thọ Cụ Túc Giới tại Giới Đàn Viên Giác, pháp hiệu Huyền Tôn.

- Từ năm 1941, Hòa Thượng theo học tại các Phật Học Đường: Tây Thiên (1941-1945, Giáo Thọ Sư là HT Quy Thiện), Viên Giác (năm Mậu Tuất-1958)- Tốt nghiệp Cử Nhân Hán Học thuộc Bộ Giáo Dục Quốc Gia VN (năm Canh Tý-1960).

 

Đạo Nghiệp:

 

- Năm 1945 (Ất Dậu), 17 tuổi, được Hòa Thượng Tăng Cang cung cử làm Thủ Tọa Chùa Viên Giác, thay thế cho vị Trụ Trì đã về quê.

- Năm 1945 đến 1947, Hòa Thượng chịu nhiều lao khổ để bảo vệ Tăng chúng và Chùa Viên Giác dưới ách thống trị của chính quyền Việt Minh.

- Năm 1947-1951, tiếp mật chỉ của HT Huyền Quang “Thành lập PG Liên khu 5”, Hòa Thượng đi bộ vào Tổ Đình Thập Tháp để cùng chư Tôn Đức như quý Ngài: HT Huyền Quang, Giác Tánh, Tâm Hoàn, Bảo An, Kế Châu, Như Thắng, Như Phẩm, Như Kế, Đồng Từ, Thiện Duyên... thành lập đoàn Thanh Niên Tăng 12 vị do HT Huyền Quang làm Thư ký,  để thăm viếng

- Năm 1948-1949, sau khóa huấn luyện Thập Tháp, Tăng đoàn làm việc ở Chương Hòa, Chùa Thắng Quang gần biên giới Quảng Ngãi.- Năm 1950-1952, Hòa Thượng cùng quý Ngài Trí Hữu, Chí Thiện, Quang Thể, Đồng Chơn hoằng pháp tại Quảng Ngãi và Quảng Nam.

- Năm 1953, Hòa Thượng ra Chùa Từ Đàm, Huế để tường trình Phật sự địa phương với HT. Trí Quang và HT Mật Nguyện. Cũng trong năm này, Hòa Thượng đã gặp HT Tâm Châu từ Bắc mới vào Huế.

- Năm 1954-1959, Hòa Thượng được công cử làm Tổng Thư Ký cho Hội An Nam Phật Học dưới sự Lãnh đạo của HT Thích Trí Quang, Hội đặt trụ sở tại Chùa Hội Phước (Quảng Ngãi), nhân sự gồm có các Hòa Thượng: Giải An, Huyền Đạt, Huyền Tấn, Huyền Tế, Huyền Kính, Giải Hậu và toàn Sơn-Môn 171 Tăng. không ngừng.

 

- Từ năm 1954-1960, Hòa Thượng là Giáo Sư Phật học tại các Phật Học Đường Bảo Lâm (Mỹ Khê, Quảng Ngãi), Phật Học Đường Kim Liên (Tịnh Giang, Quảng Ngãi).

- Năm 1960 (Canh Tý), Hòa Thượng trao lại công việc chùa cho Sư huynh Giải Hậu và theo lời mời của HT Thích Thiện Hòa, Giám Đốc Phật Học Đường Nam Việt (Ấn Quang) vào Sài Gòn nhận dạy lớp Trung Đẳng Phật Học cho 60 Tăng sinh tại chùa Minh Quang ở gần đường Trương Minh Giảng. HT Thiện Hòa là bậc tu hành chơn chánh, Ngài theo kệ truyền thừa của môn phái Lâm Tế Chúc Thánh mà đối xử, xem Hòa Thượng chữ “Như” vào hàng Sư huynh, vì HT Huyền Tôn, gọi HT Khánh-Anh, Pháp chủ PGMN là Sư thúc.

- Năm 1960-1970, Hòa Thượng cùng HT Thanh Kiểm làm việc trong Ban Phiên Dịch của Ban Tu Thư Bộ Văn Hóa Giáo Dục Quốc Gia do Cụ Nguyễn Thọ Dực làm Trưởng Ban và Cụ Chánh Trí Mai Thọ Truyền làm Bộ trưởng Bộ Giáo Dục. HT Tài Quan đã giới thiệu HT Huyền Tôn cho Ban Phiên Dịch Hán Cổ khi Hòa Thượng từ miền Trung mới vào Nam.

- Năm 1963, Hòa Thượng gặp nhiều lao khổ trong cuộc tranh đấu PG chống lại chính quyền nhà Ngô, Hòa Thượng cùng với Thầy Chơn Ngữ mang huyết thư của Ủy Ban Liên Phái đến Tổ Đình Ấn Quang nhưng bị lộ và bị bắt bỏ tù, bị đánh đập, vết thẹo hằn sâu trên lưng vẫn còn gây đau nhức. Thầy Chơn Ngữ là người đã vâng lệnh HT Quảng Đức tưới xăng lên người trước khi Ngài tự châm lửa tự thiêu.

 

- Từ năm 1964 đến 1974, Hòa Thượng là Giảng Sư của Viện Hóa Đạo.

- Năm 1965, Hòa Thượng được cử làm Trưởng Ban Tổ Chức Đại Lễ Phật Đản Ất Tỵ tại Tỉnh Gia Định.

- Từ năm 1960-1962,  Hòa Thượng là Giáo Sư Phật học tại Phật Học Đường Quang Minh (Sài Gòn).

- Từ năm 1969-1972, Hòa Thượng là Giáo sư Trung học dạy học tại Trường Bồ Đề ở Sài Gòn. Hiệu trưởng là HT Quảng Liên, đồng nghiệp với Hòa Thượng lúc này có Thầy Đức Niệm, Thầy Thanh Trúc.

 

- Năm 1969 (Kỷ Dậu), 42 tuổi, được Viện Hóa Đạo tấn phong Giáo Phẩm Thượng Tọa.

- Từ năm 1969-1972, Hòa Thượng được HT Trí Thủ mời làm Chánh Đại Diện Phật Giáo Tỉnh Gia Định.

- Từ năm 1960 đến 1975, Hòa Thượng là ký giả và dịch giả cho các tờ báo: Báo Hoằng Pháp của Viện Hóa Đạo, Tuần Báo An Lạc (Chùa Quan Âm, Phú Nhuận), Tin Sớm (chủ bút: Nguyễn An Ca), Tiền Tuyến của Quân đội VNCH, Xuân của Thông Tin v.v… với bút hiệu Lĩnh Nam và Hạo Gia. Soạn lịch Âm Dương. Dịch truyện chưởng cho tờ Trắng Đen.

- Năm 1979 (Kỷ Mùi), Hòa Thượng bị Cục R của CS dọa dẫm, bắt buộc phải làm việc theo lịnh của họ, cho nên Hòa Thượng quyết định lên đường vượt biên vào ngày 9-3-1979, sau 9 ngày lênh đênh trên biển cả, Hòa Thượng đã đến được Trại Tỵ Nạn trên đảo Pulau Bidong, Malaysia và lưu trú tại đây một năm 2 tháng.

 

- Năm 1980, Hòa Thượng đến định cư tại Melbourne, Australia.

- Năm 1981 (Tân Dậu), Hòa Thượng là đồng sáng lập và làm Hội Trưởng Hội PGVN tại Victoria.

- Năm 1981, Hòa Thượng khai sơn Chùa Đại Bi Quan Âm tại Victoria.( tức là chùa Quang Minh ngày nay

- Năm 1982, Hòa Thượng và Hội bảo lãnh 41 Gia đình sang Úc định cư tỵ nạn qua diện Phật Giáo bảo trợ.

- Năm 1982, Hòa Thượng và Hội can thiệp thành công đưa 700 em cô nhi đến Mỹ định cư. HT HuyềnTôn đã nhân danh Hội Trưởng Hội PGVN tại Victoria, đến gặp Ngài Cao Ủy Tị Nạn Sắc Tộc của Úc để can thiệp và Cao Ủy Tỵ Nạn đã đồng ý tiếp nhận.

 - Năm 1983 (Giáp Tý), Hòa Thượng là thành viên đồng sáng lập GHPGVNTN Úc Châu-Tân Tây Lan.

- Năm 1983 đến 1987, Hòa Thượng là đệ nhất Phó Viện Trưởng Viện Hoằng Đạo, kiêm 3 Tổng Vụ: Giáo Luật, Tăng Sự và Hoằng Pháp.

- Năm 1983-1987, Hòa Thượng làm Chủ Bút Báo PGVN Úc Châu.

- Năm 1986-1914: Hòa Thượng là Đàn chủ Gia Trì Sư tại 15 pháp hội Chẩn tế Bạt độ Âm linh Cô hồn tại các chùa thành viên tự viện của GH trên toàn liên bang Úc Đại Lợi.

- Năm 1989: Hòa Thượng là Yết Ma A Xà Lê Sư tại Giới Đàn Phước Huệ.

- Năm 1992: Hòa Thượng kiến tạo Lăng Nghiêm Bảo Vương Tự, vùng Essendon, Victoria.

- Năm 1992-1999, Hòa Thượng là Chủ tịch Hội Tài Trợ Tăng Ni, Tự Viện VN (Tổng Kết số tiền tài trợ: $46,875.00. (Hội có 21 thành viên; ChủTịch: HT Huyền Tôn, Thư ký: Đh.Tâm Mãn, Trưởng Ban Vận Động: Đh. Bảo Minh Đạo, Thủ quỹ: Đh.Bảo Diệu Ngọc)

- Năm 1993 (Quý Dậu), 66 tuổi, Ngài được tấn phong lên Giáo phẩm Hòa Thượng.

- Năm 1995, Hòa Thượng là Giáo Thọ Sư tại Giới Đàn Phước Huệ.

- Năm 1999 (Kỷ Mão), Hòa Thượng là thành viên đồng sáng lập Giáo Hội PGVNTN Hải Ngoại tại UĐL-TTL (tại Chùa Pháp Bảo, Sydney).

- Từ năm 1999 (Kỷ Mão), Hòa Thượng là Thành viên Hội Đồng Chứng Minh của Giáo Hội PGVNTN Hải Ngoại tại UĐL-TTL

- Năm 2005, Hòa Thượng được cung thỉnh làm Đàn Đầu Hòa Thượng tại Giới Đàn tổ chức tại Tu Viện Vạn Hạnh, Canberra, do HT Quảng Ba làm Đàn Chủ.

- Từ năm 2011 (Tân Mão), Hòa Thượng là Tăng Giáo Trưởng của GHPGVNTNHN UĐL-TTL.

- Từ năm 2012 (Nhâm Thìn), Hòa Thượng cùng TT Tâm Phương chủ trương Bố Tát định kỳ mỗi tháng cho Tăng Đoàn tại Victoria và Hòa Thượng luôn có mặt tham dự.

 

- Hiện nay Hòa Thượng là Phương Trượng Bảo Vương Tự tọa lạc tại vùng Ardeer, Victoria, Australia.

 

Tác phẩm của Hòa Thượng đã in

 

- Chư Kinh Mật Giáo;

- Kinh Vu Lan Bồn;

- Kinh Đại Báo Phụ Mẫu Trọng Ân;

 -Kinh Hiền Kiếp Thiên Phật Danh;

 -Kinh Bát Đại Nhơn Giác;

- 32 tướng tốt và 80 vẻ đẹp của Phật

- Du Già Diệm Khẩu Thí Thực Khoa Nghi;

 - Cực Tịnh Sanh Động
-5000 Việt Lịch (đang biên soạn, TT Nguyên Tạng sẽ hoàn chỉnh và in ấn trong tương lai).

 

Sau lời giới thiệu, Sư Ông HT Bảo Vương đã bắt đầu bài pháp thoại sau khi gửi lời chào đến Chư tăng Ni và toàn thể Phật tử và thiện tri thức có mặt trong đạo tràng hôm nayqua hệ thống Zoom.

Ngài đã giới thiệu Kinh Lăng Nghiêm là một bộ kinh có lịch sử rất đăc biệt vì có những hệ lụy đau thương cho danh tăng và thánh tăng mà chúng ta sẽ nghe trong bài giảng. Nhưng để nói về Cốt Tủy của kinh Lăng Nghiêm thì Ngài xin được tóm gọn trong 4 chữ CAO CAO VÔ THƯỢNG.

 

Tiếp đến HT đã giảng ý nghĩa của tên Kinh, có thể nói tên kinh có nhiều cách để diễn tả trọn vẹn tên kinh khi thì 19 chữ, 21, hoặc ngắn gọn 8 chữ .

Tuy nhiên tên trọn vẹn của kinh là Đại Phật Đảnh Như Lai Mật Nhân Tu Chứng Liễu Nghĩa Chư Bồ Tát Vạn Hạnh Thủ Lăng Nghiêm kinh, tạm dịch:

"Kinh của đỉnh Đại Phật, chứng ngộ trọn vẹn do tu hành nguyên nhân bí mật của các Như Lai, nền móng của vạn hạnh của tất cả các Bồ Tát"

Bộ Kinh gồm 10 quyển.

 

Ngài cũng giải thích thế nào là Phật đảnh (từ mí tóc và đỉnh đầu có một nhục kế) mà chỉ có quý tôn nhân tu hành như Chư Phật mới có thể phóng hào quang .

Nguyện càng lớn chừng nào thì hào quang càng lớn chừng nấy.



ht huyen ton (7)ht huyen ton (6)ht huyen ton (5)ht huyen ton (4)ht huyen ton (3)ht huyen ton (2)



Và nhân tiện Ngài cũng nhắc đến Chú “Đại Phật Đảnh Ma Ha Tất Đát Đa Bát Đát Ra” là Chóp Đỉnh của Toàn bộ 5 đệ Chú Lăng Nghiêm.  Nên mới thực hiện  lời chú mầu nhiệm nầy thành “Phạm Chú” để đeo hộ thân mệnh!

Với tâm thành Cung Kính Tín Cẩn : Nơi nào có Chú Phật Đảnh, có người cung kính tín cẩn thọ trì ,niệm tụng, thường đeo trên cổ, dán trong xe, treo trên nóc nhà..và có kinh niệm Phật chú nầy, nơi đó không có các nạn vì vậy mà  Ngài đã phát thí.

 

Vì chuyên về Phật lịch nên khi giảng về nguyên nhân có kinh Lăng Nghiêm, Ngài đã giới thiệu mùa hạ an cư lần thứ 28 được vua Ba Tư Nặc thỉnh mời trai tăng, khi ấy Đức Phật đã 63 tuổi mà Lão Tử chỉ mới 9 tuổi.

Cũng vì Ngài A Nan đang gặp nạn Ma Đăng Già nên thay vì có bài giảng sau khi thọ trai Đức Phật đã trở về Tịnh xá Kỳ Hoàn để tiếp độ.

 

Câu chuyện về Ngài A Nan và Ma đăng Già tiền kiếp đã từng là vợ chồng 500 kiếp về trước và nhân duyên gì mà Ngài A Nan còn đang khất thực bên ngoài khi Phật và 500 đệ tử dự trai tăng cũng được nhắc đến.

 

Nhưng để nói về lịch sử truyền thống, Truyền thuyết cho là Kinh Lăng Nghiêm do ngài Long Thọ tìm được, từ đó được các vua chúa Ấn Độ xem như quốc bảo vì Kinh đã chỉ rõ cho con người thấy được Phật Tánh Chơn Như, và việc đem kinh này ra khỏi Ấn Độ là phạm pháp.

 

Sau một lần thử đem ra khỏi Ấn Độ không kết quả, Bát Lạt Mật Đế quyết định giấu Kinh trong bắp đùi  của mình, Kinh được bao bọc trong lụa và sáp để đi về Quảng Đông, đến được Quảng Châu và gặp được Phòng Dung , một quan gián đại phu của Hoàng hậu Võ Tắc Thiên vừa bị giáng chức xuống hàng quan địa phương tại quê mình cũng là cư sĩ tại gia tu Bồ Tát Giới, Ngài lấy Kinh ra từ chỗ giấu, do đó Kinh còn có biệt danh là Kinh Tẩm Máu,  (Huyết Tí Kinh). 

 Phòng Dung có người  vợ rất giỏi về hóa chất đã  chế ra thứ thuốc rữa sạch vết máu và hiện rõ các chữ và Phòng Dung đã dịch khi được Phòng Dung dâng lên Võ Tắc Thiên, Kinh không được phổ biến ngay mà  cất giữ trong quốc khố cũng như thời trước, khi kinh vừa ra đời tại Ấn Độ.

Thiền sư Thần Tú  tìm thấy Kinh Lăng Nghiêm  khi cư ngụ trong hoàng cung.  

 

Hòa Thượng Bảo Vương Giảng Sư đã trân trọng nhắc lại cho hàng Phật tử chúng ta đã thật có cơ duyên học được kinh Lăng Nghiêm dù chỉ là Thần Chú, vì chính Ngài Huyền Trang, danh sư đời Đường vào đầu thế kỷ thứ 8 đã dịch nhiều kinh điển mà vẫn chưa biết được kinh Lăng Nghiêm vì ngài viên tịch trước khi Kinh đến Trung Quốc 40 năm.

  

Đại chúng trong phòng lắng lòng nghe Giảng Sư thao thao uyên bác chuyển qua cốt tủy kinh Lăng Nghiêm, thật ra những lời Ngài nói để dẫn dắt vào ý chính thật cao siêu đều nằm trong quyển 1, 2, 3 của kinh như Ngón tay chỉ mặt trăng. Đức  Phật nương theo căn tính mà chỉ thẳng Như Lai tạng,  Đức Phật đã chính nơi tâm chúng sinh mà chỉ thẳng Tính Diệu Chân Như của Như Lai Tạng, đồng thời lại cũng vì những căn cơ thấp kém, không thể hiểu được đạo lý, chỉ dạy con đường tu hành chắc chắn tránh khỏi các ma sự, như thế , kinh Thủ Lăng Nghiêm đáp ứng được với tất cả các căn cơ và phản ảnh được đầy đủ lòng đại từ phổ độ chúng sinh của Chư Phật.

 

Tuy vậy muốn được đến thẳng như thế quả thật khó Đức Phật đã chỉ dạy những pháp tu trực tiếp để cho người tu hành có thể giải thoát được các sự ràng buộc Người học kinh sẽ nhận ra lời Phật dạy như sau: “Chúng sinh mê lầm, là do những phân biệt giã dối “

Hòa Thượng Bảo Vương Giảng Sư có lẽ muốn tranh thủ cho kịp với giờ quy định nên đã tóm tắt cốt tủy trong kinh Lăng Nghiêm như sau:

-Vì sao có chúng sinh, có thế giới?

-Tìm Tâm ở đâu?

-Làm thế nào để ra khỏi sanh tử

-Vì sao có 36 loài ngạ quỷ ‘

-Giải thích các pháp tu

-Thần chú Phật Đảnh thật tuyêt vời

 

Riêng Thần chú Phật Đảnh Chú Lăng Nghiêm là câu Thần Chú vô cùng quan trọng. Công năng tuyệt vời của câu Thần Chú này vừa tác động lên người mà cũng vừa giúp cho Thần Thức bị đọa vào Súc Sanh có được chút Trí Huệ lóe sáng để nhận chân ra được cái Địa Ngục đang vây chặt lấy mình, chính là cái thân xác thú.

Thần chú này là Vô Lượng Trí Tuệ Bát Nhã Ba La Mật vì trong ngũ đệ Lăng Nghiêm gồm 427 câu mà Đệ nhất đệ lấy ra được một câu, đệ nhị đệ có được một câu, riêng đệ tam và đệ tứ thì không có câu nào và đệ ngũ đệ rut ra được một câu

Ngài cũng nhấn mạnh rằng thời gian tụng đọc cho một người bình thường chú Lăng Nghiêm là 15 phút, riêng những ai đã thông thạo giỏi thì cũng ít nhất là 9 phút.  

  

Phải chăng diệu dụng đó có được nhờ mỗi ngày ít nhất 7 lần đọc được câu thần chú ‘Nam Mô Đại Phật Đảnh Ma Ha Tát Đát Đa Bát Đát Ra “ vì Phật đã dạy cho A Nan: “Nay ngươi muốn ngược dòng sanh tử, trở về nguồn gốc của lưu chuyển, đến chỗ chẳng sanh diệt, thì nên xét kỹ sự thọ dụng của lục căn này, cái nào hợp, cái nào lìa; cái nào sâu, cái nào cạn; cái nào viên thông, cái nào chẳng viên thông. Nếu ngươi ngay nơi những căn này ngộ được căn nào viên thông, nương theo căn viên thông đó mà xoay ngược dòng nghiệp hư vọng từ vô thỉ thì so với các căn khác, hiệu quả gấp nhiều lần, một ngày bằng một kiếp” Trích trang 120 Kinh Thủ lăng Nghiêm bản dịch Tâm Minh Lê Đình Thám .

 

Đến đây HT Bảo Vương Giảng Sư muốn dừng lại để cho các thính chúng đặt câu hỏi nhưng vì vẫn chưa hết bao điều tinh túy mà Hòa Thượng Giảng Sư muốn truyền trao nên TT.Tổng Thư Ký Thích Nguyên Tạng đã phá lệ kéo dài buổi giảng đến 9:00 pm  để thính chúng được lợi lạc hơn vì một lần nghe được một cao tăng thuyết giảng một bộ kinh quan trọng như kinh Lăng Nghiêm không phải là điều dễ gặp.

 

Chúng con thật ngưỡng phục sự uyên bác và thái độ trầm tĩnh thong dong tự tại của Sư Ông, chỉ với một ngụm nước để giải lao, Sư Ông Bảo Vương đã tiếp tục bằng cách  nhắc lại 7 lần gạn hỏi về Tâm của phật với Ngài A Nan mà sau nầy Đạo Hữu Tịnh Bảo đã hỏi “Vậy thì Tâm ở nơi đâu?”,

Cũng như Sư Ông đã giới thiệu các nhật  báo nguyệt san từ Huế, Hà Nội và trong miền Nam  đã lược giải bộ kinh.

Vậy thì  Từ Lục Nhập đến thập nhị xứ, mười tám giới cùng thất đại vốn vô sanh và tương quan lẫn nhau, Phật đã vạch rõ dòng tâm thức (lục căn, lục trần, lục thức cùng với địa, thủy, hoả,phong, không, kiến, thức đại) huyễn hóa như vậy, thì tánh giác (diệu tánh chơn như) đồng nghĩa với Như Lai Tạng.

 Như Lai Tạng, tánh thức minh tri chơn thức. Biết được rõ ràng chơn thức nghĩa là bổn tánh vốn chơn minh, lìa năng sở đối đãi, thường hằng, hiển bày khắp mười phương, bao la như hư không vô tận.

 Không có vật chất nào hiện hữu độc lập, dù nó nhỏ như hạt tử hoặc lớn như quả núi. Vạn vật chỉ hiện hữu một cách tương đối, trong sự tương quan với những vật khác. Cũng vì thế có thể biết được Tâm Thức không có thực thể. Nếu đối tượng không có thật, thì tâm cảm nhận nó cũng không có thật.

Thật vậy, để chúng ta hiểu rõ tâm thức và chơn tâm hay diệu tánh chơn như,và sự phân biệt vọng tâm và chơn tâm thì rất dễ dàng trong việc tu pháp môn Lăng Nghiêm Đại Định.

 Phân tích Tâm Thức và Chơn Tâm qua sự phối hợp lục căn, lục trần và lục thức tương quan lẫn nhau, chúng ta thấy: Ngay cả lục nhập Như Lai Tạng thì chúng đã là hư không và trong kinh Phật dạy, "Lục Nhập vốn là Như Lai Tạng cũng là Diệu Tánh Chơn Như".

 

Có thể Hòa Thượng cũng đồng ý với chú giải của Ngài Tâm Minh Lê Đình Thám rằng: “Phật nhắc A nan 7 lần về tâm hầu giúp chúng sanh nhận ra rằng Cái Biết suy xét (Tính Thấy) là một việc khác với Tâm tính chứ không phải Phật bác cái Bản tính bản nhiên biết suy xét khi đã lìa cảnh trần. Và Phật đã kết luận; Chúng sinh luôn có TÍNH THẤY KHÔNG LAY ĐỘNG nhưng không biết tự nhận lấy lại  đi nhận những cảnh thường lay động không thật, cái thân giả huyễn này là mình.

 

 

Lời kết :

 

Kính bạch Sư Ông Bảo Vương HT Thích huyền Tôn,

  

Với trình độ căn cơ của con những điều ghi lại và riêng con đã thọ nhận được từ bài pháp thoại vẫn chỉ là 10% những gì Hòa Thượng đã liễu tri về kinh Lăng Nghiêm. 



Con cảm ơn Hòa Thượng đã nhắc lại cốt tủy Kinh Thủ Lăng Nghiêm với câu đúc kết mà Đức Thế Tôn dạy cho Ngài A Nan trong bản này rằng " Nhược ly tiền trần, hữu phân biệt tánh, tức chơn nhữ tâm”, có nghĩa là "nếu rời cảnh vật hiện tiền, mà tánh phân biệt  vẫn còn rõ biết, thì đó mới thật là chơn tâm của con".

 Đại Đức Thích Nghiêm Tịnh trong ban Hoằng pháp- Giáo Dục đã đề nghị sẽ thỉnh mời Sư Ông đến với thính chúng với nhiều chi tiết quý báu khác mà những Phật Tử như chúng con chưa hề được học...như 12 loài chúng sanh với 84 ngàn tư tưởng khi thác sanh trong cảnh luân hồi. Thật là lời đề nghị chân thành và hữu ích cho tất cả thính chúng.

Con cũng rất tâm đắc khi Sư Ông hỏi đại chúng bằng cách nào mà Ngài A Nan đã  được Phật thuật lại những lời dạy của Phật trước khi về làm thị giả Thế Tôn.

Chỉ những ai đã thay đổi điện thoại di động mới biết cách chuyển DATA khi rà sát hai máy và Hòa Thượng đã khéo dùng thí dụ đó để chỉ cho sự truyền tâm qua ĐỊNH (thiền định).

Với 37 người tham dự trong suốt hơn 2 giờ lắng tâm theo dõi về Kinh Lăng Nghiêm vào thời đại này quả là một kỷ lục, nhất là vào  những ngày làm việc trong tuần. Hơn thế nữa đạo tràng Quảng Đức có rất nhiều Phật tử thuần thành nhưng riêng tuần này vì phải tận lực công quả cho tiệc gây quỹ mừng Chu niên 32 năm Quảng Đức nên không tham dự được kính tán dương công đức các chị thiện nguyện viên nòng cốt của Tu viện Quảng Đức.

 

Kính nguyện Phật lực mười phương nhất là thần lực của Thần chú Đại Phật Đảnh luôn gia bị Hòa Thượng Phước Trí nhị nghiêm, Bồ đề quả mãn, Phật đạo viên thành.  

Con ao ước được kính dâng Hòa Thượng một bài thơ nhưng khi được chiêm nghiệm bài thơ của HT Thích Nhật Tân năm nào nhân dịp Khánh Tuế Sư Ông Bảo Vương, con kính trích lại như một lời kính dâng đến Hòa Thượng những gì mà từ lâu con đã trân quý tôn kính đến một vị cao tăng trong thế kỷ 20-21 này.

 

Trên rừng hoang, một đóa ưu đàm

Cây cỏ dại, thơm hương cát đá

Bảo Vương thị kim cang bảo tọa

Pháp Vương thị pháp thể Huyền Tôn

Đệ tử, môn đồ, pháp quyến, mới gọi tông môn !

Đạt lý thường lạc ngã tịnh, là gì cho biết ?

Sáng lập Phật Giáo Thống Nhất Úc Châu, chỉ là tiểu tiết

Chứng minh Giáo Hội Thống Nhất Hải Ngoại, chỉ là nhiệm phần

Tăng Giáo Trưởng, đương nhiên, pháp nhũ từ ân

Thấu tam đồ, bát nạn, mới đáng lượng phân

Thâm tam tạng, vi trần, mới là chơn thể

Chư Phật thị hiện giáng thần, cũng chỉ có thế

Chư Tổ chấn tích trùng quang, cũng chỉ vậy thôi

Đó mới là đạo giải thoát, cứu đời

Đó mới là đạo từ bi, tế độ

Không câu chấp ô dù lễ mễ

Không nại hà bào ảnh hư danh

Kìa trông mây trắng trời xanh

Kìa trông cam lộ reo nhành thanh lương

Kìa trông trăng tỏa đêm trường

Phù vân ngả bóng vô thường ai hay

Khi sinh, cũng chỉ trắng tay

Chín mươi, cũng chỉ mảy may, có gì

Thành quách, lâu đài, trêu ánh nguyệt

Núi cao, biển cả, cợt thâm u

Huyền Tôn, đại khánh, ngôn bất tuyệt

Bảo Vương, tam thế, ấn thiên thu.

 

(Tỳ Kheo Thích Nhật Tân Kính mừng Khánh Tuế của Trưởng Lão Hòa Thượng Tăng Giáo Trưởng Giáo Hội.

Nhân dịp Giáo Hội tổ chức Lễ Tri Ân tại Trường Hạ Quảng Đức năm Bính Thân 2016. từ Tiểu tự Pháp Quang, Brisbane, Queensland, Úc Châu)

 

 

Nam Mô Hoan Hỷ Tạng Bồ Tát

Nam Mô Công Đức Lâm Bồ Tát

 

Melbourne 15/9/2022

Phật Tử Huệ Hương kính trình pháp

 

  

  

Những bài liên quan:

* Tường thuật nhanh về Lễ Ra Mắt Tổng Vụ Hoằng Pháp-Giáo Dục 

1/ Ý Nghĩa An Cư Kiết Hạ (Bài giảng của TT Tâm Minh

2/ Gương Hiếu của Tôn giả Xá Lợi Phật (TT Thích Nguyên Tạng)
3/ “Chữ Hiếu Trong Đạo Phật” (NS Thích Nữ Thảo Liên)

4/ “Hiếu Đạo” (TT Thích Viên Trí)

5/ “Thiền Chánh Niệm” (TT Thích Đạo Nguyên)
6/ Nhân Quả Ba Đời (TT Thích Giác Tín)

7/ Cốt tủy Kinh Thủ Lăng Nghiêm (HT Thích Huyền Tôn)
8/ Quy Y Tam Bảo (NS Thích Nữ Tâm Lạc)

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
facebook youtube google-plus linkedin twitter blog
Nguyện đem công đức này, trang nghiêm Phật Tịnh Độ, trên đền bốn ơn nặng, dưới cứu khổ ba đường,
nếu có người thấy nghe, đều phát lòng Bồ Đề, hết một báo thân này, sinh qua cõi Cực Lạc.

May the Merit and virtue,accrued from this work, adorn the Buddhas pureland,
Repay the four great kindnesses above, andrelieve the suffering of those on the three paths below,
may those who see or hear of these efforts generates Bodhi Mind, spend their lives devoted to the Buddha Dharma,
the Land of Ultimate Bliss.

Quang Duc Buddhist Welfare Association of Victoria
Tu Viện Quảng Đức | Quang Duc Monastery
Senior Venerable Thich Tam Phuong | Senior Venerable Thich Nguyen Tang
Address: Quang Duc Monastery, 105 Lynch Road, Fawkner, Vic.3060 Australia
Tel: 61.03.9357 3544 ; Fax: 61.03.9357 3600
Website: http://www.quangduc.com ; http://www.tuvienquangduc.com.au (old)
Xin gửi Xin gửi bài mới và ý kiến đóng góp đến Ban Biên Tập qua địa chỉ:
quangduc@quangduc.com , tvquangduc@bigpond.com
KHÁCH VIẾNG THĂM
99,476,264