Nắm Cơm Ân Tình (truyện ngắn của Thích Hạnh Phẩm, do Phật tử Tường Dinh diễn đọc)

17/06/202004:46(Xem: 4396)
Nắm Cơm Ân Tình (truyện ngắn của Thích Hạnh Phẩm, do Phật tử Tường Dinh diễn đọc)


nam com an tinh

Nắm Cơm Ân Tình
truyện ngắn của Thích Hạnh Phẩm
do Phật tử Tường Dinh diễn đọc



 

-         Hai Chú đói bụng lắm phải không? Mặt mày xanh lè, tái mét hết rồi! Con có cơm của Ông Bà Chủ đem ra để chút nữa ăn. Con chia hai chú một miếng nha.

Tôi quay nhìn, Dũng Đen chạy đến gần tôi nói giọng líu ríu, Nó chăn đàn vịt thuê cho Ông Bà Chín trong xóm, nghe nói nó quê Miền Tây nhưng không biết chính xác ở nơi nào, chỉ nghe nó kể nhà nghèo, anh em đông, Dũng là con trai lớn, dù thương lắm nhưng Ba Mẹ nó đành bấm bụng cho nó đi giữ vịt thuê lấy tiền để nuôi gia đình. Mỗi năm Dũng chỉ về nhà được một lần trong dịp tết.

Dũng Đen nhỏ hơn tôi hai tuổi nhưng trông mạnh khỏe và lanh lợi, mọi người kêu Dũng Đen vì ngoài cặp mắt ra thì cả người nó đen nhánh. Không biết vì da nó đen hay là vì từ nhỏ đến giờ ở ngoài đồng ruộng nên mới đen như vậy?

Mỗi lần Sư Phụ tôi và mấy Chú Tiểu đi làm ruộng thì nó hay la cà qua chơi, có bữa mãi mê nghe Sư Phụ kể chuyện mà nó bỏ bầy vịt chạy tứ tán khiến nó chạy đi tìm vừa khóc vừa la thật tội nghiệp! Nó không biết chữ nào nhưng bù lại có trí nhớ tốt, thuộc nhiều tuồng cải lương khi ở ngoài đồng ruộng mênh mông nó nghêu ngao hát với nắng gió. Trông thật dễ thương!

-         Để Dũng ăn đi, chứ đói bụng không lùa vịt nổi đâu - Tôi đáp lại

-         Hai chú ăn miếng lấy sức rồi còn về chùa trời sắp tối rồi.

Vừa nói xong, Dũng nhanh tay lấy chiếc cà mèn nhỏ, dùng cái muỗng xắn miếng cơm cứng ngắc rồi bỏ vô tay bóp lại, đưa cho hai huynh đệ chúng tôi, mỗi người một vắt.

-         Con chạy đi lùa vịt đây, hôm nào có mấy chú ở đây, con ghé nữa nha!

Tôi cầm trong tay nắm cơm và mắt nhìn theo Dũng, dáng nó khuất dần trong ánh nắng chiều. Mặt trời đã ngã xuống phía sau lưng đồi, ánh nắng vàng nhạt chiếu dài trên từng thửa ruộng. Nhìn bóng xiêng liu khiu như dáng người mỏi mệt đang ngã dài trên bờ ruộng. Ai cũng tranh thủ những công việc cần thiết cho xong và đi vội về nhà. Tiếng người kêu gọi nhau trong buổi chiều nơi đồng ruộng, tiếng bò, trâu kêu, tiếng đàn vịt đang đổ xô như trận gió rào, tất cả âm thanh như hòa quyện cùng nhau, vừa mộc mạc nhưng pha lẫn chút u buồn của một vùng đất nghèo với những người dân cơ cực.

Hai huynh đệ chúng tôi cũng ráng cuốc thêm những lát cuốc đất cuối nơi gốc bờ ruộng để sáng mai cho kịp gieo giống lúa. Khi bước lên bờ cũng không còn sức để đi nữa, hai đợt lúa vừa qua thất mùa, nước từ thượng nguồn đổ về dữ dội làm cho những thửa ruộng nơi đây đang vào lúc lúa trổ đòng đòng bị hư gần như toàn bộ. Dân nghèo lại càng khổ thêm, mùa lúa này chưa đến thì những hạt gạo cũng đã hết sạch, nhiều nhà phải chạy vay mượn để tạm sống đến khi thu hoạch trong mùa mới nhưng rồi lại chịu cảnh khổ cực thêm. Tai trời ách nước không biết đâu mà lường, bên cạnh còn có những người vì thế lực, chỉ vì lợi ích của cá nhân hay nhóm nhỏ mà quên đi biết bao người khốn khó.

-   Hôm nay nếu không có nắm cơm của Dũng Đen có lẽ không ai đạp nỗi xe về chùa, huynh đệ chúng tôi ăn nắm cơm ấy thật ngon lành!

Phật tử ở vùng này đa phần nghèo, chùa cũng trong hoàn cảnh tương tự. Nạn đói bao trùm hết cả vùng, ai cũng lo miếng ăn rất vất vả. Mấy chú tiểu đang trong tuổi lớn, nên cơm gạo thật là một điều hết sức khó khăn trong giai đoạn này. Bây giờ ngẫm lại, chúng ta để có một bữa ăn điều này thật hết sức bình thường nhưng ngược lại thời gian hơn ba mươi năm trước ở nhiều vùng nông thôn được một bữa đủ no không phải lúc nào cũng có. Mấy ngày qua, mấy chú tiểu ở chùa lên đồi đào thêm khoai sắn của những đám rẫy bỏ hoang, vô chủ cỏ mọc ngập đầu. Hai huynh đệ chúng tôi đào lên thì bụi sắn chỉ có rễ mà không có củ, mấy con chuột, con sóc cũng còn đói hơn mình, chúng cũng lục tìm kiếm sống. Hai huynh đệ chúng tôi ngồi, vừa nhìn bụi sắn hoang vừa buồn cho chính mình bụng đói nhưng đồng thời cũng nghĩ đến những con chuột, con sóc cũng đang đói như vậy.

Cuộc sống giữa cõi đời này nhiều lúc thật nghiệt ngã, đau thương như vậy nhưng trong tâm mình có được sự bình an nhất định thì không đến nỗi khổ và cũng tìm được cách để cân bằng. Có những lúc tôi ngồi nhìn ngắm sao trời hay một chiều mưa nơi miền thôn dã thân thương, lắng nghe tiếng gió thổi hay mây ngàn giữa trời xuân, giữa hương đồng gió nội, trong tôi dấy lên cảm giác thân thương và hiền hòa làm sao! Bao ân tình giữa cuộc đời không thể cân đo đong đếm bằng những vật chất bởi vì có những thứ vượt ra khỏi biên cương giới hạn của sự tư duy khái niệm thường phàm.

Một nắm cơm mà huynh đệ chúng tôi nhận của Dũng Đen, để rồi sau khi cất bước ra đi đến giờ biền biệt gần ba mươi năm nhưng chưa lần nào gặp lại. Nắm cơm  trong buổi chiều thôn quê ấy với hình ảnh và kỷ niệm đẹp thật khó thể nào nói cho hết được! Cách đây vài năm tôi về thăm chùa, rủ mấy huynh đệ ra thăm ruộng xưa, ruộng bây giờ được thay thế bằng vườn tràm. Cảnh vật đã hoàn toàn thay đổi, nhưng trong tâm tôi vẫn thấy như thấp thoáng đâu đây những hình ảnh xưa kia. Tôi thầm cầu mong Dũng Đen được mạnh khỏe và bình an trong cuộc sống. Đây là một trong những hình ảnh thân thương trong đời tôi với ngôi chùa nơi mình để lại nắm tóc của Mẹ Cha mà theo Thầy xuất gia tu học.

 Giữa dòng đời cuộn chảy của thế nhân, nhiều người có hình thức bên ngoài không đẹp nhưng tâm hồn thanh cao; ít học nhưng cuộc sống đầy đạo nghĩa. Bên cạnh đó nhiều người muốn tạo cho mình một dáng vẽ để người khác có cảm tình, nhưng đôi khi vì quá trau chuốc hình thức bên ngoài để rồi lãng quên nội hàm bên trong mà đó mới là điều đáng quý. Nếu như được cả hai phương diên hình thức và nội dung thì thật là tuyệt vời, nhưng ở thế giới tương đối này làm sao có được? Chính vì thế chúng ta nên trân quý trong từng ý nghĩa của cuộc sống. Đa phần những người thương yêu quý trọng mình thật lòng thì đều xuất phát từ tình thương chân thật chứ không cần thiết phải trang điểm những hình thức xã giao. Khi mình nhận được tấm lòng của người thương quý mình đó chính là để tìm lại ngay từ trong tâm của mình những nếp sống thân thương hiền dịu. Hiện nay, dù sống trong cuộc sống văn minh, mọi thứ vật chất đều được thay đổi hoàn toàn, cuộc sống tưởng chừng như ngất ngưỡng của cao sang, nhưng nếu thật sự chiêm nghiệm sâu xa trong bản thân mỗi người, không có gì quý bằng những ân tình mộc mạc. Chính những điều chân thật của cuộc sống đã đem lại cho chúng ta sự bình yên và tạo nên nhiều hương thơm quả ngọt của tâm thức. Và khi tâm thức an lành thì cuộc sống này mới có ý nghĩa thật sự!

Khi mới vào chùa, tôi thường nghe Thầy tôi dạy: “Hạt cơm chùa nặng chín cân”, lúc đó tôi không hiểu được ý nghĩa sâu xa của lời nói nầy, đôi lúc cứ cho lời Thầy mình như là sự răn đe huynh đệ chúng tôi. Nhưng rồi, theo dòng đời với thời gian, những hạt cơm ân tình chan chứa bao nỗi nhọc nhằn của người làm ra, nước mắt cùng hòa quyện những tâm tư chân thành gởi gấm đến người thọ nhận.

Trong kinh Duy-ma-cật, phẩm Phật Hương Tích, Ngài Duy-ma- cật nói với Ngài Xá-lợi-phất và các vị Thanh Văn: "Các nhân giả, nay mời các vị dùng món cơm có hương vị cam lộ. Cơm này được xông ướp bằng hương Đại bi của Như Lai. Đừng ăn cơm bằng ý hữu hạn, vì như vậy sẽ khó tiêu hóa được”. Cơm Hương Tích từ chất liệu Đại Bi của Phật, pháp vị của Như Lai nuôi dưỡng huệ mạng cho tất cả chúng sanh trên bước đường tìm cầu chân lý. Trong hiện thời, tôi chưa cảm nhận được pháp vị sâu xa uyên nguyên của Pháp Phật, nhưng từ lời kinh tôi như đón nhận những Nắm Cơm Hương Tích giữa cuộc đời này. Những nắm cơm này cũng không thể dùng ý thức hữu hạn để thọ dụng, vì trong đó được tưới tẩm, chứa chan bao tình thương từ Thầy Tổ, Cha Mẹ, Đàn Na Thí Chủ và những nguồn ân nghĩa của cuộc đời. Và đặc biệt riêng tôi có Nắm Cơm Ân Tình của Dũng Đen, nắm cơm ấy chứa chan của hương lúa gió chiều, pha chút chua mặn nước phèn, bụi đất ở ruộng đồng, những giọt mồ hôi còn đọng trên tay lấm lem và kết quyện tình thương của tuổi thơ hồn nhiên không toan tính.

Melbourne, Mùa Đông 2020

Thích Hạnh Phẩm




Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
07/02/2026(Xem: 565)
Xưa ở nước Xá Vệ, có một huyện nhân dân đều quy Tam bảo, phụng trì năm giới và thực hành mười thiện nghiệp của Phật dạy. Khắp huyện không bao giờ sát sanh, người uống rượu nấu rượu cũng không có. Trong huyện, có một người con dòng dõi, sắp đi buôn tha phương. Trước khi đi, cha mẹ cặn kẽ dặn rằng: “Con nên cố gắng siêng năng, giữ gìn 5 giới cấm, thực hành mười điều thiện và cẩn thận chớ uống rượu, phạm đến trọng giới của Phật”.
05/02/2026(Xem: 795)
Tu hú Trung Quốc hay còn gọi là Táo Quyên (chữ Hán: 噪鹃[1], Danh pháp khoa học: Eudynamys scolopaceus chinensis) là một phân loài của loài tu hú châu Á (Eudynamys scolopaceus) phân bố ở miền nam Trung Quốc, bán đảo Đông Dương, ngoại trừ bán đảo Mã Lai[2] Chúng sinh sống ở Thái Lan, Lào, Campuchia, Việt Nam, đông nam Trung Quốc và một phần Malaysia. Ở Việt Nam, chim tu hú phân bố ở khắp các vùng đồng bằng và vùng trung du. Vào mùa đông, rất ít gặp loài này vì phần lớn chúng bay về phương nam để tránh rét[3], chúng còn được gọi đơn giản là chim tu hú hay tu hú và cũng còn được gọi là chim quyên hay đỗ quyên[1].
31/01/2026(Xem: 1941)
Dòng nghiệp tự xoay trong một kiếp sống, có những khoảnh khắc ta tuyệt vọng, có những thời điểm trong đời sống tu tập, mọi lời dạy về chuyển nghiệp đều trở nên xa xỉ bởi vì mất mát đã xảy ra , thân bịnh đã hiện, quan hệ đã đổ vỡ, hậu quả đã đứng trước mặt ——>NGHIÊP ĐANG TRỔ Trong khoảnh khắc ấy, điều nguy hiểm nhất không phải là khổ, mà là đối diện khổ với sự VÔ MINH , điều này sẽ làm duyên cho nghiệp tiếp tục sinh sôi, tâm thức lạc lối, có lời oán trách, tự kết tội mình, tuyệt vọng khi không thấy phép màu nào đảo ngược thực tại . Đây chính là Tầng Nghiệp Thứ Hai : NGHIỆP DO PHẢN KHÁNG QUẢ BÁO .
31/01/2026(Xem: 1284)
Từ đó cho đến nay đã nhiều lần đi và nhiều lần đến ở nhiều nơi trên quả địa cầu nầy, nhưng tôi vẫn thấy như mình còn cần phải học hỏi nhiều hơn nữa, mặc dầu nay ở tuổi cũng gần 80 rồi. Ngày Hòa THượng Thích Bảo Lạc đi xuất gia (1957) và tôi đã theo chân anh ruột của mình vào chùa (1964) để đầu sư học đạo. Mấy Bà Cụ trong làng khua với nhau rằng: “Nhà Ông Quyên (Thân phụ của chúng tôi) có đến 2 người con cho đi xuất dương”. Tôi nghe chẳng hiểu gì cả, vậy mà sau nầy cả Hòa Thượng Thích Bảo Lạc và tôi đều được xuất dương sang Nhật Bản du học trước năm 1975. Như thế những gì mình chưa mong đợi, nhưng sự việc vẫn đến với mình như thường. Đó là gì? Phải chăng đó là nhân duyên, là phước báu? Hay là gì gì nữa. Mỗi người trong chúng ta sẽ có cách trả lời riêng của từng người vậy.
19/01/2026(Xem: 1640)
Ông cháu chúng tôi được Quý Thầy ở Tổ Đình Pháp Hoa, Nam Úc chở ra phi trường Adelaide vào sáng sớm ngày 8.1.2026, và buổi chiều cùng ngày được Phật Tử Chúc Nguyên đón tại phi trường Sydney, đưa về Thiền Lâm Pháp Bảo, vùng Wallacia thuộc Sydney, nơi Hòa Thượng Thích Bảo Lạc đang tịnh tu. Chiều đó có TT Phổ Huân và Sư Cô TN Giác Anh từ Tổ Đình Pháp Bảo ghé qua thăm chúng tôi tại Thiền Lâm Pháp Bảo và bàn bạc chương trình trong những ngày chúng tôi còn lưu lại ở đây cho đến ngày 24.1.2026.
14/01/2026(Xem: 1222)
Khi 740 đứa trẻ bị kết án trôi ra biển và cả thế giới nói “không”, thì một người đàn ông đã nói “có”. Đó là năm 1942. Giữa Ấn Độ Dương, một con tàu lênh đênh như một chiếc quan tài nổi. Trên tàu là 740 đứa trẻ Ba Lan ,những đứa trẻ mồ côi sống sót từ các trại lao động của Liên Xô, nơi cha mẹ chúng đã chết vì đói, bệnh tật và kiệt sức. Chúng trốn thoát được sang Iran, nhưng cơn ác mộng chưa kết thúc: không một quốc gia nào muốn nhận chúng. Hết cảng này đến cảng khác dọc bờ biển Ấn Độ, Đế quốc Anh ,cường quốc lớn nhất thời đó ,đóng sập cửa trước mặt chúng. “Không phải trách nhiệm của chúng tôi. Hãy đi nơi khác.” Thức ăn cạn dần. Thuốc men không còn. Và hy vọng ,thứ duy nhất giúp những đứa trẻ sống sót đến lúc này ,cũng đang tắt dần.
03/11/2025(Xem: 1834)
Australia: Lá thư trong chai của người lính thời Thế chiến I viết gửi mẹ năm 1916 được tìm thấy trên bãi biển Wharton sau hơn 100 năm trôi dạt và bị cát chôn vùi. Gia đình bà Debra Brown hồi cuối tháng 10 nhặt rác trên bãi biển Wharton, gần Esperance ở bang Tây Australia thì phát hiện một chai thủy tinh còn nguyên vẹn, bên trong chứa lá thư được viết vội bằng bút chì của hai người lính từ thời Thế chiến I.
25/08/2025(Xem: 3406)
Tuổi thơ của tôi là một sự pha trộn giữa hồn nhiên đầy mộng mị với những thèm thuồng, khổ đau của một thằng bé sinh ra trong một gia đình nghèo và vào thời chinh chiến. Đó là một thằng bé nghịch ngợm, ham chơi, đa cảm, thường dễ khóc khi gặp phải chuyện buồn. Suốt quãng đời thơ ấu, tôi chưa bao giờ được hân hạnh bước qua ngưỡng cửa hoặc vào trong sân của một gia đình giàu có. T
21/08/2025(Xem: 4605)
Anatha-pindika, một vị thủ quỹ giàu có, đã đến Đại Tự viện Jetavana để thăm Đức Thế Tôn. Ông mang theo năm trăm người bạn của mình, những đệ tử của các trường phái triết học khác. Sau khi bày tỏ lòng kính trọng và dâng cúng, ông cùng bạn bè ngồi nghe bài pháp của Đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn, với giọng nói mạnh mẽ như tiếng sư tử gầm và dịu dàng như chuỗi ngọc quý, đã thuyết giảng một bài pháp ngọt ngào và đẹp đẽ về Chân lý. Năm trăm đệ tử ấy cảm động đến mức họ từ bỏ niềm tin ngoại giáo, và bắt đầu quy y Tam Bảo: Phật, Pháp và Tăng. Từ đó, họ thường xuyên cùng Anatha-pindika đến chùa để nghe giáo pháp của Đức Phật.
11/08/2025(Xem: 4225)
Vô Bích động âm u mờ mịt, nó chẳng thuộc trời chẳng thuộc đất, nó không có tháng năm kiếp số thì nói chi đến thời khắc hay ngày giờ. Nó vốn là lãnh địa của lão Hades từ thuở hồng hoang đến giờ. Lão thường ngồi trên ngai bạch cốt, lúc nào cũng lim dim nhấm nháp ly hắc huyết hoàn tửu, đây là thức uống khoái khẩu của lão ta. Cái ly của y cũng rất đặc biệt, vốn chế tác từ thiên linh cái của bọn người ở nhân gian. Hắc huyết hoàn tửu là thứ mỹ tửu cực độc chỉ riêng Vô Bích động mới chế được. Mỗi khi Hades muốn gọi ai về chầu thì lão nhón ngón út chấm một giọt nhỏ lên sinh mệnh ai là người ấy lập tức vâng mệnh, xưa nay chưa có ai cưỡng được mệnh gọi chầu, dù đó là người cực thông minh hay quyền uy lớn nhất thế gian. Người đã như thế thì quỷ thần, phi nhân, súc sanh không cần phải nói nữa. Ngay cả những vị trời cũng chẳng thoát khỏi, dù đại phạm thiên thọ mạng tám vạn đại kiếp nhưng khi có mệnh thì hoa trên mão héo, thân thể tiết mùi hôi, thân quyến lìa xa... đó là dấu hiệu cho biết sắp đọa. S