Dưới Mái Chòi Tranh (truyện ngắn của Thích Hạnh Phẩm, do PT Tường Dinh diễn đọc)

04/06/202004:45(Xem: 5366)
Dưới Mái Chòi Tranh (truyện ngắn của Thích Hạnh Phẩm, do PT Tường Dinh diễn đọc)

choi tranh
Dưới Mái Chòi Tranh

truyện ngắn của Thích Hạnh Phẩm
do PT Tường Dinh diễn đọc



 

-  Nhanh chân lên các con, vào chòi tránh mưa thôi!

Tiếng Thầy gọi, huynh đệ chúng tôi mỗi người cùng phụ nhau đem giỏ thức ăn và mấy đồ lặt vặt đi làm vào trong chòi. Gọi cái chòi chứ thật ra đây chỉ là chuồng Bò cũ của ông Sáu già gần chùa đã bỏ vài năm nay, trống trơn, chỉ còn phần mái che ở trên nhưng tranh cũng đã sắp mục rồi! Giữa bốn bề đồng ruộng trống trơn không có bóng cây thì cái chòi tranh là nơi duy nhất để tạm lánh những lúc nắng mưa.

Hồi tôi còn nhỏ, khoảng thời gian lễ Phật Đản được xem như là vui nhất. Vì hai tuần này, Sư Phụ ở chùa không có đi giảng dạy xa, huynh đệ cả chùa được sum họp, nhất là hai sư huynh lớn được đi học ở Trường Phật Học về. May mắn cho chúng tôi, ngoài Sư Phụ thì huynh trưởng là một người đức độ, tài năng, là chỗ dựa cho các sư đệ nương nựa tinh thần và tăng động lực để cố gắng tu học. Ngoài những lúc lo công việc chùa, các sư đệ cũng có dịp được lắng nghe những mẫu chuyện đạo thú vị từ các huynh, đặc biệt nhân đây là tình huynh đệ như sưởi ấm cho nhau trong tâm cảm thiếu vắng tình thân lúc còn nhỏ, khi rời xa cha mẹ, gia đình vào chùa tu học. 

-  Sao hôm nay mưa sớm quá, không đợi ăn cơm rồi đã, thường thường chiều mới mưa mà! Tôi lẩm bẩm.


Gần mười Thầy trò chúng tôi đứng trong cái chòi tranh ấy nhỏ ấy, thức ăn đem từ chùa hồi sáng đến giờ cũng đã nguội, huynh đệ chúng tôi cùng san sớt cho nhau những chén cơm và mấy miếng cải chua muối mặn kho đi hâm lại mấy lần. Mưa bắt đầu nặng hạt, gió cũng thổi mạnh hơn, tôi cầm tấm áo mưa che tạm cho đỡ ướt. Thình lình một cơn gió mạnh giật phăng miếng che từ trong tay tôi, nước bắn tung tóe vào Sư Phụ, tô cơm nguội bây giờ càng thêm lạnh ngắt bởi những giọt nước mưa vừa rồi. Tôi hoảng quá, chưa biết làm gì, lớ ngớ thì Thầy tôi cười nhẹ:

-   Không sao đâu con, giữa hoàn cảnh khó khăn như vậy mà Thầy trò còn ngồi đây ăn cơm như thế này đã là phước báu lắm rồi


Cảm thấy nhẹ lòng phần nào, nhưng cũng luôn tự trách sao mình bất cẩn vụng về như thế! Trong chòi, hầu như không có chỗ nào là kín cả. Từng giọt nước mưa xuyên qua mái tranh cũ làm cho lần lượt Thầy trò huynh đệ ướt sũng, cũng may cơn mưa không quá lâu, mặt trời cũng bắt đầu xuất hiện, ánh nắng buổi trưa đang chiếu trên chiếc chòi tranh ấy.

 

Bữa ăn diễn ra một cách nhẹ nhàng ấm cúng, Thầy nhắc nhở huynh đệ chúng tôi tìm niềm vui trong cuộc sống tu hành. Tuy trong bữa ăn thanh đạm, thậm chí thiếu thốn về mặt vất chất nhưng niềm vui tinh thần đã tạo nên dưỡng chất trong bữa ăn. Thầy nhắc nhở lời Phật dạy, hàng đệ tử của Như Lai không bị khuất phục bởi giàu sang quyền lực, trong khó khăn vẫn cố gắng giữ được tâm chí của mình nhất là đời sống thà nghèo tiền bạc, của cải vật chất nhưng không được nghèo đạo đức, nghĩa tình.

Mặc cho bên ngoài lại có gió thổi, mưa lại tiếp tục rơi, trong chòi vẫn vang vọng tiếng cười, huynh đệ không còn ai có cảm giác là mình ở trong ngôi chòi tranh nữa và cũng không còn quan trọng khi trong tô cơm chỉ có vỏn vẹn mấy miếng đồ ăn đạm bạc. Từng giọng cười, lời nói của Thầy như đưa huynh đệ chúng tôi sống trong giờ phút hiện tại an vui và thanh thản. Lúc bấy giờ riêng tôi lại trông mưa, trông gió lâu hơn, vì có mưa gió mà được nghe, được chứng kiến những hình ảnh sâu đậm nghĩa tình cao cả thiêng liêng giữa cuộc đời mà khó có thể tìm kiếm được ở những nơi khác.

Khoảng thời gian hành Điệu ở chùa, những lúc đi làm vườn, làm ruộng, công việc với Sư phụ luôn là điều làm cho huynh đệ thích thú. Lúc ấy, ngoài công việc ra, thì chỗ làm có thể biến thành trường thi bất cứ lúc nào, hồi hộp xen lẫn lo âu. Thầy tạo niềm vui tu học bằng những câu chuyện đạo, lịch sử, kinh điển... Tôi luôn tự nghĩ rằng, một đứa nhỏ quê mùa, sức khỏe kém cỏi như tôi, bây giờ có được chút gì thì tất cả từ ơn Thầy, từ các bậc Ân sư tác tạo.

Tuy chỉ là một bữa cơm vội vã với những thức ăn thật đơn sơ bình dị nhưng đối với tôi đó là một trong bữa cơm ngon và đong đầy kỷ niệm của cuộc đời! Nơi bữa cơm ấy, càng biểu lộ tấm lòng đức độ của Thầy và nối kết cho mỗi huynh đệ trong tình thương yêu gắn bó đùm bọc. Cũng chính bữa cơm ấy như hạt giống lành đã gieo trồng trong mảnh đất tâm một chú tiểu như tôi. Sau này, khi được đi học ở Trường Phật Học, tôi vô cùng chấn động khi đọc đoạn “trong một căn phòng nhỏ vài mét vuông của Bồ Tát Duy Ma Cật nhưng sức chứa năm trăm tòa sư tử”, làm sao được? Một hình ảnh mang tính cách khái niệm, biểu trưng nhưng đã gợi trong lòng tôi nhớ về bữa cơm giữa đồng ruộng bạt ngàn với nắng mưa hòa lẫn, gió quyện sương giăng. Chỉ một mái chòi tranh nhỏ, người bình thường bây giờ chắc có lẽ không dám bước vào vì sợ dơ, sợ lấm; nhưng ngay nơi đó, như một trai đường của những người mang chí nguyện độ sanh. Tất cả đều do tâm của chính mình tạo nên, thật vi diệu.

 Nhìn cuộc sống hiện tại, trong xã hội đã xảy ra biết bao chuyện đắng lòng, tôi tự hỏi tại sao khi những lúc khó khăn nghèo khổ, người ta thường chấp nhận nhau, sống chung hòa thuận, nhưng khi giàu có, nhà cửa to lớn thì không còn dung chứa nhau được nữa? Phải chăng do thiếu tình thương để những ích kỷ, nhỏ nhoi tự lớn dần trong bản ngã và được phủ che, nuông chìu trong những ngôn từ hoa diễm yêu kiều. Trong bữa ăn, dù thức ăn đó là sơn hào hải vị, nhưng thiếu vắng chất liệu của tình thương, chỉ là những đau đớn buồn khổ tâm can, thì khó có thể nào ngon miệng được.

Có lần, khi đọc tác phẩm Đường Xưa Mây Trắng, Hòa Thượng Nhất Hạnh viết Đức Thế Tôn sau khi thành đạo, ngồi nhìn ngắm cây Bồ đề một cách vô cùng trân quý và cám ơn Cây Bồ Đề đã che mưa che nắng cho Ngài suốt thời gian ngài thiền định, thật sâu lắng làm sao! Tôi cảm thấy chạnh lòng khi liên tưởng đến Cái Chòi Tranh đã che mưa nắng cho huynh đệ chúng tôi suốt mấy năm trường mà tôi chưa một lần nào nghĩ đến cảm thấy mang ơn, chứ huống gì nói ra thành tiếng. Thật buồn cho chính mình, khi nhìn lại những ân tình mộc mạc đơn sơ nhưng đã góp phần cho sự trưởng thành của chính mình nhưng chúng ta không thấy được. Chúng ta thấy được sự thành tựu hiện tại như một thành quả của chính mình nhưng thực chất đó cũng chỉ là vay mượn biết bao ân tình trong cuộc đời. Vì những vọng động trong tâm thức, sống vội vã, chính mình sống trong cái nhà xây dựng kiên cố đẹp đẽ nhưng có lẽ chưa kịp nhìn lại cái nhà xây gạch đó chan chứa cả bao nước mắt, tâm tình từ ngôi nhà tranh với những năm tháng nhọc nhằn. Những công trình hoa lệ, đồ sộ, lộng lẫy đều có ẩn tàng những ngôi nhà tranh, những bàn tay gầy guộc, những gương mặt hốc hác khô cằn góp phần trong đó.

Cái chòi tranh, một cái chuồng cũ bỏ hoang, hoàn toàn không có giá trị vật chất gì nhưng có một giá trị tâm linh nếu người trong cuộc không nhìn và  nhận thức được ý nghĩa cuộc sống. Chúng ta không cố chấp bám lấy những kỷ niệm xưa để đau khổ, để lụi tàn cuộc sống hiện tại, nhưng góp nhặt những gì có được điểm tô cho cuộc sống mỗi ngày một ý nghĩa hơn. Ở đời ai cũng mơ ước mình có được cuộc sống sung sướng giàu sang, phú quý.Tùy theo hoàn cảnh sống mỗi người mà có những ưu tư hoài niệm khác nhau. Tôi viết câu chuyện này trong khi trời đang đổ mưa. Ngôi Chòi Tranh, hình ảnh Sư Phụ và Huynh Đệ đang hiển hiện trong tôi, cảm thấy ấm lòng giữa mùa Đông giá lạnh!

 

Melbourne, mùa Đông năm 2020

Thích Hạnh Phẩm

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
07/02/2026(Xem: 861)
Xưa ở nước Xá Vệ, có một huyện nhân dân đều quy Tam bảo, phụng trì năm giới và thực hành mười thiện nghiệp của Phật dạy. Khắp huyện không bao giờ sát sanh, người uống rượu nấu rượu cũng không có. Trong huyện, có một người con dòng dõi, sắp đi buôn tha phương. Trước khi đi, cha mẹ cặn kẽ dặn rằng: “Con nên cố gắng siêng năng, giữ gìn 5 giới cấm, thực hành mười điều thiện và cẩn thận chớ uống rượu, phạm đến trọng giới của Phật”.
05/02/2026(Xem: 1034)
Tu hú Trung Quốc hay còn gọi là Táo Quyên (chữ Hán: 噪鹃[1], Danh pháp khoa học: Eudynamys scolopaceus chinensis) là một phân loài của loài tu hú châu Á (Eudynamys scolopaceus) phân bố ở miền nam Trung Quốc, bán đảo Đông Dương, ngoại trừ bán đảo Mã Lai[2] Chúng sinh sống ở Thái Lan, Lào, Campuchia, Việt Nam, đông nam Trung Quốc và một phần Malaysia. Ở Việt Nam, chim tu hú phân bố ở khắp các vùng đồng bằng và vùng trung du. Vào mùa đông, rất ít gặp loài này vì phần lớn chúng bay về phương nam để tránh rét[3], chúng còn được gọi đơn giản là chim tu hú hay tu hú và cũng còn được gọi là chim quyên hay đỗ quyên[1].
31/01/2026(Xem: 2323)
Dòng nghiệp tự xoay trong một kiếp sống, có những khoảnh khắc ta tuyệt vọng, có những thời điểm trong đời sống tu tập, mọi lời dạy về chuyển nghiệp đều trở nên xa xỉ bởi vì mất mát đã xảy ra , thân bịnh đã hiện, quan hệ đã đổ vỡ, hậu quả đã đứng trước mặt ——>NGHIÊP ĐANG TRỔ Trong khoảnh khắc ấy, điều nguy hiểm nhất không phải là khổ, mà là đối diện khổ với sự VÔ MINH , điều này sẽ làm duyên cho nghiệp tiếp tục sinh sôi, tâm thức lạc lối, có lời oán trách, tự kết tội mình, tuyệt vọng khi không thấy phép màu nào đảo ngược thực tại . Đây chính là Tầng Nghiệp Thứ Hai : NGHIỆP DO PHẢN KHÁNG QUẢ BÁO .
31/01/2026(Xem: 1536)
Từ đó cho đến nay đã nhiều lần đi và nhiều lần đến ở nhiều nơi trên quả địa cầu nầy, nhưng tôi vẫn thấy như mình còn cần phải học hỏi nhiều hơn nữa, mặc dầu nay ở tuổi cũng gần 80 rồi. Ngày Hòa THượng Thích Bảo Lạc đi xuất gia (1957) và tôi đã theo chân anh ruột của mình vào chùa (1964) để đầu sư học đạo. Mấy Bà Cụ trong làng khua với nhau rằng: “Nhà Ông Quyên (Thân phụ của chúng tôi) có đến 2 người con cho đi xuất dương”. Tôi nghe chẳng hiểu gì cả, vậy mà sau nầy cả Hòa Thượng Thích Bảo Lạc và tôi đều được xuất dương sang Nhật Bản du học trước năm 1975. Như thế những gì mình chưa mong đợi, nhưng sự việc vẫn đến với mình như thường. Đó là gì? Phải chăng đó là nhân duyên, là phước báu? Hay là gì gì nữa. Mỗi người trong chúng ta sẽ có cách trả lời riêng của từng người vậy.
19/01/2026(Xem: 1989)
Ông cháu chúng tôi được Quý Thầy ở Tổ Đình Pháp Hoa, Nam Úc chở ra phi trường Adelaide vào sáng sớm ngày 8.1.2026, và buổi chiều cùng ngày được Phật Tử Chúc Nguyên đón tại phi trường Sydney, đưa về Thiền Lâm Pháp Bảo, vùng Wallacia thuộc Sydney, nơi Hòa Thượng Thích Bảo Lạc đang tịnh tu. Chiều đó có TT Phổ Huân và Sư Cô TN Giác Anh từ Tổ Đình Pháp Bảo ghé qua thăm chúng tôi tại Thiền Lâm Pháp Bảo và bàn bạc chương trình trong những ngày chúng tôi còn lưu lại ở đây cho đến ngày 24.1.2026.
14/01/2026(Xem: 1425)
Khi 740 đứa trẻ bị kết án trôi ra biển và cả thế giới nói “không”, thì một người đàn ông đã nói “có”. Đó là năm 1942. Giữa Ấn Độ Dương, một con tàu lênh đênh như một chiếc quan tài nổi. Trên tàu là 740 đứa trẻ Ba Lan ,những đứa trẻ mồ côi sống sót từ các trại lao động của Liên Xô, nơi cha mẹ chúng đã chết vì đói, bệnh tật và kiệt sức. Chúng trốn thoát được sang Iran, nhưng cơn ác mộng chưa kết thúc: không một quốc gia nào muốn nhận chúng. Hết cảng này đến cảng khác dọc bờ biển Ấn Độ, Đế quốc Anh ,cường quốc lớn nhất thời đó ,đóng sập cửa trước mặt chúng. “Không phải trách nhiệm của chúng tôi. Hãy đi nơi khác.” Thức ăn cạn dần. Thuốc men không còn. Và hy vọng ,thứ duy nhất giúp những đứa trẻ sống sót đến lúc này ,cũng đang tắt dần.
03/11/2025(Xem: 1953)
Australia: Lá thư trong chai của người lính thời Thế chiến I viết gửi mẹ năm 1916 được tìm thấy trên bãi biển Wharton sau hơn 100 năm trôi dạt và bị cát chôn vùi. Gia đình bà Debra Brown hồi cuối tháng 10 nhặt rác trên bãi biển Wharton, gần Esperance ở bang Tây Australia thì phát hiện một chai thủy tinh còn nguyên vẹn, bên trong chứa lá thư được viết vội bằng bút chì của hai người lính từ thời Thế chiến I.
25/08/2025(Xem: 3959)
Tuổi thơ của tôi là một sự pha trộn giữa hồn nhiên đầy mộng mị với những thèm thuồng, khổ đau của một thằng bé sinh ra trong một gia đình nghèo và vào thời chinh chiến. Đó là một thằng bé nghịch ngợm, ham chơi, đa cảm, thường dễ khóc khi gặp phải chuyện buồn. Suốt quãng đời thơ ấu, tôi chưa bao giờ được hân hạnh bước qua ngưỡng cửa hoặc vào trong sân của một gia đình giàu có. T
21/08/2025(Xem: 5186)
Anatha-pindika, một vị thủ quỹ giàu có, đã đến Đại Tự viện Jetavana để thăm Đức Thế Tôn. Ông mang theo năm trăm người bạn của mình, những đệ tử của các trường phái triết học khác. Sau khi bày tỏ lòng kính trọng và dâng cúng, ông cùng bạn bè ngồi nghe bài pháp của Đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn, với giọng nói mạnh mẽ như tiếng sư tử gầm và dịu dàng như chuỗi ngọc quý, đã thuyết giảng một bài pháp ngọt ngào và đẹp đẽ về Chân lý. Năm trăm đệ tử ấy cảm động đến mức họ từ bỏ niềm tin ngoại giáo, và bắt đầu quy y Tam Bảo: Phật, Pháp và Tăng. Từ đó, họ thường xuyên cùng Anatha-pindika đến chùa để nghe giáo pháp của Đức Phật.
11/08/2025(Xem: 4840)
Vô Bích động âm u mờ mịt, nó chẳng thuộc trời chẳng thuộc đất, nó không có tháng năm kiếp số thì nói chi đến thời khắc hay ngày giờ. Nó vốn là lãnh địa của lão Hades từ thuở hồng hoang đến giờ. Lão thường ngồi trên ngai bạch cốt, lúc nào cũng lim dim nhấm nháp ly hắc huyết hoàn tửu, đây là thức uống khoái khẩu của lão ta. Cái ly của y cũng rất đặc biệt, vốn chế tác từ thiên linh cái của bọn người ở nhân gian. Hắc huyết hoàn tửu là thứ mỹ tửu cực độc chỉ riêng Vô Bích động mới chế được. Mỗi khi Hades muốn gọi ai về chầu thì lão nhón ngón út chấm một giọt nhỏ lên sinh mệnh ai là người ấy lập tức vâng mệnh, xưa nay chưa có ai cưỡng được mệnh gọi chầu, dù đó là người cực thông minh hay quyền uy lớn nhất thế gian. Người đã như thế thì quỷ thần, phi nhân, súc sanh không cần phải nói nữa. Ngay cả những vị trời cũng chẳng thoát khỏi, dù đại phạm thiên thọ mạng tám vạn đại kiếp nhưng khi có mệnh thì hoa trên mão héo, thân thể tiết mùi hôi, thân quyến lìa xa... đó là dấu hiệu cho biết sắp đọa. S