Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   

Hai Lần Mất Cha

19/01/201918:50(Xem: 569)
Hai Lần Mất Cha

hoa_sen (4)

Truyện ngắn

 

HAI LẦN MẤT CHA

 

 

        Ông ngoại nuôi tôi từ nhỏ, từ khi tôi mới bỏ bú mẹ, đến năm lên lớp 12 thì ông không còn sức lực để làm những công việc đồng áng nặng nhọc đòi hỏi phải có lòng nhẫn nại, tính cần cù và sức dẻo dai. Ông ngoại đã vắt kiệt sức mình ra suốt hai mươi năm hơn, để rồi bị quật ngã một đòn trí mạng phải nằm dính chặt trên chiếc giường ọp ẹp.

Vào một buổi tối của mùa hè nóng hầm hập, bên ngoài ánh trăng rằm tỏa sáng khắp vùng quê quạnh quẽ, ông ngoại thều thào gọi tôi lại ngồi một bên giường, nắm lấy bàn tay tôi bằng bàn tay xương xẩu khô héo đang rung run từng hồi. Ông dường như dùng hết tàn hơi để nói rõ từng lời cho tôi nghe:

“Chắc ngoại không qua khỏi keo này rồi, cháu ơi! Cháu phải hết sức bình tĩnh, hãy hứa với ngoại là vâng lời, thực hiện những điều ngoại căn dặn, yêu cầu đi!”

Tôi rúng động cả tâm can, ôm lấy cánh tay ông, giữ bình tĩnh hơn bao giờ hết để hứa chắc từng tiếng một:

“Cháu xin hứa vâng lời ông, làm theo lời ông dạy bảo dù trong bất cứ tình huống nào!”

Ông ngoại mỉm cười, gật đầu mấy cái tỏ vẻ ưng ý, giọng khàn khàn nhưng rất thiết tha:

“Dù trong bất cứ hoàn cảnh nào, cháu cũng đừng nên bỏ học nửa chừng. Hãy học cho đến nơi, sự học hành sẽ mang lại cho cháu chỗ đứng vững vàng trong xã hội, nó giúp cháu thoát khỏi vòng vây của ngu dốt, đói nghèo và tội lỗi…”

“Cháu xin hứa. Cháu sẽ tiếp tục học, bằng mọi cách.”

“Mọi cách à? Phải trừ những cách xấu xa ra chứ. Chỉ bằng những cách theo hướng thiện lương, tránh xa xấu ác!”

“Dạ… dạ. Cháu sẽ tiếp tục học bằng mọi cách chính đáng và lương thiện.”

“Ừ, phải nói vậy thì ngoại mới yên tâm. Ông ngoại cho phép cháu bán đi ruộng, bán bớt vườn, bán bớt đất để lấy tiền mà ăn học dài lâu nếu cháu thật sự thấy cần phải bán. Nhưng cháu nhớ tuyệt đối không được bán căn nhà này, dù là giá trị của nó chẳng đáng xá gì, vì cháu cần phải có chỗ để nương thân  ít ra trong thời gian đầu sau khi ngoại ra đi…”

“Cháu xin hứa. Cháu sẽ không bao giờ để căn nhà này thuộc quyền sở hữu của người khác!”

Nghe tôi hứa chắc nịch, ông ngoại lắc đầu:

“Không. Ngoại không phải muốn cháu hứa điều đó. Vì ngoại còn phải lường trước mọi việc sẽ thay đổi sau khi cháu tìm gặp được cha của cháu…”

Tôi bàng hoàng. Tôi há hốc. Tôi trừng đôi mắt lên:

“Tìm gặp cha của cháu sao?”

Ông ngoại gật đầu, bóp lấy tay tôi chặt hơn:

“Ngoại muốn cháu hãy tìm đến cha đẻ của mình, sau khi ngoại đi xa. Có vậy thì ngoại mới yên lòng mà đi…”

Tôi lặng người, bần thần không hé môi. Thật ra chuyện tôi còn một người cha không phải là chuyện bí mật, chuyện bất ngờ. Từ thuở còn thơ tôi đã nghe phong thanh chuyện ấy, nhưng bao lần theo hỏi ngoại, ông đều im lặng. Đến năm tôi học lớp 5 thì ông dời nhà qua xã khác, ở đó không ai biết rõ gốc gác lai lịch của hai ông cháu tôi. Tôi chỉ biết đến đơn giản rằng tôi là một đứa con bị cha lẫn mẹ bỏ rơi khi mới non một tuổi. Tôi là kết quả của một cuộc tình duyên miễn cưỡng, oan gia tương báo. Cha tôi chưa hề biết mặt giọt máu rơi rớt của mình. Mẹ tôi đã bỏ con đầu lòng lại, cuốn gói ra đi biền biệt, vì  sợ hãi dư luận. Ông ngoại đã phải cưu mang nuôi nấng đứa cháu với sự trợ giúp của những người láng giềng tốt bụng. Những chuyện ấy tôi chỉ được nghe lỏm bỏm, lờ mờ, không liền lạc với nhau, từ miệng của những người sống cùng thôn. Ông ngoại chưa hề giải đáp tường tận cho tôi hay mỗi khi tôi thắc mắc. Không ngờ đến giờ phút lâm chung ông lại nêu lên một đề nghị quá sức tưởng tượng của tôi. Ông chậm rãi:

“Giờ là lúc ngoại không còn giấu diếm gì với cháu nữa. Ngoại muốn ra đi thanh thản, muốn cháu được đoàn tụ với người cha đẻ mà cháu đã mất một lần trong đời. Mất, thì nay cháu phải tìm lấy lại cho được. Ngoại tin rằng cha của cháu, dù là một kẻ bạc tình vô tâm, hay một kẻ ích kỷ, hay một kẻ hung ác đi nữa cũng không nỡ từ chối, không đành quay lưng với đứa con mang dòng máu của mình đâu!”

Tôi thật sự xúc động, bồn chồn và lo lắng, hỏi:

“Ngoại tin như vậy sao? Vì sao ngoại tin vậy?”

“Ngoại tin điều đó, vì cháu giống cha như đúc như in!”

Và rồi, bằng một giọng trầm khàn yếu ớt, ông ngoại lôi tôi trở lại với quá khứ đầy những tình tiết bất ngờ mà tôi chưa một lần được ai kể cho nghe…

Hồi ấy, ông bà ngoại mở sòng bạc ngay tại nhà. Sòng nho nhỏ thôi. Nhà ở gần đồn lính địa phương quân Việt Nam Cộng Hòa, nên các con bạc thường là lính, rất ít có những bác thằng bần thường dân vào ngồi chiếu. Ông bà ngoại nhờ lấy tiền xâu mà sống dư dả, khỏi phải ra đồng lội ruộng cho nắng cháy da, cho mưa ướt áo. Mẹ tôi khi ấy còn là thiếu nữ hai mươi ba, cũng chỉ ở nhà phụ giúp cha mẹ lo cơm nước cung phụng cho đám con bạc. Những bữa ăn khuya, nhậu nhẹt sau canh bạc của đám lính máu me đen đỏ đã đem lại một số lợi lộc cho ông bà ngoại tôi. Rồi ông bà ngoại cũng nhảy vào chiếu bạc. Lửa gần rơm thì tránh sao khỏi bốc cháy. Ông bà ngoại bắt đầu thua cháy túi, cháy rương tủ, cầm đất bán ruộng, nợ nần càng chất cao lên. Càng thua càng mạt cả từ đường. Chủ nợ của ông bà ngoại rất đông, nhưng người chủ lớn nhất là ông sĩ quan đại úy Đại đội trưởng Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Ông đại úy tên Từ, khét tiếng hung hãn, không như tên gọi của ông, là thượng khách của sòng bạc từ những ngày đầu mới mở. Ông đã có một gia đình êm ấm ở thôn bên kia bờ sông, nhưng lại thấy cô con gái duy nhất của ông bà chủ sòng bạc thì ông đã mê mẫn, buông lời trêu ghẹo, ngõ lời ông bướm ỡm ờ … Với quyền uy đủ làm cho mọi người khiếp đảm kinh hồn, ông đại úy đã đòi nợ ông bà chủ sòng bạc bằng sự chiếm đoạt cái trinh nguyên trong trắng của một người con gái. Ông bà ngoại tôi đã cắn răng nhắm mắt mà giao con gái cho ông Đại úy để cầm được trên tay tờ giấy cam kết xí xóa nợ nần. Sau khi chiếm đoạt được thứ quý báu mà bao thằng sĩ quan cũng như lính lác khác thèm khát, ông đại úy lui tới thường xuyên hơn để hưởng lạc thú trần gian bằng sự dọa dẫm hung hăng. Một số nợ nhỏ của ông bà ngoại cũng được ông đại úy xóa trắng giùm trong thời gian ấy… Khi mẹ tôi mang thai, ông Đại úy được tin với thái độ dửng dưng, vô cảm. Thế rồi, đến ngày chuyển quân dời đồn, ông Đại úy cuốn gói lên đường hành quân ra nơi trận tuyến mịt mù khói lửa. Ông bỏ đi không bao giờ quay trở lại cái thôn nhỏ bé có sòng bạc nhỏ, có người thiếu nữ mặt đẫm lệ ngày ngày ngồi xoa nắn cái bụng mỗi lúc mỗi to dần lên… Ông Đại úy là cha tôi đó. Tôi chính là đứa bé nằm trong bụng của người thiếu nữ con ông chủ sòng bạc nho nhỏ đó.

Mẹ tôi sinh ra tôi với sự căm hận oán hờn. Mẹ xem tôi như một của nợ đáng ghét, nhưng vẫn phải nâng niu nuôi nấng, vẫn phải vuốt ve cho bú mớm, dù rằng nước mắt không ngừng chảy tuôn. Gia cang suy sụp, không khí gia đình căng thẳng buồn hiu, bà ngoại tôi buồn bệnh rồi qua đời trước khi nói lời xin lỗi với con gái. Mẹ tôi lẳng lặng bỏ đi vào nữa khuya, để lại cho tôi nằm chơ vơ trên chiếc giường tre trống trơn và lạnh lẽo, cùng với lá thư đầy lời oán trách gửi cho người cha vốn đang bị khủng hoảng tinh thần. Ông ngoại ban đầu định mang tôi giao vào viện trẻ mồ côi, nhưng ông nhờ bà con chòm xóm đến an ủi, chia sẻ, giúp đỡ vật chất nên ông quyết định nuôi đứa cháu ngoại với mong muốn chuộc lại tội lỗi của mình gây ra.

Mẹ tôi bỏ đi bặt vô âm tính cho đến năm tôi lên bốn mới liên lạc với ông ngoại chỉ một khoảnh khắc ngắn ngủi. Ông ngoại chỉ biết được một điều ngắn gọn rằng mẹ đã lên rừng, đi theo Cách Mạng, và đã nên nghĩa vợ chồng với một “anh Việt cộng” hiền lành. Sau ngày đất nước Thống Nhất, ông ngoại ngóng trông ngày đêm với hi vọng đứa con gái duy nhất của mình trở về đoàn tụ, nhận lại đứa con rứt ruột đẻ đau mà vui sống với cảnh mẹ con trùng phùng. Nhưng người con gái ấy mãi mãi không xuất hiện một lần nào nữa, chết rồi hay vẫn sống không sao biết chắc được. Niềm hi vọng nguội tắt, hóa ra vô vọng thực thụ, ông ngoại tôi bắt đầu dồn hết tâm sức ra để lo cho cháu ngoại ăn học nên người. Ông xem tôi là mục đích duy nhất, quyết định duy nhất của quãng đời còn lại của mình. Nhưng ông ngoại đã không đi theo hết tận cùng con đường mà ông vạch sẵn cho thằng cháu ông đi. Ông đang muốn tôi đi tiếp cho đến đích dù ông không còn được đứng bên lề để làm một cổ động viên nhiệt tình và kiên nhẫn…

“Cháu hãy tìm đến với cha đi!”

Ông ngoại lập lại lời yêu cầu một cách thiết tha. Tôi im lặng, tâm tư chao nghiêng đảo xéo, ruột gan nóng lạnh vui buồn. Giọng ông yếu ớt dần sau những giờ phút cố gắng trối trăn:

“Cháu tìm qua giáo xứ Hà Linh, hỏi ông Hai Từ thì ai cũng biết. Cách đây 3 năm, ngoại đã có thăm dò, biết được cha cháu bị đưa đi tập trung học tập cải tạo ngoài Bắc, và đã trở về địa phương làm vườn, làm rẫy… Ngoại không phải mong cháu được người cha giàu có, khá giả đùm bọc đâu.Ngoại chỉ muốn cháu được đoàn tụ với cha, có một mái ấm gia đình, có nơi để nương tựa khi đau yếu,  dù ăn cháo gặm khoai. Thiếu tình thương, tình cảm thì sẽ khó đi đứng vững vàng trên dòng đời nhiêu khê khăn khó này, cháu ơi!”

… Một tuần lễ sau, ông ngoại tôi trút hơi thở cuối cùng, khi ấy tôi còn đang lân la dò tìm tin tức của cha mình. Ngay sau khi lo xong phần hậu sự cho ông ngoại tươm tất, tôi mạng dạn tìm đến ngôi nhà mà nhiều người đã chỉ vẽ khi tôi hỏi thăm. Một ngôi nhà rêu phong mang dáng cổ xưa, nằm giữa khu vườn cây lá sum suê xanh rì, với sân gạch đỏ nhạt, với nền cao cấp dài, đã cuốn hút tôi với một lực từ trường mạnh mẽ. Tôi đứng ngắm nhìn toàn cảnh trước mắt thật lâu, hít thở thật sâu để tìm được sự bình thản, rồi ung dung tự tại đi thẳng vào trong. Nhà vắng hoe. Từ nhà trước ra vườn sau không vang một tiếng động. Tôi cất tiếng:

“Có ai ở nhà không?”

Hỏi đến ba lần, tôi mới nghe tiếng sột soạt, tiếng dép lẹt xẹt, và một phụ nữ xuất hiện. Tôi lễ phép cúi đầu chào. Chị ta nhíu mắt nhìn tôi từ đầu đến chân, rồi đôi mắt dừng lại đột ngột chiếu thẳng vào mặt tôi mà không hề chớp nháy.

“Em … em hỏi ai vậy?”

“Có phải đây là nhà ông Hai Từ không chị?”

        “Đúng rồi. Chị là con ổng đây.”

         “Vậy à? Chị là … chị thứ mấy?”

“Chị đầu. Em hỏi ba chị có chuyện gì?”

“Chị Hai… chị Hai không thấy nơi em có gì đặc biệt hay sao? Em vừa mới xem ảnh của gia đình treo trên vách kia… Em biết chắc mình đã tìm đúng nơi cần tìm, vì em nhận ra … nhận ra dường như có hình bóng của em, của chính em trên đó đó!”

Tôi chỉ khung ảnh trên tường. Rồi nói ngay:

“Em là con riêng của ba đây!”

Tôi nhấn mạnh từng tiếng. Người phụ nữ đứng trước tôi trố mắt, bàng hoàng nhìn tôi. Tôi cười thật thân thiện:

“Chị không thấy em giống ba sao? Không giống mấy anh em trai ở trong ảnh kia sao?”

Chị ta ấp úng, lúng túng:

“Có … có chớ. Giống … y khuông. Mới nhìn … cứ tưởng thằng An, tưởng thằng Long em chị. Có phải em là con của dì Loan bên thôn Đại Lạc không?”

“Ủa?”  Tôi thốt lên kinh ngạc “Vậy ra …?”

Chị ta bước lại kéo cánh tay tôi, lôi tôi lại ngồi ghế, nói:

“Trời đất ơi… thôi đúng chắc rồi. Đúng là con của ông già rồi. Xưa giờ có nghe ba nhắc đến dì Loan, đến một đứa con riêng mà ổng không thừa nhận… Ổng chỉ kể sơ sơ cho nghe thôi…”

Tôi tủi thân, rưng rưng nước mắt. Tôi bắt đầu ngồi thuật lại mọi chuyện cho người chị cùng cha khác mẹ nghe, kể không thiếu chuyện gì, kể cho đến đoạn cuối là giờ phút lâm chung trăn trối của ông ngoại mình. Chị Hai của tôi khóc sụt sùi, tôi không rõ chị ta khóc vì mừng được gặp đứa con rơi của cha mình, hay vì thương hại cho cuộc đời long đong, số phận hẩm hiu của tôi?

“Bây giờ, em đến đây để xin được gặp ba, được gặp anh chị em của em, theo nguyện vọng của ông ngoại…”

Chị Hai lại khóc dữ hơn, rồi nghẹn ngào:

“Muộn mất rồi … em ơi!”

Trời vừa sụp đổ xuống đầu tôi. Tôi gào lên:

“Sao lại muộn?”

“Ba đã đi Mỹ… Ba đi theo diện HO… từ năm 1995, sang bên đó được 6 năm thì … do nhớ quê nhà, thèm mắm nêm, ba ăn nhiều mắm quá, nên bị tăng huyết áp, rồi mất vì tai biến mạch máu não!”

Đất vừa sụp lỡ dưới nơi tôi đang ngồi. Tôi đã mất cha lần thứ hai. Tôi không một lần được ôm lấy cha mình. Và chưa một lần được gọi tên.

May tôi còn có hai anh trai cùng cha khác mẹ đang ở bên xứ người xa xăm, và một người chị lớn đang sống gần mình với một tổ ấm hạnh phúc. Chính chị Hai đã an ủi tôi trong lúc tôi cảm thấy chơ vơ tủi phận. Chị đã mở rộng cửa nhà từ đường của ông nội để lại cho cha, đón tôi về bằng tình thương dào dạt. Chồng của chị là một nhà giáo tri thức cũng niềm nở chân tình mời tôi đến chung sống dưới một mái nhà rêu xanh, và là người động viên tôi ráo riết nhất trong việc học hành.

 Tôi thi đỗ vào đại học sư phạm. Rồi tôi ra trường, trở về thôn cũ, nơi chôn nhau cắt rốn của mình, đem hết tâm sức ra để thực hiện lời hứa với ông ngoại, làm tròn thiên chức của một người chèo đò mang những đứa trẻ ngây ngô luôn bị thiệt thòi qua sông, và mơ ước đến một ngày mai quê hương mình rộn rã tiếng cười vui, tiếng nô đùa của con trẻ. Tôi mơ ước đừng có trẻ em nào bị mang lấy hoàn cảnh giống như mình, mà em nào cũng được hưởng diễm phúc, đủ cha mẹ để học hành khôn lớn… Tôi sẽ chèo không mệt mỏi, nhờ tôi nhớ mãi lời khuyên của người anh rễ, người thầy giáo đàn anh gần gũi tốt nhất, đã rót vào tai tôi khi biết tôi đau buồn vì hai lần mất cha:

“Đừng vì mất cha hai lần mà quỳ gối quy hàng. Cho dù có còn đến hai người cha, mà đôi chân mình chùn mỏi hèn nhát thì cũng dậm tại chỗ, hoặc bước lùi lại thôi!”

 

 

MÃN ĐƯỜNG HỒNG

 

 

 

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
11/07/201905:35(Xem: 276)
Chúng tôi được Thầy mở cho xem Video clip do Thượng Tọa Thích Hạnh Tuệ tri sự chùa Phật Đà ở San Diego cũng là Chủ Biên của trang nhà hoavouu.com ở Hoa Kỳ thực hiện ngày 21.01.2019 với tâm ý kính tặng HT Thích Bảo Lạc và HT Thích Như Điển, nhằm giới thiệu Thiền Lâm Pháp Bảo Úc Châu. HT Thích Bảo Lạc, Hội Chủ Giáo Hội Phật Giáo VNTN Hải Ngoại tại Úc Đại Lợi và Tân Tây Lan, cho biết Thiền Lâm Pháp Bảo là vùng đất thiêng đã được xây dựng từ 4 năm qua. Tháp Vãng sanh sẽ được xây dựng tại Tự Viện Pháp Bảo và Thiền Lâm Pháp Bảo cũng đang tiến hành công trình những hạng mục mới. Thiền Lâm Pháp Bảo là nơi hoàn toàn thiên nhiên hùng vĩ, núi đồi xanh tươi bao la bát ngát. Trong Vườn Thiền có 4 câu thơ được khắc vào trong đá: Dấu Thiền lắng giữa hư không Tháp hành ? soi bóng Thiền Lâm đậm màu Ngày xưa mãi đến ngàn sau Tâm Không vật cũng nhuốm màu hư không (Thơ Sông Thu TBL)
05/07/201909:39(Xem: 401)
Ở vào năm 2019 này, theo sự quan sát của tôi, tôi nhận thấy rằng TT Thích Nguyện Tạng cùng một số ít tăng sĩ khác (như TT Thích Phước Tấn trụ trì chùa Quang Minh/ Melbourne ) có thể được biểu dương là những người tiên phong, đại diện cho tăng sĩ trẻ trong thời buổi hiện đại này đã thông hiểu tận tường nội, ngoại minh của kinh điển và đã áp dụng thực triển vào trong Đời và Đạo .
05/07/201909:19(Xem: 428)
Riêng tôi, nếu ví nhà chùa như bịnh viện tinh thần, tôi thấy cũng có lý. Vì rõ ràng quí sư đã chẳng nói đạo Phật là đạo cứu khổ ban vui. Do vậy đến chùa quan sát kỹ sẽ thấy, cũng không thiếu người góa chồng, góa vợ, li dị, hoặc chán ngán chuyện gia đình, hay đang cô đơn, cô độc...lân la đến chùa để giải tỏa nỗi lòng tìm niềm vui. Người thì rán nghe Pháp Phật chiêm nghiệm nghiệp quả mình tạo ra rồi tụng kinh sám hối, kẻ thì kể lể với bạn đạo để trút hết bầu tâm sự hay đôi khi trút cả đến những vị trụ trì nhờ “gỡ rối tơ lòng“. Tựu trung là tìm cách để giải tỏa nỗi khổ niềm đau.
05/07/201908:12(Xem: 687)
Rồi ngày ấy cũng đến, cái ngày cả đạo tràng Chùa Linh Thứu mong đợi đã đến! Họ háo hức chờ đợi cũng phải vì cả một Phái Đoàn Hoằng Pháp Âu Mỹ gồm các Chư Tăng Ni từ 4 châu lục, đến Chùa Linh Thứu từ ngày 21 đến 23 tháng 6 năm 2019, chỉ để trao tặng cho đạo tràng dễ thương này 3 ngày an lạc. An lạc từ thân đến tâm, từ khẩu đến ý. Đúng quá đi chứ! Cả ba ngày chỉ để nghe Pháp, tụng kinh, lạy Phật, ngồi thiền, đi kinh hành... làm gì còn thì giờ để "tám" với ai nữa. Cứ xem như dứt sạch nợ trần!
20/06/201905:08(Xem: 718)
Cụ Rùa 100 tuổi ăn chay và nghe kinh Phật trong chùa ở miền Tây, Việt Nam Chùa Phước Kiển tọa lạc ở huyện Châu Thành, Đồng Tháp nổi tiếng với chuyện ly kỳ về các cụ rùa hơn 100 tuổi thích ngủ mùng, ăn chay và nghe kinh Phật. Phước Kiển Tự (chùa Phước Kiển, hay còn gọi là chùa Lá Sen) tọa lạc ở huyện Châu Thành, Đồng Tháp có lối kiến trúc đơn giản. Chùa khá nhỏ bé nhưng có lịch sử lâu đời.
08/06/201916:15(Xem: 399)
HC Andersen Truyện Kể - Tâm Trí Lê Hữu Khải
25/05/201917:53(Xem: 839)
Nhân ngày giỗ Tổ năm nay, tôi được Thượng tọa Thích Minh Hiền, Trụ trì Tùng lâm Hương Tích cho biết rằng, mùa an cư năm nay, Kỷ hợi, 2019, Thường trực Ban Trị sự Giáo hội Phật giáo thành phố Hà Nội đã quyết định giảng bộ sách TRUY MÔN CẢNH HUẤNtại các trường Hạ trên toàn thành phố. Với túc duyên này, chư Tăng Tùng lâm Hương tích và Phật tử Đạo tràng Chân Tịnh chùa Hương đã biên tập và ấn tống tái bản lần thứ hai sách Truy Môn Cảnh Huấn để cúng dàng Chư tôn đức Tăng Ni trong 18 Hạ trường của Phật giáo Thủ đô.
20/05/201921:02(Xem: 525)
Truyện Thạch Sanh Lý Thông có liên hệ gì với tư tưởng Phật giáo? Nơi đây, chúng ta thử suy nghĩ về chủ đề này, trong dịp Giáo sư Nguyễn Văn Sâm biên dịch, chú giải và ấn hành Truyện Thơ Thạch Sanh Lý Thông. Truyện cổ tích Thạch Sanh Lý Thông được kể qua văn học truyền khẩu nhiều thế kỷ trước khi xuất hiện truyện thơ cùng tên. Thường được gọi tắt là truyện Thạch Sanh. Do vì xuất sinh từ văn học truyền khẩu, nên có nhiều phiên bản khác nhau.
15/05/201912:45(Xem: 799)
Những tiếng gọi chậm rãi, ân cần, chợt vọng lên từ đáy lòng sâu thẳm khi thời công phu khuya vừa dứt. Những tiếng gọi hòa quyện vào nhau, nhịp nhàng đồng điệu như một bản hòa tấu. Tiếng gọi của Hồn Thiêng Sông Núi, của Tổ Tiên, Ông Bà, Cha Mẹ, của những vị ân sư đã đến rồi đi, đang còn rồi sẽ mất, của những ngôi chùa làng quê, của giòng sông, của vách núi …. Tất cả, như những âm thanh vọng từ cõi tâm hương nào, tuy nghìn trùng mà như gang tấc, tưởng chiêm bao mà như hiện thực đâu đây … Những âm thanh đó đã khiến thời công phu khuya dường như bất tận, để khi ánh dương lên, tôi biết, tôi sẽ phải làm gì. Đứng lên.
03/05/201909:15(Xem: 700)
Thuở xưa nước Tỳ-xá-ly, Đất thơm in dấu từ bi Phật-đà. Có rừng cổ thụ ta-la, Một chiều chim rộn trong hoa hát mừng. Tay Phật cầm nhánh lan rừng Quay sang phía hữu bảo rằng “A-nan! Đạo ta như khói chiên đàn, Mười phương pháp giới tỉnh hàng nhân thiên.